 |
Thời
Sự Y Học Số 52
BS Nguyễn Văn Thịnh
1/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CHỐNG SA SÚT
TRÍ TUỆ
Càng ngày càng tích lũy nhiều yếu tố chứng tỏ rằng các
rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) và chứng sa sút trí tuệ có thể
được ảnh hưởng một cách dương tính bởi một chế độ ăn uống nhiều cá (tức
là giàu oméga-3).
Ấn bản vừa qua của tờ American Journal of Clinical Nutrition
viết hai chương mới dành cho câu chuyện khá dài về ảnh hưởng của thức
ăn lên sức khỏe của não bộ. Thật vậy bài báo nói về hai công trình nghiên
cứu mới chứng tỏ sự hiện hữu của các mối liên quan giữa việc tiêu thụ
acide béo oméga 3 trong thức ăn và việc cải thiện các hiệu năng nhận thức
hoặc sự gìn giữ các hiệu năng này ở những người già.
Nhiều công trình nghiên cứu trước đây đã nhận thấy rằng
các chế độ ăn uống nhiều cá hoặc nhiều dầu cá đã liên kết với một tỷ lệ
thấp hơn bị chứng sa sút trí tuệ. Còn hai công trình nghiên cứu vừa qua
có tính chất đổi mới bởi vì chúng chứng tỏ mối liên hệ giữa việc tiêu
thụ acide béo omega 3 và chức năng nhận thức nơi những người không bị
chứng sa sút trí tuệ. Công trình này đặc biệt chú ý đến các giai đoạn
sớm của sự suy đồi khả năng nhận thức với hy vọng ngăn ngừa sự tiến triển
tiến về các giai đoạn của chứng sa sút trí tuệ thật sự và của sự tàn phế
và điều này trước khi chúng trở nên không thể hồi phục được.
Vậy thì có nên suy nghĩ lại về chế độ ăn uống của não bộ?,
Irwin Rosenberg, chuyên viên về dinh dưỡng (Boston, USA), trong bài xã
luận của mình đã gợi ý như vậy. « Dẫu sao, ý niệm ngăn ngừa chứng sa sút
trí tuệ liên kết với tuổi là một vấn đề có lợi ích toàn cầu ».
HIỆU QUẢ PHỤ THUỘC LIỀU LƯỢNG
Hai công trình nghiên cứu mới này nói với chúng ta điều
gì?
Công trình đầu tiên thực hiện ở Na Uy, đã nghiên cứu mối
liên hệ giữa việc tiêu thụ các lượng khác nhau của đồ ăn hải sản (cá và
các sản phẩm đánh cá), và các hiệu năng về nhận thức. 2031 người (55%
phụ nữ), tuổi từ 70 đến 74, xuất thân từ dân ở phần phía tây của nước
Na Uy, đã được tuyển mộ và đã chịu các trắc nghiệm về khả năng nhận thức
(tests cognitifs). Theo các kết quả, những người tiêu thụ trung bình mỗi
ngày trên 10g cá hoặc những sản phẩm tương tự, có những điểm số (scores)
cao hơn nhiều và có những hiệu năng nhận thức (performances cognitives)
tốt hơn những người ăn dưới 10 g mỗi ngày. Điểm khác đáng lưu ý : việc
liên kết này rất tùy thuộc vào lượng được tiêu thụ. Hiệu quả cực đại được
nhận thấy đối với một sự tiêu thụ khoảng 75g mỗi ngày.
Việc ăn cá ảnh hưởng lên phần lớn các chức năng
nhận thức và hiệu quả càng rõ rệt đối với cá không được chế biến (poisson
non préparé) và cá mỡ (poisson gras). Đối với các tác giả, Eha Nurk và
các cộng sự viên, nơi những người già, một chế độ ăn nhiều cá và các sản
phẩm đánh cá được liên kết với những hiệu năng nhận thức tốt hơn và điều
này tùy thuộc lượng được tiêu thụ.
Công trình nghiên cứu thứ hai của Hoà lan là công trình
nghiên cứu thăm dò. Carla Dullemeijer và các cộng sự viên đã đánh giá
sự liên hệ giữa acide béo polyinsaturé (AGPI) có
chuỗi rất dài và những hiệu năng về nhận thức trong 5 lãnh vực. Các nồng
độ của acide béo được đo vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu nơi 807
đàn ông và phụ nữ, tuổi từ 50 đến 70. Các hiệu năng nhận thức đối với
sự ghi nhớ (mémorisation), tốc độ cảm giác vận động (vitesse sensori –motrice)
và hiệu năng xử lý thông tin và sự lưu loát ngôn từ đã được đánh giá vào
lúc khởi đầu công trình nghiên cứu và 3 năm sau đó. Các kết quả cho thấy
rằng những nồng độ cao AGPI cho phép tiên đoán một
sự suy đồi xảy ra ít hơn trong vận tốc cảm giác vận động. Trái lại, chúng
không cho phép tiên đoán những thay đổi trong trí nhớ, tốc độ xử lý thông
tin hay sự lưu loát ngôn từ trong khoảng thời gian này.
“Chúng ta biết rằng các acide béo oméga-3 chiếm 40% các
acide béo của màng phospholipide trong não bộ. Chắc chắn các acide béo
này có một tác dụng lên sự vận hành của các thụ thể màng tế bào (récepteurs
membrannaires) và ngay cả lên sự phát sinh các chất dẫn truyền thần kinh
(neurotransmetteur) ”
Có lẽ các résonances magnétiques và các tomographies par
émission de positrons sẽ cho phép biết nhiều hơn về sự vận hành này và
sẽ làm sáng tỏ các lý thuyết được đưa ra về hoạt tính của các acide mỡ
oméga-3 trong não bộ và giai thích làm sao các acide này có thể làm chậm
lại sự thoái hóa thần kinh (neurodégénération).
“ Các công trình nghiên cứu về các mối liên hệ giữa dinh
dưỡng và sự vận hành của não bộ suốt trong một thời gian dài diễn ra các
tiền chứng (prodromes) của thoái hóa thần kinh do tuổi tác, sẽ tạo khả
năng cho những can thiệp sớm nhằm đảm bảo sự duy trì chức năng não bộ
và sự làm chậm lại tiến triển tiến về chứng sa sút trí tuệ, căn bệnh gây
tốn kém về mặt kinh tế và làm giảm chất lượng sống. ” Nguồn: (LE
JOURNAL DU MEDECIN 16/11/2007)
2/ LAU CHÙI CÓ MỤC TIÊU ĐỀ
CHỐNG LẠI MRSA
Theo một công trình nghiên cứu của Anh, để chống lại MRSA
(methicillin- resistant staphylococcus aureus) phải cải thiện việc lau
chùi bệnh viện và đặc biệt là các bề mặt mà các bàn tay của bệnh nhân
sờ mó vào.
Vì lẽ số bệnh nhân mang MRSA gia tăng nên vấn đề lau chùi
(nettoyage) càng ngày càng trở thành mấu chốt ở bệnh viện. Nói chung,
sự sạch sẽ thường được đánh giá bằng mắt, điều này không phải luôn luôn
tương ứng với nguy cơ vi sinh học thật sự. BS Stéphanie Dancer (Glasgow,
Anh) đánh giá rằng nên tính đến tất các các giai đoạn khả dĩ của sự lan
truyền của tụ cầu khuẩn vàng (staphylocoque doré) giữa người (bệnh nhân
và nhân viên điều dưỡng) và môi trường chung quanh.
Chúng ta đã biết rằng việc lau chùi là một chìa khóa thiết
yếu nhằm kiểm soát các nhiễm trùng bởi Clostridium difficile, cầu khuẩn
ruột đề kháng với vancomycine, norovirus và Acinetobacter spp. Chính vì
thế Stephanie Dancer đã thực hiện một công trình nghiên cứu để giải thích
tại sao việc lau chùi có thể có ảnh hưởng lên sự kiểm soát MRSA hơn là
điều mà chúng ta nghĩ cho đến ngày nay.
Ví dụ bà nghĩ rằng việc thêm các dịch vụ lau chùi là dễ
dàng hơn là việc cải thiện sự tuân thủ liên quan đến việc rửa tay. Ở bệnh
viện, đối với bà, việc lau chùi các bề mặt do các bàn tay đụng vào và
dễ bị ô nhiễm bởi các MRSA, hơn là nhằm vào các bụi bặm nhìn thấy được,
có vẻ là một chiến lược có thể thực hiện được.Thế mà các quả đấm cửa (poignées
de porte), các thanh giường (barre de lit), các bơm truyền dịch (pompes
à perfusion), những cái ngắt điện (interrupteurs).. lại không được sự
chú ý đúng mức và ngay cả bị lãng quên bởi những người lau chùi.
“Chắc chắn rằng việc rửa tay là giải pháp hiệu quả nhất
để kiểm soát sự lan truyền của MRSA...nhưng, dầu cho mọi người đều lau
chùi tay một cách đúng đắn đi nữa, những hiệu quả của một động tác rửa
tay mẫu mực vẫn như không nếu môi trường chung quanh bị ô nhiễm nặng bởi
MRSA ”, bà Stéphanie Dancer đã kết luận như vậy. Nguồn: (LE
JOURNAL DU MEDECIN 20/11/2007)
3/ DỊCH SIDA TIẾN TRIỂN CHẬM
LẠI
Tiến triển của dịch SIDA
hơi chậm lại nhưng bệnh vẫn tiếp tục giết hơn 5.700 người mỗi ngày, Onusida
(chương trình chung của Liên Hiệp Quốc về VIH/sida) đã loan báo hôm thứ
ba như vậy. Khoảng 33,2 triệu người từ nay sống với virus. So sánh với
các con số của năm 2001 cho thấy sự ổn định của dịch : cách nay 6 tháng,
thế giới có 3,2 triệu trường hợp bị lây nhiễm mới và 29 triệu người có
huyết thanh dương tính (séropositif ) cũng như 1,7 triệu tử vong.
“ Có lẽ chúng ta bắt đầu cảm nhận một đáp ứng về những
gì đã được đầu tư (trong ngăn ngừa bệnh sida). Những trường hợp lây nhiễm
mới đang lùi lại và tỷ lệ nhiễm VIH đang ổn định”. Peter Piot, giám đốc
chấp hành của Onusida đã vui sướng nhận xét như vậy. Nguồn: (LE
SOIR 21/11/2007)
4/ TỶ LỆ TỬ VONG BÀ MẸ VÀ TRẺ EM
ĐẠT NHỮNG TIẾN BỘ CHẬM
Tỷ lệ tử vong của bà mẹ (mortalité maternelle) không lùi
lại khá nhanh để đạt được những mục tiêu cho sự phát triển mà Liên Hiệp
Quốc đã quy định từ nay cho đến 2015. Bù lại, ngày nay, càng ngày càng
có nhiều trẻ em sống sót.
Tỷ lệ tử vong của bà mẹ diễn đạt số tử vong của các phụ
nữ trên 100.000 trường hợp sinh con sống (naissances vivantes) suốt trong
thời kỳ thai nghén cho đến ngày thứ 42 sau khi sinh.Tỷ lệ này giảm quá
chậm nên khó mà đạt được mục tiêu thứ năm của Thiên kỷ cho phát triển
(OMD : objectif du Millénaire pour le développement). Theo Unicef (Quỹ
Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc), OMS (Tổ chức y tế thế giới), FNUAP (Quỹ Liên
Hiệp Quốc phát triển dân số) và Ngân Hàng thế giới, thì từ nay đến 2015
sẽ khó có thể giảm ¾ số phụ nữ còn tử vong lúc sinh. Để đạt được điều
này, tỷ lệ tử vong của bà mẹ phải giảm theo nhịp độ 5,5% mỗi năm từ năm
1990 đến năm 2015, điều này dường như không còn có thể đuổi kịp được nữa.
Thật vậy những gì đã đạt được là tỷ lệ tử vong của bà mẹ giảm 0,4% mỗi
năm, điều này tương ứng với 536.000 tử vong của bà mẹ năm 2005 so với
576.000 năm 1990. Và lại thêm nữa, tỷ lệ này chỉ là 0,1% ở châu Phi Sahara.
TÁC ĐỘNG CỦA SỰ NGHÈO KHÓ
Hầu như toàn bộ các tử vong xảy ra trong những nước không
phát triển, là nơi tỷ lệ tử vong của bà mẹ là 450 phụ nữ trên 100.000
trẻ sinh ra đời. Tỷ lệ này lần lượt là 9 và 51 trên 100.000, trong những
nước phát triển và trong các nước Đông Âu. Châu Phi đặc biệt bị ảnh hưởng
(270.000 tử vong) và Nam Á là 188.000 tử vong. Toàn bộ hai khu vuc này
của thế giới chiếm tổng cộng 86% những tử vong của các bà mẹ. Giảm những
tử vong vô ích của 10 triệu phụ nữ và thiếu nữ, chết từ thế hệ này qua
thế hệ khác trong thời kỳ thai nghén và trong khi sinh, và của 4 triệu
trẻ sơ sinh, là mục tiêu ưu tiên. Những tử vong bi thảm này là một trong
những nguyên nhân của sự nghèo nàn trên thế giới, trong khi chúng có thể
được ngăn cản nhờ những đầu tư với phí tổn thấp. “ Mỗi giây phút trôi
qua sẽ có một phụ nữ chết một cách vô ích trong khi thai nghén và trong
khi sinh ”, Mary Robinson, ngày trước là lãnh đạo của Cọng Hòa Ái Nhĩ
Lan đã nói như vậy. Cứ mỗi thế hệ có đến 10 triệu phụ nữ bị mất đi. Có
những cách biệt lớn lao giữa các nước giàu và các nước nghèo. Cứ 6 phụ
nữ sẽ có một sẽ chết do những hậu quả của thai nghén ở Afghanistan, một
trên 2.500 ở Hoa Kỳ và một trên 29.800 ở Thụy Điển, theo những thống kê
của Liên Hợp Quốc năm 2000.
Dành ưu tiên cho việc cải thiện những săn sóc dành
cho các phụ nữ và đảm bảo việc tiếp cận phổ quát các dịch vụ y tế sinh
đẻ phải là một uu tiên. Nhưng các phụ nữ còn phải được tiếp cận với kế
hoạch hóa gia đình, ngăn ngừa thai nghén ngoài ý muốn và nhận những săn
sóc có chất lượng cao trong thời kỳ thai nghén và trong khi sinh, đặc
biệt là những săn sóc sản khoa cấp cứu.
Về số tử vong hàng năm của trẻ dưới 5 năm, lần đầu tiên
con số đã hạ xuống dưới mức 10 triệu, Unicef đã chỉ rõ như thế. Vào năm
1990 con số này là 13.000. Trong số 9,7 triệu trẻ chết mỗi năm, 3,1 triệu
tử vong xảy ra ở các nước Nam Á và 4,8 triệu ở châu Phi dưới Sahara. Trong
các nước phát triển chỉ có 6 tử vong trên 1000 trẻ được sinh ra đời.
Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em cũng là một trong những mục tiêu
của Thiên kỷ cho phát triển (Objectifs du Millénaire pour le développement).
Mục tiêu đề ra từ nay đến 2015 nhằm mức trung bình 27 tử vong trên 1000
trẻ còn sống khi sinh , so sánh với 55 tử vong trên 1000 năm 1990.Từ nay
đến năm 2015, có thể tránh được tử vong cho 5,4 triệu mạng sống. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/11/2007)
5/ MỐI LIÊN HỆ CHẶT CHẼ GIỮA
VIÊM MŨI DỊ ỨNG VÀ SUYỄN
Thật vậy các nghiên cứu mới đây chứng tỏ rằng viêm mũi
không chỉ là một yếu tố nguy cơ đối với suyễn mà còn có thể là một yếu
tố gây kịch phát (un facteur d’exacerbation).
Vào năm 2015 cứ hai người trưởng thành thì có một người
bị ít nhất một dạng dị ứng như viêm mũi dị ứng (rhinite allergique), suyễn,
chàm (eczéma) và các dị ứng thức ăn.Viêm mũi và suyễn thuộc về những bệnh
kinh niên thường gặp nhất trên thế giới. Các trẻ em đặc biệt dễ bị tổn
thương bởi các bệnh này bởi vì người ta ước tính tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi
dị ứng là khoảng 10 đến 20% nơi các trẻ ở lứa tuổi học đường và từ 15
đến 30% nơi các thiếu niên. Ở những người trưởng thành, khoảng 80% những
người bị suyễn có một dạng này hoặc dạng kia của viêm mũi và 15 đến 30%
những người bị viêm mũi trở thành suyễn sau đó.
Dưới ánh sáng của các nghiên cứu căn bản mới đây và các
thử nghiệm lâm sàng, viêm mũi và suyễn dường như liên kết mật thiết với
nhau, điều này gợi ý khái niệm « một đường hô hấp, một bệnh lý » ( voie
respiratoire, une maladie ). « Điều quan trọng là các bác sĩ gia đình
phải nhận biết sự hiện diện của một bệnh viêm mũi nơi những bệnh nhân
suyễn và, ngược lại thăm khám sự hiện diện suyễn nơi các bệnh nhân bị
viêm mũi »
Thật vậy chúng ta biết rằng cứ ba bệnh nhân bị viêm mũi
dị ứng thì một bệnh nhân có thể phát triển thành suyễn trong 10 năm.Thế
mà một điều trị tốt chứng viêm mũi có thể làm giảm nguy cơ phát triển
và gây kịch phát bệnh suyễn. Do đó các lời khuyên nhấn mạnh vào sự cần
thiết điều trị chứng viêm mũi và đánh giá tình trạng suyễn nơi những bệnh
nhân bị viêm mũi kéo dài.
Vì lẽ phần lớn các bệnh nhân bị suyễn cũng bị viêm mũi, nên cần phải điều
trị phối hợp để điều trị những đường hô hấp dưới và trên, phổi và mũi.
Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 6/11/2007)
6/ PHẢI LỰA CHỌN ASPIRINE HAY LÁI
XE
Lần đến khi bạn đau đầu và bạn phải uống một loại thuốc
chống đau trước khi nhảy lên xe hơi, bạn hãy suy nghĩ kỹ, «The Independent
on Sunday» báo trước như vậy. Bởi vì ngay những thuốc có vẻ vô hại
như Ibuprofen dường như cũng làm gia tăng ít nhất 50% các nguy cơ tai
nạn đường xá .
Uống và lái xe, đó là một kết hợp chết người, chẳng ai
nghi ngờ điều đó. Cầm lái sau khi đã uống ectasy hay những thuốc ma túy
khác chắc chắn không phải là một ý tưởng tốt, điều đó chúng ta cũng biết.
Nhưng giờ đây một công trình điều tra của Na Uy tiết lộ rằng những thuốc
mà phần lớn chúng ta có một cách hợp pháp và sử dụng nhưng vẫn lái xe,
có những tác dụng âm tính lên tinh thần cảnh giác (vigilance) lúc cầm
lái.
Các nhà nghiên cứu đã xem xét mối liên hệ giữa tai nạn
đường xá và việc dùng thuốc của khoảng 3 triệu người. Sau đó các nhà nghiên
cứu đã phân chia các “cobayes” thành các loại tùy theo loại thuốc mà họ
uống vào, từ pénicilline đến thuốc an thần, codéine và các thuốc chống
suyễn. Đó chỉ là những thuốc được kê toa bởi các BS chứ không phải là
những thuốc bất hợp pháp.
Công trình điều tra đã phát hiện rằng 79% những người tham
dự vào cuộc điều tra đã dùng một loại thuốc trước khi bị tai nạn đường
xá. Các thuốc an thần là những thuốc làm biến đổi nhất tinh thần cảnh
giác lúc cầm lái. Điều này không làm ngạc nhiên lắm. Điều gây ngạc nhiên
nhất là aspirine và những chất khác thuộc loại này thường cũng đóng một
vai trò trong các tai nạn công lộ. Nguồn: (METRO 8/11/2007)
7/ TỐC ĐỘ ĐI BỘ CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN
TUỔI THỌ
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi sức khỏe của gần 500 lão
ông trong gần một thập niên và đã nhận thấy rằng những lão ông có tốc
độ đi bộ nhanh hơn đã chết ít hơn trong thời gian tiến hành công trình
nghiên cứu.
Các nhà nghiên cứu nói rằng những điều được tìm thấy gợi
ý rằng tốc độ của bước đi có thể là một dấu hiệu tiên đoán tốt về khả
năng sống sót lâu dài. Nghiên cứu này được trình bày tại hội nghị của
Hiệp Hội Lão Khoa Hoa Kỳ (Gerontological Society of America).
Trong một nghiên cứu liên quan, được công bố trong số tháng
11 của The Journal of the American Geriatrics Society, các nhà
nghiên cứu cũng đã nhận thấy rằng những người mà tốc độ đi bộ được cải
thiện đã làm giảm nguy cơ tử vong của họ.
“Chúng tôi không biết tại sao?”, Stephanie Studenski thuộc
trường Y của Đại học Pittsburgh, một trong những tác giả của công trình
đã phát biểu như vậy. “Phải chăng một số người tham dự công trình nghiên
cứu đã tập thể dục ? Phải chăng một số trong những người này có những
vấn đề về sức khỏe, đã được điều trị và đã được cải thiện?”
Công trình nghiên cứu này được trình bày tại hội nghị lão
khoa, đã báo cáo rằng 9 năm sau khi tốc độ bước đi của những lão ông tham
dự đã được đo lường , 77% những người được mô tả là bước chậm đã chết,
50% những người được xem là bước trung bình đã chết và 27% những người
được xem là bước nhanh đã chết. Nguồn: (INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 22/11/2007)
8/ THUỐC LÁ NỒNG
ĐỘ NICOTINE THẤP CÓ THẾ HỮU ÍCH
Những người nghiện thuốc lá được cho hút thuốc lá với nồng
độ nicotine được giảm bớt trong 5 tuần và sau đó cho phép họ hút trở lại
thuốc lá có nồng độ bình thường, cuối cùng những người này đã hút thuốc
lá ít hơn, theo các tác giả của một công trình nghiên cứu nhỏ.
Công trình nghiên cứu gợi ý rằng nếu chính phủ Hoa Kỳ yêu
cầu các công ty thuốc lá làm giảm nồng độ nicotine trong các điếu thuốc,
thì sẽ có nhiều người hơn có thể có khả năng bỏ thuốc và ít người bị nghiện
thuốc hơn. Các công ty thuốc lá đã làm các thuốc lá được ghi là có nồng
độ hắc ín và nicotine thấp. Nhưng các công ty đã làm như vậy, các nhà
nghiên cứu nói, không phải bằng cách hạ lượng nicotine mà bằng cách thiết
kế thế nào đó để (trên lý thuyết ) ít nicotine và hắc ín được hít vào
ít hơn. Nguồn: (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 22/11/2007)
9/ CÁC
NHÀ NGHIÊN CỨU ĐÃ THÀNH CÔNG BIẾN ĐỔI CÁC TẾ BÀO DA THÀNH NHỮNG TẾ BÀO
GỐC
Khám phá đầu tiên này của Hoa Kỳ và Nhật bản có thể đưa
đến nhiều áp dụng trong việc chống lại những thoái hóa mô (dégénérescences
tissulaires).
Những gì trong phòng thí nghiệm có thể được thực hiện với
các tế bào gốc của chuột cũng có thể chẳng bao lâu nữa, có thể thực hiện
ở loài người. Hôm thứ ba 20/11, hai nhóm nhà sinh học đã loan báo trong
hai tạp chí khoa học khác nhau, đã thành công in vitro biến đổi những
tế bào lấy trên một cơ quan người, thành những tế bào có những đặc tính
của những tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires).
Cùng lúc, hai nhóm nghiên cứu độc lập công bố trong tuần
này những kết quả của những công trình rất lý thú. Các nhà nghiên cứu
đã thành công “làm trẻ hóa” các tế bào trưởng thành của da, để làm chúng
giống hệt với các tế bào gốc phôi thai. Không cần trải qua giai đoạn tách
dòng (clonage) của một phôi thai, G.S Shinya Yamanata của đại học Kyoto,
đã công bố hôm thứ ba phương thức của ông trong tạp chí Cell : ông tái
chương trình hóa (reprogrammer) các nguyên bào sợi (fibroblast) của người
trưởng thành (tế bào da) bằng cách tiêm vào chúng các gènes tạo nên 4
yếu tố phiên mã (facteurs de transcription).
Nhóm nghiên cứu thứ hai của Hoa Kỳ của BS James Thomson
công bố hôm nay trong Science, cùng kết quả của công trình nghiên cứu
Nhật bản nhưng với một phương thức hơi khác. Ông cũng sử dụng 4 gènes
yếu tố phiên mã có thể tái chương trình hóa những tế bào trưởng thành
người, thành những tế bào đa năng được gây cảm ứng (cellules pluripotentes
induites) có những đặc điểm vật lý, di truyền và sinh học của những tế
bào gốc phôi thai. Từ một triệu các tế bào đã được tái chương trình hóa,
các nhà nghiên cứu đã quan sát sự xuất hiện ngay từ ngày thứ 12, trong
những hộp cấy, các cột tế bào có hình thái đặc điểm của những tế bào gốc
phôi thai người.
Tương tự với các tế bào phôi thai, những tế bào đa năng
được gây cảm ứng này sẽ có ích để nghiên cứu sự phát triển của phôi thai,
và các chức năng của các tổ chức người, để khám phá và trắc nghiệm những
thuốc mới.
Điều đáng đặc biệt chú ý của công trình này là sự sản xuất
các tế bào gốc phôi thai mà không cần đến phôi thai (embryon) hoặc quá
trình tách dòng điều trị (clonage thérapeutique) đã từng dấy lên nhiều
vấn đề về đạo đức. Phải chăng với nghiên cứu này nhiên hậu sẽ tiến đến
việc loại bỏ việc tách dòng điều trị (clonage thérapeutique)? Ian Wilmut,
cha đẻ của Dolly, con cừu cái đã được tách dòng (cloné) năm 1997, đã tuyên
bố ý muốn của ông muốn bỏ vĩnh viễn kỹ thuật tách dòng này, nghĩa là chuyển
nhân (transfert nucléaire) từ một nhân của một tế bào trưởng thành vào
trong một noãn bào (ovocyte) để tạo thành một thai nhi. Nguồn: (LE
FIGARO 22/11/2007) (LE MONDE 22/11/2007)
10/ VITAMINE B TRƯỚC KHI THAI NGHÉN
Phải chăng vitamines B là thiết yếu cho thai nhi ngay cả
trước khi thụ thai?
Đó là điều vừa được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố
tuần này trong Annales de L’Académie Américaine des Sciences.
Các nhà khoa học của Đại học Nottingham đã thực hiện công trình nghiên
cứu này trên cừu. Một khi trưởng thành, các cừu con có cừu mẹ thiếu vitamines
B trước khi thụ thai tỏ ra “ bự “ hơn và có huyết áp cao hơn huyết áp
của các cừu con có cừu mẹ có chế độ ăn uống bình thường (có vitamine B).
Sự thiếu vitamine B nơi người mẹ là nguồn gốc của những biến đổi ở ADN
của đứa con. Nguồn: (LE SOIR 20/11/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/11/2007)
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết này,
cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |