 |
Thời
Sự Y Học Số 49
BS Nguyễn Văn Thịnh
1/ MỘT VACCIN KÌM HÃM TIẾN
TRIỂN CỦA BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Trắc nghiệm trên 30 bệnh nhân,một điều trị trên cơ sở ADN sẽ làm chậm
lại các thương tổn não bộ đặc thù của bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en
plaques). Cần được xác nhận.
Những kết quả đầy hứa hẹn đầu tiên nhưng cần phải được xác nhận. Nhà miễn
dịch thần kinh hoc (neuro-immunologiste) Amit Bar-Or ( Viện thần kinh
Montréal ) đã đánh giá như vậy thực nghiệm đầu tiên của một thuộc chủng
chữa bệnh (vaccin curatif) trên những nạn nhân của chứng xơ cứng rải rác.
Được thực hiện trên một nhóm nhỏ 30 bệnh nhân,thuốc chủng dường như làm
chậm lại nhịp độ xuất hiện các thương tổn mới của não bộ, chịu trách nhiệm
những rối loạn thần kinh nghiêm trọng (vận động, tâm lý ).Tốt hơn nữa,
vaccin chữa bệnh này sẽ làm giảm phản ứng tự miễn dịch (réaction auto-immune)
đặc thù của bệnh xơ cứng rải rác. Thật vậy, bệnh này là hậu quả của một
cuộc tấn công của hệ thần kinh trung ương bởi hệ miễn dịch của chunh bệnh
nhân. Các tế bào miễn dịch tấn công protéine PBM của các bao myéline (
gaine de myéline ).Các bao myéline này bình thường có nhiệm vụ bảo đảm
sự lưu thông tốt của thông tin giữa các tế bào thần kinh, bằng cách làm
cách điện các trục thần kinh nối chúng lại với nhau.Thế mà, « vaccin chứa
ADN mã hóa cho protéine PBM, điều này gây nên một hiện tượng dung nạp
(phénomène de tolérance), do đó đưa đến giảm phản ứng tự miễn dịch »,
Amit Bar-Or đã giải thích như vậy. Tính đến nay, chỉ có một điểm dường
như được thừa nhận : vaccin thí nghiệm tỏ ra không nguy hiểm và được dung
nạp tốt. Nhưng để xác nhận hiệu quả của vaccin này, toán nghiên cứu đã
đi vào một thử nghiệm nhiều trung tâm (un essai multicentrique) giai đoạn
II, gồm gần 290 bệnh nhân. Nguồn: (SCIENCE ET VIE 11/2007)
2/ GHÉP VÀO TRONG
DẠ DÀY, MỘT MÁY TẠO NHỊP LÀM MẤT CẢM GIÁC ĐÓI
Làm mất cảm giác ngon miệng của những người thèm ăn bằng cách gởi một
luồng điện vào trong não bộ của họ. Giáo sư Charles-Henri Malbert đã tin
như vậy! Với nhóm nghiên cứu gồm nhiều nghành khác nhau của Inra (Rennes),
ông vừa đưa đơn văn bằng sáng chế của một máy tạo nhịp (pacemaker) có
thể cắm vào trong dạ dày. Máy bắt chước các tín hiệu chạy theo dây thần
kinh phế vị (nerf vague) lên đến não bộ và làm nảy sinh cảm giác no nê.
Máy tạo nhịp này được điều khiển qua da (trancutanée) này hiện nay đang
được nghiên cứu trên heo mắc chứng béo phì : con heo mang máy tạo nhịp
giảm lượng thức ăn ăn vào và thay đổi thức ăn được ưa thích (chọn đồ ăn
nhiều sợi hơn là glucides) Hiện nay còn cần phải biết xem khám phá không
có tác dụng phụ này ở đông vật sẽ có thể áp dụng duoc trên người hay không.
Nguồn: (SCIENCE
ET VIE 11/2007)
3/ CÁC TRẺ EM SINH VÀO MÙA HÈ DỄ BỊ CẬN
THỊ HƠN
Các trẻ em sinh vào mùa hè sẽ có nguy cơ trở thành cận
thị cao hơn so với các trẻ sinh vào mùa đông ! Thật vậy thời gian có ánh
mặt trời lâu hơn khiến nhãn cầu bị kéo dài ra, bởi một cơ chế hiện nay
chưa được biết rõ. “ Vì nhãn cầu bị kéo dài, các tia sáng hội tụ trước
võng mạc (rétine), do đó sự nhìn xa bị mờ đi ”, Giáo sư Michael Belkin
của Goldschleger Institut (Tel-Aviv) sau khi đã thực hiện cuộc phân tích
trên khoảng 300.000 thiếu niên, đã phát biểu như vậy.
“Mặc dầu môi trường có thể đóng một vai trò nào đó, nhưng
dầu sao di truyền vẫn là nguyên nhân chủ yếu của chứng cận thị, GS José-Alain
Sahel của bệnh viện XV-XX (Paris) đã bình luận như vậy. «Do đó những quan
sát trên đây cần phải được xem xét một cách thận trọng». Nguồn:
(SCIENCE ET VIE 11/2007)
4/ SỰ CÔ ĐƠN ĐÃ CÓ TỪ TRONG MÁU
Phải chăng sự cô đơn (solitude) đã có một chữ ký phân tử
(signature moléculaire)? Một công trình độc đáo, được công bố trong tạp
chí Genome Biology lần đầu tiên chứng tỏ rằng một vài loại gène được biểu
hiện một cách khác nhau nơi những người cô độc (solitaire) và nơi những
người dễ giao tiếp (sociable) hơn. Hai nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ, một
nhóm của Los Angeles và nhóm kia của Chicago, đã nghien cứu tỉ mĩ 200
gène được biểu hiện bởi các bạch cầu của 2 nhóm sinh viên. Nhóm đầu tiên
bao gồm những người độc thân tự bảo là cô đơn trong khi nhóm thứ hai gồm
những người sống lứa đôi và tự cho là dễ gần hơn. Các nhà khoa học đã
nhận thấy rằng, nơi những người cô đơn cô độc, 78 trong số 209 gène được
khảo sát là quá được biểu hiện (surexprimé). Can dự vào trong việc hoạt
hóa hệ miễn dịch và những phản ứng viêm, các gène này đã chế tạo nhiều
protéines hơn bình thường.
Mặt khác, 131 gène còn lại, can thiệp vào trong đáp ứng
chống virus, có một hoạt tính dưới mức trung bình. Nhưng phải chăng chính
sự cô đơn làm biến đổi sinh lý của con người hay chính sự di truyền ảnh
hưởng lên tính dễ gần gũi của anh ta ? Công trình nghiên cứu này đã được
tiến hành trên một số lượng người tham dự quá ít ỏi (14 người) nên không
thể đưa ra kết luận được. Tuy nhiên các tác giả hy vọng rằng công trình
nghiên cứu này nhiên hậu sẽ hiệu chính các chỉ dấu sinh học (biomarqueur)
để nghiên cứu những hậu quả của sự cô đơn lên sức khỏe. Và cho phép làm
sáng tỏ lý do tại sao những người cô đơn cô độc có một tỷ lệ tử vong cao
hơn. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 11/2007)
5/ MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI CHỐNG
BỆNH SIDA
Maraviroc tác dụng lên HIV bằng cách ngăn cản virus đi
vào bên trong tế bào.
Một tin vui và một tin buồn trong cuộc chiến chống lại
bệnh Sida. Tin vui đó là Cơ quan dược phẩm châu Âu vừa bật đèn xanh cho
lưu hành một thuốc mới chống bệnh Sida. Thuốc này là đại diện đầu tiên
của một lớp thuốc mới (và là thuốc thứ năm), được gọi là thuốc đối kháng
CCR5 hay còn được gọi là thuốc cản lối vào (inhibitrice d’entrée). Được
cho bằng đường miệng, maraviroc (Celsentri) của Hãng bào chế Pfitzer được
dành cho các bệnh nhân đã bị thất bại trong điều trị. Cơ chế tác dụng
của thuốc hoàn toàn độc đáo: trong khi các thuốc chống virus của 4 loại
thuốc điều trị kia tấn công virus một khi virus này đã vào náu mình trong
tâm của tế bào, thì maraviroc có tác dụng ngăn cản virus đi vào bên trong
tế bào bằng cách tác dụng lên cửa vào chính. Thật vậy người ta đã xác
nhận rằng ở một giai đoạn hơi tiến triển của nhiễm trùng, virus thích
sử dụng thụ thể CCR5 để tấn công các tế bào lympho CD4 và các đại thực
bào. Nhưng phép điều trị này có giới hạn của nó : tùy theo tính hướng
(tropisme), virus cũng có thể chọn một lối vào khác, lối vào CXRC4. Do
đó các bệnh nhân cần được trắc nghiện trước để biết họ là CCR5+ hay không.
Nhưng hiện thời xét nghiệm được sử dụng hiện không có ở châu Âu. Các mẫu
nghiệm phải được gởi qua Californie, cần thời hạn từ 3 đến 4 tuần.
Tin xấu là việc đình chỉ một công trình thử nghiệm tiêm
chủng lâm sàng rộng lớn được tiến hành bởi phòng bào chế Merck trên 3000
người tình nguyện lành mạnh. Những kiểm tra của một cơ quan độc lập đã
phát hiện rằng phép điều trị với V520 đã không bảo vệ bệnh nhân chống
lại nhiễm trùng HIV. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 11/20007)
6/ TÌNH YÊU CÓ MANG LẠI SỰ THÔNG MINH ?
Khi tôi yêu chàng (hay nàng), cái nền sinh học của trí
nhớ tôi được tăng lên 30%.
Trong cuộc sống, có hai thời điểm khác nhau, trong đó tình
yêu mang lại sự thông minh. Trước hết khi chúng ta còn là bé thơ trước
khi biết nói, và sau đó lúc chúng ta ở tuổi tình dục. Lúc còn bé thơ,
nếu quanh chúng ta không có một lớp vỏ bọc tình cảm ( những người sờ mó,
nói, tắm rửa, vuốt ve…) thì não bộ của chúng ta sẽ bị teo đi và tất cả
những phát triển sinh học và tâm lý của chúng ta sẽ bị dừng lại. Các kỹ
thuật chụp ảnh thần kinh (neuro-imagerie) hiện đại cho phép đo lường cả
sự tan não (fonte cérébrale) gây nên bởi sự cô lập về mặt giác quan (isolement
sensoriel) và sự thiếu tình cảm.
Sự teo các thùy trước trán xảy ra làm ngăn cản, biến hóa
hoặc ngay cả hủy bỏ cái nền thần kinh (socle neurologique) cho phép có
được khả năng dự đoán (anticipation). Một vùng khác được gọi là hệ limbique
cũng bị teo đi. Hệ này là cái nền thần kinh của trí nhớ và các cảm xúc.
Năm 1985, khi tôi được mời đến Roumanie để gặp các trẻ em bị bỏ rơi dưới
thời Ceaucescu, mọi người đã nói với tôi rằng đó là những trẻ bị bệnh
não (encéphalopathe) hoặc bệnh tự kỷ ( autiste). Vì tôi là nhà tập tính
học (ethologue) nên tôi biết được rằng một sự biến đổi về mặt giác quan
có thể gây nên một sự teo lại của vùng tương ứng của não bộ. Khi đó tất
cả các scanner được thực hiện đã cho thấy các thùy trán, limbique bị teo
lại. Do đó một trẻ thiếu tình cảm không có khả năng cảm thấy trước cũng
như không thể sử dụng trí nhớ của mình vì lẽ cái nền thân kinh đã không
được kích thích. Các trẻ em roumain này không thể nói thành câu, không
thể tư duy, và ngay cả không thể tự biểu thị thời gian… Trước khi biết
nói, món ăn tình cảm là một kích thích não bộ các nền móng cho phép sự
biểu thị thời gian (nghĩa là các câu chuyện), toán học, hình học…
Thời điểm thứ hai là lúc chúng ta đến tuổi của khát vọng
tình dục. Lúc đó chúng ta sẽ học yêu theo một cách mới, mạnh mẽ, buộc
từ giã cách yêu đầu tiên (cha,mẹ..). Dục tình buộc chúng ta thử làm một
cuộc phiêu lưu thăm dò kẻ khác. Chúng ta buộc phải có được sự thông minh
của một thế giới khác, phát triển sự tha giác (empathie) của chúng ta.
Thế mà, khi tôi yêu, điều gì sẽ xảy ra trên bình diện sinh học? Luôn luôn
thức tỉnh, tôi chỉ nghĩ đến chàng (hoặc nàng).Và khi tôi ngủ, độ dài của
các giai đoạn của giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal ) của tôi sẽ gia
tăng 30%.
Ngoài ra, sự việc yêu ( một người phụ nữ, một người đàn ông, một đất nước
khác, một văn hóa khác, một ngôn ngữ khác, một cuốn sách ) thúc giục tôi
thực hiện cuộc thăm dò. Tôi phải học cái ngôn ngữ đó, cái thế giới tinh
thần của người đàn bà ( người đàn ông) mà tôi mơ tưởng … như thế về phương
diện sinh học, tôi chuẩn bị để học hỏi; về phương diện tâm lý cũng vậy.
Và ngay cả ở lứa tuổi rất cao (120 tuổi), yêu thương vẫn
là một kích thích chủ yếu của não bộ chúng ta và của thế giới tâm linh
thầm kín của chúng ta ! Mặc dầu cách yêu thương một lần nữa đã thay đổi.
Vậy thì, vâng, tình yêu đem lại sự thông minh ở các giai đoạn của sự phát
triển của con người. (Boris Cyrulnik, Neuropsychiatre, Université de Toulon).
Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 11/20007)
7/ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ TIẾN
TRIỂN NHANH NƠI NHỮNG NGƯỜI CÓ HỌC VẤN
Như một con ma hút máu, chứng sa sút trí tuệ tuồng như
được nuôi sống bởi vốn kiến thức của nạn nhân. Bệnh nhân càng có học vấn
cao, bệnh càng tiến triển nhanh. Đó là điều được tiết lộ bởi một công
trình nghiên cứu được công bố trên báo y học Neurology.
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi trong 6 năm : 117 người
đã phát triển chứng sa sút trí tuệ (démence) trên tổng số ban đầu 448
người tình nguyện. Những người tham dự thuộc nhiều mức độ học vấn khác
nhau : từ dưới 3 năm ở trường tiểu học đến những người tốt nghiệp cấp
3.
Kết quả cho thấy rằng bệnh sa sút trí tuệ xuất hiện muộn
hơn nơi những người có trình độ học vấn cao. Nghiên cứu chứng tỏ rằng
đối với mỗi năm đào tạo bổ sung, sự suy thoái trí nhớ được chậm lại khoảng
2 tháng rưỡi.
Nhưng sự học vấn không phải là cái khiên che chở lâu dài.
Một khi đạt đến giai đoạn quyết định, chứng sa sút trí tuệ, như thể để
gỡ lại sự chậm trễ của mình, sẽ tiến triển nhanh hơn nơi những người «
có văn bằng ». Khi đó nhịp độ mất trí nhớ sẽ là 4% nhanh hơn cho mỗi năm
học bổ sung.
Như vậy một người đã theo 16 năm đào tạo (mà chứng sa sút
trí tuệ được chẩn đoán lúc 85 tuổi) đã bắt đầu giai đoạn gia tốc mất trí
nhớ ở tuổi 81. Trong khi đó một người được chẩn đoán ở cùng tuổi nhưng
chỉ có 4 năm học vấn sẽ đi vào trong một giai đoạn sa sút trí tuệ ở tuổi
79, một cách ít « ngấu nghiến » hơn. Tiến triển của bệnh ở người này sẽ
50% chậm hơn so với người có học vấn. Nguồn: (LE SOIR
24/10/2007)
8/ RỤNG RĂNG VÀ CHỨNG SA SÚT TRÍ
TUỆ
Stein (Hoa Kỳ) và các cộng sự đã cố gắng tìm biết xem có
một mối liên hệ giữa các tiền sử về các vấn đề ở miệng và sự phát triển
của chứng sa sút trí tuệ. Các nhà nghiên cứu đã dựa trên các dữ kiện liên
quan đến 144 nữ tu sĩ tuổi từ 75 đến 98 đã tham dự vào công trình nghiên
cứu Nun Study, một công trình nghiên cứu dọc về sự lão hóa và bệnh Alzheimer.
Các tác giả đã phân tích các dữ kiện y học liên quan đến sự mọc răng và
đã đặt chúng trong mối tương quan với các kết quả trắc nghiệm chức năng
não bộ được thu thập trong 12 năm. Có những dữ kiện cơ thể bệnh lý của
118 người tham dự chết trước khi chấm dứt công trình nghiên cứu. Các tác
giả đã xác nhận rằng các nữ tu sĩ không có các dấu chứng của chứng sa
sút trí tuệ lúc bắt đầu công trình nghiên cứu nhưng đã rụng nhiều răng
nhất có nguy cơ quan trọng nhất phát triển chứng sa sút trí tuệ về sau
này. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 30/10/2007)
9/ THỦ THUẬT
CHỌC MÀNG ỐI ĐỂ KÍCH THÍCH CHUYỂN DẠ BỊ XÉT LẠI
Một duyệt xét quy mô các công trình nghiên cứu gợi ý rằng
một thủ thuật thường được áp dụng trong lúc chuyển dạ, chọc màng ối (amniotomy)
nhân tạo, là không có hiệu quả trong việc làm giảm thời gian chuyển dạ
hoặc đảm bảo sức khỏe của trẻ sơ sinh.
Thủ thuật chọc màng ối (amniotomy) nhằm làm vỡ bọc ối (poche
des eaux ) để xúc tiến các co bóp của tử cung. Thủ thuật này đã được sử
dụng từ 250 năm nay mặc dầu tính phổ biến đã biến thiên thay đổi
Các nhà nghiên cứu đã xem lại 14 thử nghiệm có kiểm tra
nơi khoảng 5000 phụ nữ và nhận thấy ít có bằng chứng về một lợi ích nào
đó của thủ thuật này.
Thủ thuật chọc màng ối đã không thu ngắn thời gian chuyển dạ, không làm
giảm nhu cầu dùng thuốc kích thích chuyển dạ oxytocin, không làm giảm
cơn đau , không làm giảm số lần sinh với dụng cụ hỗ trợ hoặc dẫn đến tử
vong hoặc các thương tổn nghiêm trọng nơi sản phụ.
Báo cáo được công bố ngày 17 tháng 10 trong Cochrane Reviews,
đã nhận thấy rằng thủ thuật này có thể liên kết với một sự gia tăng số
lần phẫu thuật césarienne và một giảm nguy cơ trẻ sơ sinh có trị số thấp
trên thang Apgar ( thang Apgar dùng để đánh giá và cho điểm số tình trạng
của thai nhi lúc sinh ). Nhưng cả hai điều tìm thấy này không có ý nghĩa
về mặt thống kê.
« Chúng tôi khuyên các phụ nữ với chuyển dạ tiến triển bình thường hãy
yêu cầu đừng chọc màng ối để kích thích chuyển dạ », tác giả lãnh đạo
công trình, BS Rebecca Smyth, một cộng tác viên nghiên cứu của Đaị Học
Liverpool đã nói như vậy. « Không có bằng cớ cho rằng để màng ối nguyên
vẹn sẽ gây nên vấn đề và cũng không có đủ chứng cớ để gợi ý một lợi ích
nào đó cho chính bản thân các sản phụ hoặc trẻ sơ sinh do việc chọc màng
ối để kích thích chuyển dạ ». Nguồn: (INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 1/11/2007)
10/ VIỆC
THAY ĐỔI TƯ THẾ CÓ THỂ LÀ GIẢM CƠN ĐAU DO CHUYẾN DẠ
Các sản phụ bò trên hai tay và hai đầu gối trong lúc chuyển
dạ có thể có khả năng làm giảm cơn đau lúc sinh, các nhà nghiên cứu đã
nói như vậy. Các nữ hộ sinh ở Hoa Kỳ thường khuyên
các sản phụ giữ tư thế này lúc chuyển dạ với niềm tin rằng điều này sẽ
làm cho sự sinh đẻ ít đau đớn hơn (bằng cách giúp thai nhi chuyển vào
vị thế tốt nhất) và nhanh hơn.
Các nhà nghiên cứu đã viết trong số tháng 10 của The Cochrane
Library rằng đã có các bằng cớ tốt cho đề nghị thứ nhất (chuyển dạ ít
đau đớn hơn) nhưng không có chứng cớ cho đề nghị thứ hai (chuyển dạ nhanh
hơn).
Công trình nghiên cứu đã không tìm thấy điều hổ trợ cho
lời khuyên nói rằng vào cuối thời kỳ thai nghén, các phụ nữ bò trên hai
tay và hai đầu gối trong 10 phút, hai lần mỗi ngày sẽ giúp thai nhi đạt
được vị thế tốt trong tử cung.
“ Điều này không có ý gợi ý rằng các sản phụ không nên
giữ tư thế bò trên hai tay và hai đầu gối này nếu họ thấy thoải mái ”,
các nhà nghiên cứu đã viết như vậy.
Công trình căn cứ trên một duyệt xét nghiên cứu trước đây
về ảnh hưởng của tư thế của bà mẹ lên việc sinh đẻ. Các nhà nghiên cứu
chú ý vào 3 nghiên cứu, hai nhằm vào những phụ nữ đang chuyển dạ và một
nhằm vào các phụ nữ cuối kỳ thai nghén. Tổng cộng có hơn 2700 phụ nữ đã
tham gia vào các công trình nghiên cứu này.
Tư thế tốt nhất cho một thai nhi trong lúc sinh là đầu hướng xuống dưới,
với phần sau của đầu hướng về phía trước. Khi phần sau của đầu hướng về
phía bên hay phía lưng của bà mẹ, thì cuộc sinh đẻ có thể bị kéo dài hơn
hoặc đau đớn hơn.
Công trình nghiên cứu đã nhận thấy rằng các phụ nữ bò trên
hai tay và hai đầu gối trong lúc sinh cảm thấy thoải mái hơn. “ Việc giữ
tư thế này trong lúc chuyển dạ được liên kết với sự giảm đáng kể triệu
chứng đau lưng dai dẳng ”, các nhà nghiên cứu đã viết như vậy.
Mặc dầu trong một nghiên cứu đã có một bằng cớ nào đó cho
thấy rằng tư thế bò đã giúp thai nhi chuyển về vị trí đúng đắn, nhưng
còn cần nghiên cứu thêm nữa, các nhà nghiên cứu đã phát biểu như vậy.
Nguồn: (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
18/10/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(03/11/2007)
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết này,
cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |