![]() |
![]() |
|
| |
||
| |
||
| |
Thời
Sự Y Học Số 47 Từ lâu người ta cho rằng ruột thừa là một cơ quan không có ích. Ruột thừa có thể dùng như chỗ chứa các vi khuẩn «tốt». Thật vậy một vài người đã gợi ý vai trò miễn dịch của ruột thừa, trong khi những người khác xem ruột thừa như là một vết tích của sự tiến hoá. Lý thuyết được bảo vệ bởi các nhà nghiên cứu của Duke University Medical School là : ruột thừa là một loại nhà máy vi khuẩn (usines à bactéries) mà vai trò là làm tái sinh sôi ống tiêu hóa lúc có nhiễm trùng ruột. Sau một nhiễm trùng như dịch tả hoặc ly amibe, hệ vi khuẩn (flore bactérienne) có thể bị biến đổi rất nhiều.Trong vùng dân cư đông đúc, ống tiêu hóa nhanh chóng được tái định cư nhờ sự hiện diện của những vi khuẩn ruột trong môi trường. Người ta có thể tưởng tượng rằng trong những hoàn cảnh khác (dịch bệnh, cách ly...) cơ thể khó tìm lại được hệ khuẩn cộng sinh (flore commensale). Trong suốt thời kỳ tiến hoá của chúng ta, ruột thừa có lẽ là nơi dùng để phát khởi lại hệ vi khuẩn ruột sau một đợt nhiễm trùng ruột. (Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 16/10/2007) 2/ TỐT HƠN NÊN NGỦ 7 GIỜ Người nào ngủ ít sẽ bị nguy cơ mắc phải bệnh tim mạch chết người hai lần nhiều hơn. Đó là kết quả được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu quy mô lớn mới đây của người Anh. Mặt khác công trình này gợi ý rằng ngủ quá lâu cũng sẽ liên kết với các vấn đề sức khỏe. Các nhà nghiên cứu của đại học Warwick và của University College ở Londres đã theo dõi trong hai thập niên 10.308 người trưởng thành người Anh tuổi từ 35 đến 55 tuổi để phát hiện mối liên hệ khả dĩ giữa sơ đồ giấc ngủ và sự xuất hiện một bệnh lý tim mạch. Để làm điều này, các nhà nghiên cứu đã thu thập các dữ kiện về thói quen ngủ của những người tham dự suốt trong thời kỳ 1985-1988 và sau đó suốt trong những năm 1992-1993, đồng thời theo dõi tiến triển các trường hợp tử vong cho đến năm 2004. Các kết quả của họ đã được trình bày tại hội nghị thường niên của British Sleep Society ở Cambridge.Trong suốt thời kỳ quan sát, những người đã giảm số giờ ngủ ban đêm từ 7 giờ xuống 5 giờ có nguy cơ bị một biến cố tim mạch chết người hai lần nhiều hơn những người ngủ 7 giờ mỗi đêm.Về nguy cơ tử vong toàn thể, nhóm ngủ ít có nguy cơ 1,7 lần cao hơn. Francesco Cappccio của đại học Warwick, người đã lãnh đạo công trình nghiên cứu, gợi ý rằng giấc ngủ về đêm có số giờ bị giảm hoặc có chất lượng xấu thường xảy ra hơn ở các nước công nghiệp, nơi mà áp lực của những thú tiêu khiển và sự hiện diện của những toán trực đêm có thể làm phương hại cái vốn của giấc ngủ. “ So sánh cách nay vài thập niên, sự mệt nhọc và chứng ngủ gà vào lúc ban ngày là những lời kêu ca thường gặp nhất ngày nay ” THẾ CÒN SỰ LẠM DỤNG GIẤC NGỦ ? Một điều chứng nhận lý thú khác là những người tham dự đã gia tăng thời gian ngủ từ 7 lên 9 giờ trong thời kỳ quan sát cũng chịu nhiều nguy cơ tử vong trong lúc công trình nghiên cứu hơn là nhóm ngủ 7 giờ. “Có thể là việc ngủ lâu có quan hệ với những vấn đề sức khỏe khác trong đó có chứng trầm cảm hoặc sự mệt nhọc liên kết với bệnh ung thư.” Francesco Cappuccion kết luận rằng một sơ đồ giấc ngủ đều đặn khoảng 7 giờ mỗi đêm là lý tưởng đối với sức khỏe. (Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 12/10/2007) 3/ PHÁT HIỆN SỚM PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG Theo GS Robert Verhelst (trưởng khoa ngoại tim mạch và ngực, UCL Saint-Luc), cần phát hiện các phình động mạch chủ bụng bằng siêu âm khi một bệnh nhân hội đủ vài yếu tố. Thái độ này cho phép can thiệp kịp thời và tránh vỡ phình động mạch với tiên lượng đen tối. Sau 65 tuổi, nguy cơ tìm thấy một phình động mạch chủ bụng (anévrysme de l’aorte abdominale) là 4 đến 8 % nơi đàn ông và 1 đến 3% nơi phụ nữ .Với sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ cổ điển, nguy cơ vỡ phình động mạch có thể tăng gấp đôi. Những tiền sử gia đình về phình động mạch nhân nguy cơ từ 2 đến 5 lần. “ Vậy rất hợp lý đề nghị phát hiện bằng siêu âm khi bệnh nhân thuộc vào một trong 3 loại này”. GS Verhelst giải thích như vậy. Kích thước của một phình động mạch xác định nguy cơ bị vỡ của nó. Một phình động mạch có đường kính dưới 5cm, nguy cơ tương đối thấp và chỉ cần kiểm tra hàng năm bằng siêu âm.Với phình động mạch có đường kính từ 4 đến 5 cm, phải thực hiện một scan ngực-bụng để xác định hình dạng của phình động mạch (cũng ảnh hưởng lên nguy cơ vỡ) và để chẩn đoán sự hiện diện của những định vị khác của phình động mạch. Sau đó bệnh nhân sẽ được theo dõi mỗi 6 tháng , nhưng đôi khi sẽ được phẫu thuật trong trường hợp có những yếu tố nguy cơ vỡ liên kết ( phình mạch tăng trưởng nhanh > 1cm/năm, nữ giới, nghiện thuốc lá tích cực, cao huyết áp, tiền sử gia đình, viêm phế quản mãn tính gây tắc, tính chất túi (sacculaire) của phình động mạch chủ bụng). Có chỉ định phẫu thuật đối với phình động mạch chủ với đường kính trên 5cm, trừ phi có chống chỉ định quan trọng. (Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 16/10/2007) 4/ STRESS LÚC LÀM VIỆC VÀ CHỨNG TRẦM CẢM Những người bị stress mãn tính lúc làm việc có một nguy cơ bị chứng trầm cảm gia tăng. Đó là kết luận của một nghiên cứu được công bố on line trên American Journal of Public Health trước khi xuất hiện trong ấn bản tháng 11. Emma Robertson Blackmore (University of Rochester Medical School, New York) và nhóm nghiên cứu đã xem xét các dữ kiện của 24.324 người làm việc trưởng thành người Canada. Họ đã xác nhận rằng gần 5% những người này đã bị chứng trầm cảm quan trọng trong năm trước đó. Đặc biệt là những người bị stress quan trọng trong lúc làm việc có nhiều khuynh hướng phát triển chứng trầm cảm. Kết quả của công trình nghiên cứu cho thấy rằng những người chịu một áp lực lớn trong công việc ( được định nghĩa là một công việc có yêu cầu cao được thực hiện bởi một người ít độc lập và ít có quyền quyết định) có nguy cơ mắc phải chứng trầm cảm nhân lên gấp hai lần so với những người chịu ít stress (hoặc không ) do công việc.Trái lại nơi các phụ nữ, chính việc thiếu quyền quyết định có liên quan với chứng trầm cảm. Sau hết, sự thiếu nâng đỡ về mặt xã hội từ phía các đồng nghiệp và những người giám sát liên kết với sự trầm cảm ở đàn ông cũng như phụ nữ. Để kết luận, các tác giả chủ trương xây dựng chiến lược phòng ngừa và sự nâng đỡ xã hội các người lao động. (Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 12/10/2007) 5/ MỠ,THỊT VÀ NGUY CƠ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN Nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm về những nguy cơ tiềm tàng của mỡ thức ăn và thịt trong sự phát triển ung thư tiền liệt tuyến. Song-Yi Park và nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu sự liên kết giữa việc tiêu thụ mỡ và thịt và ung thư tuyến tiền liệt trong Multiethnic Cohort Study. Công trình phân tích được thực hiện trên 82.483 người (45 tuổi) gốc Hawai và Los Angeles. Các người tham dự đã điền một bảng câu hỏi chi tiết về các thói quen ăn uống của họ suốt trong thời kỳ 1993-1996. Trong quá trình theo dõi (keo dài 8 năm), các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được 4.404 trường hợp ung thư tiền liệt tuyến (trong đó có 1.278 trường hợp ung thư có mức độ cao). Việc ăn các loại mỡ khác nhau ( lipides toàn phần, lipides bảo hoà, lipides mono- hay poly-insaturés), acides béo n-6, cholestérol, các loại thịt và mỡ khác nhau, đã không tỏ ra là những yếu tố làm dễ của ung thư tuyến tiền liệt nói chung, cũng như của ung thư tiền liệt tuyền có mức độ cao. Các kết quả tương tự nhau trong 4 nhóm chủng tộc.Tuy nhiên các tác giả gợi ý một tác dụng bảo vệ nào đó của acide béo n-3.Tuy nhiên tác dụng này chỉ xảy ra ở nhóm latino và da trắng. (Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 12/10/2007) 6/ TOÀ ÁN HOA KỲ TRỪNG PHẠT NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐIỀU TRỊ MÃN KINH BẰNG HORMONE THAY THẾ Lần đầu tiên hãng dược phẩm Wyeth ở Hoa kỳ đã bị xử phạt phải trả gần 134 triệu dollars cho 3 phụ nữ bị ung thư vú sau một điều trị bằng hormone thay thế. Năm 2002, công trình nghiên cứu Women Health Initiative (WHI) trên 16.000 phụ nữ đã làm phần nào mất uy tín phép điều trị chứng mãn kinh bằng hormone, do việc làm sáng tỏ một nguy cơ gia tăng bị ung thư vú, rối loạn tim mạch và huyết khối tĩnh mạch nơi những phụ nữ được điều trị. Những phân tích tinh tế hơn đã phần nào làm tiến triển điều xác nhận này, nhất là về nguy cơ tim mạch nơi các phụ nữ trẻ nhất.Tuy nhiên sau công trình nghiên cứu này, hàng ngàn phụ nữ bị ung thư vú ở Hoa Kỳ đã đưa đơn kiện hãng dược phẩm Wyeth đã thương mãi hóa thuốc hormone chính yếu trong điều trị mãn kinh (Prempro và Prémarin). Lần đầu tiên, ngày 15 tháng 10 vừa qua, một ban bồi thẩm của Nevada đã tuyên phạt nhóm dược phẩm Hoa Kỳ Wyeth phải trả 134 triệu dollars cho 3 phụ nữ đã phát triển một ung thư vú mà họ cho là bị gây nên do các điều trị bằng hormone chống lại các triệu chứng của mãn kinh. Theo các bồi thẩm, nhóm dược phẩm Wyeth đã tỏ ra vừa cẩu thả vừa lừa đảo trong việc sản xuất, marketing và bán thuốc hormone. Mỗi người khiếu nại phải được bồi thường từ 43 đến 47 triệu dollars.Wyeth đã quyết định phá án, tái xác nhận trong một thông cáo rằng những điều trị đang bị kiện tụng, nhưng đã được chấp nhận bởi các nhà hữu trách y tế Hoa Kỳ, là “ đáng tin cậy và hiệu quả khi được sử dụng theo đúng chỉ định.” VÀI TRƯỜNG HỢP KHIẾU NẠI Ở PHÁP Tính đến hôm nay, 6 vụ kiện đã được đưa đơn chống lại hãng dược phẩm Wyeth với cùng lý do : trong 3 trường hợp các người kiện đã bị bác đơn, trong hai trường hợp khác thủ tục tố tụng bị hủy bỏ, sau cùng, trong một trường hợp còn lại, bệnh nhân được bồi thường 1,5 triệu dollar nhưng hãng dược phẩm đã kháng án. Gần 9000 vụ kiện tương tự đã được đưa đơn trước các toà án Hoa Kỳ chống lại những điều trị bằng hormone thay thế của hãng Wyeth. Hãng này hiện có vị thế nổi bậc nhất trên thị trường thuốc chống mãn kinh ở Hoa Kỳ. Ở Pháp vài đơn kiện đang được thẩm cứu, nhằm chống lại các thầy thuốc chứ không phải các hãng dược phẩm. Công trinh nghiên cứu WHI đã khiến cho các nhà hữu trách y tế các nước phương Tây khuyên các thầy thuốc giới hạn lại thời gian cho toa các thuốc hormone điều trị mãn kinh. Mặt khác nhiều phụ nữ đã ngưng sử dụng các thuốc hormone này. Theo các dữ kiện của CDC, số ung thư vú đã giảm vào năm 2005 ở Hoa Kỳ, đặc biệt là do giảm sử dụng hormone thay thế điều trị mãn kinh. Nhưng vài người cũng đưa ra ý kiến là việc giảm bớt chụp hình vú để phát hiện ung thư (mammographie de dépistage) có thể là cách giải thích của sự thoái lui này. Cơn sốt tư pháp về điều trị mãn kinh bằng hormone vẫn không thuyên giảm ở Hoa Kỳ, là nước mà tỷ lệ phụ nữ mãn kinh được điều trị đã đạt đến cao điểm vào đầu những năm 2000. Hàng chục triệu phụ nữ đã theo một điều trị như thế khi phép điều trị này đã bắt đầu phát triển ở Hoa Kỳ trong những năm 1960. (Nguồn: LE JOURNAL DU MEDECIN 17/10/2007) 7/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY LÀM DỄ SỰ PHÁT SINH NHỮNG KHỐI U NÃO BỘ Việc sử dụng điện thoại cầm tay là có hại đối với sức khỏe, và không chỉ vào lúc cầm lái không thôi. Một phân tích trên 18 công trình nghiên cứu đã kết luận rằng với điện thoại cầm tay được sử dụng trên 10 năm, nguy cơ phát triển một khối u não bộ ác tính (gliome) về phía mà điện thoại được đặt vào tai, sẽ nhân lên gấp hai. Mỗi năm bệnh này xảy ra theo tỷ lệ khoảng 6 người trên 100.000. Về các thương tổn dây thần kinh thính giác (neurome), nguy cơ sẽ 2 lần rưỡi cao hơn, trong cùng điều kiện. Được công bố on line bởi tạp chí Occupational and Environmental Medicine (OEM), công trình phân tích này, được lãnh đạo bởi các nhà nghiên cứu Thụy Điển Lennart Hardell (đại học Orebro) và Kjell Hansson (đại học Umea) đã nói ngược lại một nghiên cứu được công bố vào tháng 9 ở Anh, theo đó sự việc các điện thoại cầm tay được liên kết với các tác dụng sinh học hoặc hại sức khỏe là điều đã không được chứng minh ». Nhưng nhật báo The Independence báo cáo rằng Lawrie Challis, người lãnh đạo công trình nghiên cứu của Anh, công nhận rằng vì lý do số bệnh nhân đã sử dụng một điện thoại di động từ hơn 10 năm nay thấp, nên « vào giai đoạn này không thể loại bỏ khả năng là các ung thư có thể xuất hiện trong những năm sắp đến. ». Việc không chắc chắn liên quan đến thời gian tiềm tàng giữa lúc tiếp xúc với điện từ trường và lúc phát triển một khối u vẫn là một trong những trở ngại chính trong việc tiến hành nghiên cứu dịch tễ « mang tính chất kết luận ». « CÁC NHÀ ĐẠI TIÊU THỤ » Ở Pháp, nơi điện thoại cầm tay phát triển từ năm 1992 và là nơi hiện nay có hơn 52 triệu người đăng ký sử dụng, nghiên cứu mới đây nhất , được công bố vào tháng 9 trong Revue d’épidémiologie et de santé publique, cũng bị cùng những hạn chế. Nghiên cứu này nhằm vào những bệnh nhân bị các u não từ năm 2001 và 2003. « Việc sử dụng đều đặn điện thoại di động không liên kết với một sự gia tăng nguy cơ u thần kinh đệm ngoại biên (neurinome), u màng não (méningiome) hoặc u thần kinh đệm (gliome). Mặc dầu các kết quả này không đáng kể, nhưng tuồng như có một khuynh hướng chung gia tăng nguy cơ u thần kinh đệm nơi những « người tiêu thụ lớn nhất » điện thoại di động : những người sử dụng với thời gian dài, với thời gian liên lạc bằng dây nói cao và đã sử dụng một số lượng lớn nhất các máy điện thoại » Vì sức mạnh về mặt thống kê của công trình nghiên cứu Pháp không đủ để quyết định, các tác giả nhờ đến công trình nghiên cứu quốc tế, được tiến hành năm 1999. Elisabeth Cardis, người điều hành Interphone ở Trung tâm quốc tế nghiên cứu ung thư (CIRC) ở Lyon, không ngạc nhiên bởi những kết quả của công trình nghiên cứu của Lennart Hardell và Kjell Hansson. « Họ dựa trên nhiều nghiên cứu gồm trong Interphone. Thật vậy các nghiên cứu này đã ghi nhận một gia tăng, có ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa, của các u thần kinh đệm nơi những người sử dụng điện thoại cầm tay », bà chấp nhận như vậy. « Tất cả khó khăn là ở chỗ lý giải các kết quả », bà nói thêm như vậy. Nghiên cứu Interphone cũng sẽ cố gắng xác định vị trí của các khối u. Nếu 20 đến 30% liều lượng điện từ được phát ra bởi điện thoại được hấp thụ bởi não bộ, « sự tiếp xúc phóng xạ này rất là khu trú », Elisabeth Cardis đã chỉ rõ như vậy. Do đó ít có khả năng một khối u trong vùng trán hoặc chẩm có thể được quy cho các tần số phóng xạ. (Nguồn: LE MONDE 13/10/2007) 8/ CHỨNG BÉO PHÌ VÀ VIỆC PHÁT HIỆN NHỜ NẾP GẤP DA Như một nghiên cứu đã theo dõi 350 người nam và nữ trong 24 năm xác nhận, việc đo bề dày của những nếp gấp da (plis cutanés) trong thời kỳ thiếu niên là một phương tiện tốt để tiên đoán nguy cơ xảy ra chứng béo phì (obésité) về sau này.Trái với chỉ dấu về khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle), phương pháp đo lường này cho phép phân biệt giữa khối mỡ (masse grasse) và khối gầy (masse maigre) trong cơ thể. Nguy cơ mắc phải chứng béo phì sau 35 tuổi càng quan trọng khi những nếp gấp da dày ở tuổi 13.Việc đo lường đáng tin cậy nhất dường như là bề dày của nếp gấp da dưới mũi của xương bả vai (omoplate) nơi thiếu niên trai và ở mặt sau cánh tay nơi thiếu nữ. (Nguồn: SCIENCES ET AVENIR 10/2007) 9/ 7% NHỮNG NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở HOA KỲ BỊ CHỨNG TRẦM CẢM Một công trình nghiên cứu của chính phủ Hoa Kỳ trên hơn 15.000 người từ năm 2004 đến 2006 chứng tỏ rằng 7% những người Mỹ làm việc bị trầm cảm. Nghiên cứu đã quan sát 21 loại nghề nghiệp, phát hiện tỷ lệ trầm cảm mỗi năm cao nhất (10,8%) trong số những người chăm sóc người già và trẻ em. Những người làm việc trong ngành thực phẩm (công nghệ nông phẩm và các dịch vụ) cũng chịu những đợt trầm cảm quan trọng (10,3%) hơn là người thường . Báo cáo này được công bố bởi Agence publique des services de santé mentale, định nghĩa những đợt trầm cảm như là “ một sự biến đổi tính khí và một sự mất thích thú ít nhất 2 tuần, liên kết với những vấn đề về giấc ngủ, ăn uống, năng lượng và sự tự tin ” Chứng trầm cảm mỗi năm cũng liên quan đến khoảng một người trên mười (9,1%) trong lãnh vực giải trí và thông tin đại chúng. Những nghề nghiệp được bảo vệ chống lại trầm cảm là các kỹ sư, kiến trúc sư và thợ khoan (sondeurs), theo sau là những nhà khoa học (4,4%) và những thợ thiết đặt sửa chữa (installeurs-réparateurs) tất cả các loại (4,4%). Các phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều bởi chứng trầm cảm hơn đàn ông : 10,1% những người bị trầm cảm là phụ nữ so với 4,7% các đồng nghiệp nam giới từ 18 đến 64 tuổi. Tổn phí đối với các xí nghiệp của bệnh này nơi những người làm công được ước tính 30 và 44 triệu dollars mỗi năm. Tỷ lệ trầm cảm lại còn lớn hơn nơi những người không có việc làm (12,7%) và cũng cao hơn mức trung bình nơi những người có một việc làm bán thời gian (9,3%). (Nguồn: METRO 16/10/2007) 10/ ĂN CÁ HAI LẦN MỖI TUẦN TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN. VIỆC TIÊU THỤ CÁ TRONG THỜI KỲ CÓ THAI CÓ LỢI KHÔNG ? Vâng, nhất là bởi vì cá mang lại những acide béo có chuỗi dài thuộc họ oméga 3 (như EPA và DHA) cần thiết cho sự phát triển của thai nhi. Nhưng oméga 3 này đặc biệt quan trọng trong tam cá nguyệt cuối cùng của thai nghén, bởi vì đặc biệt chính vào lúc đó mà các tế bào của não bộ được thành hinh. Ở các phụ nữ có thai, những nhu cầu DHA được nhân lên 2,5 lần và việc tiêu thụ cá có thể đáp ứng những nhu cầu này. Nhưng cá cũng mang lại vitamine D cần cho sự khoáng hóa (minéralisation) khung xương, iode cần cho sự phát triển của não bộ thai nhi và sắt cần cho sự tăng trưởng của thai nhi. CÓ NGUY CƠ LÚC ĂN CÁ TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN KHÔNG ? Nguy cơ được biết là do méthylmercure đi xuyên qua hàng chắn nhau (barrière placentaire) và đi vào trong sữa mẹ .Các nghiên cứu đã chứng tỏ rằng tiếp xúc với méthylmercure trong tử cung có thể gây nên những triệu chứng thần kinh nơi trẻ em : vấn đề thị giác, thính giác, vận động và ngôn ngữ. CÓ PHẢI NHỮNG NGUY CƠ NÀY NGĂN CẢN VIỆC TIÊU THỤ CÁ LÚC CÓ THAI? Hoàn toàn không phải vậy! Với điều kiện tôn trọng những lời khuyên về tiêu thụ của AFSSA, những lợi ích cao hơn nhiều những nguy cơ. AFSSA đã khuyên các phụ nữ có thai giới hạn một lần mỗi tuần ăn cá mồi (poissons prédateurs) như cá sói (bar), cá vây chân (baudroie), cá lưỡi bò (flétan) hoặc cá ngừ (thon) bởi vì đó là những loại cá thường bị nhiễm méthylmercure nhất. Trong thời kỳ thai nghén, để phòng ngừa, nên tránh cá kiếm (espadon), cá marlin, cá siki bởi vì chúng có nồng độ methylmercure cao. Cần nhắc lại rằng đưa vào tiêu thụ những loại cá mỡ giàu oméga 3 như cá thu (maquereau), cá sardine hoặc cá hồi (saumon) cũng quan trọng. LƯỢNG CÁ CÓ THỂ KHUYÊN TIÊU THỤ NƠI ĐÀN BÀ CÓ THAI ? Lý tưởng là ta có thể khuyên họ ăn ít nhất hai suất (portion) mỗi tuần. Điều quan trọng là đa dạng hóa các loại cá ăn , cấm ăn hơn một lần mỗi tuần những cá mồi (poisson prédateur) và chọn ít nhất một cá mỡ (poisson gras) . (Nguồn: SCIENCES ET AVENIR 10/2007) BS NGUYỄN VĂN THỊNH |
|
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
![]() |
||