Thời Sự Y Học Số 48
BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ MỘT NHIỄM TRÙNG CÓ THỂ GIÚP CƠ THỂ CHỮA BỆNH. 
Grégoire Lauvau (Inserm, Nice) vừa chứng tỏ rằng một nhiễm trùng bởi một vi khuẩn, listéria, cho phép cơ thể tự vệ 10.000 tốt hơn chống lại một ký sinh trùng mà cơ thể đã khó khăn để loại bỏ. Ở một chú chuột bị nhiễm trùng bởi listeria, vài bạch cầu, các tế bào lympho sát nhân (les lymphocytes tueurs), tăng sinh để tiêu diệt đặc hiệu kẻ lạ mặt. Đội quân chống listeria vẫn tồn tại trong cơ thể. Nếu vi khuẩn trở lại tấn công, các tế bào lympho này không chỉ loại bỏ các vi khuẩn : qua một phân tử được gọi là CCL3, các tế bào lympho cũng báo động những tế bào phòng ngự khác. Những tế bào này chiến đấu có hiệu quả chống lại những vi khuẩn sinh bệnh khác ( trong trường hợp này là ký sinh trùng). Nếu thí nghiệm này được xác nhận, chúng ta có thể tưởng tượng chỉ cần chế tạo một vaccin là đủ để bảo vệ chống lại nhiều vi khuẩn. Nguồn (SCIENCES ET VIE 10/2007)
2/ MỘT GENE BỊ BIẾN DỊ LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH TĂNG NHÃN ÁP TRÓC MẢNG.

Các biến dị của một gène cho phép giải thích 99% các trường hợp bệnh tăng nhãn áp tróc mảng (glaucome exfoliatif). Cũng như tất cả các trường hợp bệnh tăng nhãn áp khác, thể bệnh đặc biệt này gây nên mất thị lực dần dần, diễn ra không đau đớn, có thể dẫn tới mù lòa. Nhưng bệnh tăng nhãn áp tróc mảng là bệnh duy nhất mà nguồn gốc của sự loạn năng (dysfonctionnement) đã được biết đến : sự tích tụ các sợi nhỏ (microfibres) trong phòng trước (chambre antérieure) của nhãn cầu. Khi đó vì chất dịch không thể được thải đi do đó áp suất trong nhãn cầu gia tăng, gây nên những thương tổn không thể hồi phục của dây thần kính thị giác.Thế mà theo một nhóm nghiên cứu người Thụy Điển và Islande, những biến đổi của gène LOXL1 là nguyên nhân của sự sản sinh những sợi nhỏ này.Việc nhận diện gène gây bệnh đã có thể thực hiện nhờ sự so sánh tỉ mỉ di sản di truyền (patrimoine génétique) của 195 bệnh nhân bị bệnh tăng nhãn áp và 14.474 người chứng. Nguồn: (SCIENCES ET VIE 10/2007)
3/ NHỮNG BỆNH LÝ TIM BỊ ĐÁNH GIÁ THẤP

Bệnh thấp khớp cấp tính (rhumatisme articulaire aigu) đã hầu như biến mất khỏi các nước công nghiệp nhưng vẫn còn là một vấn đề y tế công cộng trong các nước đang phát triển. Ngày nay các thầy thuốc xác nhận rằng các di chứng về tim do bệnh thấp khớp cấp tính ở các nước đang phát triển 10 lần phổ biến hơn điều mà ta tưởng.
Bệnh thấp khớp cấp tính được thể hiện bởi một đợt sốt và đau khớp.Bệnh miễn dịch này xảy ra nơi các trẻ em và các thanh thiếu niên sau khi bị viêm họng do streptocoques A (angines à streptocoques) không được điều trị đúng đắn. Đó là lý do tại sao bệnh vẫn còn dai dẳng nhất là trong các nước đang phát triển. Điều nghiêm trọng hơn là mỗi đợt sốt khớp (poussée articulaire) lại làm tổn hại thêm nữa các van tim, đặc biệt là van hai lá (valve mitrale) là van điều hòa lưu lượng máu giữa tâm nhĩ và tâm thất.Theo những đánh giá mới nhất được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu Úc Đại Lợi, các bệnh van tim mắc phải này liên quan đến khoảng 15,6 triệu người trên thế giới.Và 233.000 người chết mỗi năm vì bệnh này.Tuy nhiên, các con số này bị đánh giá thấp rất nhiều. Lúc khám bằng siêu âm 3.677 thiếu niên từ 6 đến 17 tuổi ở Cambodge và 2.170 thiếu niên ở Mozambique, một toán các thầy thuốc quốc tế đã lần lượt phát hiện 21 và 30 trường hợp trên 1000 trẻ được khám.Thế mà khám lâm sàng dựa trên thính chẩn các tiếng tim đã chỉ cho phép chẩn đoán 2 trên 1000 trường hợp.
Thật vậy siêu âm phát hiện rất sớm các thương tổn của van hai lá.Việc van bị dày ra và sự biến đổi các cấu trúc liên kết với van này, đặc biệt là các cơ nhú ( muscularis papillaris) và các thừng gân (chordae tendineae) nối chúng với van tim , dẫn đến một loạn chức năng mà ta vẫn có thể nhận thấy dễ dàng bằng siêu âm : van tim mở và đóng lại khó khăn, lâu ngày đưa đến suy tim. « Nếu thương tổn không nhanh chóng được điều trị ổn định bằng trị liệu kháng sinh thi thường cần phải phẫu thuật thay van. Một giải phẫu nặng nề và tốn kém. », Xavier Jouven, nhà dịch tễ học thuộc Inserm và là người điều hành công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Công trình nghiên cứu này được tiến hành với các viện tim được thành lập bởi hiệp hội la Chaine de l’espoir ở Phnom Penh (Cambodge) và ở Maputo (Mozambique). « Thương tổn trầm trọng thêm với mỗi đợt nhiễm trùng mới. Thật vậy, các tế bào miễn dịch (các tế bào lympho T) phát hiện vài kháng nguyên của streptocoques cũng hiện diện trên các tế bào của van hai lá. Khi đó van trở nên mục tiêu của một phản ứng chéo tự miễn dịch (une réaction croisée auto-immune), làm phát sinh các thương tổn », Jean François Bach thuộc bệnh viện Necker đã xác định như thế. Do đó cần phải dập tắt các đợt tấn công bằng cách phòng ngừa các đợt viêm họng tái phát. Đối với các trẻ đã bị thương tổn, chỉ cần tiêm hàng tháng pénicilline G, cho đến tuổi 20 là có thể ổn định căn bệnh. Nhưng cũng cần phải tăng cường thông tin về điều trị các viêm họng ở các trường học, khu phố và những ổ nhạy cảm khác, nơi mà những trường hợp bệnh van tim đã được tìm thấy. « Bởi vì những trẻ được phát hiện bằng đường lối cổ điển chỉ là đỉnh của núi băng trôi ! Công trình nghiên cứu này chứng tỏ điều đó : trong những nước ít phát triển nhất, đó là một cấp cứu y tế công cộng », Xavier Jouven đã tóm tắt như vậy. Nguồn: (LA RECHERCHE 10/2007)
4/ HIV VÀ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ

Trong 10 đến 30 % các trường hợp, HIV đưa đến một hợp chứng sa sút trí tuệ (syndrome démentiel) với đặc điểm là những rối loạn về trí nhớ và vận động. Người ta nghi ngờ rằng gp 120, một glycoprotéine nằm trong vỏ của HIV đã dẫn đến cái chết của những tế bào thần kinh trưởng thành. Stuart Lipton, thuộc Burnham Institute for Medical Research ở La Jolla và nhóm nghiên cứu của ông, xác nhận sự can dự của glycoprotéine gp 120 trong việc phát sinh hợp chứng sa sút trí tuệ này.Thật vậy, ở các con chuột được chuyển gène (transgénique), gp-120 phong bế sự phân chia của những tế bào gốc và do đó ngăn cản sự tái sinh của các neurones. Một quá trình can dự trong nhiều chức năng nhận thức. Điều còn gây chú ý hơn là việc cản này xảy ra do sự hoạt hóa một enzyme, p38 MAPK, được biết là có ảnh hưởng lên chu kỳ tế bào. Nguồn: (LA RECHRCHE 10/2007)
5/ XƯƠNG TÁC DỤNG LÊN CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG

Chúng ta đã biết các tác dụng của chứng béo phì (obésité) lên tiến triển của khối xương (masse osseuse) và bệnh đái đường. Một nghiên cứu của Hoa Kỳ chứng tỏ rằng xương cũng tác dụng lên chuyển hóa.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA BÉO PHÌ, TIẾN TRIỂN CỦA KHỐI XƯƠNG VÀ ĐÁI ĐƯỜNG
Tình hình có vẻ hơi nghịch lý mà chúng ta không hiểu rõ là tại sao : nhiều thiếu nữ béo phì có mật độ xương (densité osseuse) tăng cao. Tuy vậy vào tuổi trưởng thành, nhiều người trong số những thiếu nữ này phát triển bệnh loãng xương (ostéoporose) liên kết với một hợp chứng chuyển hóa viêm (syndrome métabolique inflammatoire) và do đó liên kết với những nguy cơ gia tăng bị bệnh đái đường và bệnh tim mạch. Điều này gợi ý rằng các yếu tố hormone kiểm soát vốn xương (capital osseux), đường huyết và hệ tim mạch liên kết với nhau. Mãi đến ngày nay, chỉ có những hiệu quả của chứng béo phì lên sự tạo và tiêu xương là đã được nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu của Gérard Karsenty đã quan tâm đến mặt kia của vấn đề. Ông đã nghiên cứu trên chuột và quan sát các protéines đặc hiệu của xương tác động lên chuyển hóa như thế nào. Đó là điều rất độc đáo.
Xương đã tác dụng lên chuyển hoá cũng như cơ, gan và não bộ. Xương tiết ra một hormone gọi là ostéocalcine. Hormone này làm giảm các dự trữ mỡ và điều hoà đường huyết. Chuột thiếu hormone này phát triển béo phì, đái đường và loãng xương. Bằng cách phong bế phosphatase, một protéine khác của xương, các nhà nghiên cứu đã thành công kích thích việc tạo thành ostéocalcine. Khi đó các chú chuột sản xuất adiponectine, một hormone bảo vệ chúng chống lại chứng béo phì và bệnh đái đường liên kết. Điều này cho phép giải thích tốt hơn các mối quan hệ phức tạp giữa đái đường, béo phì và mật độ xương. Ở đàn ông, bệnh đái đường có khuynh hướng làm giảm sự tiết ostéocalcine và do đó làm giảm mật độ xương. Điều này lại làm dễ chứng béo phì và bệnh đái đường. Vậy có một vòng luẩn quẩn làm cho các sự việc trầm trọng thêm nhanh chóng. G.Karsenty đưa ra một cơ chế giải thích. Nhưng hiển nhiên đó không phải là cơ chế duy nhất.
CÁC KẾT QUẢ NÀY CÓ MỞ RA NHỮNG HƯỚNG ĐIỀU TRỊ MỚI KHÔNG?
Không phải là ngay bây giờ. Ngược lại các kết quả cho phép suy nghĩ theo một tư duy mới về các mối quan hệ giữa xương, đái đường và béo phì và về sự sử dụng hiện nay vài loại thuốc, đặc biệt là những thuốc nhằm chống lại bệnh loãng xương. Kết luận là ta không thể đụng đến các tế bào hoạt động của xương mà không tác động vào việc tiết insuline và phương cách tích trữ năng lượng. Nguồn: (LA RECHERCHE 10/2007)
6/ 24%.

Uống mỗi ngày calcium và vitamine D sẽ làm giảm 12% đến 24% các nguy cơ gãy xương nơi những người già. Đó là kết luận đạt được bởi các nhà nghiên cứu Úc sau một công trình phân tích méta của 29 thử nghiệm, hoặc 63.897 người trên 50 tuổi. Sau 3 đến 5 năm điều trị, người ta ghi nhận sự mất chất xương ở vùng háng và đốt sống được giảm bớt. Liều lượng lý tưởng? Ít nhất 1.200 mg calcium và 20 mcg vitamine D mỗi ngày. Nguồn (LA RECHERCHE 10/2007)
7/ ĐỪNG CHƠI THỂ THAO QUÁ NHIỀU VÀO THỜI KỲ ĐẦU THAI NGHÉN
Một nghiên cứu của Đan Mạch từ các dữ kiện liên quan đến 93.000 phụ nữ có thai vừa chứng tỏ rằng việc chơi thể thao quá mức vào thời kỳ đầu thai nghén là nguy hiểm đối với sự sống sót của thai nhi. Những phụ nữ có thai hoạt động thể thao hơn 7 giờ mỗi tuần trong 18 tuần đầu của thai nghén, có nguy cơ sẩy thai 3,5 lần cao hơn các phụ nữ không chơi một thể thao nào. Chạy bộ, chơi quần vợt, bóng tròn là những môn thể thao có hại nhất do các va chạm liên tiếp gây nên. Nguồn: (PARIS MATCH 18/10-24/10/2007)
8/ SỰ CÔ ĐƠN KÉO DÀI LÀM SUY YẾU HỆ MIỄN DỊCH

Nhiều công trình dịch tễ học đã chứng tỏ rằng những người sống cô đơn có một nguy cơ gia tăng mắc phải bệnh tim mạch, nhiễm trùng và ung thư cũng như tuổi thọ trung bình thấp hơn những người sống được bao quanh bởi gia đình hay chung sống lứa đôi. Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã so sánh 6 người sống cô lập với 14 người sống chung trong gia đình và đã chứng tỏ rằng hoạt tính của 209 gènes có can dự trong việc kích thích miễn dịch bị giảm rõ rệt nơi những người sống đơn độc so với những người chứng. Nguồn: (PARIS MATCH 18/10-24/10/2007)
9/ GIẢI PHẪU CHỮA BỆNH NGƯNG THỞ LÚC NGỦ
Một động tác phẫu thuật mới sẽ chữa lành bệnh ngưng thở do tắc nghẽn lúc ngủ (syndrome d’apnée obstructive du sommeil), đại học Thomas-Jefferson (Philadelphie, Hoa Kỳ) đã tuyên bố như vậy. Đặc điểm của bệnh ngưng thở lúc ngủ (apnée du sommeil) là có khoảng một chục lần ngưng hô hấp xảy ra mỗi giờ, với thời giai kéo dài 10 giây cho mỗi lần ngừng thở. Nguyên nhân ? sự gây tắc nghẽn hầu (pharynx) bởi đáy lưỡi. Ngoài chứng mệt kinh niên, rối loạn này có thể đưa đến các biến chứng tim mạch, thần kinh hay hô hấp.
Với điều trị thông thường, bệnh nhân phải mang một máy hô hấp (appareil respiratoire) suốt đêm. Máy này tạo ra một áp lực dương tính liên tục (pression positive continue) để giữ đường hô hấp được mở ra. Một giải pháp khác là mang một orthèse mandibulaire : hai máng răng (gouttière dentaire) đưa hàm và lưỡi ra phía trước để khai thông hầu. Nhưng 30% các bệnh nhân không chịu được thiết bị này và phải cần đến phẫu thuật . Phẫu thuật được thực hiện ở Philadelphie, mệnh danh là GBAT (Genial Bone Advancement Trephine), nhằm cắt bên trong xương hàm dưới, một cánh xương (volet osseux) trên đó các cơ lưỡi bám vào, rồi làm xê dịch cánh xương này về phía trước. Thật vậy đó là một biến thể của một kỹ thuật cổ hơn được gọi là “ transposition génienne ” (chuyển vị cằm). “ Tôi đã điều trị 40 bệnh nhân với GBAT, Maurits Boon, nhà phẫu thuật của đại học y khoa Thomas-Jefferson đã đảm bảo như vậy. Chúng tôi đã thu được những thành công tuyệt vời và vài thất bại ”. “ Phải xem các kết quả, Lionel Azan, nhà phẫu thuật Tai Mũi Họng ở Paris đã bình luận một cách thận trọng. Ở Pháp, chúng tôi thực hiện việc đưa hai hàm ra trước (avancée bimaxillaire) ; phẫu thuật rất nặng nề nhưng hiệu quả ”. Nguồn: (SCIENCES ET AVENIR 10/2007)
10/ KẼM RẤT ĐƯỢC KHUYÊN SỬ DỤNG NƠI NGƯỜI GIÀ

Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã có thể chứng tỏ rằng với việc cho kẽm bổ sung nơi các người già ở các nhà dưỡng lão, tỷ lệ tử vong (hỗn hợp tất cả các nguyên nhân) đã được thu giảm 39% ! Số bệnh viêm phổi mắc phải cũng như thời gian bị bệnh này đã giảm và sự sử dụng kháng sinh cũng đã có thể giảm bớt về số lượng cũng như thời gian điều trị.
Với nghiên cứu mới này, được công bố trong American Journal of Clinical Nutrition, Simin Maydani (Tufts University) và các cộng sự viên đã có thể nêu rõ một áp dụng hữu ích đối với kẽm, một trong những nguyên tố vi lượng (oligo-élément) có dồi dào nhất trong cơ thể. Các công trình của họ không phải là những công trình đầu tiên về vấn đề này nhưng là công trình bảo vệ những công trình trước đây.
Công trình nghiên cứu đã diễn ra trong một thời kỳ 12 tháng , nhằm vào mối tương quan giữa các nồng độ kẽm và sự xuất hiện các bệnh lý nơi một nhóm đàn ông và phụ nữ có tuổi trung bình 84,5. Những người tham dự đã nhận một lượng kẽm bổ sung và vài micronutriment khác. Các nhà nghiên cứu chỉ rõ rằng cuối thời kỳ nghiên cứu, những người tham dự với nồng độ kẽm thấp trong máu đã mắc phải bệnh viêm phổi thường xuyên hơn và họ phải dùng nhiều thời gian hơn để có thể vượt qua được bệnh này.Họ được cho kháng sinh 50% nhiều hơn và thời gian điều trị bằng kháng sinh dài hơn so với các bệnh nhân có nồng độ kẽm trong máu bình thường.
Những bệnh nhân có nồng độ kẽm bình thường có vẻ như có một hệ miễn dịch hiệu quả hơn và do đó ít dễ bị tổn thương hơn.
Kẽm hiện diện trong thức ăn ( loài tôm cua, ngũ cốc hoàn toàn, thịt, gan, trứng) nhưng các người già thường ăn quá ít những thức ăn này. Do đó, một bổ sung kẽm trong khẩu phần là hoàn toàn hữu ích. Nguồn: (LE JOURNAL DU MEDECIN 26/10/2007)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(28/10/2007)

Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Tin Mới Y Học