 |
Thời
Sự Y Học Số 55
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ MỘT CĂN BỆNH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ
BỞI CÁC TẾ BÀO GỐC
Bệnh thiếu máu hình liềm (anémie falciforme),
một căn bệnh xảy ra nơi người, được biểu hiện ở chuột, đã được chữa lành
bởi những tế bào gốc được sản xuất không phải từ phôi thai
Trong vòng chưa được hai tuần, công cuộc nghiên cứu về các tế bào gốc
đã đồng thời kinh qua một cuộc cách mạng và một sự gia tốc chưa từng có.
Cùng lúc, hai nhóm các nhà nghiên cứu độc lập đã công bố hôm 12 tháng
11 vừa qua các kết quả của các công trình vang dội. Thật vậy 2 nhóm nghiên
cứu này đã thành công « làm trẻ hóa » các tế bào trưởng thành của da để
làm chúng giống hệt với các tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires)
mà không cần phải kinh qua giai đoạn nhân dòng (clonage) của phôi thai
và như vậy thoát khỏi những vấn đề đạo đức liên quan với giai đoạn này.
Lần này, đó là một bằng cớ về nguyên tắc (preuve de principe) đầu tiên
rằng một căn bệnh xảy ra nơi người, bệnh hồng cầu hình liềm (drépanocytose),
cũng được biết dưới tên thiếu máu hình liềm (anémie falciforme), có thể
được chữa lành bằng những tế bào gốc được sản sinh như thế. Một nhóm các
nhà nghiên cứu của Whitehead Institute for Biomedical Research de Cambridge
(Massachusetts) hôm qua đã công bố các kết quả của công trình này trên
site Internet của tạp chí Science. Bệnh hồng cầu hình liềm là một bệnh
di truyền của hémoglobine, phân tử tải oxy được chứa trong các hồng cầu.
Các hồng cầu của những người bị bệnh thiếu máu hình liềm có hình lưỡi
liềm và hémoglobine bất thường mà chúng chứa có khuynh hướng kết tinh.
Các bệnh nhân ở châu Phi và Địa Trung Hải bị thiếu máu, dễ bị nhiễm trùng
và các cục máu đông bít các mạch máu của các bệnh nhân này lại.
CHUỘT ĐƯỢC NHÂN TÍNH HÓA (SOURIS HUMANISES)
Chính trong một mô hình động vật (trên chuột) mà việc
điều trị bệnh này đã được thực hiện thành công. Thật vậy có những chú
chuột được nhân tính hóa (souris humanisés) có những tế bào biểu hiện
hémoglobine người đột biến của bệnh hồng cầu hình liềm. Trước hết người
ta lấy các tế bào da trên đuôi của những chú chuột này. Cũng như trong
các phương pháp của Nhật và Hoa Kỳ được công bố vào giữa tháng 11 trong
Cell et Science, các tế bào được nuôi cấy đã tiếp nhận những biến đổi
di truyền (4 gènes) làm tái lập chương trình (reprogrammer) tế bào. Các
tế bào này trẻ đi và giống hệt với các tế bào gốc phôi thai. 24 dòng (lignées)
các tế bào gốc đã được xác lập, rồi được biến đổi nhờ những yếu tố hormone
khác thành các tế bào gốc sinh huyết (cellules souches hématopoiétiques),
là nguồn gốc của các hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu trong tủy xương. Sau
đó một trong các dòng này đã nhận gène của hémoglobine bình thường, thay
thế cho gène bệnh của nó . Đó là một kỹ thuật được mệnh danh là « ciblage
génétique spécifique ».
Chỉ một vài trong các tế bào được tái lập chương trình như thế là đã sinh
ra các tế bào gốc sinh huyết bình thường. Một khi đã thu được những tế
bào gốc « thuốc » (cellules souches médicaments) này rồi, các nhà nghiên
cứu đã tiêm vào các chú chuột bị bệnh hồng cầu hình liềm của người. Không
những các nhà nghiên cứu đã thành công sửa chữa được khuyết tật của hémoglobine,
bằng cách thay thế 65% hémoglobine bị bệnh bằng các hémoglobine lành mạnh,
mà công trình nghiên cứu về các hồng cầu mới, được sản xuất từ các tế
bào gốc bị biến đổi này là đáng phấn khởi .Triệu chứng thiếu máu ít hơn,
tủy xương chế tạo các hồng cầu mới có kích thước, hình dáng gần với bình
thường hơn.
Ở những người bị bệnh hồng cầu liềm, một trong những dấu chứng chính là
sự sản xuất rất nhiều các tế bào hồng cầu trẻ không trưởng thành (các
réticulocytes) để bù lại sự chết sớm của các tế bào hồng cầu trưởng thành
: ở điểm này cũng vậy, số các tế bào này giảm đi nơi các chú chuột được
điều trị. Nguồn: ( LE FIGARO 7/12/2007)
2/ NHỮNG BIÊN
GIỚI CỦA TUỔI GIÀ KHÔNG NGỪNG BỊ LÙI LẠI
Càng ngày càng có nhiều người già
trên thế giới. Nhưng họ càng ngày càng hoạt động và độc lập cho đến một
lứa tuổi đã cao.
Trên thế giới hiện có 600 triệu người trên 60 tuổi hoặc 3 lần nhiều hơn
cách nay 50 năm và đến năm 2050 sẽ có 2 tỷ người trên 60 tuổi, hoặc 3
lần nhiều hơn hôm nay. Việc gia tăng những người già trên hành tinh của
chúng ta là do tỷ lệ sinh đẻ và tử vong thấp hơn. «Cuộc cách mạng tuổi
thọ» ( la révolution de la longévité) này, theo từ ngữ của giáo sư Françoise
Forette, bà chủ tịch của Cơ quan lão khoa quốc gia, do những sự biến đổi
có tính cách lịch sử, cần phải kế hoạch hóa tương lai về lao động, y tế
và kiến trúc.
Các Viện Hàn Lâm khoa học và y học, theo sáng kiến của giáo sư Etienne-Emile
Baulieu, đã tổ chức hôm qua một buổi họp rất lý thú về đề tài này, vừa
cố gắng gắn liền với tính thời sự.
“ Đâu là những yếu tố khoa học và y học vẫn còn bệnh vực cho tuổi về hưu
là 60 ? ”
Ở Pháp các phụ nữ sống trong 83 năm và đàn ông trong 78 năm, thêm 3 tháng
tuổi thọ bổ sung mỗi năm. Hiện nay trong các nước giàu có, 1/5 số dân
là những người trên 60 tuổi và trong 20 năm đến tỷ lệ này sẽ là 1/3.
Jean-Marie Robine ( Inserm, đơn vị dân số và y tế ) nói : « Việc gia tăng
số những người già sẽ tạo nên một vấn đề của quả đất trong phần hai của
thế kỷ này. Ở Nhật Bản, vào đầu những năm 1970, không có những người già
trăm tuổi (centenaire), ngày nay số người bách niên là 30.000. Ở Pháp,
không có người già 100 tuổi trong những năm 1970, ngày nay số người này
là 15.000 ».Vào năm 2050, theo dự đoán của Pháp, số người già trăm tuổi
sẽ là 330.000 người.
Nếu chúng ta chấp nhận ý tưởng cho rằng sự lão hóa (vieillissement) làm
«già» đi, thì những con số này có thể có vẻ khá làm quan ngại. Nhưng nghịch
lý thay không phải là như vậy. Tuổi mà chúng ta trở nên già, tuổi mà chúng
ta chịu những tật nguyền lúc già nua đã không ngừng lùi lại trong các
nước công nghiệp hoá.
Robert Rochefort nhấn mạnh đến mức độ nào thuật ngữ « tuổi già » (vieillesse)
không còn thích ứng để mô tả sự tiến hóa của xã hội :
« Ngày nay, được gọi là già trung bình bắt đầu ở tuổi 76-77. Không còn
là 65 tuổi nữa. Ngưỡng cửa của sự lão hóa có thể đạt đến 82 tuổi vào năm
2040, nếu chúng ta lạc quan. Thậm chí chúng ta có thể nói rằng sẽ không
có sự gia tăng những người già, vì lẽ lứa tuổi định nghĩa tuổi già (vieillesse)
sẽ gia tăng .
Ý tưởng một sự lão hóa xã hội nhưng không làm gia tăng tỷ lệ « người già
» hiện nay đang đạt đến đích của nó.
Theo Robert Rochefort, định nghĩa của tuổi già phải được căn cứ trên 3
yếu tố liên kết với nhau : y tế ( tình trạng sức khỏe và mức độ độc lập)
; xã hội (các mối liên hệ gia đình và xã hội) ; tâm lý ( khả năng dự phòng
trong tương lai và hành động).
Ngày nay, chúng ta phải chăng sống lâu thật sự tốt hơn ? Nhiều công trình
nghiên cứu, đặc biệt ở Hoa Kỳ, đã làm sáng tỏ sự kiện là hy vọng sống
lâu nhưng không mất khả năng ( l’espérance de vie sans incapacité ) đã
gia tăng rõ rệt với tuổi thọ trung bình. Một công trình điều tra lớn của
Châu Âu, được tiến hành bởi OCDE nhằm đánh giá sự độc lập trên nhiều tiêu
chuẩn ( khả năng mặc quần áo, khả năng ăn, di chuyển một mình) đã chứng
tỏ rằng tỷ lệ bị lệ thuộc (taux de dépendance) rất thay đổi tùy theo nước.
Ở Pháp, hy vọng được sống thêm (espérance de vie) của người khỏe mạnh
ở tuổi 50 là vào khoảng 25 năm.
Chúng ta có thể càng ngày càng sống lâu hơn mà không cần phải thay đổi
thời gian lao động? Theo Robert Rochefort, đó là điều không thể tưởng
tượng được trên bình diện nhân khẩu học : “ Dĩ nhiên sẽ phải lao động
lâu hơn. Nhiên hậu, chính cái ngưỡng của tuổi về hưu vào năm 70 tuổi là
phải nhắm đến . Đó đồng thời là vấn đề công minh để trả tiền hưu trí.
Số năm trung bình được sống thêm đạt được sau 60 tuổi ( 3 tháng mỗi năm)
phải được chia sẻ giữa tuổi hưu trí và thời gian lao động ”. Sự việc làm
việc lâu hơn phải chăng là một yếu tố bảo vệ trên bình diện sức khỏe ?
“ Không nhất thiết. Nhưng sự việc có nhiều hoạt động sau khi về hưu sẽ
chia hai nguy cơ bị lệ thuộc ”, giáo sư Darligues ( Bordeaux) đã công
nhận như thế. Nguồn: ( LE FIGARO 5/12/2007)
3/ ĐAU ĐẦU
MÃN TÍNH VÀ NGUY CƠ MẮC BỆNH TRẦM CẢM
Một nhóm các nhà nghiên cứu Nhật
Bản, T.Maeno và các cộng sự viên đã quan tâm đến 177 bệnh nhân đến khám
vì đau đầu, từ tháng giêng đến tháng 12, ở 19 trung tâm y tế tuyến đầu.
Họ đã theo dõi những bệnh nhân này trong vòng một năm. Các nguời tham
dự đã điền một bảng câu hỏi trong đó họ được yêu cầu mô tả thời gian và
mức độ nghiêm trọng của chứng đau đầu, mức độ nghiêm trọng này có thay
đổi không và có các triệu chứng khác kèm theo với triệu chứng đau đầu
không. Ngoài ra các nhà nghiên cứu cố gắng tìm xem trong số những người
này có ai đồng thời bị chứng trầm cảm không. Các kết quả chứng tỏ rằng
chứng trầm cảm thường xảy ra hơn nơi những bệnh nhân bị đau đầu nặng,
nơi những người có đau đầu kéo dài hay nơi những người có sự hiện diện
của những triệu chứng khác.Theo các tác giả, bệnh trầm cảm nặng (dépression
majeure) thường xảy ra nơi những bệnh nhân đến thăm khám nơi các thầy
thuốc ở tuyến đầu. Sự hiện diện của nhiều triệu chứng thân thể và sự hiện
diện của đau đầu có thời gian kéo dài ( > 6 tháng ) là một chỉ dấu
thực tiễn để phát hiện chứng trầm cảm nặng. Nguồn: (
LE JOURNAL DU MEDECIN 7/12/2007)
4/ HUYẾT KHỐI
TẮC MẠCH VÀ NGUY CƠ BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Một vài công trình nghiên cứu xác
lập mối liên hệ giữa huyết khối tĩnh mạch (thromboembolie) và xơ vữa động
mạch (athérosclérose) với nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch
máu não.
Với mong muốn làm sáng tỏ mối liên hệ khả dĩ này, Hendrik Toft Sorensen
và nhóm nghiên cứu của ông đã tiến hành một công trình nghiên cứu dựa
trên các thông tin thu nhận được từ các ngân hàng dữ kiện y khoa ở Đan
Mạch. Sau khi đã loại trừ những người bị bệnh tim mạch được xác nhận,
các tác giả đã nghiên cứu nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch
máu não nơi 25.799 bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse
profonde), 16.925 bệnh nhân với nghẽn mạch phổi (emboilie pulmonaire)
và 163.566 được người được dùng làm kiểm chứng.
Các bệnh nhân có tiền sử huyết khối tĩnh mạch sâu, trong suốt năm đầu
sau biến cố huyết khối, có 1,60 lần có khả năng hơn phát triển một nhồi
máu cơ tim và có nguy cơ bị tai biến mạch máu não 2,19 lần cao hơn. Các
con số này lần lượt là 2,60 và 2,93 nơi những bệnh nhân với tiền sử nghẽn
mạch phổi. Theo các tác giả ,với các quan sát này dựa trên 20 năm theo
dõi, thì nguy cơ tăng cao này vẫn còn tồn tại lâu dài. Nguồn: (LE
JOURNAL DU MEDECIN 4/12/2007)
5/ STRESS SAU CHẤN THƯƠNG VÀ HEN PHẾ QUẢN
Các công trình nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng
những người trưởng thành bị hen phế quản có những vấn đề âu lo (angoisse)
nhiều hơn những người bình thường. R Goodwin (Hoa Kỳ) và các cộng sự viên
đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên những người sinh đôi được
chọn trong số những cựu chiến binh của chiến tranh Việt Nam nhằm làm sáng
tỏ mối liên hệ giữa stress sau chấn thương (stress posttraumatique) và
hen phế quản. Công trình bao gồm 3.065 những người sinh đôi nam ( sinh
từ 1939 và 1956 ) đã tham gia một cách tích cực vào cuộc chiến tranh này.
Các tác giả đã xác lập một cách rõ ràng rằng những tiền sử về chứng trầm
cảm (dépression) hiện diện thường hơn nơi những người tham gia bị hen
phế quản so với nhóm những người lành mạnh. Theo các nhà nghiên cứu, các
triệu chứng stress sau chấn thương đã liên kết một cách đáng kể với tỷ
lệ mắc bệnh hen phế quản. Một sự hiểu biết tốt hơn về mối liên hệ của
hai bệnh này tất nhiên là hữu ích trong triển vọng phòng ngừa cũng như
chữa lành bệnh. Nguồn: ( LE JOURNAL DU MEDECIN 4/12/2007)
6/ DÀY VỎ NÃO NƠI
NHỮNG NGƯỜI BỊ CHỨNG ĐAU NỬA ĐẦU (MIGRAINE)
Một công trình nghiên cứu của Hoa
Kỳ chứng tỏ rằng vỏ não cảm giác- vận động ( cortex sensorimoteur ) trở
nên dày thêm nơi những người bị chứng đau nửa đầu ( migraine). Nguyên
nhân hay hậu quả ? Bác sĩ Nouchine Hadjikani (Hoa Kỳ) và các cộng sự viên
đã đo bề dày của vỏ não cảm giác-vận động nơi 24 bệnh nhân bị chứng đau
nửa đầu và nơi những người mạnh khỏe có cùng đặc điểm về tuổi và giống
tính.Trong số 24 bệnh nhân, 12 người có chứng đau nửa đầu với tiền triệu
(aura) và 12 người khác có chứng đau nửa đầu nhưng không có tiền triệu.
Các kết quả được bình luận trong một thông báo của BBC news (20/11/2007).
Các tác giả đã xác nhận rằng những người với chứng đau nửa đầu có vỏ não
cảm giác-vận động trung bình dày hơn ( gia tăng đến 21%) so với những
người của nhóm kiểm chứng. Hiện tượng này rõ rệt nhất trong phần đuôi
( partie caudale ) của vỏ não cảm giác-vận động , nơi đây có vùng của
dây thần kinh sinh ba (zone du trijumeau) tiếp nhận những thông tin cảm
giác từ đầu và mặt. Vùng này đóng một vài trò chủ yếu trong việc xử lý
các thông tin thân thể-cảm giác ( somatosensoriel ), đau đớn hay là không.
Việc vỏ não dày thêm của những bệnh nhân này có thể là phản ảnh của tính
quá nhạy cảm đối với các kích thích, điều này giải thích tại sao những
người bị chứng đau nửa đầu cũng thường có những vấn đề đau đớn khác như
đau lưng (lombalgie), đau hàm. Những biến đổi hình thái này tương ứng
với các bất thường được quan sát trong sự vận hành của những đường thần
kinh thân thể - cảm giác sinh ba dưới vỏ não ( voies somato-sensorielles
trigéminées sous-corticales ), đã được làm sáng tỏ trong một nghiên cứu
cũ hơn. Các tác giả kết luận rằng những thay đổi hình thái của vỏ não
cảm giác-vận động nơi những bệnh nhân bị chứng đau nửa đầu có thể đã làm
phát khởi những cơn đau nửa đầu lập đi lập lại hay cũng có thể là kết
quả của chúng. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 27/11/2007)
7/ VIỆC TIÊM CHỦNG TRẺ EM VÀ HEN PHẾ QUẢN
Theo các dữ kiện đang có hiện nay ( các công trình
nghiên cứu quan sát ) thì không có mối quan hệ giữa việc tiêm chủng các
trẻ em với BCG hay chống bệnh ho gà với nguy cơ phát triển về sau này
của bệnh hen phế quản. Ran Balicer và các công sự viên (Israel) đã viết
như vậy. Suốt trong những năm vừa qua, các nhà nghiên cứu rất chú ý đến
sự hiện hữu khả dĩ của một mối liên hệ giữa việc tiêm chủng và sự phát
triển các bệnh tạng dị ứng (affections atopiques) Các tác giả đã xem lại
các tài liệu y học và chọn 7 công trình nghiên cứu bàn về việc tiêm chủng
chống lại bệnh ho gà (liên quan đến 186.663 trẻ em) và 5 công trình nghiên
cứu dành cho tiêm chủng BCG (trên 41.479 trẻ em). Các tác giả đã không
tìm thấy một mối liên hệ nào có ý nghĩa về mặt thống kê giữa một trong
những vaccin này với tỷ lệ mắc phải hen phế quản suốt trong thời kỳ thơ
ấu và thiếu niên. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 27/11/2007)
8/ CHÂM CỨU ĐƯỢC CÔNG NHẬN CÓ HIỆU QUẢ ĐỐI
VỚI CÁC BỆNH NÀO ?
Năm 1979, Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã công nhận tác dụng của châm cứu trong
một số bệnh lý như viêm dạ dày, đại tràng co thắt (colon spastique), bón,
tiêu chảy, viêm xoang (sinusite), viêm phế quản, hen phế quản, nhiễm trùng
đường hô hấp lập đi lập lại, đau đầu , chứng máy cơ (tics), đau cổ, đau
liên sườn, vai đóng băng (épaule gelée), tennis-elbow, viêm gân (tendinite),
đau lưng, viêm khớp, bệnh lý về tiết niệu và phụ khoa.
Năm 1998, một hội nghị nhất trí, được tổ chức bởi Viện Quốc Gia Y Tế (
National Institute of Health ) Hoa Kỳ, đã kết luận về tính hiệu quả của
châm cứu lên nôn và mửa sau giải phẫu và do hóa học trị liệu nơi người
trưởng thành, cũng như trên chứng đau răng sau giải phẫu. Các chuyên gia
cũng công nhận những tình huống khác trong đó châm cứu có thể hữu ích
như điều trị hỗ trợ (traitement adjuvant), thậm chí như một điều trị thay
thế được đưa vào trong chương trình điều trị : nghiện (addiction), phục
hồi sau tai biến mạch máu não, đau đầu, đau quặn lúc có kinh, tennis-elbow,
đau xơ cơ (fibromyalgie), đau cân cơ (douleurs myofasciales), viêm xương
khớp (ostéoarthrite), đau lưng, hội chứng ống cổ tay (syndrome du canal
carpien), hen phế quản.Và rằng «những nghiên cứu bổ sung khả dĩ khám phá
những lãnh vực bổ sung trong đó châm cứu có thể có ích ». Nguồn: (LE
GENERALISTE 6/12/2007)
9/ CÁC THUỐC GIẢM ĐAU NHA PHIẾN ĐƯỢC SỬ
DỤNG ĐẾU ĐẶN CÓ THỂ KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LÁI XE
Các bệnh nhân uống thuốc giảm đau có tác dụng mạnh
như các chất nha phiến (opioids) thường được khuyên không nên điều khiển
vận hành các máy móc nặng bởi vì tác dụng an thần của những loại thuốc
này. Nhưng một công trình nghiên cứu mới đây nhận thấy rằng những người
sử dụng đều đặn thuốc chống đau nha phiến để điều trị đau đớn mãn tính
vẫn lái xe tốt trên lộ như phần lớn những người khác.
Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận này sau khi yêu cầu hai nhóm khoảng
50 người tình nguyện mỗi nhóm, sử dụng một máy lái xe giả (a driving simulator)
trong 12 phút. Các thành viên trong một nhóm là những người sử dụng đều
đặn morphine dùng bằng đường miệng ; còn các người tham dự của nhóm kia
thì không uống thuốc giảm đau.
Công trình nghiên cứu, được trình bày tại một hội nghị mới đây của Hiệp
hội các nhà gây mê Hoa Kỳ, đã sử dụng máy lái xe giả để đo thời gian phản
ứng, tỷ lệ tai nạn và đã nhận thấy ít có sự khác nhau giữa hai nhóm.
Nhà lãnh đạo công trình nghiên cứu, Asokumar Buvanendran thuộc Rush University
Medical Center ở Chicago, đã nói rằng những người sử dụng đều đặn các
thuốc nha phiến như morphine đã phát triển một sự dung nạp thuốc (tolerance)
đối với các tác dụng phụ.
« Nếu tôi đột ngột uống 30 mg, », ông nói như vậy , « có lẽ tôi sẽ ngủ
trong 10 giờ, trong khi người nào đó cũng uống 30 mg morphine này từ 2
năm qua, thì có lẽ cũng vẫn tỉnh táo như tôi bây giờ». Buvanendran nói
rằng ông ta đã bắt đầu công trình nghiên cứu sau khi một bệnh nhân đã
nói với ông rằng đơn xin việc làm tài xế xe bus của anh ta bị bác chỉ
vì lý do này.
Ông nói, những điều được tìm thấy gợi ý rằng việc tuyển dụng và những
hạn chế khác lên những người sử dụng đều đặn thuốc nha phiến chống đau
cần nên được xét lại. Nếu không, những người sử dụng thuốc nha phiến đều
đặn này sẽ có thể bị từ chối có một cuộc sống bình thường một cách bất
công. Nguồn: (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/12/2007)
10/ NẮNG MẶT TRỜI QUÁ NHIỀU CÓ THỂ LÀ GIẢM
NGUY CƠ UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG
Các phụ nữ sống trong các nước có nhiều ánh nắng
mặt trời nhất dường như bị ung thư nội mạc tử cung (endometrial cancer)
ít hơn so với các phụ nữ sống xa xích đạo.
Sử dụng các dữ kiện to lớn của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế, các nhà nghiên cứu
đã nhận thấy những tỷ lệ mắc phải ung thư nội mạc tử cung thấp hơn nơi
những người được tiếp xúc nhiều hơn với các bức xạ UVB, ánh sáng tử ngoại
giúp da sản xuất vitamin D.
“ Có một liên hệ toán học ”, Cedric Garland, giáo sư y khoa gia đình và
phòng ngừa thuộc Đại Học California, San Diego, và đồng tác giả của công
trình nghiên cứu, được công bố trong số tháng 11 của tờ Preventive Medicine,
đã phát biểu như vậy.
Các nhà nghiên cứu đã thu thập thông tin về ung thư nội mạc tử cung trong
107 nước. Ở cả Nam lẫn Bắc bán cầu , vĩ độ (latitude) càng cao thì nguy
cơ càng lớn. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng tỷ lệ ăn thịt cao
hơn và nhóm người có thể trọng quá gia tăng được liên kết với nguy cơ
bị ung thư nội mạc tử cung cao hơn.
Mặc dầu các nhà nghiên cứu không đo nồng độ vitamin
D, Garland nói, “ Chúng tôi tin rằng vitamin D là nguyên nhân của các
điều đã được tìm thấy, bởi vì sự phân bố địa lý tương ứng với sự phân
bố của các loại ung thư khác, đã được chứng tỏ trong các công trình nghiên
cứu là liên quan với nồng độ của vitamin D”. Nguồn: (INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 29/11/2007)
Bác sĩ NGUYỄN VĂN THỊNH
( 14/12/2007)
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |