 |
Thời
Sự Y Học Số 50
BS Nguyễn Văn Thịnh
1/ LẦN ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI,
LIỆU PHÁP GEN Ở PHÁP CHỮA BỆNH LOẠN DƯỠNG CHẤT TRẮNG NÃO BỘ
Liệu pháp gen (thérapie génique) cho những kết quả đáng phấn khởi trong
việc điều trị bệnh loạn dưỡng chất trắng (leucodystrophie hay adrénoleucodystrophie),
một tập hợp các bệnh di truyền gây thương tổn chất trắng của não bộ. Giáo
sư Patrick Aubourg ( khoa nội tiết nhi đồng của bệnh viện Saint-Vincent-de-Paul,
Paris, giám đốc đơn vị 745 của Inserm), đã trình bày hôm chủ nhật 28 tháng
10, trong hội nghị lần thứ XV của Hiệp hội châu Âu về liệu pháp gen và
tế bào, ở Rotterdam (Hoà Lan), những kết quả sơ khởi của thử nghiệm đầu
tiên trên thế giới về liệu pháp gen được tiến hành trên hai trẻ em bị
bệnh loạn dưỡng chất trắng này.
Ở Pháp , cứ 2000 trẻ sơ sinh thì có một trẻ mắc phải chứng bệnh này. Bệnh
loạn dưỡng chất trắng là một bệnh di truyền gây phá hủy bao myéline của
não bộ và tủy sống. Do đó bệnh ngăn cản sự lan truyền của các luồng thần
kinh.
Trong trường hợp bệnh loạn dưỡng chất trắng mà 2 trẻ nói trên mắc phải,
căn bệnh là do sự đột biến của một gen được mang bởi nhiễm sắc thể X,
được nhận diện năm 1993 bởi các nhóm nghiên cứu của các giáo sư Aubourg
và Mandel. Được truyền bởi người mẹ, căn bệnh chỉ phát triển nơi các bé
trai, còn các bé gái chỉ là tác nhân dẫn bệnh.
Bệnh lý này gây tàn phế nặng và tử vong trong những thể nặng.Tiến triển
diễn ra bằng 3 giai đoạn. Trong giai đoạn đầu đứa trẻ có vẻ phát triển
bình thường. « Trong giai đoạn từ 5 đến 12 tuổi, các vết trắng tăng sinh
trên hình chụp quang tuyến nhưng không có dấu hiệu lâm sàng.Vào giai đoạn
này ghép tủy xương cho kết quả tốt », giáo sư Aubourg giải thích như vậy.Vào
giai đoạn 3, trong lứa tuổi từ 6 tháng đến 2 năm, trẻ bị bệnh trở nên
liệt giường và mất các chức năng trí tuệ và vận động. « Tỷ lệ sống sót
rất biến thiên ».
Giải pháp ghép tủy xương (greffe de moelle) gặp phải vấn đề thiếu hụt
người cho (donneur) mặc dầu tình hình đã được cải thiện nhờ các ngân hàng
máu cuống rốn (banque de sang de cordon). Vì vậy mới nảy ra ý tưởng dùng
đến liệu pháp gen qua việc sử dụng các tế bào gốc sinh huyết (cellules
souches hématopoiétiques) hiện diện trong tủy xương và có khả năng cho
tất cả các dòng tế bào máu (lignées de cellules sanguines).
Các tế bào gốc sinh huyết của 2 đứa bé nói trên đã nhận in vitro gen thuốc
(gène médicament) mà chúng thiếu, rồi được đưa vào máu trở lại để tái
tạo toàn bộ các tế bào máu của chúng. « Lần lượt 6 và 12 tháng sau đó,
các trẻ mắc bệnh loạn dưỡng chất trắng này trở nên mạnh khỏe và chúng
tôi không nhận thấy một tác dụng phụ nào cả », giáo sư Aubourg đã xác
nhận như thế.
Cuộc đột phá chống lại bệnh loạn dưỡng chất trắng này, một căn bệnh thường
gây tử vong nơi các thiếu niên bị bệnh, là kết quả của một đoạn đường
nghiên cứu đặc biệt và của một sự cộng tác mẫu mực giữa rất nhiều bộ môn.
Cuộc đột phá này nếu được xác nhận có thể là quan trọng không những trong
điều trị bệnh loạn dưỡng chất trắng não bộ mà còn nhiều bệnh di truyền
khác. Nguồn: (LE FIGARO 29/10/2007) (LE MONDE 30/10/2007)
2/ BỆNH
SIDA VÀ BỆNH LAO, NHỮNG ĐỒNG MINH GÂY CHẾT NGƯỜI
Báo cáo kêu gọi một hành động khẩn cấp : OMS đang huy động để chống lại
những trường hợp nhiễm trùng kết hợp lao-sida càng ngày càng nhiều.
Gần 1/3 trong số 40 triệu người bị nhiễm bởi virus bệnh Sida ( VIH) trên
thế giới cũng bị nhiễm bởi trực khuẩn lao. Sự nhiễm trùng kết hợp này
(co-infection) hiện diện chủ yếu ở châu Phi Sahara ( nơi ½ những trường
hợp bệnh lao mới xảy ra nơi những người có huyết thanh dương tính với
VIH ) dẫn đến một tỷ lệ tử vong 5 lần cao hơn tỷ lệ tử vong do lao phổi
riêng biệt.Trên 8,8 triệu người bị nhiễm trùng lao, Tổ chức y tế thế giới
ghi nhận rằng 1,6 triệu người trong số những người này sẽ chết trong năm.Trong
số những người chết này sẽ có khoảng 195.000 người bị nhiễm đồng thời
bởi virus bệnh Sida.
Được công bố hôm thứ sáu 2 tháng 11, bản báo cáo của Hội nghị về một hợp
tác nghiên cứu virus bệnh Sida kêu gọi một hành động khẩn trương nhằm
chống lại thách thức do hai trận dịch này đưa ra. Bản báo cáo này xuất
phát từ một hội nghị chuyên đề được tổ chức vào tháng bảy ở Sydney ( Úc
) trong khung của hội nghị lần thứ 4 của Hiệp hội quốc tế về Sida.Vào
dịp này, hội nghị đã nhận được sự ủng hộ của Fondation Bill et Melinda
Gates, của Cơ quan quốc gia nghiên cứu bệnh Sida và các bệnh viêm gan
siêu vi trùng ( ARNS, France ) và của các Hãng bào chế Glaxo-Smith Kline
hay Tibotec. Sáng kiến này được nảy sinh từ mối lo âu gây ra do sự bất
tương xứng giữa quy mô của vấn đề và mức độ ngân quỹ dành cho các chương
trình chống lao.
Mặc dầu với các cố gắng của Tổ chức y tế thế giới (OMS) nhưng các tiến
bộ đạt được vẫn không đủ. “ Các nhà nghiên cứu về VIH đã không xem bệnh
lao như là một vấn đề cần chú ý khẩn cấp ”, bản báo cáo đã xác nhận như
thế. Bản báo cáo đánh giá là “tai họa” những hậu quả của tình hình này
trong các vùng có tỷ lệ rất cao của bệnh nhiễm trùng phối hợp này.
“ Bệnh dịch sida đã hoàn toàn làm mất ổn định việc kiểm soát bệnh lao
trong các vùng có tỷ lệ mắc bệnh sida cao ”. Bệnh lao là bệnh cơ hội (opportuniste)
thường phát triển nhất nơi những người bị nhiễm bởi VIH.
“ Ở trẻ em và người trưởng thành, sự đồng nhiễm VIH-lao liên kết với một
tỷ lệ tử vong cao không thể chấp nhận được ”, bản báo cáo chỉ rõ như vậy.
Sự lo ngại gia tăng do việc phát triển các thể lao nhiều đề kháng (multirésistant)
( với ít nhất hai trong các thuốc trị lao chính), thậm chí cực kỳ đề kháng
(ultrarésistant), đặc biệt ở Nam Phi, đất nước có số người mang virus
VIH lớn nhất. Một công trình nghiên cứu ở Nam Phi đã chứng tỏ số trường
hợp bệnh lao được nhân lên 6 lần.
“ Một trận dịch bệnh lao cực kỳ đề kháng vào năm 2006 ở Nam Phi đã làm
sáng tỏ những thiếu sót đáng kể trong chương trình khống chế lao ”, bản
báo cáo nhấn mạnh như thế. Năm 2007, Tổ chức y tế thế giới đánh giá trên
thế giới có 400.000 người bị bệnh lao nhiều đề kháng, 28.000 người phát
triển một dạng cực kỳ đề kháng.
“ Nhìn toàn bộ, các cố gắng nghiên cứu hiện nay , ở người lớn cũng như
trẻ em , là hoàn toàn không đủ trước những thử thách nghiêm trọng do trận
dich VIH-lao mang lại ”, các tác giả của bản báo cáo xét đoán như vậy.
Nguồn: (LE FIGARO 2/11/2007)
(LE MONDE 3/11/2007)
3/ NHỮNG
GIỐNG NHAU GIA ĐÌNH TRONG TỶ LỆ SỐNG SÓT ĐỐI VỚI VÀI LOẠI UNG THƯ
Những người bị cùng loại ung thư với cha hoặc mẹ sẽ có một tiên lượng
(pronostic) tương tự với những người này, trong trường hợp mắc phải ung
thư phổi, vú, đại tràng hay tiền liệt tuyến.
Nếu bạn thấy cha của bạn chết vì một ung thư phổi tiến triển nhanh, thế
thì tốt hơn đừng hút thuốc nửa. Như thế không phải bởi vì bạn chắc chắn
đến lượt bạn sẽ bị ung thư ( 16% những người hút thuốc sẽ bị ung thư phổi
) mà bởi vì tiên lượng xấu của một ung thư xảy ra nơi cha hoặc mẹ dường
như sẽ truyền phần nào cho con cái của mình. Cũng theo cách như vậy, nếu
mẹ của bạn bị ung thư vú có tiên lượng tốt với hy vọng chữa lành và nếu
như bạn cũng bị ung thư này, thì bạn cũng sẽ có khả năng cao hơn mức trung
bình sẽ được chửa lành. Đó là kết quả vừa được chứng tỏ bởi một công trình
nghiên cứu Thụy Điển tuần này trên tạp chí Lancet Oncology tháng 11/2008.
Hiện nay ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trong hầu hết
các nước phương Tây. Nhưng tiên lượng thay đổi tùy theo định vị của ung
thư. Đối với ung thư phổi, cứ mười người sẽ có một người sống sót sau
5 năm trong khi đó 85% phụ nữ vẫn còn sống 5 năm sau khi ung thư vú được
chẩn đoán, cũng như 3/4 các ông bị ung thư tuyến tiền liệt vẫn còn sống
sau 5 năm sau khi bệnh được phát hiện.
MỘT NGHIÊN CỨU KHÔNG ĐẦY ĐỦ
Các nhà nghiên cứu của viện Karolinska ở Stockholm đã khảo sát các dữ
kiện của 3 triệu gia đình gồm hơn một triệu người bị ung thư.Họ quan tâm
đến những người bị cùng loại ung thư với cha hoặc mẹ của họ để xem có
những mối tương cận giữa họ với nhau hay không. Chính như vậy mà các nhà
nghiên cứu đã kết luận rằng có một sự phù hợp nào đó giữa tiên lượng của
ung thư của cha hoặc mẹ và ung thư của con cái họ khi ung thư có định
vị giống nhau đối với vú, phổi, tuyến tiền liệt và đại tràng. Ngược lại,
sẽ không có một mối liên hệ nào giữa tỷ lệ sống sót của ung thư giữa hai
thế hệ khi định vị của ung thư không ở cùng một chỗ.
Trong một bài bình phẩm kèm bài báo, Dora Paltiel (bệnh viện Hadassah,
Jérusalem) đánh giá rằng công trình nghiên cứu vẫn không đầy đủ để xác
nhận một mối liên hệ như thế, rằng nghiên cứu đã không tính đến giai đoạn
lúc ung thư được chẩn đoán.
Như thế ta có thể giả sử rằng một sự chểnh mảng nào đó đối với sức khỏe,
trong việc phát hiện ung thư và phát hiện những triệu chứng đầu tiên cũng
có thể được truyền trong gia đình và góp phần làm tiên lượng xấu đi. Ngược
lại, việc cần phát hiện sớm được truyền từ cha mẹ đến con cái cũng có
thể giải thích tỷ lệ sống sót tốt hơn trong cùng một gia đình. Nguồn:
( LE FIGARO 6/11/2007)
4/ CÁC
THIẾU NIÊN TRỞ THÀNH HUNG HÃN HƠN DO XEM CÁC CẢNH HUNG BẠO Ở TV
Các thiếu niên xem phim hoạt họa hoặc những trận đấu thể thao đụng chạm
(sport de contact) ở TV trong lứa tuổi từ 2 đến 5 sẽ có nhiều khả năng
thành hung hãn hoặc không vâng lời sau này khi lớn lên, theo một công
trình nghiên cứu được công bố hôm qua trong báo y khoa “ Pediatrics ”
Chúng ta đã khám phá rằng các trẻ chưa đến tuổi đi học càng xem nhiều
các buổi phát truyền hình bạo lực thì chúng càng có khuynh hướng có những
hành vi chống xã hội ( tính hung hãn, không biết vâng lời, khuynh hướng
tạo cho mình những mối phiền lụy ) một khi chúng đến tuổi đi học ”, Dimitri
Christakis, một trong những tác giả chính của công trình nghiên cứu này
đã tuyên bố như vậy.
Đối với ông ta, “ những phim hoạt họa là những thủ phạm chính yếu ». Hầu
hết bố mẹ đều cho rằng các phim hoạt họa là không nguy hiểm đối với con
cái bởi vì dầu sao những phim này đều không có thực và chỉ có tính cách
khôi hài mà thôi. Nhưng theo nhà nghiên cứu thì chính cái khả năng của
những nhân vật trong phim hoạt họa bị đốn ngã rồi đứng dậy trở lại trong
phút giây sau đó là có tính chất đánh lừa. “ . “ Điều này mang lại một
cảm tưởng sai lạc về sự hung bạo trong đời sống thực tế », Dimitri Christakis
đã đánh giá như vậy.
Các thiếu niên nhỏ tuổi dường như đặc biệt nhạy cảm đối với loại ảnh hưởng
này. Các bé gái xem các chương trình có tính chất hung bạo hoặc các thiếu
niên xem những chương trình không hung bạo hay có tính chất giáo dục sẽ
không có cùng tính hung hãn về sau này khi lớn lên. Nguồn: (METRO
6/11/2007)
5/ SỰ
Ô NHIỄM CÓ MỘT HIỆU QUẢ TỨC THỜI LÊN MẠCH MÁU
Sự ô nhiễm không khí ảnh hưởng trực tiếp lên thành các huyết quản, gồm
cả những người trẻ và khỏe mạnh. Đó là điều được chứng tỏ bởi nhóm nghiên
cứu của Pierre Boutouyrie (Inserm UMR 872, Bệnh Viện châu Âu Georges-Pompidou,
Paris) trong một công trình nghiên cứu được công bố trong số tháng 11
của tạp chí Mỹ Hypertesion.
Khái niệm về một mối liên hệ giữa sự ô nhiễm không khí và tỷ lệ mắc bệnh
và tử vong tim mạch đã được xác lập. Những nghiên cứu mới này, được thực
hiện ở Paris, chứng tỏ rằng độc tính của sự ô nhiễm này không chỉ liên
quan đến những người trước đây đã có một bệnh lý về tim mạch mà ngay cả
những người không bệnh và không hút thuốc.
Các tác giả đã nghiên cứu trên 40 bệnh nhân, tuổi từ 18 đến 35, không
có một yếu tố nguy cơ tim mạch nào. Nhũng người này trước đây đã tham
gia vào một công trình nghiên cứu khác với các tác giả. Nhờ phương pháp
tần số phóng xạ với chất đánh dấu, các nhà nghiên cứu đã đo cách nhau
15 ngày, chức năng tế bào nội mô (fonction endothéliale), tức là khả năng
mạch máu giãn và co tùy theo lưu lượng máu cũng như những biến đổi của
phần trong của thành mạch máu.
DIOXYDE DE SOUFRE
Chức năng nội mô huyết quản dường như bị làm biến đổi bởi các mức độ ô
nhiễm không khí thông thường trong thành phố. Chức năng này có thể giảm
một nửa giữa ngày bị ít ô nhiễm nhất và ngày bị nhiều ô nhiễm nhất. «
Các khí gây ô nhiễm ảnh hưởng lên chức năng nội mô của các động mạch lớn,
trong khi đó những phân tử làm làm tăng quá mức sự giãn các động mạch
nhỏ », đáp ứng lại với sự giảm cung cấp máu, các tác giả ghi nhận như
thế.
Nhấn mạnh đặc biệt hiệu quả âm tính của các dioxyde d’azote và nhất là
của lưu huỳnh, Pierre Boutouyric và các cộng sự viên nhân xét rằng « sự
biến đổi quan trọng này đã được quan sát với những mức độ ô nhiễm tương
đối thấp »
Dioxyde de souffre trong không khí chủ yếu phát xuất từ các động cơ diesel,
do sự đốt cháy các chất đốt và các quặng chứa lưu huỳnh.Trong cơ quan,
dioxyde de souffre « có thể gây nên một phản ứng viêm toàn thân và đồng
thời ở phổi, cũng như những tổn hại oxydatif trong phổi và tim ». Nguồn:
(LE MONDE 3/11/2007)
6/ CAFE
: TỐT CHO CÁC PHỤ NỮ TRÊN 65 TUỔI
Tiêu thụ ít nhất 3 tách café hoặc 6 tách trà mỗi ngày sẽ có tác dụng có
lợi lên các chức năng nhận thức (fonction cognitive) của các phụ nữ 65
tuổi hoặc hơn. Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu được tiến hành
trong 4 năm bởi nhóm nghiên cứu Karen Richie của Viện quốc gia y tế và
nghiên cứu y học (INSERM) trên gần 7000 người.
Caféine đặc biệt có một vai trò dương tính chống lại các rối loạn liên
kết với bệnh Alzheimer ( trí nhớ, luận lý, ngôn ngữ ). Các nhà nghiên
cứu sẽ tiếp tục theo đuổi công trình nghiên cứu này của họ thêm 2 năm
nữa, đánh giá rằng việc tiêu thụ caféine có lẽ không đóng vai trò lên
sự xuất hiện của bệnh Alzheimer mà chỉ có ảnh hưởng lên tiến triển của
bệnh mà thôi. Nguồn: (READER’S DIGEST
11/2007)
7/ NGUY CƠ CỦA
THỜI KỲ HẬU MÃN KINH
Các phụ nữ trong thời kỳ hậu mãn kinh mà có những cơn hoảng sợ ( panic
attacks ) dường như có nguy cơ bị bệnh tim mạch và tử vong cao hơn.
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi 3.300 phụ nữ tuổi từ 51 đến 83 và đã nhận
thấy rằng một bệnh sử gồm có các cơn hoảng sợ toàn phát trong thời gian
6 tháng được liên kết với một nguy cơ bị bệnh động mạch vành 4 lần cao
hơn. Họ cũng đã nhận thấy nơi những phụ nữ này tỷ lệ tử vong do tất cả
các nguyên nhân khác gia tăng 75%, so với các phụ nữ không bị những cơn
hoảng sợ.
Các phụ nữ được tuyển mộ trong công trình nghiên cứu có quy mô lớn Women’s
Health Initiative Observational Study, nhằm nghiên cứu các yếu tố nguy
cơ đối với bệnh tim, ung thư, gãy xương và những nguyên nhân tử vong khác
trong số các phụ nữ ở thời kỳ hậu mãn kinh.Nghiên cứu hiện nay, được công
bố trong số tháng 10 của The Archive of General Psychiatry, được tài trợ
một phần bởi GlaxoSmithKline. Nguồn: (INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 11/10/2007)
8/ MÃN
KINH, GIẢM CÂN VÀ GÃY XƯƠNG HÁNG
Vào thời kỳ cận mãn kinh (périménopause), các phụ nữ đều có khuynh hướng
muốn làm giảm cân một chút hơn là lên cân. Các phụ nữ này sẽ có mật độ
xương (densité osseuse) ở vùng háng giảm nhanh chóng hơn là các phụ nữ
ít lo lắng theo dõi về thể trọng của mình.
Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu mới đây được đăng tải trong
Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism. Hyun Park ( Séoul, Corée)
và các cộng sự viên đã nghiên cứu những hiệu quả của một chương trình
hành động nhằm kiểm soát trọng lượng của các phụ nữ tuổi mãn kinh đã tham
gia vào Women’s Healthy Lifestyle. Các nhà nghiên cứu đã đưa vào trong
công trình nghiên cứu 373 phụ nữ tuổi mãn kinh ( tuổi từ 40 đến 50). Các
phụ nữ này được chia thành 2 nhóm : nhóm kiểm chứng (groupe contrôle)
(198 phụ nữ) và nhóm can thiệp (groupe intervention) ( 175 phụ nữ, chế
độ ăn uống ít chất mở, làm giảm cân, hoạt động thể dục ). Mật độ xương
và trọng lượng cơ thể được đo vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, lúc
theo dõi trong giai đoạn can thiệp (sau 18, 30 ,42 và 54 tháng ) cũng
như vào 2 lần khám theo dõi sau can thiệp (sau 66 và 78 tháng ). Sau 54
tháng can thiệp , các phụ nữ của nhóm can thiệp đã giảm cân 400 g, trong
khi đó các phụ nữ của nhóm kiểm chứng đã lên cân 2,6 kg. Trong nhóm can
thiệp, mật độ xương ở háng đã giảm sút một cách đáng kể so với nhóm kiểm
chứng. Trong thời kỳ sau giai đoạn can thiệp, mật độ xương đã lại bắt
đầu giảm theo cùng tốc độ trong hai nhóm. Vậy trong thời kỳ cận mãn kinh,
các phụ nữ muốn giảm cân quá nhiều là điều không có lợi. Nguồn: (LE
JOURNAL DU MEDECIN 6/11/2007)
9/ PHỤ
NỮ, VỆ SINH ĐỜI SỐNG VÀ NHỒI MÁU CƠ TIM
Một phụ nữ có chế độ ăn uống quân bình, uống rượu ít, tập thể dục đầy
đủ, không hút thuốc và không lên cân quá mức sẽ có nguy cơ rất thấp phát
triển bệnh nhồi máu cơ tim. Đó là điều được xác nhận bởi Agneta Akesson
và các công sự viên ( Viện Karolinska, Stockholm ). Các tác giả này đã
nghiên cứu về các thói quen ăn uống và về lối sống của 24.444 phụ nữ tuổi
mãn kinh đã tham dự vào một công trình nghiên cứu lâm sàng năm 1997. Vào
lúc tham gia công trình nghiên cứu, không có phụ nữ nào bị bệnh đái đường,
bệnh tim mạch hoặc ung thư. Trong suốt một thời kỳ theo dõi trung bình
6 năm , 308 phụ nữ trên tổng số đã tham gia đã bị nhồi máu cơ tim. Theo
các tác giả, những phụ nữ ăn uống lành mạnh (nhiều rau xanh, trái cây,
ngũ cốc trọn vẹn và cá ) và uống ít rượu (5g mỗi ngày) có nguy cơ bị một
đợt nhồi máu cơ tim đầu tiên, thấp hơn nhiều so với các phụ nữ có một
vệ sinh đời sống kém tốt hơn. Những phụ nữ có một chế độ ăn uống lành
mạnh, uống rượu có chừng mực, không hút thuốc, chơi thể thao đầy đủ và
có một thể trọng lý tưởng, có nguy cơ bị nhồi máu
cơ tim thấp nhất. Nguy cơ này dưới 92% nguy cơ của các phụ nữ không đếm
xỉa những lời khuyên về một lối sống lành mạnh.Theo các tác giả, một vệ
sinh về đời sống tốt cho phép tránh phần lớn các nhồi máu nơi các phụ
nữ. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 6/11/2007)
10/ THUỐC
NGỪA THAI VÀ SỰ VÔI HÓA THÀNH ĐỘNG MẠCH: NGUY HIỂM!
Theo các nhà nghiên cứu của đại học Gand (Bỉ), việc sử dụng lâu dài thuốc
ngừa thai làm gia tăng 20-30% nguy cơ vôi hóa động mạch. Các kết quả được
căn cứ trên một công trình nghiên cứu được tiến hành từ năm 2002 đến 2004
trên 2.500 người tình nguyện ( 1.200 đàn ông và 1.300 phụ nữ ) tuổi từ
35 đến 55.
Những người tham gia đã không hề có một bệnh tim mạch nào vào lúc bắt
đầu công trình nghiên cứu, và động mạch chủ cũng như các động mạch khác
của họ đã được thăm khám kỹ càng. Nhờ siêu âm người ta đã có thể lập họa
đồ (cartographier) về sự hiện diện của những vôi hóa động mạch..
« Trong số các phụ nữ được thăm khám, 81% người đã uống thuốc ngừa thai,
trung bình trong 13 năm. Nghiên cứu chứng tỏ một mối tương quan rõ ràng
giữa việc sử dụng lâu dài thuốc ngừa thai và sự vôi hóa thành động mạch.
Cứ một khoảng thời gian 10 năm uống thuốc ngừa thai, người ta quan sát
thấy một sự gia tăng 20-30% vôi hóa động mạch. Các kết quả này độc lập
đối với tuổi tác, sự nghiện thuốc lá, huyết áp, lipides, chứng béo phì,
bệnh đái đường, thể dục, chế độ ăn uống, trình độ học vấn và việc sử dụng
các loại thuốc khác », theo các nhà nghiên cứu của đại học Gand.
Các kết quả này đã được trình bày tại hội nghị hàng năm về tim học của
AHA (American Heart Association) ở Orlando. Tuy nhiên đừng vội hoảng sợ
bởi vì công trình nghiên cứu đầu tiên này còn phải được xác nhận. Hơn
nữa các con số chỉ nhắm vào các phương tiện ngừa thai trước đây và người
ta không biết các dữ kiện này có áp dụng được cho các thuốc ngừa thai
đang được sử dụng hiện nay hay không. Tuy nhiên tất cả các phụ nữ dùng
thuốc ngừa thai được khuyên cần kiểm tra huyết áp, cholestérol bởi các
bác sĩ gia đình của họ. Nguồn: (LE SOIR 7/11/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/11/2007)
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết này,
cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |