 |
Thời
Sự Y Học số 187
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh,
Chuyên Khoa Nội Thương và Cấp Cứu
1/ VIÊM CỨNG KHỚP ĐỐT SỐNG
: MỘT CHỨNG ĐAU LƯNG NƠI 250.000 NGƯỜI PHÁP
NHỮNG ĐIỂM MỐC
CÁC CON SỐ. Sau bệnh
viêm đa khớp dạng thấp (arthrite rhumatoide), bệnh viêm cứng khớp đốt
sống (spondylarthrite ankylosante), là bệnh thấp khớp viêm mãn tính thường
gặp nhất : 0,2 đến 0,3% dân số bị liên hệ, hoặc khoảng 250.000 người ở
Pháp. Căn bệnh âm ỉ này thường khởi phát giữa 14 và 40 tuổi, đàn ông bị
bệnh nhiều hơn phụ nữ. Trung bình chẩn đoán được thực hiện sau khi bệnh
đã tiến triển từ 6 đến 8 năm.
CÁC TRIỆU CHỨNG. 3 dấu hiệu luôn
luôn có mặt : đau, cứng khớp buổi sáng và mệt mỏi. Các cơn đau, thường
dữ dội, trong trường hợp điển hình, xuất hiện vào nửa đêm thứ hai. Đau
thường nhất ở cột sống và khung chậu. Những khớp khác có thể bị liên hệ
: chân, đầu gối, háng...Các cơn đau tương ứng với một quá trình viêm ở
các nơi bám của các dây gân và của những dây chằng trong xương. Triệu
chứng đau thường kèm theo một sưng cứng khớp vào buổi sáng, có thể kéo
dài nhiều giờ. Nhiên hậu, sự cứng khớp (ankylose) trở nên thường trực.
Bệnh cũng có thể gây thương tổn ở mắt, da, ống tiêu hóa.
CÁC NGHIÊN CỨU.
Một công trình nghiên cứu rộng lớn đang được tiến hành ở Pháp từ năm 2007,
bao gồm 700 bệnh nhân, sẽ được theo dõi trong 5 đến 10 năm. Được mệnh
danh là Desir (Devenir des spondylarthropathies indifférenciées récentes),
công trình nghiên cứu có những mục tiêu chính là nghiên cứu bệnh sử tự
nhiên của những căn bệnh này, nhận diện những yếu tố nguy cơ tiên liệu
cho tiến triển của chúng và đo lường tác động của chúng lên con người
và kinh tế.
Có những điều trị hiệu quả cho bệnh viêm cứng khớp đốt sống (spondylarthrite
ankylosante), nhưng chẩn đoán bệnh còn quá chậm.
ARTICULATIONS.
Đó là một cuộc cách mạng cho phép tránh những năm tháng khổ đau cho hàng
trăm ngàn bệnh nhân. Hiện nay, chẩn đoán của bệnh viêm cứng khớp đốt sống
trung bình được thực hiện sau 6 năm tiến triển của các cơn đau đớn. Một
sự chậm trễ càng gây tổn hại khi những điều trị hiện nay bằng sinh liệu
pháp (biothérapie), có sử dụng từ 10 năm nay, đã làm biến đổi tiên lượng
của căn bệnh thấp khớp này, tránh tiến triển thành những dạng cứng khớp
(formes ankylosnates). Nhiều công trình nghiên cứu, được công bố cuối
năm 2009, xác lập một loạt các tiêu chuẩn mới cho phép từ nay thiết lập
một chẩn đoán rất sớm các thương tổn khớp. “ Cho mãi đến năm 2009, sự
điều trị các bệnh nhân luôn luôn được thực hiện quá chậm bởi vì chẩn đoán
phải được xác nhận bởi X quang, chỉ cho phép thấy những thương tổn đã
tiến triển từ nhiều năm, GS Pascal Chaudepierre, thầy thuốc chuyên khoa
khớp thuộc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil) đã xác nhận như vậy. Những
tiêu chuẩn mới chấp nhận IRM, cho phép thấy những thương tổn sớm hơn,
nhưng cũng cho phép một chẩn đoán mà không cần một hình ảnh nào, điều
này thể hiện một tiến bộ to lớn.”
Bệnh viêm cứng khớp đốt sống chiếm một nửa của các bệnh khớp đốt sống
(spondylopathie), gây bệnh cho khoảng 250.000 người ở Pháp. Tỷ lệ lưu
hành này, tương đương với tỷ lệ gây bệnh của viêm đa khớp dạng thấp (arthrite
rhumatoide), nhưng tuy vậy không đủ làm nó nổi tiếng như bệnh này bởi
vì bệnh viêm cứng khớp thường không được nhìn thấy. Thật vậy, bệnh viêm
cứng khớp đốt sống ảnh hưởng chủ yếu cột sống và các đau đớn mà nó gây
nên chỉ được xác nhận bởi những biến dạng xương sau nhiều năm trải qua
những đêm mất ngủ.
Căn bệnh, thường nhất phát ra giữa năm 20 và 40 tuổi và gây bệnh nơi đàn
ông hơi nhiều hơn nơi đàn bà, gây thương tổn trước hết các khớp nối liền
cột sống với khung chậu, chỗ nối cùng-chậu (jonction sacro-iliaque). Bệnh
gây nên một quá trình viêm, làm phát khởi sự xuất hiện các mô sẹo, cho
phép dẫn đến một sự cốt hóa của khớp. Nếu sự cốt hóa lan rộng, nó dẫn
đến sự bất động của khớp, điều này làm giới hạn cử động của các bệnh nhân.
CÁC NGUYÊN NHÂN KHÔNG ĐƯỢC BIẾT RÕ.
Quá trình này kèm theo những đau đớn tăng dần, nhất là
vào ban đêm, thường nhất xuất hiện bằng các cơn bộc phát vào lúc các đợt
viêm và những cơn đau này quá dữ dội và xảy ra quá thường xuyên nên không
thể cho đó là một chứng đau lưng thông thường được, vì vậy cuối cùng thuyết
phục bệnh nhân đi khám bệnh. Viêm cứng khớp đốt sống có thể được phát
hiện dưới những dạng khác được quy tụ dưới thuật ngữ bệnh khớp đốt sống
(spondylarthropathie) và gây thương tổn các chi, da, mắt hay bộ máy tiêu
hóa. Nguyên nhân chưa được biết rõ, mặc dầu sự hiện diện của vài nhiễm
trùng dường như đóng một vai trò cũng như một tố bẩm di truyền.
Những thương tổn xương không xuất hiện ngay giai đoạn đầu của bệnh và
phải nhiều năm để xác lập chẩn đoán. “Chỉ dấu chính là một quá trình viêm
của các khớp ở khung chậu, viêm cùng-chậu (sacro-iliite), nhưng nó cần
một thời gian rất lâu để xuất hiện. Một hội chứng viêm sinh học cũng có
thể xuất hiện nhưng nó chỉ hiện diện nơi 50% các bệnh nhân”, GS Pascal
Claudepierre, đã chỉ rõ như vậy. Một gène cũng đã được nhận diện, HLA
B27. Gène này hiện diện trong 90% các trường hợp viêm khớp đốt sống, trong
khi nó chỉ hiện diện nơi 8 đến 9% dân chúng nói chung. Điều này có nghĩa
là gène HLA B27 đóng một vai trò nhưng một mình nó không đủ để giải thích
căn bệnh, GS Claudepierre đã nhấn mạnh như thế. Do đó, chẩn đoán chủ yếu
dựa trên một bilan hoàn toàn, bao gồm những thăm dò bằng hình ảnh, những
phân tích sinh học cũng như một bảng câu hỏi về gia đình và một phân tích
di truyền, bởi vì bệnh viêm khớp vảy nến (rhumatisme psoriasique), viêm
khớp phản ứng (arthrite réactionnellle) hay bệnh Crohn đều chia sẻ một
nguồn gốc di truyền với bệnh viêm khớp đốt sống.
Sự xuất hiện những tiêu chuẩn mới hẳn phải làm dễ và làm nhanh chẩn đoán
và cho phép đề nghị nhanh hơn những sinh liệu pháp (biothérapie), mà các
tác dụng càng ngoạn mục khi chúng được thực hiện càng sớm. Tuy nhiên hiện
nay, các loại thuốc này (cũng được sử dụng trong viêm đa khớp dạng thấp)
không thể được kê đơn một cách chính thức nếu không có một chẩn đoán được
xác nhận bởi chụp hình ảnh. Giới hữu trách phải nhanh chóng chấp thuận
những tiêu chuẩn mới và mở rộng sự cho phép đưa ra thị trường các sinh
liệu pháp, GS Claudepierre đã nhấn mạnh như vậy. Hiện nay, thời gian chờ
đợi chẩn đoán trung bình vẫn là 6 năm và Hiệp hội bệnh viêm khớp đốt sống
của Pháp ước tính rằng 25 đến 30% các bệnh nhân vẫn trong tình trạng tàn
phế. (LE FIGARO 10/5/2010)
2/ BỆNH ALZHEIMER :
MỐI HY VỌNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ BẰNG SỰ KÍCH THÍCH NÃO BỘ.
Trí nhớ có thể được hưởng lợi nhờ một sonde cắm vào trong
não bộ.
NEUROLOGIE. Bệnh Alzheimer
tác hại lên hơn 800.000 người ở Pháp, thế mà chúng ta vẫn chưa có những
điều trị hiệu quả. Nhiều thử nghiệm điều trị đang được tiến hành, nhiều
chiến lược phòng ngừa được dự kiến, nhưng hiện nay không có gì cho phép
ngăn cản sự suy thoái của trí nhớ. Tuần này, tạp chí Hoa Kỳ trình bày
những kết quả của những công trình nghiên cứu hoàn toàn đổi mới, được
thực hiện trên 6 người bị bệnh Alzheimer ở giai đoạn khởi đầu và được
điều trị giữa năm 2005 và 2008 bởi sự kích thích vùng sâu não bộ (stimulation
cérébrale profonde) nhờ một sonde. Mặc dầu sự cải thiện được chứng thực
sau một năm chỉ được nhận thấy nơi một nửa các bệnh nhân được điều trị,
tuy nhiên nếu công trình này được xác nhận (mặc dầu hiện nay đang còn
trong thí nghiệm), thì một kỷ nguyên mới sẽ được mở ra, không những trong
nghiên cứu mà còn trong điều trị bệnh này. Nên biết rằng sự kích thích
não bộ cần một động tác ngoại khoa trên não và do đó đòi hỏi một plateau
technique.
Chính vào năm 2003 mà Andres M.Lozano (khoa thần kinh chức năng, đại học
Toronto, Canada) đã có trực giác rằng một sự kích thích não bộ có thể
có một tác dụng lên bệnh Alzheimer, sau khi các thử nghiệm đã phát hiện
tính hiệu quả của nó trong bệnh Parkinson và trong vài chứng trầm cảm
...Vào năm đó, lần đầu tiên, một bệnh nhân béo phì bị rối loạn trí nhớ
đã được hưởng một implantation cérébrale thuộc loại này dưới sự giám sát
của ông.
Giả thuyết khởi đầu là sự kích thích của vài vùng của não bộ, đặc biệt
là thùy hải mã (hippocampe) và fornix, được biết có can dự trong những
hiện tượng ghi nhớ, có thể có một tác dụng kềm hãm lên căn bệnh. Với điều
trị kích thích não bộ, bệnh nhân này đã có thể tìm lại được những yếu
tố của tiểu sử cá nhân mình, đặc biệt với một sự cải thiện các kỹ niệm
và các năng lực thể hiện chúng bằng lời nói. Nhờ thí nghiệm đầu tiên này,
nhóm nghiên cứu Canada khi đó nhận được sự cho phép để trắc nghiệm phương
pháp này trên 6 bệnh nhân tuổi từ 40 đến 80, bị bệnh Alzheimer mới được
chẩn đoán (dưới hai năm) và đã được điều trị bởi những thuốc hiện có.
Trước hết, sự can thiệp nhằm xác định vị trí vài vùng chính xác của não
bộ đặc biệt bị thương tổn trong chứng bệnh này nhờ kỹ thuật chụp hình
ảnh bằng cộng hưởng điện từ (résonnance mégnétique). Rồi những điện cực
kích thích phần sâu của não bộ đã được cắm vào hai bên, nơi những vùng
đã được xác định vị trí của não. Các điện cực đã được kích thích trong
khi bệnh nhân đang thức tỉnh, để kiểm tra rằng sự kích thích này đã không
làm biến đổi những vùng chức năng và không gây nên những triệu chứng bất
ngờ. Sau cùng, các điện cực đã được nối với một máy phát được cắm ở ngực,
lần này với gây mê toàn thân.
Tất cả các bệnh nhân được hưởng thí nghiệm này đã trở về nhà sau đó. “Sự
đánh giá những dấu hiệu của bệnh Alzheimer bằng những trắc nghiệm khác
nhau gợi ý một sự cải thiện khả dĩ hay một sự làm chậm lại của sự suy
thoái của các chức năng nhận thức, sau 6 tháng hay sau một năm, đối với
một số các bệnh nhân ”, các tác giả của thử nghiệm lâm sàng này đã kể
lại như vậy. Đã không có những biến chứng đặc biệt.
Dầu sao đi nữa, những nhà nghiên cứu này chủ trương một thử nghiệm điều
trị mới nhằm so sánh những hiệu quả của kỹ thuật này với một placebo.
“Công trình này được thực hiện tốt, nhưng vẫn còn rất sơ bộ, Françoise
Forette (giáo sư lão khoa, bệnh viện Broca, Paris) đã đảm bảo như thế.
Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng chính những bệnh nhân ít bị thương tổn
nhất lúc ban đầu đã được hưởng những kết quả tốt nhất. Ngoài ra, các nhà
nghiên cứu đã có thể quan sát thấy một sự cải thiện của chuyển hóa não
bộ, điều này hoàn toàn đáng phấn khởi. (LE FIGARO 9/8/2010)
3/ TA CÓ THỂ TRÁNH
ĐƯỢC CÁC NẾP NHĂN DA ?
Không, cuối cùng rồi chúng sẽ luôn luôn xuất hiện. Nhưng
tùy theo loại các nếp nhăn, ta có thể làm giảm bớt, làm che khuất chúng
hay làm chậm sự xuất hiện của chúng.
Các nếp nhăn da làm quan tâm đến nhiều người. Vài ngôi sao lớn tuổi lại
dường như không có các nếp nhăn ? Hay chỉ làm che khuất chúng ? Trước
hết ta hãy xác định một nếp nhăn là gì trước khi xem có những phương thuốc
điều trị hay không ?
Da được cấu tạo bởi ba lớp : biểu bì (épiderme), bì (derme) và hạ bì (hypoderme),
nằm dựa trên các cơ và các cơ này chịu trách nhiệm những biểu hiện của
gương mặt. Biểu bì là một lớp các tế bào được gọi là sừng (cellules cornées),
được đổi mới một cách thường trực và tạo thành một hàng rào da (barrière
cutanée). Bì (derme), dày hơn, chứa các rễ của các lông, các mạch máu,
các tế bào mỡ, các tuyến mồ hôi và các tận cùng thần kinh. Bì được cấu
tạo bởi các bó sợi collagène (protéine dồi dào nhất của cơ thể con người,
chịu trách nhiệm sự kết hợp chặt chẽ của các mô), được nối với nhau bởi
các sợi đàn hồi (chịu trách nhiệm về tính đàn hồi của da). Lớp hạ bì (hypoderme)
là một mô mỡ, nằm dựa trên các cơ.
Những nếp nhăn da là những đường rãnh (sillon) của bì, do một sự biến
đổi của cấu trúc làm nó giãn ra. Các nếp nhăn có 4 loại. Những nếp nhăn
biểu lộ (rides d’expression) được liên kết với những biểu lộ của gương
mặt (nụ cười, sự lo lắng ...). Mỗi khi các cơ của mặt co lại để biểu lộ
một sự xúc cảm, da căng hay giãn ra. Với sự lặp đi lặp lại của các biểu
lộ (do đó với tuổi tác gia tăng), những nơi da vốn được cố định vào các
cơ, bị lõm xuống : các nếp nhăn xuất hiện. Những nếp nhăn biểu lộ thường
là những nếp nhăn đầu tiên ghi dấu ấn trên gương mặt.
Những nếp nhăn được thấy rõ nhất được gọi là cấu trúc (rides de structure)
; ví dụ đó là những rãnh mũi-cằm (sillons nasogéniens), ở mỗi bên mũi,
nối các lỗ mũi với các góc miệng. Chúng phát triển dần dần, bởi vì bề
mặt của da tiếp tục phát triển một ít trong khi sự tăng trưởng của của
gương mặt đã kết thúc. Đó là một sự thặng dư da.
Những nếp nhăn da thứ ba là những nếp nhăn gãy (rides de fracture) : thí
dụ đó là những nếp nhăn nhỏ chung quanh miệng, tạo thành những khe (fentes)
thẳng góc với môi nơi những người già (trên 70 hay 80 tuổi). Những nếp
nhăn này là do những chỗ gãy nhỏ xíu (microfracture) của mô đàn hồi trong
bì.
Những nếp nhăn loại thứ tư, được gọi là những nếp nhăn của élastose solaire,
là những nếp nhăn nhỏ rải rác khắp nơi trên da. Chúng xuất hiện (nói chung
sau 50 tuổi) khi các sợi đàn hồi của bì bị phá hủy bởi ánh sáng (các tia
tử ngoại) và ...bởi thuốc lá.
Làm sao tránh được những nếp nhăn này ? Có hai cách để làm giảm các nếp
nhăn biểu lộ (rides d’expression) ; người ta tiêm dưới da hoặc là những
vật liệu được gọi là lấp đầy (matériaux de comblement), (như acide hyaluronique,
một thành phần tự nhiên của bì sẽ tự tan biến đi), làm căng phồng bì,
hoặc là toxine botulique. Độc chất này làm liệt các cơ trong khoảng 6
tháng ; nó hủy bỏ những nét biểu lộ của gương mặt và những nếp nhăn tương
ứng. Những nếp nhăn cấu trúc (rides de structure) lớn được điều trị bằng
những “ lifting ”, nghĩa là những kéo giãn (étirements) của da hoặc bằng
những mũi tiêm chất làm đầy (produits de comblement). Những vết nhăn gãy
(microrides de fracture) nhỏ quanh môi được che khuất bởi những mũi tiêm
làm căng phồng các môi. Ta cũng có thể thực hiện các “ abrasion ” (hớt
da) : người ta lấy đi một ít biểu bì và bì để cho da mới được nhẵn hơn.
Các nếp nhăn nông của élastose solaire là mục tiêu của các kem chống nhăn
(crème antiride). Mục tiêu là tăng cường trong bì sự tổng hợp collagène
và protéoglycane (những protéine giữ nước và cho phép bì giữ được tính
dẻo (plasticité) của nó). Theo Louis Dubertret, giáo sư bệnh ngoài da
thuộc bệnh viện Saint-Louis, Paris, nhiều công trình nghiên cứu khoa học
đã cho thấy rằng một số chất nào đó có khả năng làm đầy trở lại lớp biểu
bì và gây nên sự tổng hợp collagène trong bì. Chất chuẩn là vitamine A
(hay acide rétinoique).
Làm sao phân tử này tác dụng ? Nó điều biến sự biểu hiện của các gène
trong da hay nó thực hiện một kiểu “lóc” (peeling) hóa học (một sự phá
hủy lớp sừng), mà hậu quả là làm đổi mới lớp biểu bì và sự tổng hợp của
collagène. Những chất khác có tính chất “ kích thích ” (irrtitant), như
các axít trái cây, sẽ có cùng các tính chất. Ngoài ra, vài chất như vitamine
C có thể làm gia tăng sự tổng hợp collagène trong bì.
Vậy ngày nay, chúng ta có cả một kho vũ khí có hiệu quả làm giảm hoặc
làm che khuất các nếp nhăn. Tuy nhiên, lý tưởng là ngăn ngừa sự tạo thành
chúng bằng cách tránh ánh nắng mặt trời và thuốc lá. (POUR
LA SCIENCE 8/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr65.htm
(TSYH số 65, bài số 9)
4 / BỆNH LAO : TAI ƯƠNG TRƯỚC KHI
NHỮNG NGƯỜI THỰC DÂN CHÂU ÂU ĐẾN.
Việc khám phá những dấu vết của bệnh lao trên các di hài
của các trẻ iroquois của thế kỷ thứ 10, xác nhận rằng bệnh này đã hoành
hành ở châu Mỹ trước khi những người châu Âu đầu tiên đến lục địa này.
“ Bệnh lao đã hiện diện ở Châu Mỹ đúng trước khi những người châu Âu đi
đến ”, Olivier Dutour, nhà cổ nhân loại học (paléoanthrologue) thuộc đại
học Aix-Marseille-II đã đề xuất như vậy. Điều chứng thực này làm lung
lay vài giáo điều muốn làm trùng hợp việc xuất hiện tai ương này với sự
đi đến của những người châu Âu đầu tiên trên lục địa Châu Mỹ. Trong lúc
làm việc ở Toronto (Canada), trên một hầm hài cốt thuộc thời kỳ trước
Colomb, có từ thế kỷ thứ X, nhà nghiên cứu người Pháp và các đồng nghiệp
đã quan sát thấy những dấu vết của bệnh lao trên các chiếc sọ phát xuất
từ một địa điểm iroquois cổ, đặc biệt là trên rất nhiều di hài của trẻ
em. “ Các thương tổn đặc hiệu của các bệnh viêm màng não mãn tính do lao
đã được phát hiện ”, Olivier Dutour đã nói thêm vào như vậy, chứng cớ
của một tỷ lệ tử vong trẻ em rất cao. Những người Iroquois, cũng được
gọi là dân của Cinq-Nations, đã trải qua một dịch bệnh lao địa phương
rất mạnh. Dịch bệnh này có phải là do lối sống của họ hay không ? Sự chung
đụng và sự xông khói (enfumage) của các bếp lửa (nhiều gia đình sống trong
những ngôi nhà dài nổi tiếng) trong mùa đông khắc nghiệt có lẽ đã có thể
tạo nên một trong những yếu tố làm dễ sự lan tràn qua không khí của sự
nhiễm trùng bởi vi khuẩn này. Không kể đến tầm quan trọng của thuốc lá,
một loài cây không được biết đến ở Tây Phương vào thời kỳ đó.
Theo nhà nghiên cứu, bệnh lao được gặp ở loài người từ thời nguyên thủy
của nó. Ngoài ra, một sự phát sinh loài vi khuẩn (une phylogenèse du bacille)
đã được thực hiện vào năm 2005 ở Viện Pasteur, chứng minh rằng tuổi của
vi khuẩn này ít nhất là 3 triệu năm. “ Vi khuẩn lao không những đã cùng
tiến hóa với con người mà còn với các họ người (hominidés) có trước nó
”, nhà chuyên gia đã xác nhận như vậy. Vậy, những người Mỹ đầu tiên đến
từ Cựu Thế Giới đã mang những vi khuẩn này.
Còn về những dấu hiệu xương của tréponématose, được phát hiện trên một
chiếc sọ người lớn, hiện nay không thể nói được đó là một dạng bệnh phong
tình (bệnh giang mai) hay không. Vào lúc tiếp xúc, các người dân amérindien
chủ yếu đã bị tàn sát bởi các virus như cúm và đậu mùa, những vi trùng
này đúng là đã được truyền bởi những người châu Âu. (SCIENCES
ET AVENIR 8/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr62.htm
(TSYH số 62, bài số 6)
5/ CÁC GIA VỊ VÀ NHỮNG CHẤT KÍCH
DỤC.
Mặt trời và mùa nghỉ hè trở lại thường kèm theo những
bữa ăn nhiều màu sắc. Trong các chất gia vị và cây cỏ được sử dụng trong
những dịp này, ta thường tìm thấy những chất được cho là “chất kích dục
” (aphrodisiaque). Nhưng có thật là có những chất có khả năng tăng dục
tính hay không ? Các thức ăn, thuốc bột, thuốc viên, nước hãm (infusion)...Điểm
lại những chất nổi tiếng nhiệm màu.
Khởi thủy, các chất kích dục là những chất có trong thiên nhiên, được
sử dụng để chống lại bệnh vô sinh (infertilité) và làm dễ sự sinh sản.
Được gợi ý bởi Aphrodite, nữ thần của tình yêu, sau đó, các chất tăng
dục này đã được cho là kích thích sự ham muốn (désir sexuel). Phải ghi
nhớ rằng trong tâm trí của các người đàn ông, sự ham muốn (désir) và sự
cương cứng (érection) thường bị lẫn lộn với nhau. Sự lộn xộn này làm cho
mọi chất gây nên hay làm dễ sự cương cứng, đều được tức thì xem như là
chất kích dục. Thường ngay cả sự việc giống với một bộ phận sinh dục đang
cương cũng đủ tạo tiếng tốt của nó, như đối với chất nghiền sừng tê giác
(corne de rhinocéros pilée) hay cây khoai ma (mandragore).
NHỮNG CHẤT DANH TIẾNG.
Củ gừng (gingembre), nhân sâm (ginseng), ớt của Jamaique,
đinh hương (girofle), quả nhục đầu khấu (muscade), nghệ tây (safran),
cây thị là (aneth), cây cúc tía (sarriette) và “cần tây (céleri) cho các
ông chồng già”. Thường thường, dược lý khám phá ra những chất hóa học,
hiệu quả ở những nồng độ cao đến độ những công thức pha chế thông thường
chỉ có thể tương tự với một placebo. Dầu sao vài ngoại lệ đáng được nêu
ra. Ngày nay, được trồng chủ yếu ở Ấn Độ, gừng (gingembre) có nguồn gốc
ở Mã Lai, cách nay hơn 3.000 năm, là nơi nó đã được sử dụng như là cây
thuốc và gia vị. Đó là thân rễ (rhizome), thân nằm dưới đất giàu amidon,
protéine và lipide, sản xuất một tinh dầu có vị rất đặc biệt hơi cay và
có mùi thơm dễ chịu. Tác dụng của nó (còn phải bàn cãi) dựa trên sự giàu
các chất sesquiterpène và aldéhyde. Trái lại, nhân sâm (ginseng) đỏ của
Triều Tiên, giàu saponine và ginsénoside có tác dụng giãn mạch, đã qua
thử nghiệm cương một cách dương tính, so với placebo (1g, 3 lần mỗi ngày).
Được thử nghiệm năm nay, cùng liều lượng, nhân sâm cũng đã chứng tỏ hiệu
quả của nó trong một thử nghiệm trên sự ham muốn của các phụ nữ mãn kinh.
VÒNG QUANH THẾ GIỚI CỦA DỤC TÌNH.
Khắp nơi trên thế giới, các chất khác nhau được đề nghị,
thuộc về 3 loại : chúng làm gia tăng, hoặc là dục tình (libido), sự cường
dục (puissance sexuelle) hay khoái lạc (plaisir). Trong lãnh vực ham muốn
(désir), những người Ả rập sử dụng ambréine, một cấu chất chính của long
diên hương (ambre gris) (chất tiết của cá nhà táng (cachalot). Chất cồn
ba vòng (alcool tricyclique) triterpène này làm gia tăng nồng độ của vài
hormone của não thùy trước, cũng như những nồng độ của testostérone. Ở
Trung Hoa, thuốc “chân sư”, được biết ở miền đông Ấn Độ dưới tên “love
stone”, chứa bufoténine (và những bufadiénolide khác), được trích ra từ
da và các tuyến của cóc bufo, chất đối kháng của sérotonine, có đặc tính
gây ảo giác. Để cải thiện sự cương, Trung Hoa dùng Panax ginseng, và châu
Phi là cái nôi của yohimbine, chất giãn mạch dương vật, trích từ vỏ của
một cây địa phương. Tuy nhiên, chất độc với liều cao này bị cấm chỉ trong
trường hợp bệnh gan, suy thận hay cao huyết áp.
Còn về khoái lạc (plaisir), thú nhục dục này được làm gia tăng bởi một
phương thuốc Tây Ban Nha, cantharidine, được sử dụng từ nhiều thiên niên
kỷ. Phương thuốc này có được là do quá trình chế biến một sâu bọ cánh
cung (coléoptère), được gọi sai lầm là ruồi Tây Ban Nha (spanish fly),
thành bột cantharidine! Với liều quá mạnh, sự uống vào chất này, độc,
có thể gây nên xuất huyết thận, thậm chí tử vong và gây nên một sự kích
thích viêm các đường tiểu, với sự sung huyết của dương vật và sự cương
cứng đôi khi kéo dài. Cách tác dụng của nó là do sự ức chế của hoạt tính
của phosphodiestérase, với sự kích thích các thụ thể bêta, gây nên xung
huyết quản và viêm. Việc nuốt vào các côn trùng sống Palembus dermestoides
ở Đông nam Á và Triatomides ở Mễ Tây Cơ cũng có một cơ chế tương tự và
cũng nguy hiểm như thế. Chú ý: những niềm tin này không phải là lạc hậu
và có thể lôi kéo các khách du lịch.
NHỮNG NGHIÊN CỨU TIỀN PHONG.
Luôn luôn giàu tưởng tượng, nhiều công trình nghiên cứ
mới đây mang lại những điều mới. Đó là trường hợp của một thử nghiệm của
Iran trên Crocus sativus (safran : nghệ), được trắc nghiệm trên người
đàn ông với các viên thuốc nhỏ 200 mg. Một bảng câu hỏi chuẩn về chức
năng cương, kèm theo một sự đo lường sự cương dương vật vào ban đêm (tumescence
pénile nocture), đã theo dõi 20 người tình nguyện trong 10 ngày. Tuy số
người tham dự ít ỏi, nhưng các kết quả là đáng phấn khởi về sự cải thiện
của sự cương cứng cũng như mức độ thỏa mãn chủ quan. Ở Ý, các nhà nghiên
cứu đã điều nghiên Lepidium meyenii (maca), chất kích dục có tiếng của
Pérou, dưới dạng cao khô (extrait sec) 2,4g so sánh với placebo, nơi 50
người đàn ông không bằng lòng về sự cương của họ. 3 tháng điều trị đã
hữu ích về phương diện tâm lý, kể cả trong nhóm placebo, với maca hơi
lợi thế hơn, nhưng trên cơ sở một thang thỏa mãn (une échelle de satisfaction)
không có những trắc nghiệm lâm sàng. Maca cũng đã được trắc nghiệm ở General
Hospital de Boston để làm đảo ngược loạn năng sinh dục gây nên bởi các
thuốc chống trầm cảm. 1,5 g mỗi ngày đã không có hiệu quả trong khi liều
lượng 2g đã có tính cách thuyết phục, không những về sự cương cứng mà
còn về dục tình (libido), và không có độc tính. Dường như đó không phải
là một tác dụng androgénique trực tiếp, mặc dầu sự nổi tiếng của maca
cũng gán cho nó một tác dụng dương tính lên khả năng sinh sản (fertilité).
Thật vậy, nó làm gia tăng sự sản xuất và tính di động của tinh dịch mà
không có liên hệ với những nồng độ hormone của LH, FSH, prolactine, testostérone
và œstrogène. Những nồng độ này vẫn không thay đổi. Hoàn toàn bí ẩn.
NHỮNG HƠI XÔNG KÍCH DỤC (EFFLUVES EROTIQUES).
Sự khám phá, bởi các nhà di truyền học
của đại học Rockfeller, các gène mã hóa đối với một thụ thể của phéromone
nơi người, được thực hiện vào năm 2001. 8 gène đặc biệt mã hóa cho sự
tạo thành, ở bề mặt các tế bào, của điều giống hệt với các thụ thể của
phéronome nơi động vật. Mặt khác, một trong những gène này được biểu hiện
và rất hoạt động trong niêm mạc khướu giác người. Mặt khác, các nhà sinh
học đã khám phá một vùng rất nhỏ nơi mũi (organe voméro-nasal), ở đó các
tế bào phản ứng với những kích thích mùi rất tinh tế. Vấn đề là còn phải
biết một cách chính xác thông tin hóa học nào được vận chuyển trong não
bộ, và bằng con đường nào. Trong lúc chờ đợi, nhiều điều chứng thực đã
được xác nhận. Thí dụ, người ta nhận xét rằng, các phụ nữ, được cho ngửi
các miếng vải thấm mồ hôi đàn ông, đôi khi lại ưa chuộng những mùi rất
quyến rũ này. Lời giải thích khoa học được đề nghị bởi các thầy thuốc
của đại học Stockholm.
Nghiên cứu nước miếng phát hiện rằng, mồ hôi giàu androstadiénone gởi
một tín hiệu hóa học làm gia tăng sự sản xuất cortisol nơi người phụ nữ.
Hít mồ hôi giàu androstadiénone gây nên, theo những hình ảnh của PET-scan,
một sự khởi động các vùng hoạt động trong tình dục như vùng dưới đồi trước
(hypothalamus antérieur).
Ghi chú :
- Phéromone : chất hóa học, được phát ra trong môi trường bên ngoài, với
liều lượng rất nhỏ, bởi một động vật, gây nên nơi những động vật cùng
loài những hành vi đặc biệt.
- Aphrodisiaque : nói về một chất được cho là gây nên hay kích thích sự
ham muốn. (LE GENERALISTE 8/7/2010)
6/ CÁC
UNG THƯ TỪ NAY GIẾT NGƯỜI HƠN TRONG NHỮNG NƯỚC NGHÈO
Từ lâu được xem là một bệnh của các nước giàu, ung thư
từ nay ảnh hưởng nhiều hơn các nước đang phát triển, theo Trung tâm quốc
tế nghiên cứu về ung thư (CIRC : centre international de recherche sur
le cancer). Trung tâm này đã khảo sát 27 loại ung thư. Vào năm 2008, các
nước nghèo kiêm nhiệm 56% trong số 13 triệu trường hợp ung thư mới được
chẩn đoán, và 63% trong 7,6 triệu tử vong do tai ương này. “Mặc dầu nguy
cơ mắc phải một ung thư là thấp hơn trong các nước đang phát triển, tuy
vậy các ung thư thường xảy ra nhất ở những nước này lại là những ung thư
người ta điều trị ít tốt nhất, Jacques Ferlay, nhà nghiên cứu thuộc CIRC
đã ghi nhận như vậy. Những ung thư nguồn gốc nhiễm trùng (cổ tử cung,
dạ dày, gan), chiếm 20% các trường hợp trên thế giới, cùng với những ung
thư vú và ung thư phổi, là 5 ung thư phổ biến nhất trong các nuớc nghèo.
Nguyên nhân : một sự bảo vệ không đầy đủ chống lại virus của viêm gan
B và C (ung thư gan) và của papillomavirus (ung thư cổ tử cung). Ở phương
Bắc, những bệnh lý này bị vượt qua bởi các ung thư đại trực tràng (do
một chế độ ăn uống giàu thịt đỏ) và tuyến tiền liệt (dễ phát hiện nhờ
một xét nghiệm máu). Theo CIRC, vào năm 2030, ung thư sẽ giết chết 6 triệu
người nhiều hơn so với năm 2008. (SCIENCE ET VIE 8/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr93.htm
(TSYH số 93, bài số 6)
7/ RẮN CẮN : NHỮNG ĐỘNG TÁC CỨU
SỐNG.
Các dược phẩm chống nọc độc đuợc bán ở các hiệu thuốc
chẳng ích lợi gì. Trong trường hợp bị rắn cắn, phải khẩn cấp đến bệnh
viện.
SANTE PUBLIQUE. Như mọi người
đều biết, nếu rắn nước (couleuvre) là vô hại thì không phải là như thế
đối với rắn lục (vipère). Thế mà sự phân biệt giữa hai loại rắn này không
phải là hiển nhiên, như Xavier Bonnet, người phụ trách nghiên cứu của
CNRS và là đại chuyên gia về rắn, đã giải thích như vậy. “Trên hiện trường,
những tiêu chuẩn duy nhất đáng tin cậy, như đồng tử thẳng đứng của các
con rắn lục, không có thể sử dụng được. Cũng như vậy đối với kích thước,
màu sắc, hình dáng của thân thể và của đuôi: trừ phi được đào tốt , ít
người có khả năng phân biệt hai loại rắn”, chuyên viên về bò sát (herpétologue)
đã giải thích như vậy. Dẫu sao cũng có một mẹo: ở Pháp rắn lục không dài
quá 1 m và chúng không lặn dưới nước. Trong trường hợp rắn cắn (rắn độc
đúng là có móc), điều cơ bản là phải biết ta đã bị nhiễm nọc độc (envenimé)
hay không. Bởi vì rắn có thể cắn mà không chích nọc độc (venin), khi đó
ta nói là “vết cắn trắng” (morsure blanche). Ngược lại, thường những người
đi dạo nghĩ là đã bị rắn cắn trong khi đó chỉ là bị chích bởi các cây
ngấy (piqure de ronces) mà thôi... Nếu đúng là đã bị nhiễm nọc độc, một
sự đau đớn tại chỗ xuất hiện trong 4 giờ cũng như những vết bầm tím, BS
Patrick Harry, giám đốc của trung tâm chống độc chất Angers (Pháp) đã
xác nhận như vậy. Trong trường hợp này, chắc chắn là tình hình sẽ trầm
trọng, vậy nhất thiết phải đến bệnh viện để được thăm khám và nếu cần
được hưởng một huyết thanh chống nọc độc (sérum antivenimeux). Dầu sao,
hoàn toàn vô ích khi tự sử dụng những dược phẩm bán ở hiệu thuốc, kể các
bơm hút nọc độc (pompes à venin), mà những người đi dạo thường lo lắng
mang theo mình. “Những dược phẩm này đã không bao giờ chứng tỏ được hiệu
quả của chúng, chúng chẳng có lợi ích gì”, BS Harry đã đánh giá như vậy.
“Tất cả các máy móc này hoàn toàn chẳng ích lợi gì, ngoại trừ chỉ làm
người ta không chú ý đến những động tác cứu sống, nghĩa là phải chạy nhanh
đến phòng cấp cứu”, Xavier Bonnet đã nói thêm vào như vậy. Bởi vì ngay
cả những phản ứng dị ứng trầm trọng vẫn vô cùng hiếm hoi (dưới một trường
hợp rắn cắn trên 100 trường hợp), do đó điều quan trọng là phải được thăm
khám bởi một thầy thuốc càng nhanh càng tốt. Một khi đến bệnh viện, hoặc
là sự phù nề vẫn được khu trú và tình hình không có nguy cơ trở nặng.
Hoặc là phù nề lan rộng, điều này có nghĩa rằng có một lượng quan trọng
nọc độc (venin) trong máu. Khi đó cần phải tiến hành tiêm huyết thanh
chống nọc độc (sérum antivenimeux), chỉ được thực hiện ở môi trường bệnh
viện với sự theo dõi y tế.
ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ CÀNG SỚM CÀNG TỐT.
Mửa, khó ở, đau bụng là những dấu hiệu của một sự lưu
thông quan trọng của nọc độc trong máu, có thể là nguồn gốc của một sự
sụt huyết áp, một phù phổi và những rối loạn đông máu. “Trước khi các
huyết thanh chống nọc độc xuất hiện ở Pháp, loại những biến chứng này
là thường thấy. Khi đó không phải là hiếm thấy những bệnh nhân bị cắn
bởi một con rắn lục phải nằm trong phòng hồi sức ba tháng với những vấn
đề ở thận. Vài bệnh nhân bị tàn phế rất lâu sau đó”, BS Harry đã nhớ lại
như vậy. Ngày nay, ngay những dấu hiệu đầu tiên báo hiệu một biến chứng
xuất hiện, các thầy thuốc đều tiêm huyết thanh chống nọc độc. Và cần được
điều trị càng sớm càng tốt. Một mũi tiêm, 3 giờ sau khi bị rắn cắn, chỉ
mang lại từ một ngày đến một ngày rưỡi nhập viện để theo dõi tiến triển.
Vào khoảng ngày thứ tư hay thứ năm, một xét nghiệm máu được thực hiện
để kiểm tra xem có những rối loạn đông máu hay không. Vậy, khi đi dạo
trên núi, trong rừng hay nơi những đầm lầy, chẳng ích lợi gì khi tự cho
là mình đã tiên liệu với những dược phẩm được bán tự do ở các hiệu thuốc.
Trong trường hợp bị rắn lục cắn, cần gọi ngay centre antipoison gần nhất
trước khi đến nhanh bệnh viện. Còn đối với những người đi chơi xa, tốt
hơn là nên quay trở về. Dầu sao đi nữa, khiêu khích một con rắn lục là
điều chẳng bao giờ cần thiết. “Không nên hoảng sợ mà nên lẩn đi một cách
nhẹ nhàng”, Xavier Bonnet chủ xuớng như vậy. Ông cho rằng việc sợ rắn
“được thổi phồng ghê gớm”. Trong khi các con chó lại đặc biệt nguy hiểm
hơn nhiều, ông đánh giá như vậy. Thế nhưng, lại không có huyết thanh điều
trị. (LE FIGARO 2/8/2010)
8/ BỆNH TRẦM CẢM :
HƯỚNG MỚI CHỐNG LẠI CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.
PSYCHIATRIE. Một nhóm các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ vừa công bố một bài báo trong Archives of General Psychiatry,
mang lại một cái nhìn mới về điều trị của một loại bệnh trầm cảm. Các
nhà nghiên cứu đã khảo sát những hiệu quả chống trầm cảm của một thuốc
gây mê để điều trị bệnh hưng phấn-trầm cảm (maniaco-dépression), một bệnh
tâm thần bị mắc phải bởi các nghệ nhân như Vincent Van Gogh, Virginia
Woolf, nhưng cũng những chính trị gia như Churchill.
Các rối loạn lưỡng cực có liên quan đến khoảng 4% dân số. Căn bệnh mãn
tính này, được đặc trưng bởi nhưng rối loạn khí chất, thường được chẩn
đoán vào khoảng năm 30 tuổi. Bệnh nhân luân phiên các đợt hưng phấn (épisodes
maniaques) và những lúc trầm cảm với những giai đoạn “ bình thường ” giữa
các cơn, có thể kéo dài từ nhiều tuần đến nhiều tháng. Trong giai đoạn
hưng phấn, đó là một sự tăng hoạt tính (trí tuệ, sinh dục), có thể gây
nên những xài phí không cân nhắc. Nó có thể được cặp đôi với những hành
vi nghiện ngập (comportements addictifs), với một sự tiêu thụ quá mức
rượu và các chất ma túy. Nhũng giây phút, mà người bệnh nhân hưng phấn
(maniaque) cảm thấy mình trở nên vô địch và có một sức mạnh vô song, luân
phiên với những đợt trầm cảm.
Khi đó bệnh nhân có những ý nghĩ đen tối, thậm chí muốn tự tử, chịu một
sự trì chậm tâm-vận động (ralentissement psychomoteur). Điều trị cổ điển
dựa trên lithium (hay một thuốc làm ổn định khí chất khác) và trên vài
thuốc chống trầm cảm. Ở giai đoạn kích động, các thuốc chống loạn tâm
thần (antipsychotiques) cũng có thể được kê đơn.
Đi từ điều chứng thực rằng một số bệnh nhân nào đó không đáp ứng với những
điều trị này, các nhà nghiên cứu của viện quốc gia Hoa Kỳ về sức khoẻ
tâm thần (Bethesda, Maryland) đã có ý tưởng trắc nghiệm các tác dụng chống
trầm cảm của kétamine, một thuốc gây mê. Hiện nay, các nhà nghiên cứu
chỉ có một kiến thức giới hạn về nguồn gốc sinh-thần kinh của những rối
loạn lưỡng cực. Tuy nhiên, những công trình mới đây gợi ý rằng một sự
loạn năng trong hệ thống glutaminergique của não bộ (đóng một vai trò
trong việc xử lý thông tin và trí nhớ) góp phần vào sự xuất hiện của những
rối loạn tâm thần. BS Nancy Diazgranados và các đồng nghiệp đã trắc nghiệm
tính hiệu quả của một loại thuốc, kétamine, có khả năng kiểm soát các
khớp thần kinh (synapses) này.
“ MỘT THUỐC GÂY SẢNG KHOÁI ”
Từ tháng mười 2006 đến tháng sáu 2009, một thử nghiệm
được thực hiện trên 18 bệnh nhân. Tất cả trung bình đã theo 7 điều trị
chống trầm cảm khác nhau mà chất cơ bản là lithium hay valproate (một
thuốc chống trầm cảm điều hòa khí chất), nhưng không mang lại sự cải thiện.
Ngoài ra, hơn một nửa trong số những bệnh nhân này đã không đáp ứng dương
tính với sốc điện (électrochoc). Tất cả đã nhận hai mũi tiêm tĩnh mạch
cách nhau 15 ngày, một mũi là kétamine, còn mũi kia là một placebo. Hiệu
quả đã được đánh giá nhờ một thang xếp loại bệnh trầm cảm trước mỗi mũi
chích rồi 40, 80, 120, 230 phút, rồi một, hai, ba, bảy, mười và 14 ngày
sau. Trong chưa được 40 phút, những bệnh nhân, đã nhận kétamine, được
một sự cải thiện đáng kể các triệu chứng trầm cảm của họ so với những
bệnh nhân đã nhận placebo. Lợi ích quan trọng nhất đã được chứng thực
sau hai ngày là vẫn đáng kể cho đến ngày thứ ba. “Những khám phá này là
rất đáng lưu ý, bởi vì phần lớn các người tham gia trước đó đã nhận những
điều trị khác nhau nhưng đã không có hiệu quả”, các tác giả đã đánh giá
như vậy
“Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng kétamine cải thiện một triệu
chứng khí chất trầm cảm (humeur dépressive) nhưng không cải thiện bệnh
trầm cảm, BS Xavier Laqueille, trưởng servive addictologie, bệnh viện
Sainte-Anne (Paris) đã nhận xét như vậy. Mặc dầu sau khi được chích thuốc
kétamine, các bệnh nhân ít buồn bã hơn, nhưng không vì thế mà được chữa
lành. Dầu sao điều này cũng hợp lý vì lẽ đó là một dược phẩm gây khoan
khoái (euphorisant) hơn là một thuốc chống trầm cảm”. Chất này có những
tác dụng thuộc loại morphine và có thể đưa đến sự lạm dụng. Hiện nay,
đó là một hướng nghiên cứu đáng lưu ý để tìm ra những thuốc chống trầm
cảm mới, hiệu quả lâu dài nhưng không có những tác dụng gây nghiện. (LE
FIGARO 4/8/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr156.htm
(TSYH số 156, bài số 5)
9/ CUỘC TRANH CÃI CHUNG QUANH PHUƠNG
PHÁP LÀM ĐÔNG LẠNH CÁC NOÃN BÀO (CONGELATION D’OVOCYTES)
Dành cho các phụ nữ vô sinh, một kỹ thuật mới “vitrification”,
mặc dầu đã chứng tỏ hiệu quả, lại bị cấm chỉ ở Pháp.
PROCREATION. Một bên, các
thầy thuốc chuyên khoa trong hỗ trợ y khoa sinh sản (AMP : assistance
médicale à la procréation). Còn bên kia, chính quyền. Đối tượng của sự
tranh chấp? Một kỹ thuật mới có tính chất cách mạng, “vitrification”,
nhằm làm đông lạnh một cách cực kỳ nhanh và không tạo nên những tinh thể
nuớc đá, những tế bào sinh sản phụ nữ, các noãn bào (ovocytes). Các thầy
thuốc tin chắc rằng đó là một bước ngoặt trong AMP. Kỹ thuật này có liên
quan đến những phụ nữ, ví dụ, phải chịu một điều trị trong bối cảnh của
một ung thư, nhưng sau đó lại muốn có con. Các chuyên gia không hiểu tại
sao kỹ thuật này, mặc dầu được sử dụng trong nhiều nước (Nhật Bản, Canada,
Đức, Tây Ban Nha, Ý, Bỉ), và đã thấy chào đời hơn một ngàn em bé, nhưng
lại không được cho phép ở Pháp. Lại còn tệ hại hơn, họ không hiểu tại
sao lại không được phép đánh giá phương thức hỗ trợ sinh đẻ này. Vài thầy
thuốc không do dự gởi các thành viên đi đào tạo ở nước ngoài.
Ở Pháp, từ những năm 1940, có thể làm đông lại (congeler) các tinh trùng.
Ngược lại, việc làm đông lạnh những tế bào sinh sản của phụ nữ lại bị
cấm chỉ. Đất nước của chúng ta bị đối đầu với một tình trạng thiếu người
hiến các noãn bào. Vào năm 2006, chỉ có 220 phụ nữ đã hiến noãn, cho phép
thực hiện 400 thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro), trong khi 1.300
cặp vợ chồng phải chờ đợi. Kỹ thuật vitrification này đúng là “ giải pháp
cho những vấn đề dự trữ buồng trứng bị biến đổi và cho những tình trạng
mãn kinh xảy ra sớm”, BS Jean-Michel Dreyfusn, phó chủ tịch của nghiệp
đoàn các thầy thuốc chuyên khoa ngoại sản, đã đánh giá như vậy.
Nếu các thầy thuốc cũng ủng hộ việc làm đông lạnh các noãn bào, đó là
vì phương pháp này cho phép để dành noãn bào của các phôi thai, điều này
được cho phép từ những năm 1980. Nhưng phải công nhận rằng hệ thống này
đặt ra một số vấn đề nào đó. Chúng ta còn nhớ câu chuyện nổi tiếng chẳng
hay ho gì của Evans ở Anh đã trở thành chủ đề thời sự của năm 2006. Nathalie
Evans bị một khối u ung thư buồng trứng. Vì biết rằng cô ta sẽ phải theo
một điều trị làm cô trở thành vô sinh, nên Evans quyết định cùng với chồng
làm đông lạnh các phôi thai. Nhưng rồi cặp vợ chồng ly dị. Sau khi đã
được chữa lành bệnh, cô đòi lại các phôi thai của mình. Nhưng chính quyền
Anh từ chối vì cho rằng các phôi thai không thuộc về Nathalie mà là sở
hữu của cặp vợ chồng. Sau đó Tòa án Châu Âu cũng đưa ra một quyết định
theo cùng chiều hướng này.
BS Pierre Boyer là nhà sinh học thuộc bệnh viện Saint-Joseph de Marseille.
Vào năm 2007, ông tham dự một cuộc trình bày về đông lạnh các noãn bào
tại một hội nghị. Tức khắc, ông hiểu được lợi ích của vấn đề này. “Với
sự đông lạnh của các noãn bào, chỉ có người mẹ mới quyết định, cũng theo
cách như có một sự đông lạnh của các tinh trùng đối với những người cha”,
ông đã nêu lên như vậy. Một lý lẽ cũng được sử dụng bởi BS Pierre Tourane,
thầy thuốc phụ khoa ở Marseille. “Kỹ thuật này sau cùng cho phép tránh
được gánh nặng của sự đông lạnh các phôi thai.” Rất phấn chấn, GS Claude
Sureau, cựu trưởng khoa phụ sản của bệnh viện Cochin, ủy viên của Hội
hàn lâm y học và của Comité national d’éthique, tố cáo một “sự ngu xuẩn
hành chánh” làm cho nước Pháp phải trụt hậu một cách lố bịch trong vấn
đề này ”.
NHỮNG “ PHƯƠNG THUỐC ” KHÁC NHAU.
Vậy thì, tại sao giới hữu trách lại từ chối không cho
phép kỹ thuật này chào đời? “Các kỹ thuật mới của AMP bị cấm chỉ. Thế
thì không thể trắc nghiệm phương pháp đông lạnh này mà không thay đổi
luật đạo đức sinh học (loi de bioéthique) năm 2004”, François Thepot,
phó giám đốc của Agence de biomédecine đã tóm tắt như vậy. Ở Bộ y tế,
người ta công nhận rằng sự cấm đoán này tạo nên một sự “kềm hãm” đối những
người chuyên nghiệp và rằng vấn đề này đang được nghiên cứu. Ở Afssaps,
Fabienne Bartoli, phó tổng giám đốc, giải thích rằng những phương thức
tiến hành vitrification là “phức tạp vì lẽ chúng không được tiêu chuẩn
hóa trong tất cả các phòng thí nghiệm”. Vấn đề, các nhà sinh học chuyên
về AMP đã trả lời như vậy, là mỗi phòng thí nghiệm có “phương thức chế
biến” (recette de cuisine) của riêng mình. Ví dụ, các thầy thuốc Canada
khi thực hiện vitrification, không sử dụng cùng protocole như các đồng
nghiệp ở Nhật Bản. Và tất cả các thầy thuốc Canada cũng không sử dụng
cùng kỹ thuật… “Đất nước của chúng ta bị chấn thương bởi vụ máu ô nhiễm,
BS Jean-Michel Dreyfus đã phân tích như vậy. Người ta vẫn còn sợ cái bóng
ma của sự vụ này. Như thế, người ta áp dụng nguyên tắc thận trọng (principe
de précaution) khắp mọi nơi.”
Luật đạo đức sinh học (loi de bioéthique) sẽ có vài thay đổi trong thời
gian tới. Nhưng những điểm liên quan đến những phương pháp mới của AMP
có được thay đổi hay không? Trong lúc chờ đợi, các thầy thuốc cho rằng
chúng ta đã mất khá nhiều thời gian. Một điều không thể chấp nhận được
đối với một đất nước đã luôn luôn ở mũi nhọn trong lãnh vực này. (LE
FIGARO 26/3/2010)
10/ NHỮNG NGUY CƠ CỦA
ĐIẾU HÚT THUỐC LÀO ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ.
Lần đầu tiên, một phân tích méta, được thực hiện trên
23 nghiên cứu lâm sàng, chỉ rõ những nguy cơ y tế của việc sử dụng điếu
ống (narguilé), những điếu hút (pipe à eau) lớn dùng để hút thuốc lá,
cũng được gọi arguileh (Syrie và Liban), hookah nơi thổ dân da đỏ hay
chicha (Ai cập và Maghreb). Từ đầu những năm 1980, cách hút thuốc này
cũng đã trở thành phổ biến ở Châu Âu và Hoa Kỳ. Các kết quả cho thấy rằng
điếu ống (narguilé) làm tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện một ung thư phổi
hay một bệnh đường hô hấp cao như viêm mũi, cũng như nguy cơ có trọng
lượng thấp lúc sinh nơi các trẻ được sinh ra từ những phụ nữ đã sử dụng
loại điếu ống này. Nó tăng gấp ba nguy cơ bị các bệnh nha chu (affections
périodontales) (ảnh hưởng các mô nâng đỡ của các chiếc răng).
Ngược lại, không có một sự liên kết nào được nhận thấy đối với ung thư
bàng quang, ung thư thực quản, các loạn sản miệng (dysplasies buccales)
hay nguy cơ bị viêm gan C (có thể được liên kết với tính cách mời mọc
giao tế của việc sử dụng phương cách này). (SCIENCE
ET AVENIR 8/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH, Chuyên Khoa Nội
Thương và Cấp Cứu
(16/8/2010)
TAGS: Viêm cứng đốt sống, Đau lưng, Viêm
đa khớp dạng thấp (arthrite rhumatoide), Viêm cứng khớp đốt sống (spondylarthrite
ankylosante), Sinh liệu pháp (biothérapie), Alzheimer, Khớp đốt sống (spondylarthropathie),
Nếp nhăn biểu lộ (rides d’expression), Acide hyaluronique, Bệnh lao, Phát
sinh loài vi khuẩn (une phylogenèse du bacille), Chất kích dục aphrodisiaque,
Củ gừng (gingembre), Nhân sâm (ginseng), Ớt Jamaique, Đinh hương (girofle),
Quả nhục đầu khấu (muscade), Nghệ tây (safran), Cây thị là (aneth), Cây
cúc tía (sarriette), Cần tây (céleri), Dục tình (libido), Cường dục (puissance
sexuelle), Khoái lạc (plaisir), Ham muốn (désir), Ambréine, Long diên
hương (Ambre gris), Cá nhà táng (Cachalot), Cồn ba vòng (alcool tricyclique),
Triterpène, Testostérone, Viêm gan B và C (Ung thư gan), Papillomavirus
(ung thư cổ tử cung), Rắn cắn, Rắn nước (couleuvre), Rắn lục (Vipère),
Hưng phấn-trầm cảm (Maniaco-dépression), Thuốc lào, Nguyen Van
Thinh
>>>back>>>
|
 |