 |
Thời
Sự Y Học số 183
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ BỆNH VIÊM ĐỘNG MẠCH (ARTÉRITE)
KHÔNG ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN NHIỀU.
NHỮNG ĐIỂM MỐC
VIÊM ĐỘNG MẠCH (ARTÉRITE). Bệnh
động mạch gây tắc (artériopathie oblitérante) của các chi dưới là một
bệnh đang trong thời kỳ bành trướng. Bệnh viêm động mạch gây bệnh cho
27 triệu người ở châu Âu và Bắc Mỹ, trong đó 800.000 người ở Pháp. Một
cách chính thức. Bởi vì số bệnh nhân không biết là mình có bệnh ba lần
cao hơn. Bệnh này, được đặc trưng bởi một sự tắc dần dần của một hay nhiều
động mạch của chi dưới bởi một mảng xơ mỡ (plaque d’athérome), được thể
hiện bởi những chuột rút, những đau đớn nơi các bắp chân lúc bước, để
cuối cùng gây tàn phế khi buộc bệnh nhân phải dừng lại một cách đều đặn.
Khi đó người ta gọi là sự đi khập khiễng đoạn hồi (claudication intermittente).
CHẨN ĐOÁN. Khi các bệnh nhân có
những triệu chứng như thế, người thầy thuốc phải đảm bảo rằng sự tuần
hoàn đuợc thực hiện tốt ở các cẳng chân, bằng cách nhìn màu sắc, nhiệt
độ của chúng. Ngoài ra, nếu tỷ suất giữa huyết áp nơi mắt cá chân (IPS
: index de pression systolique à là cheville, chỉ số áp suất thu tâm ở
mắc cá chân) và áp suất đo được nơi cánh tay dưới 0,90, khi đó các thầy
thuốc đánh giá rằng có một viêm động mạch.
PHÒNG NGỪA. Chứng nghiện thuốc lá
là một yếu tố nguy cơ quan trọng của viêm động mạch cũng như bệnh đái
đường, tăng cholestérol-huyết, bệnh béo phì, bệnh cao huyết áp. Tất cả
những yếu tố này phải được điều trị bằng cai thuốc lá, tập thể dục và
các loại thuốc, thí dụ như các statine.
ĐIỀU TRỊ. Đó là tránh không để cho
sự hẹp của các động mạch trở nên trầm trọng, bằng cách xử trí các yếu
tố nguy cơ, và cũng bằng cách giúp máu lưu thông tốt hơn nhờ các thuốc
chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégants plaquettaires). Bước đi đều đặn
được khuyến nghị. Một sự theo dõi là cần thiết để phát hiện sớm những
biến chứng như tắc hoàn toàn một động mạch, khi đó sẽ cần phải thực hiện
một điều trị ngoại khoa nội huyết quản (traitement chirurgical endovasculaire).
Bệnh viêm động mạch gây tắc (artérite oblitérante)
của các chi dưới, thường không có triệu chứng, trong những trường hợp
thái quá dẫn đến sự cắt cụt chi.
CARDIOLOGIE. Ở
Pháp, 800.000 bệnh nhân bị một viêm động mạch, còn được gọi là bệnh động
mạch gây tắc (artériopathie oblitérante) của các chi dưới, đã tiến triển
nhiều, được biết và được điều trị. Nhưng có đến 3 lần nhiều hơn những
người trưởng thành với một viêm động mạch cũng nguy hiểm, nhưng không
được chẩn đoán hoặc đang tiến triển nhưng không gây triệu chứng. Đặc biệt
có nguy cơ là những người đàn ông trên 50 tuổi (chiếm 80% các bệnh nhân
) , những người hút thuốc (hay những người đã từng hút thuốc) và những
người bị bệnh đái đường.
Bệnh viêm động mạch không tha miễn các phụ nữ lẫn những người trẻ tuổi
nhất. “Thế mà vấn đề không phải sự kiện một động mạch bị bít ở một chi
dưới tự bản thân nó là trầm trọng, mà sự kiện không có một lý do gì để
các động mạch khác được tha miễn mới là nghiêm trọng, BS Jean-Laroche,
thầy thuốc chuyên khoa mạch máu, chủ tịch của Hội đồng quốc gia y khoa
huyết quản, và BS Jean –Marie Cardon, chủ tịch của Hiệp hội ngoại khoa,
đã tổ chức hội nghị lần thứ 25 từ 12 đến 15 tháng sáu ở Nimes, đã nhấn
mạnh như vậy. Trong tất các các chỉ dấu nguy cơ tim-mạch, một viêm động
mạch của một chi là nghiêm trọng nhất. Thật vậy, cứ hai viêm động mạch
thì một có những thương tổn động mạch trên một địa phận khác của cơ thể.”
ĐAU ĐỚN
Lúc khởi đầu, có thể có một viêm động mạch mà không có một triệu chứng
nào. Rồi thì, chính một sự đau đớn hay một vướng víu khó chịu nơi bắp
chân, xuất hiện sau khi đã bước nhiều trăm mét, được gọi là sự đi khập
khiễng đoạn hồi (claudication intermittente), lúc đi lên dốc hay khi bước
nhanh, lên tiếng báo động. Nhưng, vì sự đau đớn biến mất sau khi nghỉ
vài phút, nên nhiều người nghỉ rằng đó là một chuột rút (crampe musculaire)
không quan trọng và không nói cho thầy thuốc của mình về triệu chứng này.
Họ chỉ cần bước ít xa hơn và tự sử dụng những thuốc chống đau.
Đối với BS Laroche, đó là thái độ tệ hại nhất. “Bởi vì, mặc dầu không
có gì đã xảy ra, nhưng sự đau đớn sẽ xuất hiện với những khoảng cách bước
càng ngày càng ngắn dần. Thật vậy, khẩu kính của các động mạch tưới nuôi
các cơ của các cẳng chân bị hẹp lại dần dần, điều này giải thích chứng
chuột rút ở bắp chân và tiến triển đưa đến tắc động mạch.” Để không phải
đi đến tình trạng như vậy và để bệnh tiến triển với nguy cơ mất một cẳng
chân vì phải cưa cụt, trong những trường hợp cực kỳ, điều chủ yếu là phải
báo cáo với thầy thuốc mọi chứng chuột rút được nghi ngờ. Và ở tuổi 45,
phải đi thăm khám ngay, nếu là người nghiện thuốc lá (kể cả cannabis)
và/hay bị bệnh đái đường, để được kiểm tra các động mạch ở cẳng chân.
Mục đích của người thầy thuốc là tìm kiếm những yếu tố nguy cơ khác. Đó
là trường hợp nếu như bạn là người bị bệnh cao huyết áp, nếu như bạn có
quá thừa cholestérol xấu, nếu như bạn bị tăng thể trọng hay sống nhàn
rỗi không hoạt động. Cũng vậy nếu như bạn đã từng bị một nhồi máu cơ tim
hay một tai biến mạch máu não, nếu như bạn đã bị những đợt kẹt máy sinh
dục (pannes sexuelles) đối với những người đàn ông hay lại nữa nếu như
có những tiền sử gia đình tim-mạch. Sự thính chẩn các mạch ở cẳng và chân,
cũng như sự đo huyết áp ở mắc cá chân là điều bắt buộc : một thầy thuốc
gia đình có thể phụ trách điều đó nếu ông ta có một doppler.
NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ.
Khi tỷ số giữa huyết áp ở mắc cá chân (IPS : index de pression systolique
à là cheville) và huyết áp được đo ở cánh tay dưới 0,90, có một viêm động
mạch. Trong trường hợp này, ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa huyết quản
và chuyên khoa tim là cần thiết bởi vì một thương tổn của các động mạch
cảnh tưới máu não và của các động mạch vành tưới máu tim lần lượt được
phát hiện trong 15% và trong 50 % các trường hợp.
Như thế, những nạn nhân của bệnh viêm động mạch có một nguy cơ tử vong
tim mạch nhân lên gấp mười lần : 10 năm sau khi xuất hiện một chứng chuột
rút ở bắp chân, tỷ lệ tử vong là 60% nếu không làm gì cả, trong khi nếu
được điều trị thích ứng, nguy cơ gia tăng này có thể được kiểm soát. Thí
dụ, chỉ cần kê đơn một thuốc kháng ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant plaquettaire)
cũng làm giảm 15% nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch
máu não và làm giảm 30% nguy cơ bị di chứng do những tai biến này. Lại
còn tốt hơn nếu, như Haute Autorité de santé đã khuyên, thuốc chống ngưng
kết tiểu cầu được phối hợp với một statine có tác dụng kiểm soát nồng
độ cholestérol xấu (LDL) và gia tăng khoảng cách bước (périmètre de marche),
cùng với một thuốc thuộc loại inhibiteur de l’enzyme de conversion, một
tác nhân bảo vệ tim mạch.
3 loại thuốc này phải được dùng mỗi ngày và suốt đời, cũng như sự điều
chỉnh của các yếu tố nguy cơ. Không có lựa chọn nào khác. “Vài thử nghiệm
đã được bắt đầu trên những nhóm nhỏ các bệnh nhân, với các loại thuốc
sinh huyết quản (médicament de l’angiogenèse) (được gọi như thế bởi vì
chúng kích thích sự tăng sinh của những huyết quản mới ) và với những
tế bào gốc (liệu pháp tế bào : thérapie cellulaire) để chế tạo những mạch
máu mới đến thay thế nhưng mạch máu bị tắc. Nhưng mặc dầu các loại thuốc
này có thể sẽ có dùng trong 4 hay 5 năm nữa, nhưng chúng sẽ vẫn được dành
cho những bệnh nhân có một bệnh viêm động mạch tiến triển, với một nguy
cơ quan trọng bị cắt cụt chi”, BS Laroche đã kết luận như vậy. (LE
FIGARO 28/6/2010).
2/ALZHEIMER VÀ PARKINSON : NHỮNG HIỆU QUẢ
PHÒNG NGỪA CỦA VITAMINE D.
Hai công trình nghiên cứu tiết lộ rằng những người bị thiếu vitamine D
dễ bị hơn những bệnh thoái hóa thần kinh này (maladie neurodégénérative).
NEUROLOGIE. Vitamine D có những tác dụng bảo vệ
đối với các gãy xương, các bệnh tim mạch, vài loại ung thư, bệnh đái đường,
chứng trầm cảm...Gần một thế kỷ sau khi được khám phá trong những năm
1930, vitamine D không ngừng tiết lộ những lợi ích của nó. Những lợi ích
sau hết : hai công trình được công bố tuần này làm nổi rõ vai trò khả
dĩ của vitamine D trong sự phòng ngừa các bệnh lý thoái hóa thần kinh
như bệnh Parkinson và bệnh Alzheimer. Những kết quả này càng đáng quan
tâm nhất là khi sự thiếu hụt, thậm chí sự thiếu thật sự vitamine này thường
xảy ra ở Bắc bán cầu. Ở Pháp, tỷ lệ được ước tính là 30% trong số những
người trưởng thành sống ở phía bắc Paris. Tỷ lệ này leo lên 50% nơi những
phụ nữ mãn kinh, 75% trong trường hợp loãng xương và gần 100% nơi những
người già sống trong các nhà dưỡng lão. Trên thế giới, một tỷ người bị
liên hệ.
David Llewellyn, thuộc đại học Exeter (Vương quốc Anh) và các đồng nghiệp
Hoa Kỳ và Ý đã thăm dò những mối liên hệ giữa nồng độ vitamine D trong
máu và sự suy đồi khả năng nhận thức (déclin cognitif) nơi 858 người Ý
hơn 65 tuổi. Sự tiến triển của các hiệu năng trí tuệ đã được theo dõi
bởi 3 trắc nghiệm trong đó có trắc nghiệm cổ điển MMSE (Mini Mental state
evaluation), đánh giá sự định hướng trong không gian và thời gian, khả
năng học tập (apprentissage), trí nhớ, sự chú ý, khả năng tính toán...
Sau 6 năm nghiên cứu, những người với một sự thiếu hụt nghiêm trọng vitamine
D (nồng độ trong máu dưới 25 nanomole mỗi lít), có một nguy cơ được nhân
lên 1,6 lần bị một sự sa sút của số điểm vào lúc trắc nghiệm MMSE, so
với những người có nồng độ bình thường (hoặc 75 nmol/l). Những trắc nghiệm
khác trong đó có trắc nghiệm về tính uyển chuyển của trí tuệ (flexibilité
mentale) cũng bị rối loạn, ở một mức độ ít hơn, nơi những nhóm người bị
thiếu hụt. “Các thiếu hụt vitamine D là một mục tiêu điều trị rất đầy
hứa hẹn để phòng ngừa các sa sút trí tuệ (bệnh Alzheimer), BS Llewellyn
đã đánh giá như vậy. Huống hồ là việc cho bổ sung này ít tốn kém, không
nguy hiểm và nhất là nó đã chứng tỏ các lợi ích để làm giảm nguy cơ té
ngã, gãy xương và tử vong.” Đối với các nhà nghiên cứu, cần phải khẩn
trương tiến hành những nghiên cứu mới trong lãnh vực này, xét vì dịch
bệnh Alzheimer đã được loan báo. Trên thế giới, khoảng 35 triệu người
bị bệnh Alzheimer (trong đó hơn 800.000 ở Pháp), một con số theo dự kiến
sẽ tăng gấp đôi từ nay đến 2030. “Đó là công trình nghiên cứu đầu tiên
về chủ đề này và đáng quan tâm, GS Jean-Marc Orgogozo (thầy thuốc chuyên
khoa thần kinh, CHU de Bordeaux) đã xác nhận như vậy.
NHỮNG KẾT QUẢ CHỨNG MINH.
Song hành, các tác giả Phần lan vừa công bố trong Archives of Neurology
một công trình nghiên cứu quan sát rộng lớn về những mối liên hệ giữa
nồng độ vitamine D và bệnh Parkinson. Trong nước Phần Lan, là nơi sự tiếp
xúc với ánh nắng mặt trời bị thu giảm, và những sự thiếu hụt vitamine
D thường xảy ra, BS Paul Knekt và nhóm nghiên cứu đã tuyển mộ, vào cuối
những năm 1970, hơn 3.000 người tuổi từ 50 đến 79. Khởi đầu tất cả không
bị bệnh Parkinson. Sau đó, nhóm người này được theo dõi trong gần 30 năm.
Sau cùng, độc lập với các yếu tố khác, số các bệnh nhân đã phát bệnh Parkinson
là 3 lần nhiều hơn trong nhóm với nồng độ vitamine D trong máu thấp nhất,
so với nhóm có nồng độ vitamine D cao nhất. Đứng trước những kết quả chứng
minh này, các thầy thuốc có phải khuyên các bệnh nhân mình sử dụng những
liều bổ sung vitamine D một cách hệ thống nơi những người quá 65-70 tuổi
hay không ? “Các nhà nghiên cứu chưa biết nồng độ tối ưu nào của vitamine
D để có được một hiệu quả bảo vệ thần kinh, cũng không biết bắt đầu từ
nồng độ nào, vitamine D có thể gây độc hại, GS Marian Evatt, thuộc đại
học Emory (Hoa Kỳ) đã nhấn mạnh như thế trong bài xã luận liên quan đến
công trình nghiên cứu Phần lan. Các dữ kiện cũng chưa khá vững chắc trong
lãnh vực ung thư. Ở Pháp, các bổ sung vitamine D được khuyên nơi các người
già là 10 mcg mỗi ngày (400 đơn vị). Nhưng hiệu quả phòng ngừa các gãy
xương được nhận thấy đúng hơn giữa 400 và 800 đơn vị mỗi ngày, theo những
công trình nghiên cứu mới đây. (LE FIGARO 14/7/2010)
3/ UNG THƯ VÚ : HƯỚNG VỀ MỘT VACCIN
?
Cái khó khăn chủ yếu trong việc chế tạo một vaccin chống ung thư là tính
chất đặc hiệu (spécifique) để kích thích sự tạo thành các kháng thể chống
lại một chất (protéine) chỉ hiện diện trong những tế bào ác tính mà thôi.
Cho mãi đến hôm nay chúng ta đã không đạt được điều đó bởi vì việc nhận
diện các protéine chỉ thuộc một ung thư duy nhất vẫn là khó khăn. Một
cánh cửa được mở ra với GS Vincent Touhy (đại học Cleveland) đối với ung
thư vú. Nhóm nghiên cứu của ông đã chế tạo một vaccin chống lại một protéine
(alpha-lactalbumine) được sản xuất với số lượng lớn bởi những tế bào tuyến
vú ác tính, nhưng không bởi những tế bào lành mạnh (trừ trong thời kỳ
cho bú). Được tiêm vào các con chuột phát triển một cách ngẫu nhiên các
ung thư vú, sự tiêm chủng này đã cho những kết quả ly kỳ : những con chuột
đã nhận một placebo tất cả đều bị một ung thư, so với không có trường
hợp ung thư nào nơi những con chuột đã nhận vaccin. Đây là lần đầu tiên
điều trị phòng ngừa một ung thư có hiệu quả như vậy. Được trắc nghiệm
nơi các con chuột bị bệnh, nó cũng có một tác dụng chữa lành bệnh (làm
giảm kích thước các khối u). Các thử nghiệm trên phụ nữ được dự kiến.
(PARIS MATCH 24/6-30/6/2010)
4/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ : CUỘC
CÁCH MẠNG LASER FEMTOSECONDE.
GS Joseph Coli, trường khoa mắt, CHU Pellegrin (Bordeaux), giải thích
kỹ thuật mới nhất này đã làm tối ưu mức độ chính xác ngoại khoa như thế
nào.
Hỏi : Ở lứa tuổi nào thường xuất hiện sự
biến đổi này của thủy tinh thể (Bệnh đục thủy tinh thể : cataracte).
GS Joseph Colin. Lứa tuổi trung bình xoay quanh 72 tuổi. Bệnh đục thủy
tinh thể được chương trình hóa vẻ mặt di truyền (génétiquement programmé),
cũng như sự xuất hiện của các sợi tóc bạc vậy. Sự trong suốt của thủy
tinh thể vì bị biến đổi, nên chất lượng của thị giác bị giảm sút.
Hỏi : Một cuộc giải phẫu cổ điển của đục
thủy tinh thể diễn biến như thế nào ?
GS Joseph Colin : Đó là một động tác ngoại khoa thường được thực hiện
nhất : ở Pháp, người ta đã liệt kê được 700.000 trong năm 2009 ! Can thiệp
được thực hiện ngoại trú, với gây tê tại chỗ, nhờ một gel hay một thuốc
nhỏ mắt đặc biệt có hiệu quả. Để có thể đi vào được bên trong nhãn cầu,
thầy thuốc ngoại khoa thực hiện một đường xẻ nhỏ nơi giác mạc (cornée),
nhờ một vi dụng cụ, rồi làm vỡ ra từng mảnh thủy tinh thể (một lăng kính
đường kính 1 mm), nhờ một ống dò siêu âm (sonde à ultrasons). Những mảnh
vỡ sau đó được hút bằng một ống thông khác. Giai đoạn cuối cùng : thủy
tinh thể được thay thế bằng một implant nhân tạo được cấu tạo bởi một
vật liệu mềm (được gấp lại khi được đưa vào). Implant này sẽ triển khai
ra ngay khi được thiết đặt tại chỗ. Vài giọt thuốc kháng sinh và kháng
viêm…và thế là xong ! Động tác ngoại khoa kéo dài từ 15 đến 20 phút. Trước
hết người ta mổ một mắt, rồi sau đó nếu cần mổ con thứ hai vào 8 ngày
sau.
Hỏi : Ông trấn an như thế nào những bệnh
nhân lo lắng động tác phẫu thuật này ?
GS Joseph Colin : Chúng tôi nói với họ rằng, trong khi mổ, một ánh sáng
chói lòa sẽ làm che khuất các động tác giải phẫu, họ sẽ có một cảm giác
lờ mờ, phi thực tại...Chúng tôi cũng bảo họ rằng họ sẽ không cảm thấy
gì hết : cuộc giải phẫu hoàn toàn không gây đau đớn. Đối với những bệnh
nhân đặc biệt lo âu, tốt hơn là trước khi mổ nên cho họ uống một thuốc
làm thư giãn.
Hỏi : Hậu phẫu diễn biến như thế nào ?
GS Joseph Colin : Bệnh nhân sẽ ra khỏi phòng mổ một hay hai giờ sau mổ,
mắt được bảo vệ bằng một băng nhỏ. Một thị lực đúng đắn được phục hồi
hai đến ba giờ sau can thiệp, nhưng phải chờ cho quá trình lành sẹo hoàn
toàn chấm dứt (1 đến 15 ngày) để có thể hưởng được một chất lượng tối
đa. Nhưng luôn luôn phải đeo gương đối với những người cận thị và lão
thị.
Hỏi : Tiến bộ mới nhất của ngoại khoa với
laser này là gì ?
GS Joseph Colin : Trước hết tôi phải giải thích rằng mục đích của kỹ thuật
mới này là thực hiện một động tác chính xác hơn nhằm đạt được những kết
quả thị giác hiệu năng hơn. Và điều đó với, trong cùng một cuộc phẫu thuật,
một sự điều chỉnh chứng lão thị và cận thị để cho phép các bệnh nhân không
phải mang kính nữa. Với phương thức này, đó là một là một laser femtoseconde,
được hỗ trợ bởi một scanner của nhãn cầu (một OCT), thực thi những động
tác thường được thực hiện bởi thầy thuốc ngoại khoa. Nhưng một cách chính
xác hơn nhiều (một phần ngàn của milimet), làm gia tăng một cách đáng
kể sự an toàn của phẫu thuật. Protocole này thể hiện một bước nhảy cách
mạng trong thực hành của chúng tôi : laser bắt đầu làm hóa lỏng thủy tinh
thể, mở vỏ bọc nó ra và thực hiện đường xẻ trên giác mạc. Bàn tay của
nhà phẫu thuật khi đó hút chất chứa bên trong và đưa vào một implant nhiều
tiêu cự nhằm điều chỉnh một chứng cận thị hay lão thị. Laser femtoseconde
này làm tối ưu các hiệu năng của các implant mới này.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã
chứng minh những hiệu năng thị giác này ?
GS Joseph Colin : Ba công ty, phát triển laser femtoseconde này cho bệnh
đục thủy tinh thể, đã tiến hành những công trình nghiên cứu quốc tế. Tất
cả những tham số được đánh giá đã tỏ ra tốt hơn so với những tham số có
được với ngoại khoa cổ điển : một mức độ chính xác lớn hơn khi mở thủy
tinh thể và khi thực hiện đường xẻ trên giác mạc, một sự phục hồi chất
lượng thị giác hiệu năng hơn.
Hỏi : Tương lai của phương pháp mới này sẽ
là gì ?
GS Joseph Colin : Từ nay cho đến hai đến năm nữa, kỹ thuật này sẽ trở
thành phương thức chuẩn của ngoại khoa của bệnh đục thủy tinh thể. Nó
đã được sử dụng thành công ở (Hoa Kỳ). Ở CHU de Bordeaux, chúng tôi đã
hiệu chính một prototype được đánh giá ở phòng thí nghiệm. (PARIS
MATCH 8/7-14/7/2010)
5/ HƯỚNG VỀ MỘT TỤY TẠNG NHÂN TẠO.
Những người bị bệnh đái đường mơ tưởng một thiết bị có khả năng quản lý
một cách tự động các mũi tiêm insuline cần thiết. Một thử nghiệm vừa cho
thấy rằng chúng ta sẽ không còn xa mục tiêu lắm.
Tụy tạng của chúng ta có nhiệm vụ duy trì nồng độ đường trong máu của
chúng ta không thay đổi. Để làm được điều đó, tụy tạng tiết insuline khi
nồng độ đường trong máu (glycémie) tăng cao. Nơi những người bị bệnh đái
đường, tụy tạng không làm tròn chức năng này và phải nhờ đến những mũi
tiêm. Ngoài sự bất tiện của những mũi chích này, thường khó tìm được một
liều lượng tốt, khi một bữa ăn làm nhảy vọt lượng đường trong máu, trong
khi đó nhiều giờ nhịn đói làm cho nồng độ đường này giảm một cách nguy
hiểm. Các thầy thuốc của đại học Cambridge (Anh Quốc) vừa thực hiện một
tiến bộ đáng kể hướng về một tụy tạng nhân tạo, một bơm phát ra một cách
tự động insuline tùy theo những lượng đường trong máu. Bơm này đã được
trắc nghiệm trên 19 bệnh nhân đái đường tuổi từ 5 đến 19. Các kết quả
cho thấy một sự giảm số những đột xuất của đường huyết ra ngoài chuẩn
mực, và một sự giảm thời gian bị giảm đường huyết ”, Eric Renard, thầy
thuốc chuyên bệnh đái đường của CHU de Montpellier, đã viết như vậy trong
The Lancet.
Thiết bị được cấu tạo bởi một capteur được đặt dưới da để đo nồng độ đường
huyết, một logiciel để tính toán lượng insuline cần phải tiêm và một bơm
insuline. Trong nghiên cứu lâm sàng, một cô y tá đọc nồng độ đường huyết
mỗi 15 phút và chỉ trị số này trên máy vi tính. Rồi cô ta điều chỉnh,
tùy theo trị số tính được bởi ordinateur, lượng insuline mà bơm phải phát
ra. Vậy ta còn lâu mới có đươc một thiết bị tự động. “Đó là một nghiên
cứu về tính khả thi (une étude de faisabilité), David Stocker, người phụ
trách nghiên cứu lâm sàng về bệnh đái đường trong công ty Medtronic, đã
chỉ rõ như vậy.
NHỮNG VÒNG KÍN (BOUCLES FERMES).
Các thiết bị ghép đôi đo đường huyết và bơm insuline đã được thương mãi
hóa, nhưng chúng là những thiết bị “vòng mở” (“à boucle ouverte”): bệnh
nhân quyết định lượng insuline nào cần phải được tiêm. Ở đây, đó là một
hệ thống “vòng kín” (un système à boucle fermé): chính máy vi tính tính
toán lượng insuline, điều này nhiên hậu cho phép một sự tiêm chích hoàn
toàn tự động. “Các hệ thống vòng kín sẽ biến đổi sự quản lý của bệnh đái
đường”, David Stocker đã đánh giá như vậy. Đối với một thiết bị tự động,
capteur để đo đường huyết, máy tính (calculateur) và bơm insuline phải
trao đổi với nhau mà không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Cải tiến khác liên quan đến lượng insuline cần được tiêm : trong khi những
thiết bị “vòng kín” khác mỗi phút đo những thay đổi đường huyết để điều
chỉnh lượng insuline cần được phát ra tức thời, logiciel được sử dụng
bởi các nhà nghiên cứu Anh “tiên đoán” nồng độ đường trong máu. Nó cho
phép dự kiến tiến triển của đường huyết và điều chỉnh lượng insuline mỗi
15 phút. Phương pháp này đã tỏ ra có hiệu quả ngay cả khi bệnh nhân có
một hoạt động vật lý. Ngược lại trong khi ăn, là lúc nồng độ đường huyết
thay đổi nhanh hơn, việc tiêm insuline phải được thực hiện bằng tay.
“Những cải thiện trong việc quản lý insuline sẽ đến từng giai đoạn, David
Stoker đã đánh giá như vậy. Theo các nhà nghiên cứu người Anh, những bơm
tiêm sắp đến sẽ làm ngưng một cách tự động sự tiêm insuline khi đường
huyết xuống dưới một ngưỡng nào đó, nhằm tránh hạ đường huyết xảy ra ban
đêm, một trong những mối lo sợ chính yếu của các bệnh nhân đái đường.”
(LA RECHERCHE 4/2010)
6/ TA CÓ PHẢI THỰC HIỆN MỘT XÉT
NGHIỆM PHÁT HIỆN BỆNH SIDA ?
Professeur Yazdan Yazdanpanah,
Service universitaire des maladies infectieuses
et du voyageur.
Centre hospitalier de Tourcoing.
Chính sách phát hiện HIV ở Pháp và trong nhiều nước phát
triển dựa trên đề nghị, bởi những người điều trị, xét nghiệm cho nhóm
người có nguy cơ : những người đàn ông đồng tính luyến ái, những người
sử dụng thuốc ma túy bằng đường tĩnh mạch và những người dị tính luyến
ái (hétérosexuels) có nhiều bạn đường phối ngẫu. Chính sách này, được
thiết lập vào cuối những năm 1980, ngày nay không còn thích ứng với dịch
tễ học cũng như tiến triển của bệnh ở kỷ nguyên của các điều trị antirétroviraux.
Ngày nay, ở Pháp, số những người bị nhiễm bởi HIV nhưng không biết là
mình bị nhiễm trùng, được ước tính là 40.000. Giữa ¼ đến 1/3 các bệnh
nhân phát hiện căn bệnh mình vào một giai đoạn muộn. Những người dị tính
luyến ái có nguy cơ hai lần nhiều hơn, và những người trên 60 tuổi có
bốn lần nguy cơ cao hơn, không được phát hiện và điều trị. Một mặt, bởi
vì họ tự xem là không phải diện có nguy cơ và mặt khác bởi vì nhiều thầy
thuốc không xếp loại họ trong nhóm người bị tiếp xúc HIV. Thế mà sự điều
tra phát hiện, có thể cho phép thiết đặt sớm một điều trị, sẽ làm giảm
một cách đáng kể những nguy cơ bệnh tật và tử vong. Mặt khác, sự điều
trị sớm có một tác dụng hữu ích đối với cộng đồng. Thật vậy, do làm giảm
lượng virus trong cơ thể, các antirétroviraux làm giảm nguy cơ truyền
cho những người khác. Sau cùng, việc biết được tình trạng huyết thanh
(statut sérologique) của mình mang lại một sự biến đổi của những hành
vi sinh dục có nguy cơ (comportememnt sexuel à risque).
Trong khi phải duy trì và tăng cường sự phát hiện nhắm đích và đều đặn
những nhóm người có nguy cơ, giờ đây ta phải mở rộng công tác phát hiện
bệnh. Đó là điều được khuyến nghị bởi Haute Autorité de Santé, vào tháng
10 năm 2009, đối với toàn bộ những người tuổi từ 15 đến 70. Một cách cụ
thể, mỗi người sẽ được đề nghị một xét nghiệm hay yêu cầu được hưởng xét
nghiệm này trong một cơ sở y tế. Ngoài ra, việc đề nghị phát hiện mở rộng
(dépistage généralisé) sẽ là cơ hội để minh định rõ rằng, mỗi cá nhân,
dầu thuộc cộng đồng nào, đều có khả năng bị nhiễm bởi HIV.
Tuy nhiên, xét nghiệm chỉ được thực hiện bởi những người điều trị trong
bối cảnh này không đủ. Nhất là để phát hiện những người trong tình trạng
bấp bênh không hay ít thường xuyên lui tới các cơ sở điều trị, hay vài
nhóm “cộng đồng”. Phải đi đón lấy những nhóm người này! Sự sử dụng mới
đây các xét nghiệm phát hiện có kết quả nhanh, được thực hiện chỉ với
một giọt máu lấy nơi đầu ngón tay, mang lại cho chúng ta một khả năng
đổi mới tuyệt vời. Ngày nay, với những trắc nghiệm này, việc phát hiện
bệnh có thể được thực hiện ở nơi khác với phòng xét nghiệm.
Dầu cho chiến lược phát hiện bệnh là gì, médicalisé hay không, chúng ta
hãy nhắc lại rằng công tác phát hiện này vẫn là một phương pháp tiến hành
tự nguyện. Điều chủ yếu là các quyền của con người, đặc biệt là tính cách
kín mật phải được tôn trọng. Chính trên những nguyên tắc này mà nền dân
chủ y tế hoạt động. (LE FIGARO 5/7/2010)
7/ BỆNH LOÃNG XƯƠNG : SỰ PHÒNG
NGỪA LÀ CÔNG VIỆC CỦA SUỐT CẢ CUỘC ĐỜI.
Không phải bởi vì bệnh loãng xương thường bắt đầu sau 60 tuổi nên phải
đợi dến năm 50 tuổi mới bắt đầu phản ứng. Bởi vì chúng ta vốn sinh ra
không được bình đẳng và rằng khung xương của chúng ta cũng không thoát
khỏi quy tắc đó, nên phải hành động để bù các xương mỏng manh (os fragiles),
bằng cách tuân theo một cách rất nhanh chóng những thói quen tốt. “Cái
vốn xương (capital osseux) của chúng ta, ta có được phần lớn là do sự
kế thừa của chúng ta (khoảng 70%). Cách dinh dưỡng của chúng ta, hoạt
động vật lý của chúng ta,... can thiệp đến 30%. Tuy nhiên điều đó có thể
đủ để làm nghiên cán cân của khối lượng xương của chúng ta về phía tốt
và như thế ngăn ngừa hay hạn chế sự xuất hiện của một bệnh loãng xương”,
GS Thomas đã đánh giá như vậy.
Trong thời thiếu niên, kẻ thù tệ hại nhất của xương là chứng chán ăn (anorexie).
Rối loạn hành vi ăn uống (trouble du comportement alimentaire) này có
thể gây nên một bệnh loãng xương thật sự ngay lúc còn rất trẻ, với những
hậu quả sẽ kéo dài suốt cả cuộc đời. Lại còn tệ hại hơn khi chứng chán
ăn này xảy ra nơi một cô thiếu nữ bởi vì trong trường hợp này, sự sản
xuất oestrogène có tính chất bảo vệ bị ngưng lại, như thế cô ta bị mãn
kinh. Và sự tiết các hormone khác cũng bị rối loạn, bắt đầu là leptine,
một kích thích tố có nhiệm vụ điều hòa sự ăn ngon miệng và có một tác
động lên mô xương.
CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG, THUỐC LÁ, RƯỢU...
Ngoài chứng chán ăn, vài chế độ ăn uống, ở một mức độ nhỏ hơn, có thể
đóng một vài trò có hại. Đó đặc biệt là trường hợp của những chế độ ăn
uống quá nhiều muối và đạm (thí dụ quá nhiều thịt) làm dễ sự thất thoát
calcium trong nước tiểu. Về thuốc lá và rượu được tiêu thụ quá mức, chúng
có một tác dụng độc hại trực tiếp lên xương. Vả lại cũng như lên hầu hết
các cơ quan khác..
Một chế độ ăn uống cân bằng, đủ dồi dào calcium (không nhất thiết là calcium
phát xuất từ các sản phẩm sữa) là thiết yếu. Thế mà calcium, ta tìm thấy
trong nhiều thức ăn : các nước uống, nhưng cũng có trong sardine (khoảng
330 mg đối với 100g), các brocolis (105mg/100g),các rau lá (légumew feuilles)
(80mg/100g)…Dĩ nhiên phải ăn uống một cách cân bằng suốt cả cuộc đời,
nhưng có lẽ còn hơn thế nữa vào tuổi dậy thì. Và vì vitamine D là cần
thiết cho sự hấp thụ và sự gắn của calcium lên xương, nên việc đi ra ngoài
vào mùa đông hay dùng các bổ sung vitamine D trong trường hợp thiếu hụt
là điều hợp lý. Đó là điều hầu như không thể thoái thác được khi lớn tuổi,
bởi vì khả năng hấp thụ của calcium ở ruột bị giảm. “Vì lý do này, các
thầy thuốc thường đề nghị calcium và vitamine D cho những bệnh nhân có
một mật độ xương hơi thấp và điều này, trước khi kê đơn những loại thuốc
của bệnh loãng xương”, GS Thomas đã xác nhận như vậy. (LE FIGARO 31/5/2010)
8/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : MỘT
THUỐC CHỦNG ĐƯỢC THÍCH ỨNG CHO TỪNG CÁ THỂ (VACCIN SUR MESURE).
ONCOLOGIE. Hoa kỳ vừa cho phép thương mãi hóa Provenge,
mà mỗi liều chứa những tế bào miễn dịch của bệnh nhân. Một đầu tiên trong
ung thư học.
Cơ quan quản lý dược phẩm Hoa Kỳ vừa chấp thuận một vũ khí chưa từng có
chống lại ung thư. Đó là Provenge, một vaccin điều trị, được hiệu chính
bởi công ty Dendreon. Được chỉ định đối với vài trường hợp những ung thư
tuyến tiền liệt đề kháng với điều trị chuẩn, vaccin Provenge giúp hệ miễn
dịch phá hủy những tế bào ung thư. Việc cho phép sử dụng vaccin này xảy
ra sau những thử nghiệm lâm sàng, được tiến hành trên 512 bệnh nhân. Đối
với những bệnh nhân này, vaccin đã làm gia tăng thời gian sống trung bình
khoảng 4 tháng so với một placebo.
Các tác dụng của Provenge dựa trên khái niệm của miễn dịch liệu pháp (immunothérapie).
Thật vậy, đó là một vaccin thích ứng theo từng cá thể (un vaccin “sur
mesure”), sử dụng những khả năng phòng vệ của chính bệnh nhân. Trong thực
tiễn việc hiệu chính nó được thực hiện thành 3 giai đoạn lớn. Trước hết,
bệnh nhân chịu một cytaphérèse, một phương thức cho phép lấy một mẫu nghiệm
máu và trích ra từ đó vài tế bào miễn dịch. Những tế bào này sau đó được
gởi cho công ty Dendreon. Công ty khi đó phân lập những tế bào “xuất trình
kháng nguyên” (cellules présentatrices d’antigènes) rồi cho chúng tiếp
xúc với PAP (phosphatase acide prostatique), protéine đặc thù của tuyến
tiền liệt, liên kết với một phân tử làm hoạt hóa hệ miễn dịch. Giai đoạn
thứ ba này cho phép những tế bào “xuất trình kháng nguyên” bắt giữ PAP.
Sau rốt, như vậy mới liều lượng cá thế hóa (dose personalisée) chứa chính
những tế bào “xuất trình các kháng nguyên” của chính bệnh nhân. Những
tế bào này đã gắn PAP liên kết với chất hoạt hóa miễn dịch (activateur
immunitaire), và những tế bào miễn dịch khác thu được bằng phương thức
cytaphérèse. Sau khi được tạo thành như thế, Provenge được tiêm vào cho
bệnh nhân. Vai trò của các tế bào xuất trình các kháng nguyên là cho protéine
ung thư tiếp xúc với những tế bào miễn dịch “sát sanh” (cellules immunitaires
“tueuses”) khác. Sự hoạt hóa này phải làm cho những tế bào miễn dịch “
sát sanh ” này có khả năng nhận biết những tế bào ung thư biểu hiện PAP
để rồi chúng có thể hủy diệt sau đó.
“Việc cho phép thương mãi hóa này là thành quả của 20 năm hy vọng trong
lãnh vực miễn dịch liệu pháp áp dụng vào ung học, Karim Fiazi, thầy thuốc
chuyên khoa ung thư của viện Gustave –Roussy đã tuyên bố như vậy. Provenge
sẽ bổ sung cho kho vũ khí điều trị đang được sử dụng bởi những bệnh nhân
với một ung thư tuyến tiền liệt di căn nơi phần còn lại của cơ thể, đề
kháng với điều trị hormone chuẩn nhưng tính miễn dịch vẫn còn có thể được
kích thích.” Trong số những liệu pháp mà bệnh nhân có để sử dụng hiện
nay, chỉ có hai loại thuốc của hóa học liệu pháp mới thật sự chứng tỏ
tính hiệu quả của chúng, nhưng không mang lai một sự sống sót dài lâu
như Provenge. Tuy nhiên, vaccin điều trị này cần đến một lực lượng hậu
cần nặng nề và tốn kém, không cho phép nó nhanh chóng có thể khả dụng
cho toàn bộ vài chục triệu bệnh nhân Hoa Kỳ hội đủ các tiêu chuẩn.“Những
bó buộc này có thể làm cho cho việc cấp giấy phép trở nên khó khăn ở Châu
Âu, cũng như sự kiện là vaccin chỉ được trắc nghiệm trên vài trăm người
tình nguyện và rằng cơ chế tác dụng của nó không được chứng minh một cách
rõ ràng”, Philippe Beuzeboc, chuyên gia về ung thư của Viện Curie đã đánh
giá như vậy. (LA RECHERCHE 7-8/2010)
9/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : CÓ
NÊN TỔ CHỨC MỘT ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CÓ HỆ THỐNG BẰNG ĐỊNH LƯỢNG PSA ?
Giữa năm 1990 và 2006, tỷ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt đã giảm
2,1% mỗi năm, nhưng số các trường hợp mới đã tăng gấp ba với sự phát triển
của việc phát hiện bằng định lượng PSA, những thông kê mới đây của viện
theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire) đã chỉ rõ như vậy. “Ngày
nay không thể nói liệu công tác điều tra phát hiện này có phải đã tạo
nên một dịch bệnh các chẩn đoán vô ích (une épidémie de diagnostics inutiles)
hay phải chăng nó đã góp phần vào sự làm giảm tỷ lệ tử vong”, bản báo
cáo đã nói thêm như vậy.
Vào tháng ba 2009, công trình nghiên cứu Châu Âu ERSPC, được công bố trong
New England Journal of Medicine, cho thấy một sự giảm 30% của nguy cơ
chết vì ung thư tuyến tiền liệt nơi những người đàn ông được phát hiện
bởi PSA, nhưng cũng chỉ rõ rằng đối với mỗi trường hợp tử vong tránh được,
phải phát hiện 1400 người đàn ông và điều trị 48 người. Do đó, bài xã
luận của NEJM đã viết : “Sự lợi ích này có một cái giá : sự chẩn đoán
quá mức (surdiagnostic) và sự điều trị quá mức (surtraitement)...vấn đề
chủ chốt không phải là việc phát hiện bởi PSA có hiệu quả hay không, mà
đúng hơn là nó có mang lại điều tốt hơn là điều xấu hay không.” Công trình
nghiên cứu ERSPC đánh giá sự chẩn đoán quá mức này (surdiagnostic : sự
phát hiện một ung thư không có một hậu quả tai hại), dẫn đến một điều
trị quá mức (surtraitement) là khoảng 50%.
“Thoạt đầu, người ta xem việc phát hiện bệnh dĩ nhiên là có tính cách
tích cực. Nhưng điều này chỉ hợp lý khi sự phát hiện này chứng tỏ được
hiệu quả của nó và khi những hiệu quả có lợi vượt quá những hậu quả tai
hại, như là trong sự phát hiện của ung thư đại trực tràng và ung thư vú.
Đây không phải là trường hợp đối với ung thư tiền liệt tuyến, thế mà lại
là ung thư được kê đơn xét nghiệm nhiều nhất”, GS GU Launoy, chuyên gia
y tế cộng đồng đã nói thêm vào như vậy. “Người ta không phát hiện bệnh
để mà xem cho biết, người ta phát hiện là để điều trị. Và bởi bệnh ung
thư tuyến tiền liệt phát triển cực kỳ chậm chạp, nên luôn luôn sẽ có một
nguy cơ bị chẩn đoán quá mức, và như thế đưa đến tình trạng điều trị quá
mức”.
Haute Autorité de Santé không khuyến nghị sự phát hiện có tổ chức (le
dépistage organisé) và chẳng bao lâu nữa sẽ xác định lập trường dưới ánh
sáng của công trình nghiên cứu ERSPC và của công trình nghiên cứu Hoa
Kỳ PCLO.
“HÃY TRÁNH NHỮNG ĐIỀU TRỊ QUÁ MỨC, NHƯNG ĐỒNG THỜI
CŨNG TRÁNH NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỬ VONG”
Hiệp hội của các thầy thuốc khoa niệu Pháp mong muốn một công tác phát
hiện có tổ chức (dépistage organisé: nghĩa là được khuyến khích bởi giới
hữu trách y tế), đối với những nhóm có nguy cơ (gốc châu Phi hay những
ung thư tiền liệt tuyến xảy ra trong gia đình) từ 45 đến 54 tuổi, và từ
55 đến 69 tuổi trong một chiến dịch phát hiện có tổ chức hàng năm hay
mỗi 3 năm tùy theo nồng độ PSA vượt quá 1ng/ml hay không. Từ 70 đến 75
tuổi, việc phát hiện là một chọn lựa cá nhân, vì không còn được khuyến
nghị sau tuổi 75. “Đó là một lập trường phi lý, GS Launoy đã đánh giá
như vậy. “Phải cấm chỉ sự phát hiện này đối với những nguoi không có một
nguy cơ cao và phải phát triển sự nghiên cứu để xác định còn tốt hơn nữa
những nhóm nguy cơ này.”
Đối với GS Olivier Cussenot, “chính lương tri mới là thiết yếu. Phải tránh
10.000 điều trị quá mức (surtraitements) mỗi năm nhưng cũng phải tránh
10.000 trường hợp tử vong mỗi năm, nhờ sự phát hiện. Như thế, ta sẽ có
thể phát hiện kịp thời những ung thư nhỏ tiến triển chậm, mà một phần
lớn không cần điều trị nhưng chỉ cần theo dõi tích cực, và chỉ điều trị
những trường hợp khác. Phải thông tin công chúng về công tác phát hiện,
mặc dầu PSA không được hoàn hảo, bằng cách giải thích rằng đó là một yếu
tố nguy cơ. Và thực hiện sớm định lượng PSA ở lứa tuổi 40-45, là lúc PSA
có một giá trị tiên đoán (valeur prédictive) thật sự về nguy cơ ung thư
trong 20 năm tiếp theo sau đó, hơn là đo nồng độ PAS ở tuổi 65, là lứa
tuổi trung bình hiện nay, mà ta không chắc chắn rằng một điều trị có mang
lại một lợi ích hay không. (LE FIGARO 14/6/2010)
10/ RƯỢU VÀ CÁC THIẾU NIÊN : CÁC
TẾ BÀO THẦN KINH BỊ LÂM NGUY.
Ở các thiếu niên, khuynh hướng các “cuộc chè chén tốc hành” (biture express)
(hyperalcoolisation), ngoài những nguy cơ xảy ra các tai nạn, là rất có
hại cho não bộ của chúng. Một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ vừa cho thấy
rằng trên mức nồng độ cồn trong máu 1,7g, việc lập đi lập lại những ngộ
độc này gây nên những tổn hại nghiêm trọng cho các tế bào thần kinh của
thùy hải mã (hippocampe) (nơi của trí nhớ và học tập). (PARIS
MATCH 1/7-7/7/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (19/7/2010)
>>>back>>>
|
 |