 |
Thời
Sự Y Học số 188
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ BÁO ĐỘNG NHỮNG VI KHUẨN
MỚI CỰC KỲ ĐỀ KHÁNG
Đến từ Ân Độ, những vi khuẩn này đề kháng hầu hết các kháng sinh và đã
lưu hành trong nhiều nước.
INFECTIONS. Những giống gốc vi khuẩn (souches bactériennes)
mới, đề kháng với hầu hết tất cả các kháng sinh, đã được phát hiện từ
năm 2003 ở Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Một công trình nghiên cứu được
công bố tuần qua nhấn mạnh rằng những vi khuẩn mới cực kỳ đề kháng (bactéries
ultrarésistantes) này có thể có mặt khắp nơi trên hành tinh trong những
năm tới. Nhóm nghiên cứu, được lèo lái bởi Timothy Wallsh, thuộc đại học
Cardiff, kêu gọi một sự giám sát quốc tế (The Lancet on line).
Thật vậy, các công trình của họ cho thấy rằng tỷ lệ lưu hành đã gia tăng
rất nhanh ở Ấn Độ: từ chỗ rất hiếm hoi cách nay ba năm, từ nay các vi
khuẩn cực kỳ đề kháng này có liên hệ trong gần 3% các nhiễm trùng ruột
đề kháng (infections intestinales résistantes). Lại còn đáng lo ngại hơn,
những vi khuẩn này đã ra khỏi tiểu lục địa. Các nhà nghiên cứu đã tìm
thấy chúng nơi 37 bệnh nhân người Anh đến Ấn Độ vì những phẫu thuật khác
nhau : ghép các cơ quan, thẩm tách thận, điều trị thẩm mỹ …nhiều trường
hợp đã được ghi nhận trên thế giới, trong đó một ở Pháp.
NHỮNG NGƯỜI LÀNH MANG TRÙNG
Hiện tượng này rất là đáng quan ngại, nhất là bởi vì các vi khuẩn ruột
biến dị (entérobactéries mutantes) này đề kháng với carbapénème, một lớp
các thuốc kháng sinh, ngày nay là thành lũy cuối cùng chống lại các vi
trùng đa đề kháng khó điều trị nhất. Ở Châu Âu, mỗi năm, gần 25.000 trường
hợp tử vong liên quan với những vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes),
vì lẽ thiếu các kháng sinh có hiệu quả.
“Mối đe dọa là có thật”, Patrice Nordmann, giám đốc của đơn vị Inserm,
chuyên về những vi khuẩn mới phát khởi và đa đề kháng, đã xác nhận như
vậy. Trước hết, bởi vì các cơ chế đề kháng được quan sát ở Ấn Độ là hiệu
quả một cách đáng sợ. Thật vậy, cơ chế này là do một gène đi qua dễ dàng
từ vi trùng này qua vi trùng khác. “Paris sẽ không bị xâm chiếm trong
một sớm một chiều”, tuy nhiên Patrice Nordmann vội vã nhấn mạnh như vậy.
Thật vậy, sự khuếch tán của những vi khuẩn này không có liên hệ gì với
một dịch bệnh virus, ví dụ như cúm H1N1, đi vòng quanh thế giới trong
vài tháng.
Yếu tố khác chẳng thuận lợi chút nào, gène của khả năng cực kỳ đề kháng
(ultrarésistance) này, được mệnh danh “blaNDM-” (New Dehli métallo-bêtalactamase),
hiện diện nơi những loài vi khuẩn, trong điều kiện tự nhiên, có rất dồi
dào trong khuẩn chí ruột và hệ hô hấp (Escherichia Coli và Klebsiella
pneumoniae), trong đó một vài loài sinh bệnh. Sự chung đụng của chúng
với người do đó làm gia tăng các nguy cơ lây nhiễm, nhất là trong một
quốc gia có 1,1 tỷ dân, trong đó điều kiện vệ sinh và chất lượng nước
uống không được thỏa mãn. Thật vậy, trong tiểu lục địa Ấn Độ, gène blaNDM-1
không bị giam hãm trong các bệnh viện, nơi đây hiện diện phần lớn những
bệnh nhân bị những nhiễm trùng đa đề kháng. Gène này lưu hành trong môi
trường và trong nước.
Do đó du lịch y khoa (tourisme médical) không phải là đường lây nhiễm
khả dĩ duy nhất. Ở Ấn Độ, là nơi hoạt động du lịch chữa bệnh mang lại
thu nhập ngoại tệ ngày càng nhiều, giới cầm quyền cực lực phản đối, cho
rằng công trình nghiên cứu Ấn Độ là một sự mạ lị vu khống và rằng gène
blaNDM-1 vốn có khắp nơi trên quả địa cầu. “ Hiện nay, không gì chỉ rõ
rằng các giống gốc đa đề kháng là độc lực hơn những giống gốc khác ”,
Patrice Nordmann đã xác nhận như vậy. Noi chung, chúng gây nên những nhiễm
trùng đường tiểu và ruột, nhưng vài người bị lây nhiễm có thể không phát
triển bệnh, điều mà ta gọi là những người lành mang trùng (porteurs sains).
Vấn đề gay gắt nhất được đặt ra đối với những bệnh nhân yếu ớt và bị thiếu
hụt miễn dịch (immunodéficient). Chỉ có hai kháng sinh dường như có hiệu
quả : “colimycine, một kháng sinh xưa khó sử dụng và độc, cũng như một
thứ thuốc mới, tigecycline, mà liều lượng chưa được xác lập”, Jean Carlet,
cựu chủ tịch của Ủy ban kỹ thuật quốc gia về những nhiễm trùng bệnh viện
và ngày nay là tham vấn của OMS, đã giải thích như vậy. Không có một loại
thuốc mới nào hiện nay được dự kiến phát triển. Các kháng sinh không sinh
lợi dưới mắt của các hãng bào chế lớn.
Nước Anh, có những trao đổi rất chặt chẽ với cựu thuộc địa của mình, là
chịu nhất sự xuất hiện của những vi khuẩn mới này. Gần 4 triệu người có
nguồn gốc tiểu lục địa sống ở Anh. Tuy nhiên vài trường hợp đã được ghi
nhận ở Hòa Lan, ở Canada, ở Hoa Kỳ, ở Kenya và ở Oman. NMD-1 đã gây nên
tử vong cho một người ở Suède cũng như ở Bỉ và Úc đại lợi. Trường hợp
duy nhất được ghi nhận ở Pháp có liên quan đến một người được nhập viện
vì một vết thương ở bàn tay. “Người này đã không phát triển một nhiễm
trùng nào”, Patrice Nordmann đã nhấn mạnh như vậy. Dầu sao đó là những
người có nguồn gốc Ấn Độ-Pakistan, hoặc là những du khách đơn thuần, hoặc
là những người đã lưu trú ở đó trong một bệnh viện.
Mối đe dọa nghiêm trọng nhất trước hết liên quan đến nguy cơ thấy các
đề kháng với các kháng sinh gia tăng do sự lạm dụng chúng. “ Rất là nghiêm
trọng. Chính những kháng sinh này vốn đã cứu nhiều mạng người nhất cho
đến ngày nay. Đó không phải là những loại thuốc như những loại thuốc khác.
Chúng tấn công các vi sinh vật biết tự bảo vệ, do đó chỉ nên dùng chúng
một cách có ý thức và một cách dè sẻn, Jean Carlet đã giải thích như vậy.
Chúng ta đang đứng trước một vấn đề sinh thái y học (écologie médicale)
: phải xem các kháng sinh như là một gia sản điều trị (patrimoine thérapeutique)
bị đe dọa.” Cùng với những chuyên gia khác, năm qua, ông đã thảo một kế
hoạch hành động khẩn cấp nhằm làm giảm tình trạng đề kháng đối với các
kháng sinh ở Pháp. Sự tiêu thụ kháng sinh lại đang tăng cao trong đất
nước chúng ta ”, ông đã phàn nàn như vậy. Dầu cho tình hình không có liên
hệ gì với tình hình ở Ấn Độ hay các nước khác phía nam, là nơi các kháng
sinh có thể được bán không cần toa bác sĩ và không bị kiểm soát, đất nước
chúng ta vẫn còn tụt hậu. (LE FIGARO 16/8/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr60.htm
(TSYH số 60 bài số 5)
2/ CÁC NHIỄM TRÙNG LẬU CẦU TIẾN
TRIỂN MẠNH Ở PHÁP
Sự tăng cao của những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục này phản
ảnh sự tiến triển của những giao hợp có nguy cơ (rapports à risque).
SANTE PUBLIQUE. Tất cả các chỉ dấu đều đi theo cũng
chiều hướng : các nhiễm trùng lậu cầu (infections à gonocoques) đang tiến
triển mạnh ở Pháp. Thế mà khuynh hướng càng gây báo động khi những nhiễm
trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục (IST : infections sexuellement transmissibles)
này là phản ảnh của những hành vi tình dục có nguy cơ (comportements sexuels
à risque). Giữa năm 2008 và 2009, các bệnh lậu (gonorrhée, còn được gọi
là blennorragie hay thân mật hơn bệnh đái nóng (chaude-pisse) nơi đàn
ông) đã nhảy vọt lên 52% ở Pháp, Viện theo dõi y tế (IVS : Institut de
veille sanitaire) đã đánh giá như vậy. Cơ quan này căn cứ trên hai mạng
lưới theo dõi đặc biệt. Điều chứng thực của hai hệ thống theo dõi này
phù hợp với điều chứng thực của các thầy thuốc đa khoa thuộc mạng lưới
Sentinelles theo dõi những bệnh viêm niệu đạo (urétrite) của nam giới.
Theo IVS, sự tiến triển hơi ít quan trọng hơn ở Il-de-France (+38%) với
một sự ổn định tương đối nơi các phụ nữ. Trong những vùng khác, sự gia
tăng số các trường hợp (+54%) ngược lại rõ ràng nơi hai giới : + 51% nơi
đàn ông và +75% nơi phụ nữ. “Các lậu cầu khuẩn đã bắt đầu gia tăng vào
khoảng năm 1996, nhưng sự tăng trưởng của chúng gia tốc, BS Anne Gallay,
thuộc IVS đã xác nhận như vậy. Những người dị tính luyến ái (hétérosexuels)
dường như càng ngày càng bị liên hệ, cũng như đối với những bệnh lây nhiễm
bằng đường sinh dục (IST) khác như bệnh giang mai
NGUY CƠ VÔ SINH
Ở người đàn ông, một nhiễm trùng bởi các lậu cầu khuẩn gây nên một viêm
niệu đạo cấp tính (với tiểu ra mủ, đau rát khi đi tiểu), hiếm mà không
nhận biết được. Thời hạn giữa lúc bị lây nhiễm và lúc bắt đầu các triệu
chứng rất ngắn, giữa 3 và 5 ngày. Tổng cộng, ở Pháp giữa 15.000 và 20.000
người đàn ông (thường là trẻ) bị liên hệ bởi nhiễm trùng này.
Những đánh giá rõ rệt phức tạp hơn đối với nữ giới, ở đối tượng này các
nhiễm trùng, ít gây triệu chứng, hiếm khi khiến phải đi thăm khám. “ Chúng
ta không biết tần số mắc bệnh nơi các phụ nữ là bao nhiêu, và đó là một
mối âu lo bởi vì, khi những phụ nữ bị lây nhiễm này không tự phát hiện,
họ sẽ tham gia vào sự làm lây truyền những vi khuẩn này ”, Anne Gallay
đã tiếp tục phát biểu như vậy.
Mặc dầu các bệnh lậu (gonococcies) thường là những nhiễm trùng hiền tính,
được chữa lành với một điều trị kháng sinh thích ứng, nhưng sự tiến triển
của chúng đặt ra hai vấn đề về y tế công cộng. Không được điều trị hay
điều trị kém, chúng có thể tiến triển thành những nhiễm trùng mãn tính,
với một nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ, và chúng làm dễ những nhiễm trùng
lây nhiễm bằng đường sinh dục khác.
Nhất là các bệnh lậu là một chỉ dấu tốt về những hành vi tình dục có nguy
cơ. Vậy sự tiến triển của chúng tiết lộ một sự gia tăng các thói quen
tình dục mang nhiều nguy cơ. Vào đầu những năm sida, những hành động phòng
ngừa (bằng cách mang các túi dương vật) đã cho phép làm giảm tần số các
nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. Từ đó, các điều tra đã mô tả
sự lơi lỏng của các hành vi, đặc biệt là trong các giới đồng tính luyến
ái. “Ngoài ra, bối cảnh của tình dục đã tiến triển nhiều nơi những người
dưới 30 tuổi, BS Gallay đã nói thêm vào như vậy. Có nhiều cuộc gặp gỡ
bất ngờ hơn và nhiều bạn đường phối ngẫu hơn, điều này có thể làm dễ những
nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.”
Đứng trước sự tiến triển này, những thông điệp phòng ngừa bằng túi duơng
vật vẫn là cần thiết, “nhưng khó mà hướng tất cả mọi chuyện vào đó”, nhà
dịch tễ học đã đánh giá như vậy. Cũng phải nhấn mạnh việc phát hiện sớm,
bằng cách đốc thúc giới trẻ thăm khám trong trường hợp bị phải nguy cơ
hay trong trường hợp có triệu chứng. Theo BS Gallay, người ta đang suy
nghĩ để tái tổ chức hệ thống phát hiện các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh
dục hiện nay. Với sự khó khăn là những nhiễm trùng này không gây bệnh
cho cùng lứa tuổi và rằng thời gian tiềm phục của chúng rất là biến thiên.
(LE FIGARO 22/8/2010)
3/ TẠI SAO PHẢI UỐNG ĐỦ NƯỚC
?
Professeur Raymond Ardaillou,
Néphrologue, Membre de l’Académie nationale de médecine
Cơ thể chúng ta chứa 60% nước. Như thế, một người cân nặng 72kg được cấu
tạo bởi 42 lít nước. Nước được nhận vào là nước uống, nước được chứa trong
các thức ăn và, một phần rất nhỏ nơi người, nuớc nội tại (eau endogène),
nghĩa là nước phát xuất từ sự oxy hóa của hydrogène, được chứa trong các
glucide và lipide. Chúng ta hãy nhắc lại rằng không phải như thế đối với
con lạc đà, trong thời kỳ bị hạn chế nước, oxy hóa mỡ của bướu (bosse
de chameau) để thu được nước mà nó thiếu.
Ngược lại, con người không có một dự trữ nước nào và phải bù những thất
thoát hàng ngày bằng những thu nhập tương ứng. Trong điều kiện bình thường,
những lượng nước xuất chủ yếu là nước tiểu và mồ hôi ; lượng nước xuất
trong mồ hôi tùy theo những điều kiện khí hậu (nhiệt độ và hygrométrie).
Những lượng xuất này có thể gia tăng trong các bệnh kèm theo nôn mửa hay
ỉa chảy. Việc thiếu nước là không thể chịu đựng được và gây nên tử vong
do mất nước tế bào (déshydratation cellulaire).
NHỮNG NGƯỜI GIÀ : COI CHỪNG !
Không nên chờ đợi có cảm giác khát rồi mới uống nước. Lý tưởng là không
phải chỉ bù những lượng nước bị mất bắt buộc (pertes d’eau obligatoires),
mà còn phải uống vào một lượng bổ sung để đi tiểu mỗi ngày ít nhất 1.500
ml. Có rất nhiều lý do :
1. Ngăn ngừa sự tạo thành
các sỏi trong những đường bài tiết nước tiểu, là nguồn gốc của những cơn
đau quặn thận (colique néphrétique) và, nếu sỏi không được bài xuất hay
lấy đi, sẽ gây nên sự ứ đọng nước tiểu ở phía trên chướng ngại vật.
2. Ngăn ngừa nhiễm trùng
đường tiểu bằng cách duy trì một lưu lượng nước tiểu cao, làm dễ sự bài
xuất các vi trùng và bởi vì kích thích tố kháng lợi tiểu (hormone antidiurétique),
được tiết ra dư thừa trong trường hợp mất nước, làm dễ sự dính (adhérence)
của các trực khuẩn ruột (colibacilles) vào biểu mô đường tiểu và làm dễ
sự xâm nhập các tế bào bởi những vi khuẩn này.
3. Cho phép bài tiết urée
và các muối khoáng một cách thỏa mãn; Thật vậy, người ta đã chứng tỏ rằng
khả năng bài tiết urée (clairance de l’urée) gia tăng với sự bài niệu.
Ngoài ra, năng suất làm cô đặc nước nước tiểu nơi người được giới hạn
khoảng 4 lần nồng độ các chất hòa tan trong huyết thanh. Năng suất này
giảm đi trong trường hợp suy thận, ngay cả ở mức trung bình. Sự cung cấp
nước phải được thích ứng và tăng cao hơn vào mùa hè, nhất là trong bầu
không khí khô ráo. Khi đó, phải đặc biệt chú ý đến việc cung cấp nước
cho các người già, vì nơi những đối tượng này cảm giác khát bị giảm, điều
này đòi hỏi sự giúp đỡ của một người thứ ba. Ta phải cảnh báo các lão
ông bị đi tiểu thường xuyên vì u hiền tuyến tiền liệt (adénome prostatique),
về nguy cơ uống ít hơn để khỏi phải bị trở ngại trong cuộc sống xã hội
của họ. Thà đi tiểu thường xuyên hơn là bị mất nước và làm gia tăng nguy
cơ nhiễm trùng đường tiểu. Phải uống nước chủ yếu từ robinet (nước được
phát ra ở Pháp đặc biệt được theo dõi và có chất lượng tốt), hoặc nước
khoáng đóng chai với phí tổn cao hơn và với điều kiện chọn một thứ nước
ít sodium. Phải tránh tất cả các nước uống có đường và những nước uống
pha cồn, nguồn gốc của chứng béo phì và nghiện ngập. Rượu ức chế sự tiết
của kích thích tố kháng bài niệu (hormone antidiurétique) và như thế làm
dễ sự tiếp diễn của ngộ độc. Sự uống nước phải được chia ra trong ngày.
Về mùa hè, cũng nên uống giữa các bữa ăn và ngay cả ban đêm.
UỐNG NHIỀU NƯỚC CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?
Uống nước quá mức kinh niên hay potomanie (3L hay hơn mỗi ngày) có thể
có những hậu quả tai hại, bởi vì điều này dẫn đến một sự kém thích ứng
đối với những điều kiện thiếu nước. Uống nước quá mức cấp tính có thể
dẫn đến quá tải (surcharge) với hyperhydratation cellulaire và giảm nồng
độ sodium trong huyết thanh. Thật vậy, cũng như năng suất làm cô đặc nước
tiểu bị hạn chế, năng suất làm loãng cũng vậy. Nhưng mối nguy hiểm này
ít xảy ra trong đời sống hàng ngày. Phải tránh điều đó trong trường hợp
tiêm truyền dung dịch glucose hay uống nước quá nhiều nơi những người
phụ thuộc. (LE FIGARO 28/6/2010) Đọc thêm
:
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr74.htm
(TSYH số 74 bài số 5)
4/ BỆNH ALZHEIMER : THẤT BẠI NGHIÊM
TRỌNG ĐỐI VỚI MỘT LOẠI THUỐC MỚI
Hãng dược phẩm Ely Lily tuần này đã ngừng sự nghiên cứu đối với semagacesta,
một loại thuốc có tiềm năng chống lại bệnh Alzheimer. Phòng bào chế đã
chấm dứt hai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 (giai đoạn cuối cùng trước
khi đưa thuốc ra thị trường), đã được bắt đầu vào tháng tư, bởi vì điều
trị không làm chậm lại sự tiến triển của căn bệnh này. Lại còn tệ hại
hơn, thuốc làm trầm trọng ngay cả những triệu chứng của những người tham
gia.
Semagascesta nhắm đích các protéine bêta-amyloide, mà sự tích tụ, cùng
với prtéine Tau, được xem như đóng một vài trò chủ yếu trong bệnh Alzheimer.
Dĩ nhiên đây không phải là lần đầu tiên mà một thuốc ứng viên (candidat-médicament)
tỏ ra không có hiệu quả, nhưng những kết quả này tạo nên những nghi vấn
về tính chất có căn cứ của ngay giả thuyết, theo đó sự tích tụ các bêta-amyloide
trong não bộ đúng là nguồn gốc của bệnh Alzheimer. Theo giả thuyết này,
nếu ta làm giảm nồng độ của các protéine độc hại này, hẳn ta có thể, một
cách logic, làm chậm lại, thậm chí làm ngừng sự tiến triển của bệnh. “Chúng
tôi đã có thể đưa semagascesta với một lượng đủ vào trong não bộ của những
bệnh nhân này để có một tác dụng lên sự sản xuất bêta-amyloide nhưng bất
hạnh thay những kết quả đã không như điều mà chúng tôi hằng mong đợi”,
BS Eric Siemers, tổng giám đốc của nhóm nghiên cứu đã lấy làm tiếc như
vậy. Thật vậy, semagacestat là một trong những thuốc hiếm hoi đã vượt
qua được hàng rào huyết-não (barière hémato-encéphalique), hàng rào bảo
vệ đặc biệt kín, lọc các chất trong dòng màu có thể đi đến não bộ.
MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG NGÕ CỤT
Phần lớn các điều trị đang được phát triển để chống lại bệnh Alzheimer
đều phong bế một enzyme, gamma secrétase, cần thiết cho sự sản xuất các
protéine bêta-amyloide. Đối với BS Lon Schneider, nhà nghiên cứu thuộc
Đại Học Nam Calfornornia, sự thất bại này có lẽ có nghĩa là những cố gắng
chỉ tập trung vào việc kiểm soát sự sản xuất bêta-amyloide đang đi vào
ngõ cụt.
“Sự nghiên cứu chống lại bêta-amyloide đã đi theo 3 đường hướng, GS Adrian
Ivanoiu, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc Clinique de la mémoire
của Cliniques Saint-Luc (UCL) đã giải thích như vậy. Hướng thứ nhất, đó
là vaccin. Nhưng vào khoảng năm 2000, những thử nghiệm đã mang lại hậu
quả là những bệnh não (encéphalopathie) và những dị ứng nghiêm trọng,
đã gây nên những trường hợp tử vong hay các di chứng. Hướng này đã bị
bỏ, nhưng hôm nay những dự án mới trổi dậy. Hướng thứ hai, đó chính là
sự phong bế của enzyme secrétase, để đồng thời phong bế sự tạo thành của
mảng bêta-amyloide. Phương pháp này cũng làm vài người hoài nghi, bởi
vì enzyme này cũng được sử dụng cho những chức năng khác trong các hệ
tiêu hóa hay thần kinh. Vậy theo lý thuyết, ức chế nó có thể gây nên những
tác dụng có hại đối với bệnh nhân. Vậy đó thật sự là điều dường như đã
xảy ra khiến phải ngừng đột ngột các thử nghiệm. Nhưng có một đường hướng
thứ ba, đó là sự sử dụng các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux),
phương pháp này có ưu điểm hơn vaccin “là nhắm đúng đích hơn và được dung
nap tốt hơn nhiều.” Ngoài ra, hãng Eli Lilly đã xác nhận rằng những thử
nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 cho một thuốc ứng viên khác, solanezumab,
một kháng thể đơn dòng, sẽ được tiếp tục. “Nhưng chủ yếu có những nghiên
cứu về một nguyên nhân khác của bệnh, protéine Tau, có tương quan với
thương tổn nhận thức hơn là mảng bêta-amyloide. Tuy nhiên không có hy
vọng nào mà lại không được suy xét cân nhắc : những kết quả nghiêm chỉnh
đầu tiên không được mong chờ trước 4 hay 5 năm”. (LE
SOIR 21-22/8/2010)
5/ UNG THƯ VÚ VÀ MỠ ĐỘNG VẬT
Mối liên hệ nào giữa việc tiêu thụ lipide và ung thư vú ? Những công trình
nghiên cứu mâu thuẫn nhau đã được công bố, nhưng ít có công trình nào
được hướng về các lipide có nguồn gốc động vật. Đó là mục đích của một
công trình tổng hợp, được thực hiện trên khoảng 1500 bài báo khoa học.
Những công trình nghiêm chỉnh nhất không cho phép phát hiện một sự liên
kết nào giữa ung thư vú và sự tiêu thụ mỡ động vật. (SCIENCES
ET AVENIR 8/2010) Đọc thêm:
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr74.htm
(TSYH số 74, bài số 4)
6/ TA CÓ THỂ BỊ CON ĐAU TIM
DO STRESS KHÔNG ?
Professeur Jean-Paul Bounhoure,
Cardiologue, Membre de l’Académie nationale de médecine
Ta có thể bị chết vì sợ hãi lúc bị hành hung, bị ám sát, vào khi xảy ra
một thiên tai hay do nỗi đau khổ vì sự qua đời của một người thân? Nhiều
quan sát xác nhận sự kiện này. Là căn bệnh của thế kỷ của chúng ta, stress
gây nên những tác dụng có hại lên trạng thái thần kinh và vật lý của chúng
ta, lên toàn bộ cơ thể của chúng ta, đặc biệt là lên trái tim và các mạch
máu của chúng ta.
Những trường hợp thử thách của cuộc sống, những chấn thương tâm lý hay
tình cảm mạnh mẽ kích thích hệ thần kinh giao cảm, làm tiết các hormone,
làm suy giảm hệ thống phòng ngự của chúng ta. Stress gây nên sự phóng
thích các kích thích tố ; các hormone này làm gia tốc tần số tim, làm
tăng cao huyết áp, làm gia tăng công của tim, gây nên nhưng rối loạn đông
máu, làm dễ những tai biến cấp tính động mạch vành và não bộ.
Những điều bất ngờ của một cuộc sống hàng ngày nhộn nhịp và khó khăn,
những xung đột trong gia đình, những bó buộc của cuộc sống nghề nghiệp,
tạo nên một sự căng thẳng thường trực (un stress permanent), làm dễ sự
xuất hiện của bệnh cao huyết áp, của chứng xơ mỡ động mạch (athérosclérose)
và của những biến chứng tim của chúng. Lúc làm việc, những gò bó gây nên
bởi mối ưu tư về hiệu năng, những yếu tố nguy hại của môi trường, sự lao
lực, mối ám ảnh bị đuổi việc, là nguyên nhân của các tai nạn, của tình
trạng nghỉ bệnh, của những phí tổn y tế, của những rối loạn tâm lý và
cũng của những bệnh lý tim mạch.
Những tác dụng và những hậu quả của các tình trạng căng thẳng thay đổi
tùy theo thời gian, sự lặp đi lặp lại, cường độ của chúng và nhân cách
của cá thể. Stress là một yếu tố phát khởi của những rối loạn nhịp tim,
của những tai biến động mạch vành cấp tính, của những suy tim thình lình
và của những trường hợp chết đột ngột. Tất cả các thầy thuốc chuyên khoa
tim đều có thể báo cáo những quan sát về những trường hợp chết lúc bệnh
nhân bị xúc động mạnh, vào lúc xảy ra những biến cố bi thảm. Nơi những
bệnh nhân Hoa Kỳ mang những máy khử rung (défibrillateurs), những nhân
chứng của cuộc ám sát 11/9, người ta đã chứng thực rằng, hơn 1/3 những
người mang máy đã phản ứng bởi những rối loạn rất trầm trọng cần đến một
sốc điện (choc électrique). Sự phân tích những đường điện tâm đồ của các
bệnh nhân bị nhập viện vì những loạn nhịp tim khác nhau, cho thấy vai
trò có hại của những cơn giận dữ, của những xúc cảm mạnh. Sự theo dõi
những bệnh nhân bị xơ mỡ động mạch vành cho thấy rằng những cơn đau thắt
ngực, một sự tưới máu tồi thầm lặng của cơ tim, các tắc động mạch vành,
thường được phát khởi bởi những tình huống căng thẳng.
Những biến cố thể thao có nguy cơ đối với tim của những khán giả say mê
theo dõi những cuộc đấu lớn bóng đá và rugby : nhồi máu cơ tim, các rối
loạn nhịp tim xảy ra nhiều trong những trận giao đấu lớn. Tất cả những
biến cố căng thẳng có thể làm bất ổn định bệnh động mạch vành, gây nên
những phản ứng huyết quản, dẫn đến sự vỡ các mảng xơ mỡ, sự tạo thành
các cục máu đông, những nguyên nhân của nhồi máu cơ tim.
LOẠN NHỊP TIM VÀ CHẾT ĐỘT NGỘT
Sự co đột ngột của các động mạch, được gọi là co thắt động mạch vành (spasme
coronaire), có thể gây nên những loạn nhịp, những nhồi máu và những trường
hợp chết đột ngột. Những thương tổn cấp tính của cơ tim, nguyên nhân của
suy tim cấp tính, xảy ra hơn nơi những phụ nữ sau một sốc tình cảm, những
biến cố bi thảm xảy ra đột ngột. Huyết áp thay đổi một cách thường trực
tùy theo thái độ, các cảm xúc, môi trường, những gò bó nghề nghiệp, như
các ghi huyết áp ngoại trú kéo dài đã cho thấy điều đó. Cao huyết áp thường
xảy ra nơi những người có những điều kiện sống khó khăn, lao lực, nguồn
tài chánh bấp bênh, một môi trường đầy xung đột hay nguy hiểm. Trong cuộc
sống hàng ngày, tình trạng căng thẳng thường trực gây nên một vệ sinh
đời sống kém, khiến theo đuổi những thói quen có hại, làm nghiện thuốc
lá, nghiện rượu, tạo nên sự nhàn rỗi không hoạt động, dễ đưa đến chứng
béo phì và bệnh đái đường.
Để ngăn ngừa tình trạng căng thẳng hàng ngày (stress quotidien), chỉ cần
có một tổ chức đời sống nghề nghiệp tốt hơn, một sự hỗ trợ xã hội, một
vệ sinh cuộc sống tốt. Người ta cũng khuyên nên được săn sóc bởi các chuyên
khoa : thư giãn, tâm lý liệu pháp, yoga, liệu pháp hành vi, liên kết với
sự sử dụng các thuốc an thần. Chúng làm dễ sự bớt căng thẳng, sự giãn
cơ, sự cải thiện tình trạng thoải mái, sự quản lý stress, và làm giảm
sự âu lo. Trong lòng cuộc sống đầy sôi động của chúng ta, do càng ngày
càng nhiều đòi hỏi trước mắt, chúng ta cần khẩn trương bảo vệ trái tim
mình. LE FIGARO 28/6/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr64.htm
(TSYH số 64, bài số 3)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr150.htm
(TSYH số 150 bài số
7/ ĐỒ THỊT LỢN (CHARCUTERIE)
VÀ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Sự tiêu thụ đều đặn đồ thịt lợn (charcuterie) làm gia tăng nguy cơ ung
thư đại tràng. Nhóm nghiên cứu của Denis Corpet (Inra) lần đầu tiên giải
thích quan sát dịch tễ học này. Sự xử lý kỹ nghệ thịt heo được thêm nitrite
và nấu chín làm xuất hiện, nếu được cho tiếp xúc với không khí, những
hợp chất có khả năng gây nên nơi chuột những thương tổn tiền ung thư của
đại tràng. Để vô hiệu hóa những sản phẩm này, mà ta cũng tìm thấy trong
thịt đỏ (viande rouge), theo bài báo được công bố trong Cancer Prevention
Research, ta chỉ cần tiêu thụ calcium, dưới dạng yaourt hay fromage trong
bữa ăn, là đủ. (SCIENCES ET AVENIR 8/2010)
8/ MAGNESIUM ĐỂ TRÁNH SỰ SA SÚT
TRÍ NHỚ
Được hấp thụ bởi não bộ thay vì được thải ra trong nuớc tiểu, magnésium
cải thiện các hiệu năng nơi các con chuột.
NEUROLOGIE. Làm sao dập tắt sự sa sút trí tuệ lúc
lớn tuổi ? Một nhóm nghiên cứu quốc tế, bao gồm những nhà nghiên cứu,
trong đó có Susumu Tonegawa, người từng được giải thưởng Nobel, đã tìm
thấy một hướng mới đáng lưu tâm, ít nhất là nơi động vật : magnésium.
Vai trò trung tâm của yếu tố này để làm vững các nối kết thần kinh của
chúng ta đã được biết từ lâu, nhưng các nhà nghiên cứu đã phải đối đầu
với một vấn đề : làm sao gia tăng nồng độ của magnésium trong não bộ trong
khi mọi sự thặng dư trong thức ăn đều được thải nhanh trong nước tiểu?
Các nhà nghiên cứu của MIT (Massachusetts Institute of Technology) Hoa
Kỳ đã tìm ra một sản phẩm có thể làm dễ sự hấp thụ của magnésium bởi cơ
thể và sự đi qua não bộ của nó. Và cuối cùng họ đã tìm ra : Các nhà nghiên
cứu loan báo trong tạp chí Neuron rằng, đuợc liên kết với acide L-thréonique,
magnésium có thể đạt những nồng độ cao hơn 10% nồng độ bình thường trong
não bộ.
Khi sản phẩm này được trắc nghiệm nơi chuột, những tác dụng của nó đã
gây ngạc nhiên : sau một tháng theo chế độ ăn uống được bổ sung thréonate
de magnésium (MgT), sự sa sút trí nhớ ngắn hạn, dài hạn và của không gian
(mémoire à court terme, à long terme et de l’espace) không xuất hiện nữa
nơi các động vật già. Sự nghiên cứu não bộ của những động vật này đã xác
nhận hiệu quả mạnh của MgT : các nối kết thần kinh (connexions nerveuses)
rõ rệt nhiều hơn trong hồi hải mã, một vùng của não bộ quan trọng đối
với sự ghi nhớ, cũng như các thụ thể và một yếu tố tăng trưởng có liên
hệ trong trí nhớ. “Công trình phân tích này có vẻ rất vững chắc, Jean-Marie
Billard, thuộc nhóm thần kinh sinh học (neurobiolgie) của sự lão hóa bình
thuờng và bệnh lý của đại học Paris-V (Paris) đã phát biểu như vậy. Nó
mở ra hướng mới để chống lại sự sa sút nhận thức (déclin cognitif) do
tuổi tác. Còn hơn thế nữa, nó củng cố lý thuyết của chúng tôi về vai trò
quan trọng của một acide aminé, D-sérine, đối với trí nhớ, bởi vì magnésium
kích thích sự sản xuất nó. Và những kết quả tương tự đã thu được nơi động
vật lúc cho nó D-cyclosérine, một sản phẩm đã được kê đơn nơi những bệnh
nhân bị tâm thần phân liệt để cải thiện khả năng nhận thức (capacité cognitive)
của họ.” Kết quả này cũng làm lưu ý những chuyên gia khác như GS Alain
Berthelot, thuộc đại học Franche-Comté, nghiên cứu những tác dụng của
magnésium lên cơ thể : “Công trình nghiên cứu này có công là lôi kéo sự
chú ý về magnésium, thường bị lãng quên trong khi 20% dân số bị thiếu
hụt mãn tính. Thí dụ stress hay bệnh đái đường gây nên một sự loại bỏ
magnésium. Thế mà người ta đã cho thấy rằng nơi chuột, nguyên tố này can
thiệp để ngăn ngừa nhiều bệnh lý hay làm chậm lại sự lão hóa. Nơi người,
các công trình nghiên cứu cho thấy một tác dụng bảo vệ của magnésium chống
lại các bệnh tim mạch và những biến chứng mạch máu do bệnh đái đường.
Ngược lại, ít có những dữ kiện hỗ trợ cho tác dụng trực tiếp mà người
ta gán cho magnésium lên chứng mỏi mệt thần kinh (fatigue nerveuse). Nhiều
thức ăn giàu magnésium, nhất là bánh mì đầy đủ (pain complet), các quả
hồ đào (noix), cacao, chuối hay rau xanh, cũng như vài loại nước khoáng.”
(LE FIGARO 16/3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr165.htm
(TSYH số 165, bài số 3)
9/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : DANH
SÁCH CÁC THỦ PHẠM ĐƯỢC NHẬN DIỆN
90% các tai biến mạch máu não là do 10 yếu tố nguy cơ. Đó là kết luận
của công trình nghiên cứu Interstroke được tiến hành nơi 6000 người trong
4 năm trên 22 nước và mới đây được công bố trong The Lancet. Các thủ phạm
không phải là những kẻ vô danh : cao huyết áp, chứng nghiện thuốc lá,
chứng béo phì bụng, chế độ ăn uống, rượu, sự nhàn rỗi không hoạt động,
lipide, bệnh đái đường, stress và chứng trầm cảm, các rối loạn tim. Nhưng,
và đó là một tin vui, tất cả 10 yếu tố nguy cơ này đều được tiếp cận với
những thông điệp phòng ngừa. Thường được liên kết nơi cùng một cá thể,
vậy chúng thường có liên hệ trong sự phát sinh một tai biến mạch máu não,
tương ứng với, hoặc là sự tắc một mạch máu não (sự thiếu máu cục bộ),
hoặc sự vỡ của nó (xuất huyết não). Một cách tổng quát, các tai biến mạch
máu não do thiếu máu cục bộ (AVC ischémique) được gây nên bởi sự phối
hợp của toàn bộ 10 yếu tố, trong khi những tai biến mạch máu não xuất
huyết (AVC hémorragique) được gây nên bởi 5 yếu tố nguy cơ đầu tiên của
danh sách. Các tác giả sẽ tiếp tục công trình nghiên cứu của họ và chuyển
qua giai đoạn hai của nghiên cứu, sẽ bao gồm 20.000 người tham dự. (SCIENCE
ET AVENIR 8/2010)
10/ HỌC SỬ DỤNG CÁC MÁY KHỬ RUNG
TỰ ĐỘNG TRONG TRƯỜNG HỢP NGỪNG TIM
Một đạo luật dự kiến đào tạo ngắn ngày để biết sử dụng máy khử rung (défibrillateur)
trên công lộ.
SANTE. Hiện nay, ở Pháp, khoảng 35.000 máy khử rung
ngoài tim (défibrillateur cardiaque externe) từ nay được thiết đặt. Một
con số đã bùng nổ, nếu ta so sánh nó với 9.000 máy chỉ có sử dụng trong
năm 2005. Những máy khử rung này, từ nay được thiết đặt trong những nơi
chiến lược của các thành phố (bưu điện, toà thị chính, nhà ga, viện bảo
tàng, các cơ sở thể thao, hay các xí nghiệp...), cho phép tất cả mọi người,
lúc đứng trước một người bất tỉnh sau một cơn đau tim (crise cardiaque),
thực hiện một sốc điện (choc électrique) có khả năng hồi sinh bệnh nhân.
Mặc dầu các cố gắng còn cần phải thực hiện về các thiết bị và sự phân
bố trên lãnh thổ, câu hỏi thật sự từ nay liên quan đến sự đào tạo. Ai
có khả năng nhận diện một ngừng tim nơi một người đột ngột bị quật ngã
bởi một sự khó ở và khi đó, ai có thể dám, trong trường hợp cần thiết,
sử dụng một máy khử rung ? Mặc dầu những máy khử rung này được động hóa
(défibrillateur automatique), với một commande vocale mô tả, cho mỗi giai
đoạn, 3 hay 4 động tác phải hoàn thành, nhưng một chương trình đào tạo,
ngay cả ngắn ngày, không phải là vô ích, dầu đó chỉ để làm nhận thức được
tính cách đơn giản của thủ thuật.
Trong khung cảnh này, một nghị quyết của Bộ Nội vụ, được công bố hôm qua
trong Journal officiel, chấp thuận sự thiết đặt một nhập môn “xử trí ngừng
tim và sử dụng các máy khử rung ngoài tự động (défibrillateur externe
automatisé)”. Sự nhập môn này sẽ được tổ chức trong khung cảnh “làm nhạy
cảm dân chúng với những động tác sơ cứu”. Sự khai tâm này nhằm mục đích
làm cho dân chúng thụ đắc những kiến thức cần thiết để nhận diện những
dấu hiệu cho phép nhận biết một ngừng tim và thực hiện, nơi một nạn nhân
ngừng tim, những động tác cho phép làm gia tăng những cơ may sống sót”.
Lớp nhập môn này, không bắt buộc, được đảm nhận, trong một thời gian tối
đa một giờ, bởi những người đào tạo sơ cứu của những cơ quan có thẩm quyền
hay bởi những hiệp hội được công nhận trong sự giảng dạy cứu thương. Từ
khi có nghị quyết tháng năm 2007, mọi người đều được phép sử dụng một
máy khử rung tự động.
“ NGAY LỚP 6 ”
“Sự thiết đặt các máy khử rung ở những nơi công cộng, trong những vùng
được nhiều người lui tới (nhà ga, chợ búa, các phòng chiếu bóng, các sân
vận động, các tàu hỏa), đã cho phép vài nước chứng tỏ rằng họ có thể cứu
được rất nhiều mạng người, GS Alexandre Mignon (thầy thuốc gây mê-hồi
sức, bệnh viện Cochin, Paris) đã giải thích như vậy. Thí dụ, Nhật Bản
vừa công bố một công trình nghiên cứu trình độ rất cao trong New England
Journal of Medicine (thánh kinh của các tạp chí y học) vào tháng
ba năm 2010, báo cáo kinh nghiệm của mình ở quy mô toàn cả nước.” Từ tháng
giêng năm 2005 đến tháng 12 năm 2007, hơn 300.000 trường hợp ngừng tim
ở nơi công cộng đã được ghi nhận ở Nhật Bản, đối với một dân số khoảng
125 triệu người. Trong thời kỳ nghiên cứu, số các máy khử rung ở nơi công
cộng đã bùng nổ, chuyển từ 9000 lên gần 90.000 máy, hoặc từ 1 trên 1 cây
số vuông đến hơn 4 mỗi cây số vuông. Trong cùng thời gian, tỷ lệ sống
sót không có di chứng thần kinh đã được nhân lên 2 lần nơi những bệnh
nhân, chuyển từ 15% lên hơn 30%. Thời hạn trung bình để cho các sốc điện
cũng đã được giảm gần một nửa, đặc biệt sự thực hiện sốc điện không còn
do các đội cứu thương, mà bởi những nhân chứng ngừng tim đầu tiên.
Hiệp hội RMC BFM, được chủ trì bởi Isabelle Weill từ hai năm nay, đã tranh
đấu từ nhiều năm nay để phát triển một bãi các máy khử rung (parc de défibrillateurs)
nơi công cộng, để xác định những nơi thiết đặt tối ưu và thành lập những
chương trình đào tạo nhanh chóng để dạy cho dân chúng sử dụng những máy
này. Một chương trình đào tạo ngắn ngày là đủ, GS Alexandre Mignon đã
đảm bảo như vậy. Rất đơn giản trong việc sử dụng những máy khử rung này.
Sự vận dụng chúng có thể được dạy ở trường ngay lớp 6, với một đào tạo
60 phút về những động tác cứu mạng, có thể được dạy lúc thi bằng lái xe,
vào ngày nhập ngủ, trong các xí nghiệp..” (LE FIGARO
5/8/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr60.htm
(TSYH số 60, bài số 10)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH, Chuyên Khoa Nội Thương và Cấp cứu
(23/8/2010)
TAGS: Vi khuẩn cực kỳ đề kháng (bactéries ultrarésistantes),
Vi khuẩn ruột biến dị (entérobactéries mutantes), Carbapénème, Vi khuẩn
đa đề kháng (bactéries multirésistantes), BlaNDM-1 (New Dehli métallo-bêtalactamase),
Thiếu hụt miễn dịch (immunodéficient), Sinh thái y học (écologie médicale),
Nhiễm trùng lậu cầu (infections à gonocoques), Nhiễm trùng lây nhiễm bằng
đường sinh dục (IST: infections sexuellement transmissibles), Hành vi
tình dục có nguy cơ (comportements sexuels à risque), Dị tính luyến ái
(hétérosexuels), Bệnh lậu (gonococcies), Đau quặn thận (colique néphrétique),
Kích thích tố kháng lợi tiểu (hormone antidiurétique), Khả năng bài tiết
urée (clairance de l’urée), Protéine bêta-amyloide, Enzyme secrétase,
Căng thẳng tâm thần (Stress); Phóng thích các kích thích tố ; Tăng gia
tốc tần số tim, Tăng cao huyết áp, Tăng công của tim, Rối loạn đông máu,
Tai biến cấp tính động mạch, Xơ mỡ động mạch (athérosclérose), Máy khử
rung (défibrillateurs), Sốc điện (choc électrique), Co thắt động mạch
vành (spasme coronaire), Đồ thịt lợn (charcuterie), Magnésium, Thần kinh
sinh học (neurobiolgie), Tắc một mạch máu não (thiếu máu cục bộ), Xuất
huyết não, Khử rung ngoài tim (défibrillateur cardiaque externe), Khử
rung (parc de défibrillateurs), Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |