 |
Thời
Sự Y Học số 186
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ BỆNH VẢY NẾN (PSORIASIS)
: VIÊM TRONG DA
NHỮNG ĐIỂM MỐC
BIỂU BÌ. Với
nhiều những mảng đỏ (plaques rouges) lan rộng ít hay nhiều và ở những
nơi khác nhau của cơ thể, gây ngứa ngáy đau đớn, bệnh vảy nến gây tác
hại cho khoảng 3 triệu người Pháp. Gần 25% các trường hợp là những thể
từ trung bình đến nặng và 30% các bệnh nhân phát bệnh trước năm 20 tuổi.
Đó thường là những thể nghiêm trọng nhất. Và từ 10 đến 30% các bệnh nhân
có một thương tổn ở da, cũng có những thương tổn ở khớp. Các dạng khớp
này có thể nghiêm trọng và dẫn đến tàn phế thường trực.
NGUỒN GỐC. Bệnh vảy nến là một tình
trạng viêm da mãn tính, dẫn đến một sự bất thường trong sự đổi mới của
biểu bì. Mặc dầu người ta không biết một cách chính xác nguồn gốc của
nó, nhưng người ta biết rằng một rối loạn miễn dịch dường như đóng một
vai trò. Có thể có một thể địa di truyền (terrain génétique) bởi vì một
tố bẩm gia đình (prédisposition familiale) hiện diện trong 30% các trường
hợp.
CÁC NGUYÊN NHÂN.
Thông thường nhất, bệnh diễn biến bằng các cơn bộc phát. Nguyên nhân đầu
tiên, stress làm tăng cường sự “sợ hãi” các cuộc tấn công được cảm nhận
bởi da và “kích động” hệ viêm. Điều đó có thể là một vòng luẩn quẩn, vì
sự xuất hiện các mảng đỏ làm tăng thêm stress ban đầu. Nhưng cũng có những
cọ sát, những tình trạng choáng, các bệnh nhiễm trùng và ngay cả vài loại
thuốc.
CÁC ĐIỀU TRỊ. Cứ
hai bệnh nhân thì có một không được điều trị, điều này đôi khi gây nên
những hậu quả nặng nề. Tuy vậy có nhiều điều trị cho phép kềm chế tiến
triển của bệnh. Các crème dermocorticoide, các dẫn xuất của các vitamine
D và A và những liệu pháp căn cứ trên các tia tử ngoại.
NHỮNG HẬU QUẢ. Ngoài
sự bó buộc do điều trị, bệnh lý này có những ảnh hưởng tâm lý nghiêm trọng.
Người ta ước tính rằng 40% các bệnh nhân chịu một cách đều đặn những xáo
trộn xã hội quan trọng trong những quan hệ gia đình, nghề nghiệp, bạn
bè...và ngay cả với các thầy thuốc của họ
Mặc dầu được kiểm soát bởi các điều trị, căn bệnh này vẫn còn bí ẩn.
DERMATOLOGIE.
“Ông/Bà có da bị nhột.. ” Chính như thế mà GS Louis Dubertret (CHU Saint-Louis,
Paris) đã giải thích bệnh vảy nến (psoriasis) cho các bệnh nhân mình.
Căn bệnh mãn tính này, được thể hiện bởi sự hiện diện trên da của những
mảng đỏ, có bề rộng thay đổi, được phủ bởi những vảy dày chứa da chết.
Bệnh tiến triển bằng các đợt bộc phát. Thường khó sống, bởi vì với những
mảng đỏ màu sắc lòe loẹt gây sự chú ý, trong một trường hợp trên hai ,bệnh
vảy nến lại còn kèm theo triệu chứng ngứa. Bệnh này, không có tính chất
lây nhiễm, mặc dầu người ta bắt đầu hiểu nó tốt hơn nhưng vẫn còn nhiều
điều chưa được biết đến.
Rất mới đây, các công trình nghiên cứu trong đó một của Pháp, trên 1.500
bệnh nhân, đã cho thấy rằng ta có thể, chỉ bằng phân tích thống kê các
triệu chứng và tiến triển của bệnh, phân chia các bệnh nhân thành 6 nhóm
thuần nhất. Đó là một cuộc cách mạng, GS Dubertret đã đánh giá như vậy.
Đối với ông “Phải xác nhận những kết quả này và xem có 6 bệnh khác biệt
nhau với những tính nhạy cảm khác nhau với các điều trị hay không”.
“ SỰ TU SỬA GẤP ”
Mãi đến nay, người ta cứ tưởng rằng bệnh
vảy nến, dầu mức độ nghiêm trọng như thế nào, chỉ là cùng một bệnh lý,
mà cái đích bị tấn công là da. “Da là một cơ quan vùng biên giới, thường
trực bị tấn công, đáp ứng bằng cách làm khởi động một hệ thống tu sửa
biểu bì, được cấu tạo bởi nhiều gène. Nơi những người bị bệnh vảy nến,
đáp ứng này diễn ra quá mức, bởi vì vài trong số những gène này tăng phản
ứng, thầy thuốc chuyên khoa đã giải thích như vậy. Biểu bì đổi mới quá
nhanh. Các tế bào cấu tạo nó, các kératinocyte, tăng sinh và không còn
có thể phân hóa một cách hoàn toàn thành lớp sừng. Da bắt đầu bóc vỏ,
hàng rào da sụp đổ, một phản ứng viêm phát triển và các bạch cầu của hệ
miễn dịch, các tế bào lympho T và các bạch cầu đa nhân, thâm nhiễm và
tấn công da. Một vòng luẩn quẩn thành hình : căn bệnh tự duy trì và trở
nên mãn tính.
Các đợt bộc phát có thể được gây nên bởi nhiều yếu tố : do gãi, choáng,
do cọ xát, do sự thay đổi mùa màn, các bệnh nhiễm khuẩn, các thuốc beta-bloquant…Stress
đóng một vai trò quan trọng, “như thể để đáp ứng lại với mỗi dấu hiệu
nguy hiểm được cảm nhận bởi não bộ, hàng rào da bị biến đổi, phát khởi
quá trình tu sửa gấp rút này”.
Mặc dầu bệnh vảy nến dưới dạng các mảng (psoriasis en plaques) là thường
xảy ra nhất, căn bệnh cũng có thể xuất hiện dưới dạng các tầng (psoriasis
en nappes), các mụn mủ (en pustules) hay các giọt (en gouttes), giới hạn
ở các móng tay, các lòng bàn tay và lòng của các bàn chân, ở da đầu, bao
phủ rộng lớn cơ thể hay chỉ biểu hiện bởi một thương tổn nhỏ. Gây bệnh
cho 2 đến 3% dân số của các nước phát triển, bệnh vẩy nến dường như ít
thấy trong vài vùng, như châu Phi. Một tố bẩm gia đình trong 30% các trường
hợp.
Bệnh vảy nến là một bệnh lý trong đó hệ miễn dịch can dự vào một cách
mạnh mẽ. “Ngay da lành mạnh của các bệnh nhân có một trạng thái tiền viêm
(état préinflammatoire). Trong các bệnh vảy nến lan rộng, quá trình viêm
xảy ra toàn thể và xét nghiệm máu cho thấy toàn bộ hệ miễn dịch hơi bị
kích động lên. Vậy bệnh không chỉ diễn ra ở da, GS Hervé Bachelez (bệnh
viện Saint-Louis, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Các bệnh vảy nến nghiêm
trọng thường được liên kết với chứng béo phì, bệnh cao huyết áp, bệnh
đái đường loại II, có lẽ với bệnh tim mạch, nhưng ta không biết đó là
một sự gặp gỡ của các tố bẩm di truyền hay là một hậu quả của lối sống
của những bệnh nhân này.” Bệnh Crohn, bệnh viêm mãn tính của đường tiêu
hóa, cũng thường xảy ra hơn. “Và 30% các bệnh nhân cũng có một thấp khớp
vảy nến (rhumatisme psoriasique), ảnh hưởng lên các đầu chi hay các khớp
trung ương. Tất cả những phối hợp này khiến vài tác giả gợi ý một rối
loạn có tính cách toàn bộ hơn, GS Jean-Paul Ortonne, trưởng khoa da, CHU
de Nice, đã xác nhận như vậy.
Các yếu tố môi trường và di truyền liên kết với nhau như thế nào? “Khoảng
một chục vị trí trên nhiễm sắc thể đã được nhận diện, mà người ta vẫn
chưa biết gène hay những gène chịu trách nhiệm, cũng như không biết chức
năng của chúng như thế nào. Cũng có một liên kết mạnh với một gène của
hệ miễn dịch, HLA-Cw6 ”, GS Bachelez đã xác nhận như vậy.
TIA TỬ NGOẠI A VÀ TIA TỬ NGOẠI B.
Về mặt điều trị, kho vũ khí hiện nay không
cho phép điều trị bệnh mà chỉ kềm hãm nó mà thôi. Trong những thể từ nhẹ
đến trung bình, các kem dermocorticoides làm giảm phản ứng viêm. Trong
những thể khác, các dẫn xuất của vitamine D hay của vitamine A (rétinoides),
điều hòa sự tăng sinh và sự phân hóa tế bào.
Tác dụng có lợi của các tia tử ngoại được biết từ lâu. “Trong các bệnh
vảy nến nghiêm trọng, các tia tử ngoại A (UVA) của puvathérapie (chữ viết
tắt của psoralène-ultraviolet A et thérapie; phép điều trị vài bệnh ngoài
da bằng cách hấp thụ một psoralène rồi cho tiếp xúc với các tia tử ngoại
A) đã nhường chỗ cho các tia tử ngoại B chọn lọc (UVB sélectifs), làm
giảm tính hung dữ của các tế bào lympho T, và có lẽ can thiệp sớm hơn,
với các hạn chế do nguy cơ ung thư da”, GS Ortonne đã xác nhận như vậy.
Những dạng nghiêm trọng này cần một điều trị bằng đường miệng với rétinoides,
thậm chí méthotrexate hay ciclosporine, hay thuốc làm suy giảm miễn dịch.
Và nếu cần, những liệu pháp sinh học mới, được phát triển từ ít lâu nay
nhờ một sự hiểu biết tốt hơn các cơ chế phân tử của bệnh. (LE
FIGARO 5/7/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr159.htm
(TSYH so 159, bài so 9)
2/ CÁC THIẾU NIÊN NGHIỆN INTERNET
CÓ KHẢ NĂNG HƠN BỊ CÁC ĐỢT TRẦM CẢM.
Các thiếu niên phụ thuộc internet có hai lần rưởi dễ bị
chứng trầm cảm hơn so với những thiếu niên chơi trên mạng một cách bình
thường và được kiểm soat. Đó là điều vừa được chứng tỏ bởi một công trình
nghiên cứu, được công bố trong Archives of Pediatric and Adolescent Medicine.
Công trình này được tiến hành trên 1041 thiếu niên của tỉnh Quảng Châu,
miền nam Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu đặc biệt muốn nhận diện những
người sử dụng bệnh lý mạng internet và tìm kiếm những dấu hiệu lo âu và
trầm cảm. Đại đa số các thiếu niên lên mạng một cách bình thường nhưng
62 (6,2%) đã được nhân diện như là những người sử dụng internet bệnh lý
(internautes pathologiques) và hai (0,2%) như là những người sử dụng “
bệnh lý một cách trầm trọng ”. 9 tháng sau, tình trạng tâm lý của các
thiếu niên đã được đánh giá. Kết quả là những thiếu niên sử dụng internet
một cách không hợp lý có nguy cơ 2,5 lần chìm vào trong chứng trầm cảm
nhiều hơn những trẻ khác. (LE FIGARO 4/8/2010)
3/ NHỮNG NGUYÊN
NHÂN CỦA BỆNH CROHN ĐƯỢC XÁC NHẬN
Bệnh Crohn là một bệnh viêm mãn tính của
ruột, trong đó hệ thống phòng ngự của bệnh nhân được hoạt hóa một cách
không thích ứng. Có nhiều yếu tố nguy cơ di truyền, nhưng những yếu tố
khác (di truyền, vệ sinh đời sống, toàn bộ các vi khuẩn ruột hay microbiote
intestinal) cũng có can dự vào. Ken Cadwell, thuộc Phòng bệnh lý học và
miễn dịch học của Đại học Washington ở Saint-Louis Hoa Kỳ, và các cộng
sự viên của ông đã cho thấy rằng 3 yếu tố (một gène, một virus và một
phản ứng viêm) cũng đủ làm phát khởi căn bệnh nơi chuột.
Ở Pháp vào năm 2005, 60.000 người bị bệnh Crohn, gây tác hại chủ yếu các
thiếu niên và những người trưởng thành trẻ tuổi. Căn bệnh được biểu hiện
bởi một tình trạng ỉa chảy mãn tính, được kèm theo bởi đau bụng, đôi khi
sốt, một sự mất cân và một sự mệt mỏi quan trọng. Các điều trị chủ yếu
dựa trên các thuốc chống viêm và các thuốc làm suy giảm miễn dịch. Thật
vậy, trong ruột, người ta quan sát thấy một sự tăng hoạt hóa của hệ miễn
dịch, tấn công các tế bào của ruột : đó là một bệnh tự miễn dịch (maladie
autoimmune). Mặc dầu có một sự mẫn cảm di truyền (susceptibilité génétique)
(32 gène đã được nhận diện), nhưng các yếu tố môi trường cũng tham gia
vào sự phát khởi của bệnh. Những yếu tố này là gì ?
Các nhà sinh học Hoa Kỳ đã khảo sát các con chuột được biến đổi về mặt
di truyền, biểu hiện một gène nhạy cảm với bệnh, gène Atg16L1 bị biến
dị. Nơi người, tất cả những ai bị bệnh đều mang biến dị này, nhưng tất
cả những người mang biến dị không nhất thiết bị bệnh. Các con chuột được
làm biến đổi về mặt di truyền có một loạn năng của các tế bào Paneth của
ruột non, những tế bào này tham gia vào việc duy trì microbiote của ruột.
Bằng cách nuôi các con chuột này trong một môi trường vô khuẩn, các nhà
sinh học đã chứng thực rằng chúng khỏe mạnh và các tế bào Paneth của chúng
đều bình thường. Ngược lại, khi chúng bị nhiễm bởi một norovirus, thì
tình trạng bất thường xuất hiện. Thế mà virus này thường là nguyên nhân
của bệnh viêm dạ dày-ruột nơi người. Ngoài ra, nếu các nhà nghiên cứu
làm nhiễm trùng các con chuột được làm biến đổi về mặt di truyền và mang
virus, với một độc chất đối với ruột (điều này làm phát khởi một phản
ứng viêm bởi microbiote ruột), các con chuột phát triển bệnh. Một virus
như thế, sự biến dị di truyền và phản ứng viêm dường như cần thiết để
làm phát phát khởi bệnh Crohn nơi các động vật gặm nhấm. Vấn đề còn phải
xem virus này có phải là một nguyên nhân khả dĩ nơi người hay không. (POUR
LA SCIENCE 8/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr161.htm (TSYH so 161,
bài so 10)
4/ MỘT VI KHUẨN THÔNG THƯỜNG DƯỜNG
NHƯ ĐƯỢC LIÊN KẾT VỚI UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Đó là một khám phá bất ngờ. Có một mối liên hệ giữa ung
thư đại tràng và sự hiện diện trong ống tiếu hóa của Escherichia coli,
một vi khuẩn thông thường. Vi khuẩn này bình thường sống một cách rất
hài hòa với con người, mặc dầu nó có thể gây nên ỉa chảy, các nhiễm trùng
đường tiểu hay những ngộ độc thức ăn. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu của
Inra đánh giá rằng vi khuẩn này có thể là căn nguyên của sự xuất hiện
của những tế bào ung thư. Cách nay 4 năm, họ đã khám phá ra rằng một giống
gốc đặc biệt của E.coli tiết ra một độc tố, được gọi là colibactine. Thế
mà, độc tố này dường như gây nên những thương tổn của ADN. Để xác nhận
điều này, các nhà nghiên cứu lần này đã cấy giống gốc E.coli với các tế
bào ruột non của chuột. Sau một ngày, họ đã nhận thấy các chỗ gãy trên
hai dây ADN của những tế bào.Vì không thể phân chia một cách bình thường,
những tế bào này đã tích tụ những bất thường trong cấu trúc và số các
nhiễm sắc thể của chúng. Đáng lo ngại khi ta biết rằng những thương tổn
này và những bất thường nhiễm sắc thể này có thể dẫn đến sự biến đổi ác
tính của các tế bào và dẫn đến sự ung thư hóa. Tuy nhiên còn cần phải
thực hiện những công trình nghiên cứu sinh ung thư (cancérogenèse) và
dịch tễ học để xem mối liên hệ này có được xác nhận hay không. Từ nhiều
thập niên nay, các thầy thuốc đều biết rằng vi khuẩn Helicobacter pylori
đóng một vai trò trong các ung thư dạ dày hay rằng các papillomavirus
gây nên những thương tổn tiền ung thư, nhưng họ đã chưa bao giờ nghi ngờ
các vi khuẩn E.coli. (SCIENCE ET VIE 8/2010)
5/ CÓ MỘT TRÌNH ĐỘ
HỌC VẤN TỐT BẢO VỆ CHỒNG LẠI BỆNH ALZHEIMER
Một thời gian học vấn lâu dài gìn giữ các chức năng nhận
thức (fonctions cognitives) mặc dầu sự hiện diện của những thương tổn
não bộ, chịu trách nhiệm chứng sa sút trí tuệ này. Sự xuất hiện căn bệnh
sẽ được làm chậm lại 7 đến 10 năm.
VIEILLISSEMENT. Nếu tất cả
mọi người đều đi học, thế thì sẽ còn có những người bị bệnh Alzheimer
hay không? Tất nhiên là có, nhưng có lẽ họ sẽ bị bệnh ở một lứa tuổi cao
hơn so với hiện nay. Đó là kết quả của những công trình nghiên cứu được
tiến hành phối hợp bởi các nhà nghiên cứu Anh và Phần Lan và được công
bố tuần qua trong tạp chí Hoa Kỳ Brain. Theo các nhà nghiên cứu này, sự
việc đã đi học cho phép tích trữ những “năng lực nhận thức” (aptitudes
cognitives) có khả năng chống lại những tác dụng có hại của các thương
tổn não chịu trách nhiệm căn bệnh này. Hiện nay không có một thầy thuốc
nào đã khám phá ra phương thuốc nhiệm màu chống lại căn bệnh ảnh hưởng
lên 800.000 người ở Pháp này.
Đã từ vài năm nay, người ta biết rằng một trình độ học vấn tốt có thể
bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer hay làm chậm lại sự xuất hiện của nó.
Nhưng một câu hỏi vẫn chưa được giải đáp: sự việc đã theo một học trình
cao có ngăn cản sự xuất hiện của những thương tổn não bộ liên kết với
bệnh Alzheimer hay chỉ cho phép làm giảm bớt tác động của chúng ?
Để làm sáng tỏ sự việc, nhóm nghiên cứu Anh-Phần Lan đã phân tích não
bộ của 832 người già, đã tham gia, nhiều năm trước khi chết, vào những
cuộc điều tra về vấn đề lão hóa. Nhiều dữ kiện về trình độ học vấn, giáo
dục, môi trường xã hội-văn hóa, tình trạng sức khỏe của họ, cũng như những
rối loạn trí nhớ hay những chẩn đoán chứng sa sút trí tuệ đã được tích
lũy, vào lúc não bộ của họ được giải phẫu tử thi.
NHỮNG THƯƠNG TỔN THOÁI HÓA.
Điều chứng thực đầu tiên : dầu trình độ
học vấn là gì đi nữa, các thương tổn cơ thể học đặc trưng của bệnh Alzheimer
(các mảng amyloide giữa các tế bào thần kinh, sự tích tụ của protéine
Tau bên trong các neurone) đều tương tự nhau. Không có những thương tổn
cơ thể bệnh lý ít hơn nơi những người có thời gian học vấn dài lâu. Nhưng
tuy vậy, phần lớn những người này không bị bệnh Alzheimer trong lúc còn
sống, trong khi những người khác, mặc dầu có cùng các thương tổn nhưng
đã không làm mòn đũng quần trên các ghế nhà trường hay đại học, đều đã
trở nên bị bệnh.
“Những kết quả của chúng tôi cho thấy rằng, sự việc đã từng theo đuổi
học hành có thể giúp những người già quản lý, trên bình diện lâm sàng,
những thương tổn thoái hóa của não bộ, Hannah Keage (đại học Cambridge,
Anh), một trong những đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích
như vậy. Như thể sự học vấn gìn giữ các chức năng não bộ, mặc dầu đã có
một sự biến đổi mô học. “Sự giáo dục là một yếu tố công bằng xã hội. Công
trình của chúng tôi ủng hộ thêm nữa cho sự cần thiết phải đầu tư, lúc
bắt đầu của đời sống, vào những chương trình có một tác động lên toàn
xã hội và trong suốt cuộc đời”, Carol Brayne, đồng tác giả của công trình
nghiên cứu, cũng là giáo sư của đại học Cambridge, đã tuyên bố như vậy.
Công trình nghiên cứu Paquid, được tiến hành ở Pháp dưới sự chỉ đạo của
GS Jean-François Dartigues, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHU
de Bordeaux, cũng đã đưa đến những kết luận theo chiều hướng này : “Trình
độ học vấn mang lại những khả năng dự trữ nhận thức (capacité de réserves
cognitives) rất quan trọng, đặc biệt là qua mạng lưới các nối kết của
các tế bào thần kinh và của kích thước của các neurone”, ông đã giải thích
như vậy. Cùng điều được quan sát như thế đối với Nun Study (nun : tiếng
Anh là nữ tu sĩ), một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, căn cứ trên giải phẫu
tử thi các não bộ của các nữ tu sĩ đã chết. Lại nữa, những thương tổn
tương tự nhau nơi tất cả những người tham gia. Chỉ có khác là những nữ
tu sĩ có một trình độ học vấn tốt có những neurone lớn hơn ở thùy hãi
mã (một vùng của não bộ có liên hệ trong những hiện tượng ghi nhớ) và
đã ít bị chúng sa sút trí tuệ hơn
MỘT TÁC DỤNG BẢO VỆ.
Dường như không phải tầm quan trọng của hoạt động trí
tuệ trong suốt cuộc sống của mình có một tác dụng bảo vệ. Mà đúng là trình
độ học vấn, những khả năng trí tuệ được tích lũy trước năm 25 tuổi. “Sự
việc đã theo một học trình làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh Alzheimer
từ 7 đến 10 năm, GS Dartigues đã đánh giá như vậy. Khi ta đã từng không
đi đến trường, ta có hai lần nguy cơ cao hơn bị bệnh Alzheimer so với
khi ta đã từng đi học. Trường học ảnh hưởng lên sự phát triển của các
khớp thần kinh não bộ (synapses cérébrales) và kích thước và số lượng
của các neurone. Nghề nghiệp đóng một vài trò ít quan trọng hơn.”
Mới đây các du kích quân Colombie đã chấp thuận học đọc. Thăm khám bằng
IRM não bộ của họ đã cho phép thấy rằng, chỉ với việc học tập này cũng
đã đủ làm phát triển chất xám của họ. Để bảo vệ chống lai sự sa sút trí
tuệ, không gì bằng một sự đam mê, hội họa, âm nhạc... “Phải phát triển
những mối liên hệ xã hội, GS Dartigues đã ghi nhận như vậy. Hãy đọc và
bàn luận những bài đọc với những người chung quanh mình.” (LE
FIGARO 2/8/2010)
6/ VIRUS CỦA BỆNH SIDA
CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ LIỆU PHÁP GENE
Các thuốc kháng siêu vi trùng (antiviraux) chống lại virus
của bệnh sida phải chăng một ngày nào đó sẽ được thay thế bởi một liệu
pháp gène (thérapie génique)? Đó là hy vọng được dấy lên bởi một công
trình nghiên cứu của Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu đã lấy các tế bào máu
trên 4 người bị nhiễm bởi VIH và bị một ung thư máu, hay lymphome, liên
kết với bệnh sida. Sau đó họ đã biến đổi một phần nhỏ của những tế bào
này bằng cách đưa vào đó những gène ngăn cản sự phát triển của VIH. Sau
cùng, các nhà nghiên cứu đã đưa các tế bào này vào lại trong máu của các
bệnh nhân. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng, các triệu chứng
của tất cả các bệnh nhân đã được cải thiện và rằng, nơi hai trong số các
bệnh nhân này, các tế bào chữa lành bệnh (cellulues guérisseuses) đã tăng
sinh. Ngược lại, không có sự bảo đảm về tính hiệu quả của các gène “thuốc”
này về lâu về dài. (SCIENCE ET VIE 8/2010)
7/ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN
LIỆT.
Sống trong môi trường đô thị, di dân, tiêu thụ
cannabis...Những tình huống này có phải là những yếu tố nguy cơ đối với
bệnh tâm thần phân liệt, căn bệnh tâm thần gây bệnh cho 1% dân số thế
giới ? Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu, được phát động bởi Fondation
FondaMental (mạng lưới hợp tác khoa học về sức khỏe tâm thần), sẽ mang
lại câu trả lời ở Pháp. Bệnh tâm thần phân liệt, xuất hiện giữa 15 và
20 tuổi, gây nên những ảo giác (hallucination), thường nhất là thính giác,
và những ý tưởng mê sảng (idées délirantes), dẫn đến một sự cắt đứt tiếp
xúc xã hội (rupture du contact social) và một một sự giảm khả năng xúc
cảm (une baisse de l’affect). Theo các nghiên cứu dịch tễ học, “có một
yếu tố di truyền làm dễ (un facteur génétique de prédisposition), mà người
ta đã chưa có thể nhận diện được các biến dị”, BS Andrei Szoke, thuộc
bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) và là người đồng phụ trách công trình
nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Một tính chất dễ bị thương tổn di truyền
(vulnérabilité génétique) được biểu hiện trong vài điều kiện môi trường.
“Một đứa trẻ đã lớn lên trong thành phố, sẽ có một nguy cơ hai lần cao
hơn phát triển một bệnh tâm thần phân liệt, so với một trẻ của môi trường
nông thôn”, vị thầy thuốc nói tiếp như vậy. Cũng vậy, các dân di tản cũng
sẽ bị ảnh hưởng hơn “có lẽ là do stress gây nên bởi sự đối xử phân biệt”.
Sau cùng, sự tiêu thụ cannabis sẽ nhân lên gấp 2,5 lần nguy cơ xuất hiện
của hợp chứng.
Có bao nhiêu lý thuyết, có bấy nhiêu công trình muốn kiểm chứng. “Chúng
tôi sẽ so sánh 150 trường hợp mới trong các thành phố của Val-de-Marne
và trong một vùng nông thôn của Puy-de-Dôme, với 100 trong số các anh
hay chị của họ, ở trong cùng một môi trường và một phần của các gène của
họ và với 150 người chứng. Tất cả sẽ trả lời những bảng câu hỏi, và một
xét nghiệm máu sẽ xác định những yếu tố di truyền hay nhiễm trùng.” Cùng
cuộc điều tra sẽ được tiến hành ở Tây ban Nha, ở Ý, Anh và ở Hoà lan,
tất cả được tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu. Mục tiêu cuối cùng? “Hiểu biết
tốt hơn nguồn gốc của những bệnh lý này, thiết đặt những biện pháp phòng
ngừa và báo động các nhóm dân và những vùng có nguy cơ.” Các kết quả sẽ
có trong 3 năm nữa. (SCIENCES ET AVENIR 8/2010)
Đọc thêm : http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr171.htm
(TSYH số 171, bài số 9)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr39.htm
(TSYH số 39, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr38.htm
(TSYH số 38, bài số 10)
8/ SỰ SAY RƯỢU CÓ HẠI NGHIÊM TRỌNG
CHO TUỔI TRẺ.
Một công trình nghiên cứu trên các động vật linh trưởng
(primate) xác nhận ảnh hưởng của rượu lên sự phát triển của thùy hải mã
(hippocampe), vùng não bộ cần thiết cho học tập và ghi nhớ. Nơi các thiếu
niên, một ly đã là quá nhiều, còn nhiều ly, thì xin chào các tổn hại trên
não bộ ! Ít nhất cũng nơi khỉ macaque.
Một công trình nghiên cứu, được tiến hành trên động vật linh trưởng này,
lần đầu tiên mang lại bằng cớ về ảnh hưởng của rượu lên sự phát triển
của hồi hải mã (hippocampe), một vùng của não bộ chủ yếu trong việc ghi
nhớ và học tập. Các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Scripps (Californie)
đã tạo khả năng cho hai nhóm khỉ macaque thiếu niên, được uống tha hồ,
một lần mỗi ngày : những con khỉ thuộc nhóm thứ nhất uống nước đường,
còn những con khỉ thuộc nhóm thứ hai uống nước tương tự nhưng có pha rượu.
Và như thế trong 1 tháng. Kết luận : nhóm tiếp cận với rượu đã uống không
có mức độ, thường đi đến một tình trạng say thực sự. Hai tháng sau khi
cai rượu, bilan đối với thùy hải mã của chúng đã không thể đảo ngược :
số các tế bào mới cũng như sự tăng sinh của chúng đã bị sụt giảm một nửa
so với những động vật kiêng rượu.
Những kết quả này, than ôi, theo cùng chiều hướng với một công trình nghiên
cứu, được công bố bởi American Journal of Psychiatry vào tháng năm năm
2000, lần này được tiến hành trên người. Công trình nghiên cứu này đã
phát hiện, nơi các thiếu niên, một sự nhạy cảm mạnh hơn của thùy hải mã
đối với rượu : thể tích của thùy hải mã càng bị thu giảm khi việc uống
rượu đã bắt đầu càng sớm và càng kéo dài. Bây giờ chúng tôi biết rằng,
não bộ đang được tạo thành của các thiếu niên là rất nhạy cảm với độc
tính của rượu, BS Georges Picherot, trưởng khoa nhi đồng của CHU de Nantes
đã lấy làm lo ngại như vậy.Thế mà, việc tiêu thụ rượu mạnh lập đi lập
lại, càng ngày càng có liên hệ đến các trẻ em dưới 15 tuổi.” Thật vậy,
mặc dầu sự tiêu thụ rượu nhìn toàn bộ đang giảm đều đặn từ 50 năm qua,
nhưng những hành vi đáng lo ngại như chứng nghiện rượu do nhu cầu giao
tiếp xã hội (alcoolisme mondain) của những người trưởng thành và “những
cuộc chè chén tốc hành” (beuveries express) nơi các vị thành niên. Chúng
được liên kết với sự tiêu thụ rượu mạnh càng ngày càng thường xảy. Việc
bán rượu whisky đã nhảy vọt 20% trong 5 năm vừa qua. Nơi các thiếu niên,
nhìn toàn bộ, sự tiêu thụ rượu vẫn ổn định và thấp hơn so với những nơi
khác ở châu Âu, Georges Picherot đã nói thêm vào như vậy. Nhưng chúng
ta không thoát khỏi sự xuất hiện những trường hợp say cấp tính nơi những
trẻ em càng ngày càng nhỏ tuổi. ” (SCIENCES ET AVENIR
8/2010)
9/ TA CÓ THỂ HY VỌNG
CÓ CON SAU MỘT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỤ KHOA KHÔNG ?
Professeur Roger Henrion,
Gynécologue obstétricien, Président de l’Académie nationale de médecine
Ta có nghĩ rằng có thử thách nào đau đớn hơn đối
với một phụ nữ trẻ, khi hay tin cùng một lúc rằng, cô ta bị một ung thư
và điều trị được sử dụng, mặc dầu càng ngày càng có hiệu quả và cứu mạng,
lại có thể gây nên một sự vô sinh vĩnh viễn ? Những tình trạng tiến thối
lưỡng nan như thế, nếu xảy ra vào những thời điểm trước đây, là điều không
thể quan niệm được, là vì khi đó chẩn đoán ung thư chậm hơn nhiều và tiên
lượng nghiêm trọng hơn nhiều, thì từ nay, điều này không còn hiếm hoi
nữa, nhất là khi các thai nghén muộn ngày càng gia tăng với sự chậm trễ
ngày càng rõ rệt của tuổi thai nghén đầu tiên hay ước muốn có thai sau
một cuộc hôn nhân mới.
Đứng trước nỗi thống khổ của các bệnh nhân mình, các thầy thuốc đã tìm
cách làm giảm những tác dụng có hại của các điều trị lên chức năng buồng
trứng. Ngoài sự làm chủ tốt hơn, bởi các thầy thuốc chuyên khoa quang
tuyến và ung thư, các liều lượng được cho, các trường phóng xạ và tính
chất của các tác nhân hóa học và của sự phối hợp chúng lại với nhau, còn
được thêm vào những kỹ thuật được sử dụng bởi các thầy thuốc chuyên khoa
phụ sản và các nhà sinh học, nhằm bảo tồn các chức năng sinh sản.
Nhưng, nếu ở người đàn ông, sự bảo tồn tinh dịch được quy tắc hóa tốt,
với những kết quả được nhận thấy, thì tình huống phức tạp hơn nhiều ở
người phụ nữ. Một mặt, bởi vì các noãn bào (ovocyte) được tiếp cận khó
khăn hơn và đề kháng kém với quá trình làm đông lạnh-làm tan đông (congélation-décongélation),
mặt khác bởi vì phần lớn các kỹ thuật đều cần một sự thành thục sinh dục
(maturité sexuelle), một sự kích thích buồng trứng (stimulation ovarienne)
và sự hiện diện của một người phối ngẫu.
Trong trường hợp phóng xạ liệu pháp (radiothérapie), kỹ thuật được sử
dụng nhất nhằm tách xa buồng trứng khỏi những nguồn bức xạ, bằng cách
đặt nó trong bụng, trên vị trí bình thường của nó. Sự bảo toàn của chức
năng buồng trứng đạt được trong khoảng 80% các trường hợp, với điều kiện
người phụ nữ dưới 40 tuổi. Kỹ thuật thứ hai, vẫn còn ở giai đoạn thí nghiệm,
là ghép buồng trứng với các cuống mạch máu của nó trong một nơi khác của
cơ thể không phải hố chậu, ở dưới cẳng tay hay trong bụng.
Nhưng trong hóa học liệu pháp, xê dịch buồng trứng chẳng ích lợi gì. Ngoài
một sự thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro) được thực hiện
cấp cứu, ngoài sự hiện diện của một người phối ngẫu và một sự kích thích
buồng trứng, làm trì hoãn sự thực hiện điều trị của ung thư, giải pháp
an toàn nhất là làm đông lạnh (congélation embryonnaire).
Tỷ lệ sinh bằng chuyển phôi (accouchement par transfert) là khoảng 20%.
Nhưng vì sự làm đông lạnh chậm các noãn bào trưởng thành đã không có những
kết quả được mong chờ, nên người ta đã đề nghị một loại làm đông lạnh
các noãn bào cực nhanh, được gọi là vitrification. Tỷ lệ sinh khi đó sẽ
là 30% bằng chuyển phôi, trong khi tỷ lệ này chỉ 10% sau phương pháp làm
đông chậm (congélation lente). Mặc dầu sự theo dõi hơn 900 trẻ em sinh
ở Ý vào năm 2009 là hoàn toàn làm an lòng, nhưng kỹ thuật này chưa được
cho phép ở Pháp.
Một phương pháp khác, đáng lưu ý đối với các thiếu nữ, là sự bảo tồn bằng
đông lạnh (cryoconcervation) của mô buồng trứng, nhằm bảo tồn các noãn
nang nguyên thủy (follicules primordiaux), nằm ở vỏ của buồng trứng. Mô
của buồng trứng được đặt lại hoặc ở vị trí hố chậu, hoặc xa vị trí gốc
của nó. Thật ra, cho đến ngày nay, chỉ có các ghép ở vị trí hố chậu mới
đã cho phép có được các thai nghén. Người ta cũng có thể nhờ đến sự hiến
các noãn bào nhưng với những thời hạn từ hai đến 5 năm, một phần do hiếm
có người cho (donneuse), khoảng 200 đến 300 mỗi năm ở Pháp.
Còn về việc có thai cho những kẻ khác, giải pháp duy nhất cho một cặp
vợ chồng có một đứa con phát xuất từ các gène riêng của mình khi tử cung
đã bị lấy đi nhưng các buồng trứng được bảo tồn. Sẽ là đáng ngạc nhiên
khi sự thai nghén này được chấp thuận ở đất nước chúng ta cách nay vài
năm. Các lựa chọn càng khó thực hiện khi ta thiếu các công trình nghiên
cứu được tiến hành trên một số lớn người, điều này khiến vẫn còn những
hoài nghi về các phương thức điều trị tốt nhất của chứng vô sinh và sự
xuất hiện của các tái phát. Rõ ràng là các quyết định chỉ nên được thực
hiện trong các équipe biết rất rõ nhau. Dầu thế nào đi nữa, mặc dầu các
kết quả không hoàn toàn được đảm bảo, nhưng chỉ nội việc loan báo một
khả năng có con về sau này cũng là một thông điệp mang lại hy vọng. (LE
FIGARO 28/6/2010)
10/ CÁC
KEM CHỐNG NẮNG CÓ THẬT SỰ BẢO VỆ CHỒNG LẠI NHỮNG TÁC DỤNG CÓ HẠI CỦA ÁNH
NẮNG MẶT TRỜI.
Docteur Paul Young, Dermatologue
(Rouen)
Từ những năm 1970, số các ung thư da gia tăng một
cách quan trọng. Điều này phần lớn được liên kết với những thói quen mới
khi phơi nắng. Bởi vì các yếu tố nguy cơ của các ung thư da, một phần
là di truyền, mà chúng ta không thể tác động được, và một mặt khác được
liên kết với sự tiếp xúc với ánh nắng, dầu đó là cấp tính và đoạn hồi
hay mãn tính, tình nguyện hay do nghề nghiệp. Những trường hợp trúng nắng
(coups de soleil) và những sự tiếp xúc mãn tính ánh nắng mặt trời là những
tác nhân chính chịu trách nhiệm 3 loại ung thư da chủ yếu, các carcinome
basocellulaire, các carcinome épidermoide và những u hắc tố (mélanome).
Những trường hợp trúng nắng là đặc biệt nguy hiểm khi chúng xuất hiện
trong thời thơ ấu. Những sự tiếp xúc mãn tính với ánh nắng mặt trời cũng
chịu trách nhiệm sự lão hóa của da (các vết nhằn và các đốm nắng hay actinique)
và những dày sừng quang hóa (kératose actinique), là những thương tổn
tiền ung thư.
HIỆU QUẢ TRONG 8 GIỜ.
Vậy cần phải thiết đặt một sự phòng vệ ánh sáng (photoprotection)
ngay từ tuổi ấu thơ (nhất là giữa 10 giờ và 17 giờ) và như thế suốt cả
cuộc đời. Các tia tử ngoại B chịu trách nhiệm các vết bỏng và các đợt
trúng nắng, các tia tử ngoại A chịu trách nhiệm sự lão hóa của da và các
dày sừng quang hóa (kératose actinique). Sự làm rám da (bronzage) vì là
một tác nhân bảo vệ tồi chống lại các tia tử ngoại A, nên sự bảo vệ ánh
sáng tốt nhất được đảm bảo bởi quần áo. Các kem và màn ngăn chống nắng
(crème et écran solaire) phải được đặc biệt dành cho những vùng khó bảo
vệ bởi quần áo.
Những kem chống nắng đầu tiên, được thương mãi hóa vào đầu những năm 1970,
chỉ bảo vệ độc nhất và yếu chống lại các tia tử ngoại B (UVB). Dần dần
các chỉ tiêu bảo vệ (indice de protection) chống lại UVB đã gia tăng,
nhưng hiện nay chúng cũng bảo vệ chống lại UVA. Chỉ đấu SPF (Sun Protection
Factor) thể hiện sự bảo về chống lại UVB. Dĩ nhiên, SPF càng cao, sự bảo
vệ sẽ càng tốt hơn.
Cùng cách như thế, thời gian bảo vệ liên kết với sự bôi kem chống nắng
đã dần dần gia tăng. Thí dụ rất mới đây đã xuất hiện một kem chống nắng
có thời gian bảo vệ 8 giờ chỉ cần một lần bôi. Tuy nhiên, phần lớn các
kem và màn ngăn chống nắng có hiện nay bảo vệ trong một thời gian khoảng
2 giờ. Sau cùng, cũng có những kem tương đối đề kháng với sự tắm rửa.
Do sự gia tăng của số các ung thư da, và nhiều chiến dịch ngăn ngừa và
phát hiện của các thầy thuốc chuyên khoa da, nên dân chúng cũng được thông
tin khá tốt về những nguy cơ do phơi nắng. Trong mục đích vừa ngăn ngừa
các ung thư da và làm chậm lại sự lão hóa da, việc sử dụng các kem và
màn ngăn chống nắng co tầm quan trọng. Các màn ngăn (écran) được chế tạo
từ các khoáng chất phản chiếu ánh sáng (oxyde de titane hay oxyde kem),
gởi trả lại bức xạ tử ngoại trong khi các bộ lọc (filtre) hấp thụ năng
lượng của chúng. Đa số các sản phẩm, bắt đầu từ những SPF 30, chứa đồng
thời các màn ngăn và các bộ lọc để trang trải tốt toàn bộ phổ của các
tia tử ngoại.
Việc ngăn ngừa các ung thư phải bắt đầu bởi sự hạn chế thời gian tiếp
xúc với ánh nắng và nhất là bằng cách giảm bớt số những trường hợp trúng
nắng. Điều này phải là một mối lo âu thường xuyên nơi các bố mẹ có con
em còn nhỏ tuổi. Việc sử dụng quần áo bảo vệ ánh sáng bây giờ khá phổ
biến và phí tổn phải chăng, là vô cùng hữu ích. Chúng cho phép tắm và
chơi thể thao nhưng đồng thời vẫn được bảo vệ. Việc sử dụng kem chống
nắng phải đều đặn : phải bôi kem rộng khắp, khoảng mỗi 2 giờ. Các chỉ
dấu SPF phải được tăng cao (trên 30).
KEM BAN NGÀY (CREME DE JOUR).
Sự ngăn ngừa quá trình lão hóa da (các
vết nhăn và các đốm) cũng cần bôi kem ban ngày chứa những tác nhân bảo
vệ chống lại ánh sáng. Những kem này càng ngày càng được phổ biến và được
nhận biết dễ dàng. Thật vậy, trên bao bì của chúng, xuất hiện lời ghi
chú “SPF”. Nói chung chỉ tiêu này bao gồm giữa 15 và 25. Việc bôi các
kem này cho phép làm chậm lại sự xuất hiện của những dấu hiệu của lão
hóa da, nhưng cũng cho phép, khi những dấu hiệu này rất rõ rệt, một sự
cải thiện tương đối những dấu hiệu của nó, do đó việc bôi kem phải là
rất nghiêm túc (bôi hai lần mỗi ngày, sáng và trưa).
Cũng đừng quên rằng các tổn hại của các tia tử ngoại không chỉ giới hạn
ở da, mà còn có thể ở cả mắt nữa. Sự bảo vệ da chống lại ánh sáng phải
được bổ sung bởi việc đeo kính râm (lunettes de soleil) lọc rất tốt các
tia tử ngoại A và B. (LE FIGARO 22/3/2010) Đọc
thêm : http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr137.htm
(TSYH số 137, bài số 5)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH, Chuyên Khoa Nội
Thương và Cấp Cứu
(9/8/2010)
TAGS: Bệnh vẩy nến, mảng đỏ (plaques rouges),
Gène, Địa di truyền (terrain génétique), Bẩm gia đình (prédisposition
familiale), Stress tăng “sợ hãi”, “Kích động” hệ viêm, Cọ sát, Tình trạng
choáng, Nhiễm trùng, Thuốc uống, Crème
dermocorticoide, Dẫn xuất vitamine D và A, Tia tử ngoại, Kératinocyte,
Hệ miễn dịch, Tế bào lympho T, Bạch cầu đa nhân, Trạng thái tiền viêm
(état préinflammatoire), Mảng (psoriasis en plaques), Dạng các tầng (psoriasis
en nappes), Mụn mủ (en pustules), Giọt (en gouttes), Hệ miễn dịch, HLA-Cw6,
Vitamine D, Vitamine A (rétinoides), Điều hòa tăng sinh, Phân hóa tế bào,
Internet và trầm cảm, Bệnh Crohn, Bệnh tự miễn dịch (maladie autoimmune),
Ung thư đại tràng, Escherichia coli, Colibactine, Bệnh Alzheimer, Bệnh
sida, Liệu pháp gène (thérapie génique), Tâm thần phân liệt, Ảo giác (hallucination),
Ý tưởng mê sảng (idées délirantes), Say rượu và tuổi trẻ, Điều trị ung
thư phụ khoa, Thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro), Kem chống
nắng, Chuyển phôi (accouchement par transfert), Đông lạnh (cryoconcervation),
Carcinome basocellulaire, Carcinome épidermoide, U hắc tố (mélanome),
Phòng vệ ánh sáng (photoprotection), Chỉ dấu SPF (Sun Protection Factor),
Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |