 |
Thời
Sự Y Học Số 31
BS Nguyễn Văn Thịnh
1/ PARKINSON : MỘT HƯỚNG
ĐIỀU TRỊ MỚI
GS James Surmeier thuộc Northwestern University de Chicago từ nhiều năm
nay là người bênh vực cho một lý thuyết mới nhằm giải thích một cách đầy
đủ các tế bào thần kinh chết ra làm sao trong não bộ của những người bị
bệnh Parkinson và nhất là làm sao ngăn cản sự tiến triển này.Ông đã công
bố trong Nature một bài báo điểm lại căn bệnh lạ lùng này.Từ một nửa thế
kỷ nay, người ta biết rằng các neurone sản xuất dopamine ( một chất dẫn
truyền thần kinh) nằm sâu trong chất đen (substance noire) ở chính giữa
não bộ, chết dần dần. Chính sự thiếu dopamine là nguyên nhân của những
triệu chứng vận động nơi các bệnh nhân. Nhưng tại sao các tế bào thần
kinh này bị chết ? Người ta đã buộc tội các thể hạt (mitochondrie) (các
nhà máy hô hấp tế bào), sự tích tụ của các gốc tự do (radicaux libres),
các gènes. Nhưng các nghiên cứu về mặt di truyền các dạng bệnh mang tính
chất gia đình đã không tìm thấy các đột biến di truyền (mutations génétiques)
trong các tế bào sản xuất dopamine bị thương tổn. Nếu sự mất dopamine
chỉ là một triệu chứng của bệnh của những neurones dopaminergiques, vậy
cơ chế bí hiểm của căn bệnh này là gi?
CÁC KÊNH ION KHÁC.
Lúc nghiên cứu trên chuột, trước đây James Surmeier đã khẳng định rằng
sự sản xuất dopamine bởi các neurone được thực hiện nhờ một « máy tạo
nhịp » (pacemaker) tự trị. Ông đã chứng tỏ rằng hoạt động này được kiểm
soát bởi những kênh ion đặc hiệu trong màng tế bào. Các kênh ion này kiểm
soát sự vào và ra của ion calcium.Thế mà, một trong các yếu tố quan trọng
gây nên sự chết tế bào của các neurones này là do calcium tràn vào tế
bào một cách ồ ạt, làm các tế bào dần dần bị ngộp thở, do đó làm ngưng
sản xuất protéine. Đó là một vòng luẩn quẩn: pacemaker tế bào cần calcium
để hoạt động, nhưng quá nhiều calcium cuối cùng làm ngừng hoạt động pacemaker.
James Surmeier đã tự hỏi: nếu như ta thành công làm các tế bào hoạt động
nhờ những kênh ion khác điều chỉnh sodium vào tế bào ? Trên các lát cắt
não bộ chuột vẫn còn sống, nhóm nghiên cứu Chicago đã cho tác động một
tác nhân có tác dụng phong bế đặc hiệu các kênh calcium (israpidine),
đồng thời đo hoạt tính điện của các neurones. Sau 30 phút được điều trị
như thế, các neurones dopaminergiques hoàn toàn không biểu hiện một hoạt
động điện nào.
Nhưng, đây là điều gây kinh ngạc: khoảng một giờ sau sự phong tỏa này,
các mũi nhọn hoạt động điện tự trị, không đều được phát hiện trong nhiều
neurones. Và sau nhiều giờ, hầu hết tất cả các neurones đã tìm thấy lại
một hoạt động pacemaker bình thường về mặt tần số cũng như về tính đều
đặn. Chỉ có khác là từ nay chính bơm sodium (pompes à sodium) và không
còn là những kênh calcium nữa mới là nguyên nhân của hoạt động điện này.
Sau đó nhà nghiên cứu tiếp tục công trình bằng cách cho các lát cắt não
bộ chịu tiếp xúc với một thuốc trừ sâu (pesticide) gọi là rotenone.Thuốc
này trên thí nghiệm gây chết các neurones của bệnh parkinson. Nhưng trước
đó nhà nghiên cứu đã « bảo vệ » các mẫu nghiêm bằng tác nhân chống calcium
(agent anticalcique) có tác dụng làm cho chúng « trẻ lại ».Với những kết
quả rất đáng phấn khởi. Một thử nghiệm lâm sàng trên người với thuốc chống
cao áp thông thường này chẳng bao lâu sẽ được dùng để điều trị cho 100
bệnh nhân bị Parkinson. (LE FIGARO 12/6/2007)
2/ GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG TIM MẠCH Ở HOA KỲ
Ở Hoa Kỳ, khoảng một nửa sụt giảm tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành
từ năm 1980 đến 2000 là do việc giảm bớt các yếu tố nguy cơ quan trọng
và một nửa kia là do các chiến lược điều trị căn cứ trên các chứng cớ.
Sau một gia tăng tăng vọt năm 1968, Hoa Kỳ đã có một sự giảm sút quan
trọng tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành trong suốt 20 năm cuối của
thế kỷ 20. Tại sao? Một nhóm các nhà nghiên cứu của CDC Atlanta Hoa Kỳ,
cộng tác với các nhà nghiên cứu người Anh đã tiến hành một nghiên cứu
nhằm xác định với mức độ nào sự sụt giảm tỷ lệ tử vong này có thể được
giải thích bằng điều trị nội khoa và ngoại khoa, hoặc bằng những biến
đổi các yếu tố nguy cơ tim mạch.
Earl Ford và các cộng sự viên đã phân tích các dữ kiện về việc sử dụng
và hiệu quả của điều trị tim đặc hiệu và về những biến đổi của các yếu
tố nguy cơ từ năm 1980 đến 2000 nơi những người Mỹ tuổi từ 25 đến 84.
Sự khác nhau giữa số bệnh nhân tử vong vì bệnh động mạch vành và số tử
vong được dự kiến, được phân chia tùy theo các điều trị và các yếu tố
nguy cơ được bao gồm trong các phân tích.
Các kết quả chứng tỏ rằng giữa năm 1980 đến 2000, tỷ lệ tử vong vì bệnh
động mạch vành đã sụt giảm từ 542,9 xuống 266,8 tử vong trên 100.000 dân
nơi các ông và từ 263,3 xuống 134,4/100.000 dân nơi các bà. Điều này thể
hiện một sự sụt giảm 341.745 tử vong do bệnh đông mạch vành vào năm 2000.
Gần một nửa (47%) sự giảm sút này là do điều trị , bao gồm điều trị phòng
ngừa thứ phát sau một nhồi máu cơ tim hoặc một revascularisation (11%),
điều trị khởi đầu nhồi máu cơ tim hoặc angor instable (10%), điều trị
suy tim (9%), revascularisation trong trường hợp angor mãn tính (5%) và
các điều trị khác (10%). Khoảng 44% là do biến đổi các yếu tố nguy cơ,
bao gồm giảm cholestérol toàn thể (24%), giảm huyết áp thu tâm (20%),
giảm hút thuốc lá (12%) và giảm tình trạng không hoạt động vật lý (5%).
Mặc dầu vậy, gánh nặng của bệnh động mạch vành ở Hoa Kỳ vẫn to lớn dầu
cho tỷ lệ tử vong do bệnh này đã sút giảm hơn 40% trong suốt 20 năm cuối
của thế kỷ vừa qua.Trong 2 thập niên này đã chứng kiến cùng lúc một sự
gia tăng rất nhanh về phí tổn kỷ thuật y khoa và những điều trị dược học
cho bệnh động mạch vành và những cố gắng quan trọng về mặt y tế cộng đồng
để làm giảm mức lưu hành của những yếu tố nguy cơ tim mạch chính. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 12/6/2007)
3/ MỘT LOẠI BỘT CAI THUỐC LÁ ÍT ĐỘC HẠI
HƠN
Để ngừng hút thuốc, hiện có các điều trị thay thế nicotine: timbres, gommes.
Được kê toa trong thời kỳ cai thuốc (trung bình 6 tháng), tỷ lệ thành
công của các điều trị này vẫn còn thấp. Vì vậy phương thức điều trị Snus
(một loại bột thuốc lá ẩm không hút hay hít được) mà hiện tại được cho
phép sử dụng ở các nước Bắc Âu tỏ ra đáng chú ý. Được bán đặc biệt dưới
dạng các túi nhỏ và được đặt giữa môi và lợi răng trong khoảng 15 phút
để phóng thích các độc chất trong đó có nicotine. Các chất này đi xuyên
qua niêm mạc vào máu nhưng ở nồng độ dưới nồng độ của thuốc lá. Hai kết
quả được công bố trong « The Lancet » đã chứng tỏ rằng Snus không làm
gia tăng nguy cơ bị ung thư miệng hoặc ung thư miệng-tiêu hóa so với những
người không hút thuốc. Snus không gia tăng nguy cơ ung thư phổi : tỷ lệ
được nhận thấy bằng hoặc dưới tỷ lệ của những người không hút thuốc. Điều
này bình thường bởi vì Snus không hít được. Hiệu quả có lợi trên tỷ lệ
mắc phải bệnh viêm phổi mãn tính lại càng rõ rệt hơn. So với những người
hút thuốc, ung thư tụy tạng và bàng quang cũng thường ít xảy ra hơn nhiều.
Một điều bất tiện: dùng quá nhiều có thể làm hư hỏng lợi răng và làm bẩn
rằng. Snus của các nước Bắc Âu được chế tạo từ thuốc lá phát xuất từ các
vùng khác nhau trên thế giới, và được sấy khô ngoài trời. Được trộn lẫn
với nước, muối, carbonate de sodium, snus được điều chế bằng cách nấu
hỗn hợp với hơi nước.Thành phẩm chứa hơn 50% nước và một tỷ lệ nitrosamines
rất thấp. (LA LIBRE MATCH 6/6-12/6/2007)
4/ QUẾ TỐT CHO NHỮNG BỆNH NHÂN ĐÁI ĐƯỜNG
Năm 2003, quế đã được nghiên cứu trong một công trình được thực hiện trên
60 bệnh nhân đái đường, so sánh với placebo. Các kết quả cho thấy rằng
việc tiêu thụ mỗi ngày 1,3 hoặc 6 g quế xay trong 40 ngày dẫn đến sự giảm
đáng kể nồng độ đường huyết và nồng độ của vài lipides trong máu (cholestérol
total, triglycérides, cholestérol LDL). (SCIENCES ET AVENIR 6/2007)
5/ CÁC THUỐC LÀM SUY GIẢM MIỄN DỊCH CHỐNG
LẠI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Các nghiên cứu được tiến hành trên chuột đã chứng tỏ rằng một điều trị
suy giảm miễn dịch (traitement immunosuppresseur), được thực hiện ngay
sau khi chẩn đoán bệnh đái đường loại 1 (bệnh đái đường ở nam giới khởi
đầu từ tuổi ấu thơ), có thể làm giảm các nhu cầu insuline về sau này.Với
các kết quả này và dựa trên nguồn gốc tự miễn dịch của bệnh (cơ thể của
bệnh nhân phá hủy các tế bào tụy tạng tiết insuline của chính bệnh nhân
bằng các kháng thể đặc hiệu), một nhóm nhà nghiên cứu Brésil đã thử nghiệm
phương pháp này trên những người bị bệnh đái đường. Một cách thành công,
theo các kết quả được công bố trong tạp chí Jama (Journal of the American
Medical Association).
Nhờ thế, 14 trong số 15 bệnh nhân đái đường đã có thể khỏi phải dùng insuline
một cách khá lâu bền: 1 bệnh nhân trong 35 tháng, 4 bệnh nhân khác trong
21 tháng , 7 trong 6 tháng, 2 trong 5 và 1 tháng.
Những công trình khác được dự kiến để làm rõ các cơ chế vẫn còn chưa được
hiểu về tính độc lập đối với insuline này. (SCIENCES ET AVENIR 6/2007).
6/ CAFE LÀM GIẢM NGUY CƠ BỊ UNG THƯ GAN
Có một số dữ kiện gợi ý rằng việc uống café có thể bảo vệ gan chống lại
mọi tấn công có nguồn gốc khác nhau và làm giảm nguy cơ bị carcinome hépatocellulaire
(CHC). Một phân tích mới đây gợi ý rằng việc uống café có thể làm giảm
nguy cơ bị ung thư gan. Các BS Susanna và Alicja thuộc Viện Karolinska
, Stockholm đã thực hiện sự phân tích này.Tổng cộng có 9 công trình nghiên
cứu với 2.260 trường hợp và 239.146 kiểm chứng đã hội đủ các chỉ tiêu
đề ra. Nhìn toàn bộ, một gia tăng tiêu thụ 2 tách café mỗi ngày liên kết
với sự giảm nguy cơ bị ung thư gan 43%. (LE JOURNAL DU MEDECIN 12/6/2007)
7/ ANDRÉ VÉSALE VÀ CƠ THỂ HỌC
André Vésale sinh ở Bruxelles ngày 31 tháng 12 năm 1514.Truyền thuyết
kể rằng lúc thiếu niên ông đã không cưỡng nỗi sự thèm muốn đi ăn trộm
xác các tù nhân bị hành quyết trên Núi của những người bị treo cổ (Mont
des Pendus). Sau khi theo học ở Paris và trở lại Louvain một thời gian
ngắn, chàng trai trẻ Vésale lên đường đi Padoue, nơi đây những tư tưởng
đổi mới của ông sẽ được hoan nghênh hơn là ở vùng ông đang ở.Thật vậy,Thượng
Viện Venise dành một sự chú ý đặc biệt đối với khoa học và nghệ thuật.
Các nghiên cứu cơ thể học của Vésale sau cùng có thể được thực hiện giữa
thanh thiên bạch nhật. Vésale nhanh chóng được thăng cấp tiến sĩ y khoa
và ông được bổ nhiệm làm trưởng khoa ngoại. Nhà cơ thể học (anatomiste)
phẫu tích trước một cử tọa ngày càng đông và hứng khởi. Ông cũng tiếp
nhận cả các sinh viên nghệ thuật.
ANDRE VESAE BỊ BUỘC TỘI DỊ GIÁO
Chính vào thời kỳ này chàng y sĩ trẻ tuổi sẽ hạ bệ Galien do phát hiện
những sai lầm của người thầy thuốc nổi tiếng này. Do không được phép phẫu
tích trên người, Galien đã suy diễn lên người cơ thể học của khỉ, heo
và các động vật khác.Vào năm 1543,Vésale xuất bản De Humani Corporis Fabrica,
dày 600 trang, được minh họa một cách thần tình bởi học trò của Titien,
trong đó ông mô tả cơ thể học của con người.Tác phẩm này vẫn là sách tham
khảo về cơ thể học cho đến mãi thế kỷ thứ 19 nhưng mặc dầu Vésale thu
được thành công tức thời nhất là đối với thế hệ mới, ông vẫn là đối tượng
của những phê bình gắt gao từ những môn đồ của Galien. Sự thành công hẳn
đưa đến lòng ganh tị, André Vésale bị buộc tội dị giáo và bị đe dọa. Bị
thúc đẩy bởi lòng kiêu hãnh nhưng cũng do thận trọng, ông từ giả nước
Ý và đi phục vụ cho Charles Quint rồi cho PhilIppe II. André Vésale vẫn
còn hy vọng quay trở về Padoue. Fallope, học trò cũ của ông, vừa mới mất
và chức trưởng bộ môn cơ thể học còn để trống. Nhưng ông đã không bao
giờ trở lại Padoue nữa : năm 1564, trên đường trở về từ một chuyến viễn
du trên đất thánh, chiếc tàu chở ông ghé lại đảo Zante. Chính ở đây Vésale
qua đời ở tuổi 50 trong những tình huống bí ẩn : chết đói sau khi bị chìm
tàu, bị ám sát, bị một căn bệnh chết người...tất cả các giả thuyết được
đưa ra nhưng không giả thuyết nào được kiểm chứng. Nhiều người cho rằng
cuộc viễn du này là một hình phạt vì nhà cơ thể học đã bị nghi ngờ tiến
hành giải phẫu sống (vivisection) trên người. Hoàn toàn không phải thế.
Những trao đổi thư từ giữa ông và nhà vua xác nhận rằng đó là một cuộc
du hành do nhà vua yêu cầu và Vésale đã thực hiện một cách tự nguyện.Trên
đảo Zante, dân chúng đã tỏ lòng tôn kính người đồng hương của mình khi
dùng tên ông đặt tên cho một con đường, một quảng trường và một viện bảo
tàng nhỏ. Là những người Bỉ, là những người cùng thời, Charles Quint và
André Vésale đã ghi một dấu ấn vào thời đại mình và đă làm cho ngành y
khoa tiến triển, người này bằng các quy chế được ban hành, người kia bằng
những khám phá được thực hiện. Họ đã góp phần đưa châu Âu ra khỏi thời
kỳ trung cổ quá lâu dài, là thời kỳ mà Nhà Thờ, Thượng Đế và Thánh thần
ngự trị lên sức khỏe với tư cách là người chủ tuyệtđối. (Semper 5/2007)
8/ FLUOROQUINOLONES : CÁC TÁC DỤNG PHỤ TÂM
THẦN
Ở Pháp, các fluoroquinolones là những thuốc không có tác dụng dưỡng thần
(psychotrope) thường bị liên hệ trong những bản thông báo về các rối loạn
tâm thần. 590 báo cáo về các tác dụng phụ tâm thần của fluoroquinolones
đã được thông báo ở Pháp từ năm 1985 đến năm 2002. Chủ yếu đó là sự lú
lẫn (confusion) (51%), ảo giác (hallucination) (27%), dãy dụa (agitation)
(13%), mê sảng (12%), mất ngủ (8%), tình trạng ngủ gà (somnolence) (4%).
Các người già tuồng như đặc biệt nhạy cảm.
Tất cả các fluoroquinolones đều có thể gây nên những tác dụng phụ tâm
thần: ofloxacine (28%), péfloxacine (27,5%), ciprofloxacine (24,6%), norfloxacine
(18,5%), lévofloxacine (1,2%). Thường xảy ra khi fluoroquinolones được
cho bằng đường miệng (75,3%) hoặc bằng đường tĩnh mạch (24,6%) và dưới
dạng thuốc nhỏ mắt trong 1 trường hợp.
Những báo cáo này khiến các thầy thuốc cần cảnh giác mỗi lần cho toa thuốc
loại fluoroquinolones, kể cả bằng đường miệng. (PRESCRIRE 6/2007)
9/ MÁU CHỨA MỘT TÁC NHÂN CHỐNG VIRUS BỆNH
SIDA
Máu người tự nhiên chứa một chất có khả năng phong bế một cách hiệu quả
VIH-1, kể cả các giống gốc (souche) đề kháng với antirétroviraux.Một nhóm
nghiên cứu của Viện virus học của Ulm (Đức) đã xem xét 1 triệu chất trong
máu trước khi phân lập được một peptide gọi là VIRIP.Chất này ngăn cản
siêu vi trùng sida đi vào trong các tế bào kỷ chủ. Bằng cách nào? Peptide
liên kết với một protéine hiện diện trên bề mặt của virus gọi là gp41.
Protéine này có can dự trong việc gắn VIH vào tế bào kỷ chủ. Protéine
này là một trong những vị trí hiếm hoi của virus không biến dị thường
trực.Những thay đổi nhỏ trong cấu trúc của VIRIP làm mất sự gia tăng tác
dụng của virus.Với khám phá này một vũ khí trị liệu chống SIDA một ngày
nào đó sẽ được hiệu chính.
10/ CÁC LÒ XO TRONG NÃO BỘ
Sau tim, các stents ( những thiết bị nhỏ dạng lò xo) hiện nay là đối tượng
của nhiều công trình nghiên cứu trong điều trị tai biến mạch máu não.
Nhờ một ông thông (sonde), các lò xo được đưa vào trong các huyết quản
bị tắc nghẽn bởi các thương tổn xơ mỡ (lésions d’athéroslérose) để tìm
cách tái lập một lưu lượng máu bình thường hoặc để ngăn ngừa tắc mạch
hoàn toàn.Theo nhiều công trình nghiên cứu, các stents « trần » (nus)
hay được bao (enrobés) bởi chất chống đông (còn gọi là stents actifs hay
à élution médicamenteuse), được sử dụng từ lâu trong bệnh động mạch vành,
đã cho những kết quả sơ bộ đáng phấn khởi trong trường hợp tắc nghiêm
trọng động mạch sylvienne và động mạch cổ trong (artère carotide interne).
Hiện đang bắt đầu một giai đoạn mới với thử nghiệm các stents bioabsorbales.
Các stents sẽ tan biến trong 12 đến 18 tháng.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(15/6/2007)
>>>back>>>
|
 |