 |
Thời
Sự Y Học số 180
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ SUY TIM, MỐI THÁCH THỨC CỦA
SỰ TIẾN BỘ. NHỮNG ĐIỂM MỐC CƠ TIM.
Suy tim hiện hữu khi tim không còn có khả
năng thực hiện một cách hiệu quả chức năng bơm. Lưu lượng máu bình thường,
cần thiết cho sự vận hành chức năng tốt của các cơ quan, khi đó bị giảm,
sự phân bố mạch đến các mô ít tốt hơn với những hậu quả khả dĩ lên nhiều
nơi của cơ thể. Đặc biệt trên tim, tìm cách bù những loạn năng này. Đó
là một bệnh lý có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, để điều trị thường có
nhiều giải pháp ngoài ghép tim.
NGUYÊN NHÂN. Các bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim và các thương tổn động
mạch vành, tiếp theo là cao huyết áp, và những loạn năng của các van tim,
là những nguyên nhân chính của suy tim. Bệnh đái đường, chứng béo phì,
thuốc lá, rượu là những yếu tố làm nặng.
TẦN SỐ. Với 100.000 trường hợp mới mỗi năm, bệnh lý này, mặc dầu tiên
lượng được cải thiện bởi các loại thuốc và kỹ thuật, cũng rất gây tốn
kém : 10% các trường hợp nhập viện là do suy tim. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong
đã giảm từ 10 năm qua.
CHẨN ĐOÁN. Chẩn đoán suy tim thường quá muộn. Nhưng từ nay ta có hai xét
nghiệm: định lượng một phân tử hiện diện trong máu và siêu âm tim.
THUỐC. Cũng có những loại thuốc cho phép hạn chế những ảnh hưởng lên cơ
học tim và đôi khi nếu sử dụng khá sớm cho phép làm thoái biến chúng.
Ngoài ra, đối với những rối loạn liên quan đến nhịp tim, có những giải
pháp đề tái đồng bộ hóa tim (resynchroniser le coeur).
GIÁO DỤC. Giáo dục bệnh nhấn tôn trọng một vệ sinh đời sống nào đó là
một trong những chìa khóa để làm giảm ảnh hưởng của suy tim. Như thế phải
học làm biến đổi những hành vi của mình để có thể có một đời sống bình
thường có thể được, với khả năng hoạt động vật lý và du lịch.
Chúng ta chết ít hơn vì nhồi máu cơ tim, nhưng chúng ta có thể học sống
với những di chứng của nó.
TIM. “Chúng ta có thể là vận động viên thể thao trẻ và, sau một nhồi máu
cơ tim trên sân bóng, trở nên người bị suy tim chờ đợi một phẫu thuật
ghép tim ở tuổi 30. Trái với thành kiến, suy tim không phải luôn luôn
là một bệnh do hao mòn (maladie d’usure) và của những người lớn tuổi”,
GS Yves Juillière, thầy thuốc chuyên khoa tim của CHU de Nancy, đã cảnh
cáo như thế. Sự thương tổn này của chức năng tim,
ảnh hưởng lên toàn cơ thể, chỉ được thể hiện một cách muộn màng bởi một
sự khó thở tăng dần lúc gắng sức, một sự mệt mỏi, một trái tim đập nhanh
và một sự phù nề của các cẳng chân. “Tim không còn đóng vai trò một cách
đúng đắn nữa, bởi vì nó không có thể co thắt một cách hiệu quả nữa để
gởi máu đến toàn bộ cơ thể (khi đó ta gọi là suy tâm thu) hay bởi vì nó
không tự làm đầy một cách đúng đắn nữa (đó là suy tâm trương).” Suy tâm
thu gây bệnh cho tất cả các bệnh nhân ở mọi lứa tuổi, suy tâm trương (insuffisance
diastolique) gây bệnh chủ yếu các người già, nhưng những triệu chứng đều
giống nhau.
Bệnh suy tim được xếp loại thành 4 mức độ trầm trọng
tăng dần, đi từ loại 1 (thể nhẹ) đến loại 4, được đặc trưng bởi khó thở
lúc nghỉ ngơi hay lúc gắng sức nhỏ nhất, và một hy vọng sống bị ngắn lại.
Ở Pháp, 100.000 trường hợp mới được chẩn đoán mỗi năm.
“Tỷ lệ bệnh suy tim mới phát hiện liên kết trực tiếp với tuổi tác. Ổn
định trước 55 tuổi, bệnh gia tăng sau đó do gia tăng tuổi thọ và các tiến
bộ y khoa : người ta chết ít hơn trước đây vì nhồi máu cơ tim, vì các
bệnh van tim hay vì cao huyết áp, nhưng người ta sống sót với một di chứng,
suy tim, trước đây không có đủ thời gian để thể hiện”, GS Alain Cohen-Solal,
trưởng khoa tim của Bệnh viện Lariboisière (Paris) đã giải thích như vậy.
Cứ mười người trên 80 tuổi thì có một người bị suy
tim. Căn bệnh mãn tính này tiến triển một cách chậm chạp và bằng các đợt
bộc phát. “Những đợt bộc phát này gần như luôn luôn có cùng những nguyên
nhân : không tôn trọng chế độ ăn uống, ngừng điều trị, cơn cao huyết áp,
sốt, cúm, rối loạn nhịp tim...là nguyên nhân của những tái nhập viên thường
xuyên.”
Nguyên nhân chính của suy tim : các bệnh tim mạch. Với
hàng đầu, nhồi máu cơ tim và bệnh mạch vành, chịu trách nhiệm 50% các
trường hợp, trước những thương tổn tim do cao huyết áp và các thương tổn
của các van tim. Vậy, những yếu tố nguy cơ tim mạch (cao huyết áp, đái
đường, chứng béo phì, thuốc lá) cũng là những yếu tố của suy tim : 30%
đến 40% những người suy tim mắc bệnh đái đường. Trong số những nguyên
nhân khác, rượu và vài liệu pháp hóa học chống ung thư.
SỰ DÀY CỦA TIM.
Chẩn đoán thường muộn, từ nay được làm dễ bởi hai
xét nghiệm : định nồng độ trong máu của BNP, một peptide do tim tiết ra
khi tim bị căng do gắng sức, và siêu âm tim. Trong suy tim cổ điển, tim
không co thắt được một cách đúng đắn và chỉ tống xuất 35 đến 40% thay
vì 60% đối với một tim bình thường. Tim tống xuất càng kém tiên lượng
càng nặng.
Tim tìm cách bù áp lực thượng nguồn bằng cách dày
lên rồi giãn ra. Quá trình “remodelage” (tái tạo dáng) thích nghi này,
trước hết có lợi, sau đó trở thành có hại. Các loại thuốc có thể hạn chế
quá trình tái tạo dáng và đôi khi làm thoái lui. Đó nhất là trường hợp
của các IEC (inhibiteurs de l’enzyme de conversion) và các bêtabloquants,
nhưng chúng chỉ tác dụng sau nhiều tháng. Vậy các thuốc lợi tiểu cũng
được kê toa để làm giảm sự khó thở của người bệnh, GS Jullière đã giải
thích như vậy.
Sự giảm lưu lượng máu do suy tim cũng gây nên một sự co
thắt của các động mạch và một sự ứ nước và muối, điều này về lâu về dài
làm trầm trọng căn bệnh. Các IEC và những thứ thuốc các, các sartans,
ức chế sự ứ đọng nước và muối, trong khi các bêtabloquant ngăn cản sự
co thắt động mạch. Trong suy tim giai đoạn cuối, sự đặt một hỗ trợ tâm
thất (assistance ventriculaire) để giúp tâm thất đẩy máu và trước 60 tuổi,
ghép tim là những giải pháp tối hậu.
Tin vui, đó là tỷ lệ tử vong đã giảm từ 10 năm nay.
Ít có những bệnh tim đã hưởng được những điều trị mới như thế và sự xuất
hiện kế tiếp của các IEC, bêtabloquant, các sartans, mỗi thứ đã mang lại
một mối lợi quan trọng về tỷ lệ sống còn, GS Cohen-Solal đã nhấn mạnh
như vậy. Và cũng nhờ sự tái đồng bộ tim (resynchronisation cardiaque),
đã làm giảm nhiều số các trường hợp tử vong đột ngột.
Hậu quả : ít có những loại thuốc mới. “Các tiến bộ chủ
yếu là do phòng ngừa, giáo dục điều trị các bệnh nhân và một chẩn đoán
sớm hơn”, thầy thuốc chuyên khoa tim đã nhấn mạnh như vậy. Và ai biết
đâu được, một ngày nào đó, có lẽ những tế bào gốc (cellules souches).
(LE FIGARO 21/6/2010)
2/ PATCH,
ANNEAU, IMPLANT VÀ NHỮNG STERILET KHÁC.
Không phải chỉ có thuốc uống ngừa thai (pilule). Bảng màu
của những cách ngừa thai khác cũng đã được mở rộng, gia tăng sự lựa chọn
gia tăng cho các phụ nữ, khi họ không muốn hay không có thể uống viên
thuốc ngừa thai. Thuốc dán (patch) và vòng âm đạo (anneau vaginal) là
hai thí dụ. “Tất cả hai phóng thích một kết hợp œstrogène-progestatif.
Vậy chúng có cùng chống chỉ định của pilule oestro-progestative”, GS Quéreux
đã nhấn mạnh như vậy. Patch (Evra) vẫn chỉ được sử dụng bởi một số ít
người ở Pháp. “Dường như dạng thuốc dán này làm gia tăng nguy cơ bị viêm
tĩnh mạch (phlébite) (mặc dầu hãng bào chế chống chế lại điều đó), mà
không cải thiện thật sự sự tuân thủ điều trị (observance), bởi vì người
dùng phải nghĩ đến thay đổi nó hàng tuần, ba tuần trên bốn. Nhưng vài
phụ nữ lại rất thỏa mãn dạng thuốc này.” Một thuốc dán cạnh tranh, cũng
được sử dụng mỗi tuần nhưng nhỏ và trong suốt hơn, đang được chuẩn bị
cho năm 2012.
CÓ HOẶC KHÔNG CÓ KINH KỲ.
Hệ thống khác, Nuvaring là một vòng âm đạo (anneau vaginal)
rất mềm dẻo, được đặt vào ở đáy âm đạo. Một khi nằm tại chỗ, vòng này
tác dụng trong 3 tuần, tiếp theo sau một tuần ngừng hoạt động. “Đó là
một phương tiện ngừa thai rất tốt, với một sự quân bình kích thích tố
rất tốt, gây nên rất ít các triệu chứng. Vài phụ nữ dè dặt đắn đo bởi
vì họ phải đặt vòng, nhưng những phụ nữ sử dụng nó thường rất thỏa mãn.”
Cùng sự phấn khởi nơi BS Serfaty, mong muốn rằng các thầy thuốc nói nhiều
hơn về vòng âm đạo, “mặc dầu thời gian phải thuyết phục hơi lâu hơn là
việc kê đơn một viên thuốc ngừa thai. Vòng âm đạo rất thích nghi với các
phụ nữ trẻ thường hay quên uống thuốc”. Bất lợi khác, giá cả một vòng
âm đạo là 15 euro, không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế. Nhưng trong
tương lai, có thể được thương mãi hóa ở Pháp một vòng khác được tái sử
dụng trong vòng một năm,.
Implant (Implanon) cũng có các đồ đệ của nó. Được đưa vào dưới cánh tay,
implant phóng thích một progestatif đảm bảo sự ngừa thai có hiệu quả trong
3 năm, không có kinh kỳ liên kết. “Implant do đó rất lôi cuốn các phụ
nữ trẻ, nhưng cũng có những bất tiện của nó : không hiểu tại sao, implant
gây nơi 20% các phụ nữ những xuất huyết có thể kéo dài, đến độ phải lấy
nó đi. Thế mà, đôi khi khó xác định được vị trí của implant trong cánh
tay để lấy nó ra”, GS Quéreux đã chỉ rõ như vậy. Từ nay đến vài tháng
nữa, một implant mới cản quang và một dụng cụ để đưa vào (dispositif d’insertion)
sẽ làm dễ thủ thuật này.
Dụng cụ ngừa thai trong tử cung (DIU : dispositif intra-utérin) hay stérilet
là một phương tiện ngừa thai rất có hiệu quả, hoàn toàn có thể đảo ngược
được. Stérilet hormonal từ nay được bán nhiều hơn stérilet au cuivre,
nhưng cả hai tiến triển mạnh, với những chỉ định đặc hiệu.
MỘT QUYẾT ĐỊNH CỦA PHỤ NỮ.
Đối với GS Quéreux, “DIU có chất đồng (Stérilet au cuivre)
dành cho các phụ nữ muốn bảo tồn kinh nguyệt của mình, và cũng dành cho
các phụ nữ trẻ đã không bao giờ có thai, bởi vì từ nay có những mô hình
nhỏ xíu, hoàn toàn thích ứng. Stérilet hormonal (Mirena) phân tán một
progestatif và dành cho các phụ nữ không muốn có kinh nữa. Dụng cụ ngừa
thai này thật sự được ưa thích và được sử dụng nhiều lần bởi các phụ nữ
ngay sau khi họ đã có đứa con đầu lòng. “Ưu điểm khác, nó cho phép điều
trị vài rối loạn như kinh nguyệt quá dồi dào hay những cơn đau hành kinh.
Một mini-Mirena đang được chuẩn bị dành cho các phụ nữ trẻ đã không bao
giờ có con”, BS Serfaty đã nói thêm như vậy. Vậy ở đây cũng thế, đó là
một lựa chọn cần được bàn bạc. “ Nhưng chính người phụ nữ lựa chọn, chứ
không phải thầy thuốc của mình”, GS Quéreux đã nhấn mạnh như vậy. (LE
FIGARO 26/4/2010)
3/ VÀO NĂM 42
TUỔI, NHỮNG KHẢ NĂNG CÓ THAI SAU THỤ THAI TRONG ỐNG NGHIỆM (FECONDATION
IN VITRO) LÀ GÌ ?
Professeur Roger Henrion, Gynécologue obstétricien,
Président de l’Académie nationale de médecine
Thụ thai trong ống nghiệm (FIV : fécondation in vitro)
là một điều trị được hoàn toàn nắm vững, nhưng với cái giá phải trải qua
nhiều xét nghiệm và lấy bệnh phẩm, mà vài cặp vợ chồng so sánh với một
đoạn đường chiến binh thật sự. Thường cần phải thực hiện nhiều lần. Dầu
nguyên nhân của vô sinh là gì đi nữa, kinh nghiệm của các trung tâm điều
trị, tuổi của người phụ nữ là một yếu tố quyết định trong sự thành công
hay thất bại của FIV. Khả năng sinh sản giảm một cách không tránh được
và một cách từ từ nơi phụ nữ từ 35 đến 40 tuổi, rồi một cách đột ngột
từ 40 tuổi trở đi, vì lẽ chất lượng và số lượng của các noãn bào (ovocyte)
được chứa trong các buồng trứng, giảm đi với thời gian. Điều đó đưa đến
hậu quả là các cơ may có thai và có một em bé giảm đi với tuổi tác. Không
phải là tình cờ khi bảo hiểm xã hội ấn định tuổi 43 như là tuổi từ đó
các điều trị không còn được bồi hoàn nữa.
Không có một điều trị nào có thể cải thiện chất lượng của các noãn bào,
chìa khóa thật sự của sự thành công của FIV. Khả năng định ổ trong lòng
nội mạc tử cung và phát triển cho đến khi sinh ra đời, mà các phôi chuyển
có được, phụ thuộc vào chất lượng này. Tỷ lệ có thai sau FIV là hơn 35%
nếu phụ nữ dưới 38 tuổi, trụt xuống khoảng 15% nếu người phụ nữ tuổi hơn
38 và hiếm khi vượt quá 10% khi ở lứa tuổi trên 40. Tỷ lệ này là 1% khi
44 tuổi. Tỷ lệ sinh lại còn thấp hơn. Mặt khác, nếu nhiều hơn một phôi
được đặt lại, có nguy cơ đa thai với các hậu quả sinh non và các biến
chứng sản khoa.
Trên thực tế, ở tuổi 42, nếu người phụ nữ phản ứng tốt với điều trị kích
thích buồng trứng, nếu chất lượng và số phôi thu được là thỏa mãn, và
nếu tử cung bình thường, không bị u xơ cũng như bệnh của cơ tử cung, tất
cả các hy vọng đều có thể, nhưng những cơ may có một em bé không vượt
quá 5 đến 10%.
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sau 38 tuổi, trong trường
hợp đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng, các cơ may thai nghén gần
như số không. Khi đó, bất hạnh thay, ngừng mọi toan tính là điều hợp lý
hơn. Ngoài ra, vào lứa tuổi này, một phần do chất lượng của các noãn bào
kém nhất, nên số các sẩy thai ngẫu nhiên gia tăng rõ rệt, những sự chậm
tăng trưởng trong tử cung thường xảy ra hơn, nguy cơ trisomie được nhân
lên gấp 10 lần, và nguy cơ của những dị dạng khác có thể được phát hiện,
nhưng với cái giá của một loạt các xét nghiệm ít nhiều bó buộc, kết hợp
những định lượng hormone, lấy nhiều bệnh phẩm và siêu âm nhiều lần. Tất
cả những khó khăn này giải thích rằng, trong nhiều nước, càng ngày càng
nhiều phụ nữ ở tuổi 42 ưa thích có thai bằng cách nhận noãn cho (don d’ovule).
Trên nguyên tắc sự cho noãn này được đề nghị nơi cac phụ nữ không có noãn
bào hoặc có những chất lượng kém, do một bệnh di truyền, một hóa học liệu
pháp hay một phóng xạ liệu pháp chống ung thư, thậm chí một phẫu thuật
ngoại khoa. Nhưng ở Pháp, các thời hạn để có được các noãn bào đã là rất
dài, khoảng 3 năm, bởi vì sự hiến noãn bào (don d’ovocyte) là một dấn
thân thật sự đối với các người cho. Những người hiến này phải chịu một
sự kích thích buồng trứng, một điều trị nặng nề, khó khăn và mệt nhọc,
và một thủ thuật trích lấy noãn bào ở phòng mổ dưới gây mê tổng quát hay
tại chỗ. Một yếu tố cuối cùng phải được xét đến : tình trạng sức khỏe
của người phụ nữ. Người ta biết rằng một cao huyết áp hay một bệnh đái
đường thai nghén có thể luôn luôn có thể xảy ra trong lúc có thai. Vậy
FIV càng bị chống chỉ định trong trường hợp cao huyết áp, đái đường hay
béo phì, để tránh những biến chứng nghiêm trọng. Những cặp vợ chồng muốn
thực hiện FIV phải được đả thông một cách hoàn chỉnh để có thể quyết định
một cách thông suốt. (LE FIGARO 1/3/2010)
4/ MỘT VACCIN MỚI CHỐNG
BỆNH ALZHEIMER ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM.
BS NATHALIE SZAPIRO-MANOUKIAN
Ý tưởng đơn giản, nhưng tài tình : vì lẽ peptide
bêta-amyloide bất thường tích tụ và phải phá hủy nó, thế tại sao không
giao phó công việc này cho chính các cơ quan phòng vệ miễn dịch của người
bệnh? Như thế nào? Bằng cách thúc đẩy các tế bào miễn dịch của chính người
bệnh xem peptide bêta-amyloide này như một kẻ thù cần chống lại. Đó chính
là nguyên tắc của thuốc chủng điều trị (vaccin thérapeutique). Hướng của
một vaccin chống lại bệnh Alzheimer đã lên đường từ nhiều năm nay, trải
đầy các thất bại, nhưng cũng mang nhiều niềm hy vọng. Nguyên
tắc của thuốc chủng chống lại bệnh Alzheimer nhằm tiêm một mảnh của protéine
bêta-amyloide, hay chính xác hơn, của những acide aminé vốn là thành phần
của nó. Những tế bào miễn dịch của bệnh nhân khi đó chế tạo những kháng
thể chống lại các acide aminé này rồi những kháng thể này bắt đầu tiêu
hủy các mảng amyloide. Đó là lý thuyết. Bởi vì trên thực tế, hệ miễn dịch
không được lồng lên và các cơ quan phòng vệ miễn dịch không được tấn công
những cấu trúc khác với các mảng amyloide bất thường. Và sau đó sự phá
hủy của các mảng phải được kèm theo một sự cải thiện của các triệu chứng,
nếu không tất cả sẽ chẳng ích lợi gì.
Ý tưởng về một vaccin chống bệnh Alzheimer không phải mới
có từ hôm nay. Một thử nghiệm đầu tiên đã được thực hiện vào năm 2001
nơi những bệnh nhân ở một giai đoạn tiến triển của bệnh. “Sự khảo sát
sau khi chết nơi vài trong số những bệnh nhân này đã cho thấy một sự giảm
đáng kể các mảng amyloide trong não bộ của họ, chứng tỏ rằng mục đích
đầu tiên một phần đã đạt được (sự phá hủy của các mảng), GS Dubois đã
nhắc lại như vậy. Nhưng những đánh giá lâm sàng được thực hiện trước khi
chết đã không cho thấy đủ cải thiện. Và một đáp ứng miễn dịch quá mạnh
mẽ đã gây nên một viêm màng não-não nơi 6% trong số những người này.”
Cuộc thử nghiệm do đó bị đình chỉ.
GIAI ĐOẠN TRẮC NGHIỆM TRONG 6 NƯỚC.
Các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng có lẽ phải tác động hơn nữa trên thượng
nguồn, trước khi não bộ quá bị thương tổn, bởi vì khi các bệnh nhân được
điều trị ở một giai đoạn muộn của bệnh, sự thoái lui của các dấu hiệu
lâm sàng có lẻ khó đạt được hơn...
Một vaccin điều trị mới đã bước vào giai đoạn trắc nghiệm trong 6 nước
(Đức, Áo, Croatie, Pháp, Cộng Hòa Tchèque, Slovaquie) và khoảng 42 bệnh
nhân phải được đưa vào trắc nghiệm. Một giai đoạn thử nghiệm đầu tiên,
được hoàn thành cách nay vài tháng, đã cho thấy rằng vaccin này là an
toàn và được dung nạp tốt. Trái với vaccin đầu tiên, được trắc nghiệm
vào năm 2001 và nhắm vào 42 acide aminé của peptide bêta-amyloide, vaccin
lần này chỉ nhắm vào một phần nhỏ của peptide này (6 acide aminé). Sự
thay đổi đầu tiên này hẳn cho phép làm giảm nguy cơ đáp ứng miễn dịch
quá mạnh. Điểm khác nhau thứ hai so với vaccin đầu tiên: Các bệnh nhân
đã chấp nhận tham gia vào protocole không ở vào một giai đoạn tiến triển
của bệnh, vì thế tất cả hy vọng làm thoái triển các rối loạn còn được
cho phép. Hẹn gặp nhau vào năm 2012 để được biết những kết quả đầu tiên.
(LE FIGARO 3/5/2010) Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr101.htm
(TSYH số 101, bài số 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr100.htm
(TSYH số 100, bài số 3).
5/ CÁC VŨ KHÍ CHỐNG BỆNH TRỨNG
CÁ ĐA DẠNG.
BS SANDRINE CABUT
Các hậu quả tâm lý của căn bệnh trứng cá này thường
không được biết đến.
DERMATOLOGIE. Lối qua gần như bắt buộc ở tuổi thiếu niên (từ 70 đến 80%
các thanh thiếu niên từ 13 đến 25 tuổi bị liên hệ), bệnh trứng cá (acné)
không hẳn là ngoại lệ nơi những người trưởng thành. Gần 20 % những người
từ 25 đến 40 tuổi, nhất là các phụ nữ, có những thương tổn lâm sàng của
bệnh trứng cá, GS Brigitte Dréno (CHU de Nantes) đã nhắc lại như thế nhân
ngày dành cho bệnh lý về da này. Đối với các thầy thuốc và ngay cả những
người có liên quan, chẩn đoán bệnh ngoài da này thường là dễ dàng khi
thấy những chấm đen, các nang nhỏ (microkyste), các sần (papule) và những
mụn mủ (pustule) khác nằm ở mặt và lưng. Điều hiển nhiên khác, bệnh trứng
cá là một bệnh của nang bã-nang lông (follicule pilosébacé), liên kết
một sự tăng tiết của chất bã (sébum) vì thế có da mỡ (peau grasse) và
một nhiễm trùng bởi một vi khuẩn, Propionibacterium acnes.
Tuy vậy, việc giải mã các cơ chế sâu kín của bệnh này tỏ ra phức tạp.
“Đó là một puzzle chưa được kết thúc”, BS Nicole Auffret (Paris) đã đánh
giá như vậy. Đối với bà, bệnh trứng cá phải được xem như là một bệnh miễn
dịch da ở nang bã-nang lông (follicule pilosébacé). “Phần lớn các bệnh
nhân không có các rối loạn kích thích tố. Nồng độ testostérone của họ
bình thường. Vậy các bất thường là ở da”, bà đã nhấn mạnh như thế, đồng
thời nêu làm thí dụ một sự tăng nhạy cảm tại chỗ đối với các thụ thể của
các androgène.
Còn vai trò của chế độ ăn uống, thường được nêu lên bởi các bệnh nhân,
bị bác bỏ bởi phần lớn các thầy thuốc, thì sao? “Cách nay 10 năm, chocolat,
cacahuète, mỡ và đồ ngọt đã được vô can. Nhưng những công trình nghiên
cứu mới đây đã phát động trở lại cuộc tranh luận, GS Jean Revuz (CHU Henri-Mondor,
Créteil) đã đảm bảo như vậy. Việc tiêu thụ sữa rút kem (lait écremé) hay
đường có tác dụng nhanh, một lần nữa bị vạch mặt chỉ tên, trong khi đó
một điều tra của Pháp gợi ý một tác dụng bảo vệ của trái cây và rau xanh.
Nhưng lý lẽ vẫn không đủ để ta có thể quy định một chế độ đặc biệt, GS
Revuz đã kết luận như vậy. Những dữ kiện cũng rất mâu thuẫn về những mối
liên hệ giữa trứng cá và thuốc lá. Thuốc lá có lẽ làm gia trọng bệnh mụn
nơi các phụ nữ trưởng thành.”
CÁC THUỐC ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM.
Các thầy thuốc nhất trí ở một điểm: ngay cả ở mức độ vừa
phải, bệnh trứng cá có thể có một ảnh hưởng không phải là không đáng kể
trên bình diện tâm thần, với cảm giác bị giảm giá (dévalorisation), mất
niềm tin...“Các thương tổn, thấy rất rõ, vạch trần cõi riêng tư của đợt
dậy thì, điều này có thể được cảm nhận một cách âm tính đặc biệt bởi các
cô con gái, BS Nathalie Feton-Danou đã giải thích như vậy. Những công
trình nghiên cứu cho thấy rằng có thể có những khác nhau quan trọng trong
sự cảm nhận giữa các bệnh nhân (đánh giá quá cao mức độ trầm trọng) và
các thầy thuốc. Theo bà, “ảnh hưởng tâm lý cũng có thể quan trọng như
ảnh hưởng tâm lý của một căn bệnh như bệnh đái đường hay bệnh động kinh.”
Một tham số mà các thầy thuốc có lẽ phải xét đến hơn nữa trong việc theo
dõi các bệnh nhân mình, cũng như họ phải báo với các bệnh nhân rằng bệnh
trứng cá là một bệnh lý mãn tính, cần một điều trị dài lâu.
Những thuốc mới (acide laurique, peptides antimicrobiens, antiandrogènes...)
đang được thử nghiệm lâm sàng, phần lớn dùng tại chỗ. Trong lúc chờ đợi,
các thầy thuốc có cả một kho thuốc điều trị vốn đã quan trọng, với những
thuốc dùng tại chỗ và bằng đường tổng quát (các kháng sinh, các điều trị
bằng hormone, rétinoides, các viên thuốc mà chất cơ bản là kẽm...). Tính
hiệu quả của các tia laser, được đề nghị trong các phòng mạch chuyên khoa,
vẫn cần được chứng minh. “Hiện nay không có những protocole chuẩn. Chúng
ta sẽ cần các đánh giá, Diane Berson (Đại học Cornell, Nữu Ước) đã đánh
giá như vậy.
Những thể nghiêm trọng nhất của bệnh ngoài da này, trên nguyên tắc, cần
một điều trị bởi isotrétinoine, một thuốc rất có hiệu quả mà sự kê toa
phải được theo dõi, do các tác dụng phụ nghiêm trọng (trong đó có những
dị dạng thai nhi).
Trong những năm qua, vài trường hợp tự tử nơi những bệnh nhân được điều
trị bởi thứ thuốc này đã có những hậu quả tai hại, GS Pierre Wolkenstein,
chủ tịch của Société française de dermatologie đã phàn nàn như vậy. “Trong
vòng 4 năm, những đơn thuốc sụt giảm 1/3, trong khi những dữ kiện khoa
học về trách nhiệm của thứ thuốc này là rất thấp”, ông lấy làm tiếc như
vậy. (LE FIGARO 19/4/2010)
6/ NHỮNG
ĐIỀU TRỊ MỚI CỦA BỆNH NHẦY NHỚT (MUCOVISCIDOSE) LÀ GÌ ?
BS Harriet Corvol, Pneumopédiatre,
Hopital Trousseau, Paris.
Mucoviscidose là một bệnh di truyền, được truyền
cùng nhau bởi bố mẹ, gây bệnh cho khoảng 6.000 người ở Pháp. Gène gây
bệnh (CFTR) được khám phá cách nay 21 năm, mã hóa cho một protéine màng
tế bào để kiểm soát sự trao đổi của nước và các muối (sodium, potassium,
chlore…) giữa tế bào và bên ngoài tế bào. Những bất thường của gène CFTR
khác nhau tùy theo các bệnh nhân và sẽ được thể hiện hoặc bởi một sự ngưng
chế tạo protéine sớm (15% các bệnh nhân) ; hoặc bởi sự thoái hóa của protéine
này (70% các bệnh nhân) ; hoặc bởi sự loạn năng của nó (15% các bệnh nhân).
Những bất thường này dẫn đến sự làm đặc của niêm dịch lót các phế quản
và các ống của tụy tạng, làm dễ các nhiễm trùng phổi và các rối loạn tiêu
hóa.
Hiện nay, không có một điều trị nào cho phép chữa lành
bệnh nhầy nhớt (mucoviscidose) cả, nhưng những tiến bộ quan trọng trong
điều trị đã cho phép một sự cải thiện rõ rệt tỷ lệ sống còn của các bệnh
nhân ; hy vọng sống đối với những đứa trẻ sinh hôm nay là 46 năm, trong
khi hy vọng này gần 20 năm trong những năm 1980. Những tiến bộ này chủ
yếu liên hệ đến điều trị triệu chứng (kháng sinh liệu pháp, khí dung liệu
pháp) ; nhưng những điều trị mới đang được phát triển để thử điều trị
căn bệnh.
Từ khi nhận diện gène CFTR, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện
để thử thay thế gène khiếm khuyết bằng một gène lành mạnh (liệu pháp gène
: thérapie génique). Bất hạnh thay, những kết quả vẫn gây thất vọng và
hiện nay, chỉ một công trình nghiên cứu đang được tiến hành. Trái lại,
những kết quả rất đáng phấn khởi được quan sát đối với những thứ thuốc
nhằm điều trị không phải gène mà là protéine khiếm khuyết (thérapie protéique).
Những liệu pháp này khác nhau tùy theo loại bất thường của gène CFTR.
Đối với các bất thường di truyền được thể hiện bởi một sự ngưng sớm chế
tạo protéine, một thứ thuốc dùng bằng đường miệng và được dung nạp tốt
cho phép tái lập chức năng của protéine bị biến đổi. Các kết quả đáng
phấn khởi đầu tiên đã cho thấy sự bình thường hóa của sự tiết chlore nơi
nhiều bệnh nhân, trưởng thành và trẻ em. Lợi ích của nó lên chức năng
hô hấp, các nhiễm trùng phổi hay chất lượng đời sống của các bệnh nhân
đang được đánh giá
Đối với những bất thuờng di truyền dẫn đến một sự
thoái hóa quá mức của protéine, hai điều trị đang được đánh giá. Một thứ
thuốc thứ nhất, được dùng bằng đường miệng, đã được nghiên cứu ở Hoa Kỳ
và cho phép, với một sự dung nạp tốt, bình thường hóa sự tiết chlore,
những tham số khác được đo trong lúc phân tích. Một loại thuốc thứ hai
cũng thu được những kết quả đầy hứa hẹn trên các canh cấy tế bào (in vitro),
nhưng những kết quả của công trình nghiên cứu được thực hiện trên những
bệnh nhân ở Bỉ còn đang được chờ đợi. Thuốc này, có lợi điểm là đã được
biết, bởi vì đã được cho nơi những bệnh nhân bị một bệnh hiếm khác, bệnh
Gaucher.
Đối với những bất thường gây nên một loạn năng của protéine,
một thứ thuốc khác được trắc nghiệm. Một công trình nghiên cứu so sánh
với placebo đã cho thấy sự tiết của chlore được phục hồi và nhất là một
lợi ích đáng kể lên chức năng hô hấp. Sau hết, những kết quả đáng phấn
khởi này đã cho phép dự kiến một công trình nghiên cứu sẽ được bắt đầu
vào lục cá nguyệt thứ hai của năm 2010, nhằm trắc nghiệm tác dụng phối
hợp của thuốc này kết hợp với một trong những thứ thuốc làm giới hạn một
sự thoái hóa quá mức của protéine, để làm tăng cường tác dụng của protéine
được phục hồi. Sự tăng cường tác dụng này đã được chứng tỏ bởi những công
trình nghiên cứu in vitro. (LE FIGARO 6/4/2010)
Đọc thêm :
http://yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr84.htm
(TSYH so 84, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr133.htm
(TSYH số 133, bài số 8)
7/ MỘT MỐI LIÊN HỆ GIỮA BỆNH ĐÁI
ĐƯỜNG VÀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ?
Sự thiếu hụt insulin gây nên những rối loạn nhận thức.
Trong một công trình nghiên cứu được trình bày vào tháng ba năm 2009 ở
Hội nghị quốc tế nghiên cứu về bệnh tâm thần phân liệt, các nhà nghiên
cứu của các đại học Barcelone (Tâu Ban Nha) và của Maryland (Hoa Kỳ) xác
nhận rằng có một mối tương quan giữa bệnh tâm thần phân liệt và bệnh đái
đường.
Thật vậy họ đã khám phá rằng, 16% những người được theo dõi cho công trình
nghiên cứu này, mới đây đã nhận một chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt
hay những rối loạn tâm thần và không có những yếu tố nguy cơ khác được
biết đối với bệnh đái đường, đã bị bệnh đái đường hay có một chuyển hóa
bất bình thường của glucose. Khi đó các tác giả đã đi đến kết luận rằng
bệnh tâm thần phân liệt và bệnh đái đường cùng chia xẻ những yếu tố nguy
cơ môi trường hay di truyền.
Hôm nay, các nhà nghiên cứu của Centre médical của đại học Vanderbilt
(Hoa Kỳ) đã cho thấy một mối liên hệ phân tử giữa một sự khiếm khuyết
của cơ chế tác dụng của insuline và những hành vi tâm thần phân liệt nơi
các con chuột. Các kết quả của công trình nghiên cứu của họ được công
bố trong tạp chí PloS Biology. Aurelio Galli, một trong những tác giả
của công trình nghiên cứu này, là một trong những nhà khoa học đầu tiên
cho thấy rằng insuline, kích thích tố điều hòa chuyển hóa đường trong
cơ thể, cũng điều hòa dự trữ dopamine trong não bộ. Chất dẫn truyền thần
kinh này đặc biệt được biết do vai trò của nó trong hoạt động vận động,
sự chú ý và vòng khen thưởng (circuit de la récompense).
NHỮNG CON CHUỘT RẤT BỊ XÁO TRỘN.
Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển các
con chuột, ở chúng protéine Akt của các neurone bị khiếm khuyết. Protéine
này, vì cần thiết cho sự vận chuyển của insuline vào bên trong các neurone,
do đó những tế bào thần kinh này bị thiếu kích thích tố insuline. Sau
đó Aurelio Galli và các đồng nghiệp đã quan sát thấy rằng các con chuột
thí nghiệm bị những bất thường hành vi gần giống với những bất thường
của các bệnh nhân tâm thần phân liệt. Ngoài ra, họ cũng đã chứng thực
rằng não bộ của các con chuột gậm nhấm có những nồng độ dopamine bị giảm
và nồng độ của norépinéphrine (chất dẫn truyền thần kinh khác) tăng cao,
trong vùng có liên hệ trong quá trình nhận thức. Tiếp theo là một effet
boule de neige : protéine có nhiệm vụ loại bỏ các chất dẫn truyền thần
kinh dư thừa nơi các tiếp hợp thần kinh của các neurone “quét dọn” không
phân biệt dopamine và norépinéphrine hiện diện trên bước đường đi của
nó. Kết quả : vỏ não trong tình trạng giảm dopaminergique và những rối
loạn nhận thức và các triệu chứng khác của bệnh tâm thần phân liệt xuất
hiện. Theo các nhà nghiên cứu, khám phá mới này, tạo mối liên hệ giữa
tác dụng của insuline và các nồng độ của dopamine, mang lại một hướng
điều trị mới chống lại bệnh tâm thần phân liệt. (LE
SOIR 9/6/2010)
8/ CAI THUỐC LÁ : NHỮNG
HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ THEO TỪNG CÁCH
BS Agnès Bellocq, thầy thuốc chuyên
khoa phổi bệnh viện Tenon (Paris), chủ tịch của réseau Récup’air, giải
thích chương trình phục hồi chức năng hô hấp của mạng lưới Récup’air cho
những người đang hút hay đã từng hút thuốc.
Hỏi : Bắt đầu từ
sự tiêu thụ thuốc lá nào các lá phổi bị đe dọa ?
BS Agnès Bellocq : Có một sự không đồng đều trước những
hậu quả tai hại của thuốc lá. Nhưng trong đại đa số các trường hợp, các
biến chứng phổi được thể hiện sau 20 đến 30 năm nhiễm độc thuốc lá (tabagisme).
Hỏi : Những triệu
chứng đầu tiên phải được báo động là gì ?
BS Agnès Bellocq : Sự viêm mãn tính của các phế quản gây
nên hai triệu chứng : ho có đờm (toux grasse) và khó thở lúc gắng sức
trầm trọng dần.
Hỏi : Đối
với những người hút thuốc thâm niên này, những nguy cơ với thời gian là
gì ?
BS Agnès Bellocq : Một trong những nguy cơ là phát triển một bệnh phế
quản, phần lớn không đảo ngược được : bệnh tắc phế quản-phổi mãn tính
(BPCO : broncho-pneumopathie chronique obstructive). Kết hợp với tình
trạng viêm của các phế quản này là những thương tổn khí phế thủng (emphysème),
gây nên một sự phá hủy vĩnh viễn các phế nang. Nguy hiểm khác cũng rất
quan trọng của thuốc lá đối với phổi là ung thư, ở Pháp giết chết hơn
25.000 người mỗi năm.
Hỏi : Làm
sao có thể thuyết phục những người hút thuốc ngưng hút và ghi tên vào
chương trình phục hồi hô hấp của bà ?
BS Agnès Bellocq : Lần mạn đàm đầu tiên của tôi
là không bắt chuyện người hút thuốc đồng thời quy tội người này, mà làm
cho người nghiện thuốc nhận thức được những tổn hại của thuốc lá, trong
đó có sự mất cơ, sự biến đổi của những chức năng hô hấp và tim. Người
ta giải thích với anh/chị ta rằng anh /chị ta có thể thay thế điều mà
anh/chị ta gọi là “ lạc thú ” của thuốc lá bằng một phương pháp thoải
mái mang lại bởi những luyện tập vật lý và hô hấp thích ứng, khiến người
hút thuốc cải thiện các năng lực của mình. Tác dụng, được gây nên bởi
các endorphine được tiết ra trong những buổi tập luyện này, có thể thay
thế một cách có lợi những tác dụng lên não bộ của nicotine. Những người
ghi tên vào những chương trình phục hồi hô hấp này thường mô tả một cảm
giác dương tính gần giống với cảm giác được cảm nhận bởi các vận động
viên thể thao.
Hỏi : Protocole những
hoạt động vật lý của chương trình phục hồi hô hấp của bà để giúp những
người hút thuốc giải độc là gì ?
BS Agnès Bellocq : Trước hết phải xác nhận rằng mạng lưới
ile-de-France (liên kết các thầy thuốc chuyên khoa phổi, các thầy thuốc
gia đình, các thầy thuốc liệu pháp vận động, các thầy thuốc chuyên khoa
tâm lý, các chuyên viên về nghiện thuốc lá,...) chỉ đảm trách những bệnh
nhân bị một khiếm khuyết hô hấp, kể cả ở mức độ vừa phải. Protocole hoạt
động được quy định bởi thầy thuốc gia đình của bệnh nhân và thich ứng
theo từng trường hợp. Mỗi ứng viên, để bắt đầu, phải chịu những xét nghiệm
khác nhau trong một phòng xét nghiệm thăm dò chức năng. Bilan cho phép
phát hiện vấn đề tim-mạch nhỏ nhất và định mức luyện tập vật lý. Các bệnh
nhân sau đó được huớng về các thầy thuốc liệu pháp vận động, được đào
tạo bởi Récup’air, gần nơi mình trú ngụ nhất. Thời kỳ thực tập gồm hai
hay 3 buổi mỗi tuần trong khoảng 3 tháng. Thời kỳ thực tập này thường
gồm có những buổi luyện tập cơ, đạp xe đạp, bước trên thảm lăn (marche
sur tapis roulant) và những thời kỳ phục hồi trong đó thầy thuốc vận động
liệu pháp “giáo dục” bệnh nhân bằng cách dạy cho người này quản lý tình
trạng thiếu hụt hô hấp và chống lại sự thèm hút.
Hỏi : Người
ta đã đánh giá các lợi ích của những buổi thực tập này như thế nào ?
BS Agnès Bellocq : Các kết quả của 23 công trình nghiên cứu trên hơn 1.000
bệnh nhân mang bệnh tắc phế quản-phổi mãn tính (BPCO), phần lớn là những
người đã hút thuốc, đã được quy tụ lại. Những tác dụng dương tính là không
thể chối cãi được : một sự giảm nhiều của triệu chứng khó thở, một sự
cải thiện rõ rệt các năng lực gắng sức và một sự cải thiện của chất lượng
sống. (PARIS MATCH 10-16/6/2010)
9/ BỆNH BASEDOW.
Tài liệu y học đã quên tiểu từ của thầy thuốc người Đức Karl Adolph von
Basedow, sinh ở Dessau năm 1799, là nơi cha ông từng là một ủy viên hội
đồng thành phố. Mặc dầu tốt nghiệp Đại học Halle, nhưng chính ở Merseburg
là nơi ông hành nghề y khoa ngay lúc mới 23 tuổi. Ông cưới vợ khi còn
trẻ và trở nên y sĩ trưởng của thành phố cho đến khi ông qua đời, vì bị
nhiễm trùng huyết mà ông mắc phải khi phẫu tích tử thi một xác chết. Khi
mất ông chỉ mới 55 tuổi.
Vào thời đó, mặc dầu rất nổi tiếng do những tài liệu xuất bản và những
thành công ngoại khoa của ông, nhưng hiện nay chúng ta chỉ đề cập về bệnh
bướu giáp lồi mắt cường tuyến giáp (goitre exophtalmique hyperthyroidien),
mà ông mô tả vào năm 1840. Ông đề nghị tam chứng Merseburger của bệnh
tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) : lồi mắt (exophtalmie), bướu giáp
(goitre) và hồi hộp. Trong các nước anglo-saxon, thay vì bệnh Basedow,
người ta ưa dùng chữ đồng nghĩa “Maladie de Graves” hơn. Graves là thầy
thuốc Ái Nhĩ Lan, đã mô tả ngay từ năm 1835 sự hoạt năng quá mức của tuyến
giáp trạng. Tuy nhiên Von Basedow thêm vào bệnh cảnh của người đồng nghiệp
của mình sự mất cân và sự mô tả các thể tích khác nhau của tuyến giáp.
Ông cũng đề nghị một điều trị dựa trên nước khoáng chứa bromure và iodure.
Iode không phải là một ý tưởng hoàn toàn mới: chất này đã được sử dụng
từ năm 1820, đặc biệt ở Thụy Sĩ, để điều trị tuyến giáp trạng. Tên Basedow
được liên kết một cách chính thức với căn bệnh 4 năm sau khi ông mất.
Tên ông cũng được dùng để chỉ chứng tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie)
khi nói về hiện tượng Jod-Basedow, cũng được biết như là “tác dụng Jod-Basedow”.
Ông mô tả sự gây nên một nhiễm độc tuyến giáp (thyréotoxicose) nơi một
người lành mạnh khi được tiếp xúc với những liều lượng mạnh iodure. Ở
đây không phải là một sự liên kết của hai tên, bởi vì không có Dr Jod
: Jod tiếng Đức có nghĩa là iode. Sau cùng, cần ghi chú rằng người ta
vẫn còn nói “hôn mê Basedow” (coma de Basedow), một hôn mê do nhiễm độc
tuyển giáp (coma thyréotoxiqe), và “hội chứng nhãn cầu Basedow” (syndrome
oculaire de Basedow) liên quan đến sự co rút một bên của mí mắt trên trong
vài trường hợp tăng năng tuyến giáp. (GENERALISTE 17/6/2010)
10/ PARKINSON : HƯỚNG
VỀ NHỮNG LIỆU PHÁP CHƯA TỪNG CÓ.
NHỮNG ĐIỂM MỐC
NHỮNG CON SỐ. Ở Pháp, khoảng 150.000 người
bị bệnh Parkinson, trong đó 140.000 người được điều trị như là bệnh kéo
dài (affection de longue durée). Bệnh thường bắt đầu giữa 55 và 65 tuổi,
nhưng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.
CÁC TRIỆU CHỨNG. Khởi đầu thường từ từ, bệnh Parkinson có thể bắt đầu
bằng một triệu chứng run lúc nghỉ ngơi, khu trú ở một bàn tay. Triệu chứng
khởi đầu cũng có thể là một vướng víu vận động của một chi, với đau, cứng,
khó khăn đối với những cử động tinh tế tự ý. Những triệu chứng vật lý
thường gặp nhất là táo bón (70%), khó khăn khi viết (65%) khi mặc quần
áo (48%), bước dậm chân tại chỗ (48%)...Những rối loạn hành vi và loạn
tâm thần hiện diện trong đa số các trường hợp. Hơn một bệnh nhân trên
hai bị những biến chứng liên quan với điều trị, đặc biệt là những thay
đổi đột ngột tính hiệu quả (tác dụng on-off).
MÔI TRƯỜNG. Trong lúc so sánh 224 bệnh nhân Parkinson với 557 người chứng,
nhóm nghiên cứu của Alexis Elbaz (Inserm) đã cho thấy rằng nguy cơ bị
bệnh Parkinson gia tăng gấp đôi nơi những nông gia tiếp xúc với các thuốc
trừ sâu. Các công trình nghiên cứu khác cũng đi theo cùng chiều hướng.
“Sự liên kết đặc biệt liên hệ đến các thuốc trừ sâu, và chính xác hơn
là các organophosphorés. Các thuốc này đã được hủy bỏ trong phần lớn các
quốc gia những vẫn có thể tồn tại trong nhiều năm trong môi trường và
cơ thể”, nhà nghiên cứu đã xác nhận như thế. Bệnh Parkinson đã được công
nhận như là bệnh nghề nghiệp nơi 3 nông gia ở Pháp. Ngược lại, vì những
lý do gì không được biết rõ, thuốc lá lại liên kết với một sự giảm 40%
nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Tác dụng của những yếu tố môi trường này có
thể được điều biến bởi thể trạng di truyền.
Công cuộc nghiên cứu bùng nổ : những thuốc mới, liệu pháp gène và tế bào
(thérapie génique et cellulaire).
NEUROLOGIE. Những người bệnh Parkinson buộc phải làm những cử động tự
ý suốt đời, Charcot, thầy thuốc thần kinh nổi tiếng của Pháp, người đã
mệnh danh là bệnh Parkinson vào năm 1872, đã nói như vậy. Gần một nửa
thế kỷ sau, những triệu chứng của những người bị bệnh Parkinson có thể
được làm thuyên giảm ; nhưng bệnh Parkinson, chủ yếu do một sự thoái hóa
của các neurone à dopamine, vẫn không được chữa lành. Để chống lại những
thương tổn neurone, thậm chí ngăn ngừa chúng, nhiều đường hứa hẹn đã được
thăm dò : thuốc men, các liệu pháp gène và tế bào (thérapies génique et
cellulaire) sự kích thích điện những vùng của não bộ.
Song hành, các nhà nghiên cứu cố gắng làm sáng tỏ những cơ chế sâu kín
giải thích sự chết của những tế bào thần kinh và nhận diện những thể khác
nhau của bệnh. Các thuốc hiện có, được gọi là dopaminergique, cải thiện
sinh hoạt hàng ngày của các bệnh nhân, nhưng những tác dụng phụ của chúng
có thể rất gây trở ngại. L-dopa đặc biệt gây nên những tác dụng on-off
(tính hiệu quả bị dao động đột ngột) và những cử động bất thường. Còn
về những chất chủ vận dopaminergique mới đây hơn, chúng đã tỏ ra, trong
những trường hợp đôi khi nguy kịch, có khả năng gây nên những hành vi
nghiện ngập : các trò chơi, mua sắm, tình dục... Ngoài ra, những thứ thuốc
này không tác dụng lên nguyên nhân cũng như lên sự tiến triển của các
thương tổn. Tuy nhiên, cách nay vài tháng một công trình nghiên cứu Pháp-Mỹ
đã gợi ý rằng rasagiline, một loại thuốc mới, có thể làm chậm lại sự tiến
triển của bệnh Parkinson. “Đó là một thuốc mới quan trọng, khiến tôi kê
đơn sớm hơn, GS Pierre Césaro (Bệnh Viện Henri Mondor, Créteil) đã bình
luận như vậy. Ngoài ra thật hứng thú khi đánh giá những tác dụng của thuốc
này nơi những bệnh nhân có nguy cơ nhưng chưa phát bệnh Parkinson.” Thật
vậy, theo thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, các rối loạn vận động có thể
được đi trước, nhiều năm trước đó, bởi những triệu chứng như mất khứu
giác, một sự bón nặng hay những bất thường của giấc ngủ nghịch lý. Những
thuốc phòng ngừa cũng được hoan nghênh trong các thể gia đình, di truyền
của bệnh Parkinson.
KÍCH THÍCH TUỶ SỐNG.
Một thách thức khác đối với các nhà nghiên cứu là
tác động lên các rối loạn của tư thế (troubles de la posture), của bước
đi, của sự diễn đạt, những thương tổn của các cơ vòng (sphincter)…, những
triệu chứng rất gây phế tật, nói chung, xuất hiện sau từ 10 đến 20 năm
tiến triển của bệnh. Những dấu hiệu được gọi là trục (signes axiaux) này,
hiện diện nơi 90% các bệnh nhân, không phải do một sự thiếu hụt dopamine,
GS Yves Agid, người phụ trách khoa học của Viện não bộ và tủy sống đã
nhấn mạnh như vậy. Vậy chúng không đáp ứng với các loại thuốc cũng như
sự kích thích vùng sâu não bộ.” Được thực hiện từ năm 1933, trong những
chỉ định rất được chọn lọc, kỹ thuật ngoại khoa nặng nề này nhằm kích
thích một vùng nhỏ nằm sâu trong não bộ (các nhân dưới đồi thị), để chống
lại triệu chứng run, cứng và các rối loạn vận động. Ở Pháp từ 3.000 đến
3.500 các bệnh nhân Parkinson đã được hưởng kỹ thuật này.
Các chuyên gia tìm cách xác định những đích khác. Vài nhóm
nghiên cứu, đặc biệt là ở Pháp, nghiên cứu những tác dụng của sự kích
thích một nhân nằm sâu (được gọi là pediculopontin), có liên hệ trong
tư thế và bước đi. Nhưng những kết quả, thu được trên một số còn hạn chế
các bệnh nhân, vào giờ phút này là mâu thuẫn, theo GS Jean-Philippe Azulay
(CHU de Marseille). Mặt khác một công trình nghiên cứu đang được tiến
hành để đánh giá sự kích thích của tủy sống. Rất hứa hẹn trên các mô hình
động vật của bệnh Parkinson, phương pháp này có ưu điểm dễ dàng hơn về
mặt kỹ thuật và nhẹ nhàng hơn kỹ thuật kích thích vùng sâu não bộ (stimulation
cérébrale profonde).
Về những liệu pháp gène và tế bào (thérapie génique et
cellulaire), chúng đang trong những giai đoạn nghiên cứu ít tiến triển
hơn. Một liệu pháp gène với ba gène, “là toàn chuỗi chế tạo của dopamine”,
theo GS Cesaro, được trắc nghiệm nơi vài bệnh nhân ở Créteil. Ngược lại,
nhà chuyên gia này tỏ ra hoài nghi về tương lai của các liệu pháp tế bào,
nhất là những công trình mới đây cho thấy rằng những neurone được ghép
trở thành Parkinson sau nhiều năm. Như thế là bệnh được lan truyền dần
dần, như một nhiễm trùng. Một chướng ngại khó có thể vượt qua được, theo
Pierre-Marie Lledo, thuộc viện Pasteur. Đối với nhà nghiên cứu này, đã
từng thành công tái chương trình hóa các tế bào hốc neurone trưởng thành
thành các neurone à dopamine, chìa khóa của sự thành công là ở chỗ đúng
thời điểm : “Bằng cách can thiệp vào thời điểm thích hợp, ta có thể quyết
định định mệnh của các tế bào và làm chủ thời gian sống của chúng.” (LE
FIGARO 12/4/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (28/6/2010)
TAGS: Suy tim, Các bệnh tim mạch, Nhồi
máu cơ tim, Thương tổn động mạch vành, Cao huyết áp, Loạn năng của các
van tim, Suy tâm thu, Suy tâm trương, Thương tổn của các van tim, Cao
huyết áp, Đái đường, Chứng béo phì, Thuốc lá, BNP, Siêu âm tim, Remodelage,
IEC (inhibiteurs de l’enzyme de conversion), Bêtabloquants, Resynchronisation
cardiaque, Sartans, Resynchronisation cardiaque, Thuốc ngừa thai (pilule),
Thuốc dán (patch), Vòng âm đạo (anneau vaginal), Kết hợp œstrogène-progestatif,
Implant (Implanon), DIU (dispositif intra-utérin), Stérilet, Thụ thai
trong ống nghiệm, Vaccin chống Alzheimer, Peptide bêta-amyloide, Bệnh
trứng cá (acné), Propionibacterium acnes, Acide laurique, Antiandrogènes,
Peptides antimicrobiens, Mucoviscidose, CFTR, Bệnh tâm thần phân liệt
và bệnh đái đường, Cai thuốc lá, Bệnh tắc phế quản-phổi mãn tính (BPCO
: broncho-pneumopathie chronique obstructive), Emphysème, Maladie de Graves,
Bệnh Parkinson, Pediculopontin, Kích thích vùng sâu não bộ (stimulation
cérébrale profonde), Bệnh Basedow, Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |