 |
Thời
Sự Y Học số 179
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ THUỐC KÉO DÀI
TUỔI THANH XUÂN CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ TRÊN THỊ TRƯỜNG?
Nhờ công trình nghiên cứu trên các lão niên, một nhà nghiên cứu người
Anh đảm bảo rằng chính gia sản di truyền (patrimoine génétique), trước
hết, quyết định chúng ta có sẽ trở nên già không bệnh tật hay không và
chúng ta sẽ sống bao lâu. Nhà nghiên cứu này đang nghiên cứu để hiệu chính
một viên thuốc có khả năng kéo dài tuổi thọ của chúng ta thêm khoảng 30
năm nữa.
Việc xuất hiện một dân số cực kỳ già chỉ mới cách nay khoảng 50 năm. Điều
này là do những tiến bộ trong các lãnh vực y tế, lối sống, dinh dưỡng
và môi trường, nhưng chủ yếu là do có vài loại gène bảo vệ (gène protecteur)
làm chậm lại sự xuất hiện của những bệnh lý có liên quan với sự lão hóa,
như các bệnh tim mạch, bệnh Alzheimer hay bệnh đái đường. Đó là điều được
khám phá bởi Nir Barzilai, giám đốc của Viện lão hóa ở Collège de médecine
Albert-Einstein de New York, trong lúc nghiên cứu 500 người Do Thái Hoa
Kỳ tuổi từ 95 đến 112.
CÁC GENE BẢO VỆ.
Theo chuyên gia người Anh này, lối sống của các bách niên không đủ để
giải thích thời gian sống đặc biệt của họ, cũng như tại sao họ chết trong
tình trạng sức khoẻ tốt. Mặt khác, trong công trình nghiên cứu của ông,
những người bách niên tất cả không phải là những kiểu mẫu của cuộc sống
lành mạnh. Trái lại là khác. “Những người này đã hút thuốc, đã ăn những
sản phẩm mỡ hay đường, lên cân, và có một nồng độ cholestérol tăng cao”,
ông đã chỉ rõ như vậy, đồng thời xác nhận rằng 1/3 bị béo phì và rằng
30% vẫn bị nghiện nicotine cho đến tuổi 95.
“Những người đạt đến một lứa tuổi cao trước hết nhờ vào sự chương trình
hóa di truyền của họ (programmation génétique), họ được bảo vệ chống lại
môi trường nhờ génotype của họ và nhiên hậu khi họ chết, họ chết vì cùng
nguyên nhân đối với những người khác, trừ phi điều đó xảy ra 30 năm sau”,
sau đó ông đã giải thích như vậy trước Royal Society of London for the
Improvement of Natural Knowledge, tương đương với Viện hàn lâm khoa học
ở Pháp, là nơi ông đã đọc một bài diễn văn với đề tài : “Làm rối loạn
sự lão hóa để điều trị những bệnh của cao tuổi.”
MỘT LOẠI THUỐC TRONG 5 ĐẾN 10 NĂM NỮA ?
Sau khi đã nhận diện một số nào đó trong số những gène nổi tiếng tạo nên
sự trường thọ quá mức (một trong những gène này làm gia tăng sự sản xuất
“cholestérol tốt” trong cơ thể, cholestérol làm giảm nguy cơ bị các bệnh
và các nhồi máu cơ tim, và một trong những gène này ngăn ngừa bệnh đái
đường), Barzilai và nhóm nghiên cứu của ông hiện đang làm việc để chế
tạo những loại thuốc mang lại cùng những bảo vệ di truyền. Những thử nghiệm
lâm sàng đầu tiên có thể bắt đầu từ nay đến 2012 và một loại thuốc có
thể được đưa ra thị trường “trong 5 đến 10 năm nữa”, vị giáo sư người
Anh đã loan báo như vậy. “Các bệnh nhân sẽ uống một viên thuốc bắt đầu
từ 40 tuổi, và cuộc sống của họ sẽ được kéo dài, cho đến thêm 30 năm nữa”.
Khám phá thuốc kéo dài tuổi thanh xuân (élixir de jeunesse) : Nir Barzilai
không hẳn là người duy nhất đã lao mình vào hướng này. Trong hội nghị
được tổ chức mới đây bởi Royal Society, có nhan đề là “Đảo ngược thời
gian” (Turning back the lock, Inverser le temps), các nhà nghiên cứu chỉ
rõ đã nhận diện ít nhất 10 biến dị di truyền cho phép kéo dài một nửa
thời gian sống của các con chuột. Nhiều trong số những biến dị này được
liên kết với sự trường thọ nơi người. Chúng bao gồm một lớp các enzyme,
sirtuine, mà ta thường gặp nơi các bách niên hơn là trong phần còn lại
của dân số.
Những yếu tố di truyền khác ảnh hưởng lên sự sản xuất của các kích thích
tố tăng trưởng (hormone de croissance) và các IGF (insulin-like growth
factors, những yếu tố tăng trưởng mà cấu trúc và cách tác dụng giống với
insuline). Nhưng có thể có một chuyển hóa nhanh hơn có khuynh hướng chết
sớm hơn. Một giải pháp để làm chậm lại sự lão hóa là làm chậm lại sự chuyển
hóa bằng cách phong bế các thụ thể của các kích thích tố tăng trưởng và
các IGF. Proteostasis, một xí nghiệp sinh kỹ thuật học của Massachusetts,
nghiên cứu khả năng này bằng cách sử dụng các IGF như là những đích khả
dĩ của các thứ thuốc chống lại sự lão hóa.
LÀM CHẬM LẠI, KHÔNG LÀM ĐẢO NGƯỢC.
Để kích thích các đầu tư vào các phương thuốc làm hoãn lại sự xuất hiện
của một loạt các bệnh liên kết với cao tuổi, Nir Barzilai đã yêu cầu các
giới hữu trách như FDA của Hoa Kỳ công nhận sự lão hóa như là một căn
bệnh riêng biệt. “Chống lại một căn bệnh liên kết với tuổi già chẳng lợi
ích gì, bởi vì, vào cùng lúc, bệnh nhân có nguy cơ phát triển một căn
bệnh khác. Sự già cả phải được xem như là một tổng thể và phải được chống
lại với tính cách như thế để con người có thể trở nên bách niên mà không
bị nhiều thứ bệnh và phải phụ thuộc vào những kẻ khác để sống còn.”
Mục tiêu của giáo sư Barzilai là đầy tham vọng, nhưng ông không làm ngạc
nhiên nhà di truyền học nổi tiếng của Pháp Axel Kahn. “Chúng ta đã bước
vào một giai đoạn điều trị sự lão hóa bằng cách nhận diện những thứ thuốc
có khả năng tái tạo những thông điệp di truyền (messages génétiques)”,
ông đã tuyên bố như vậy. “Nhưng đó không thể là viên thuốc hồi xuân (pilule
de jouvence), mà đúng là những thứ thuốc để kềm hãm lại sự lão hóa.”
Đối với Jean-Marie Robine, nhà nhân khẩu học của Inserm, “Thật là không
lương thiện khi nói rằng chúng ta sẽ sống thêm được vài chục năm bằng
một thứ thuốc trong khi các tiến bộ trong công cuộc chống ung thư lại
được tính bằng những ngày rồi bằng những tuần lễ.” Dẫu sao chăng nữa,
mặc dầu sự lão hóa là không thể đảo ngược được, các nhà khoa học đều nhất
trí nói rằng sự lão hóa này có thể được làm chậm lại và rằng càng ngày
chúng ta càng tiến gần đến những điều trị có khả năng giúp chúng ta sống
tốt hơn và dài lâu hơn. (LE JOURNAL DU MEDECIN 4/6/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr155.htm
(TSYH 155, bài số 4)
2/ CHÂM CỨU KÍCH THÍCH SỰ TIẾT
CỦA MỘT CHẤT CHỒNG ĐAU.
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ phát hiện tác dụng chống đau của
y học cổ truyền này.
NEUROSCIENCE. Châm cứu làm cho đỡ đau trong các cơ bởi vì nó làm dễ sự
phóng thích một phân tử tự nhiên, adénosine, có những tác dụng giảm đau,
theo một công trình nghiên cứu được công bố mới đây trên site Internet
của tạp chí Anh Nature Neuroscience.
Thầy thuốc chuyên khoa thần kinh Hoa Kỳ Malken Nedergaard, thuộc Trung
tâm y khoa của Đại học Rochester và nhóm nghiên cứu của ông, đã thực hiện
khám phá tuyệt vời này lúc tiến hành một thí nghiệm trên các con chuột
bị đau ở một cẳng chân.
Các động vật gặm nhấm đã chịu một điều trị châm cứu cổ điển trong 30 phút,
bằng những chiếc kim mảnh, được cắm vào trong một điểm gần đầu gối, điểm
Zusanli và những người làm thí nghiệm quay nhẹ những chiếc kim này mỗi
5 phút. Các tác giả của công trình nghiên cứu sau đó đã chứng thực rằng
sự đau đớn được làm giảm 2/3 và rằng nồng độ adénosine trong các mô chung
quanh các mũi kim là 24 lần tăng cao hơn so với trước khi điều trị. Đảo
lại, châm cứu không có tác dụng trên các con chuột mà người ta đã lấy
đi các thụ thể đối với adénosine. Ngoài ra, một sự gia tăng nồng độ adénosine
nơi vùng đau đớn cho phép làm giảm sự đau đớn của các động vật, ngay cả
không châm cứu. Sau cùng, các con chuột được cho deoxycoformycine, thứ
thuốc có khả năng làm chậm lại sự biến mất của adénosine trong cơ, đã
được hưởng các hiệu quả của châm cứu 3 lần lâu hơn.
MỘT NỀN Y HỌC 4000 NĂM.
“Từ 4000 năm nay, châm cứu là cơ sở của y học của vài nơi trên thế giới
nhưng vì ta không hiểu hoàn toàn châm cứu hoạt động như thế nào nên nhiều
người vẫn tỏ ra hoài nghi”, BS Nedergaard đã giải thích như thế.
Những công trình nghiên cứu này, trong khi chứng tỏ tác động của châm
cứu lên hệ thần kinh ngoại biên, bổ sung điều mà chung ta đã biết về những
tác dụng của nó lên hệ thần kinh trung ương, ở đây châm cứu kích thích
não bộ sản xuất hàng loạt các endorphine, những chất chống đau tự nhiên.
“Rõ ràng là châm cứu có thể hoạt hóa cả một loạt các cơ chế khác nhau”,
Josephine Briggs, giám đốc của Trung tâm quốc gia y học bổ sung và thay
thế (Centre national de médecine complémentaire et alternative) ở National
Institute of Health (NIH) đã ghi nhận như vậy. Công trình nghiên cứu này,
được trình bày nhân hội nghị khoa học, Purines 2010, đã kết thúc hôm qua
ở Barcelone. (LE FIGARO 3/6/2010)
3/ TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ LÊN MẬT
ĐỘ XƯƠNG : CAFEINE CÓ HẠI ĐỐI VỚI CỘT SỐNG
Theo một công trình nghiên cứu Mễ Tây Cơ, cà phê ảnh hưởng một cách âm
tính lên khối lượng xương (masse osseuse) của các thân đốt sống.
Vài công trình nghiên cứu đã gợi ý một mối liên hệ nghịch giữa sự tiêu
thụ caféine và khối lượng xương, nhưng những kết quả của các công trình
này mâu thuẫn nhau. Nhóm nghiên cứu của BS Eduardo Barreira-Mercado (Universidad
Autonoma de Querataro, Mexique) đã đánh giá những nguy cơ của một sự tiêu
thụ mãn tính cà phê nơi các phụ nữ. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện một cuộc
khảo sát nghiên cứu một mối liên kết khả dĩ giữa việc tiêu thụ caféine
và khối lượng xương, nơi các phụ nữ thành thị, tuổi từ 35 đến 50. Sự liên
kết giữa việc tiêu thụ caféine và khối lượng xương đã được đánh giá nơi
120 phụ nữ tuổi từ 35 đến 50 tuổi. Những người tham dự đã được chia thành
hai nhóm : nhóm thí nghiệm (84 phụ nữ uống cà phê) và nhóm kiểm chứng
(36 phụ nữ không uống). Để được tuyển mộ, không được có bệnh toàn thân
hay bất cứ bệnh nào liên kết với một sự mất khối lượng xương. Sự tiêu
thụ cà phê được đánh giá bằng một bảng câu hỏi được hợp thức hóa, xác
định lượng và dung lượng caféine. Các người tham dự được xếp loại như
sau : không tiêu thụ (0ml/ngày), tiêu thụ thấp (<200ml/ngày), có mức
độ (200-450 ml/ngày), hay cao (> 450ml/ngày).
Sự tiêu thụ cà phê là thấp nơi 22,5%, mức độ vừa phải nơi 22,5% và cao
nơi 25% những người tham dự. Các phân tích thống kê đã không phát hiện
những sự khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê đối với mật độ xương của
háng. Tuy nhiên, có một sự giảm đáng kể của mật độ xương của cột sống
trong nhóm thí nghiệm. “Một mặt, các dữ kiện của chúng tôi cho thấy rằng
các phụ nữ Mễ Tây Cơ là những người tiêu thụ từ mức trung bình đến cao,
các tác giả đã kết luận như vậy. Mặt khác, cà phê có lẽ ảnh hưởng một
cách âm tính lên khối lượng xương của các thân đốt sống, và khả năng này
có lẽ phải được xem như là một yếu tố nguy cơ, đặc biệt là trong khung
cảnh của một điều trị của một ostéopénie và của một khối lượng xương thấp.”
(LE JOURNAL DU MEDECIN 11/6/2010)
4/ LỐI SỐNG LÀNH MẠNH CÓ BẢO VỆ
BỆNH ALZHEIMER ?
Professeur Jean-Pierre Olié,
Psychiatre, Membre de l’Académie nationale de médecine
Dưới 1% các trường hợp bệnh Alzheimer được xác định bởi di truyền : khi
đó đó là những thể gia đình (formes familiales) của bệnh, có khởi đầu
rất sớm (khoảng 40 tuổi), di truyền, tiến triển nhanh với một sự giảm
mạnh tuổi thọ. Gần 99% các trường hợp được gọi là xảy ra lẻ tẻ (formes
sporadiques), xuất hiện sau 65 tuổi. Bệnh thoái hóa này được báo hiệu
bởi những rối loạn cảm xúc : trong một nửa các trường hợp, các triệu chứng
lo âu và trầm cảm (symptômes anxieux et dépressifs) đi trước vài năm các
triệu chứng nhận thức (symptômes cognitifs) và những khó khăn nhớ các
sự việc vừa mới xảy ra (mémoire des faits récents). Nhưng không nên lẩn
lộn bệnh Alzheimer với ảnh hưởng bình thường của các chức năng nhận thức
(fonctions cognitives), liên kết với sự lão hóa sinh lý. Cảm giác bị giảm
di các khả năng ghi nhớ là việc bình thường nơi những người trên 50 tuổi:
điều này được bù lại bởi những khéo léo xã hội do kinh nghiệm của tuổi
tác mang lại.
Người ta có thể ngăn ngừa sự xuất hiện về sau của bệnh Alzheimer, hay
làm bệnh lùi lại, bằng cách theo một vệ sinh đời sống tốt. Thật vậy, những
yếu tố nguy cơ chính được biết và đã được nhận diện đối với những bệnh
tim mạch và chuyển hóa khác. Như là, một cao huyết áp hay một tăng cholestérol-huyết
ở tuổi trung niên của đời sống làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh về
sau ; bệnh đái đường hay chứng béo phì cũng là những yếu tố nguy cơ. Do
đó, một chế độ ăn uống loại địa trung hải (cá, rau xanh và trái cây) sẽ
mang tính chất bảo vệ. Những thức ăn giàu một loại axít béo đặc biệt (oméga
3) có một tác dụng thuận lợi : sự tiêu thụ cá ít nhất hai lần mỗi tuần
làm giảm 1/3 nguy cơ bị bệnh Alzheimer.
Rượu không chung sống tốt với một bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative)
loại Alzheimer, thuốc lá cũng vậy. Các tế bào thần kinh nhạy cảm với những
tác dụng có hại của các gốc tự do của oxy mà thuốc lá và sự ô nhiễm làm
gia tăng sự sản xuất, cũng như sự lão hóa. Điều này đã dẫn đến một giả
thuyết của một tác dụng phòng ngừa của các chất chống oxy hóa (antioxydants)
như các vitamine E và C hay carotène. Và kết quả đã xác nhận một tác dụng
thuận lợi của vitamine E.
Những hoạt động thể thao (bước, nhảy múa) được liên kết với một sự giảm
nguy cơ : vài công trình nghiên cứu cho thấy một sự giảm lên đến 60%.
Cũng vậy đối với sự thực hiện đều đặn những hoạt động nhận thức (activités
cognitives) hay xã hội. Trình độ học vấn thấp thường được nêu lên như
là liên kết với một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh Alzheimer. Những
người đã không có được chứng chỉ học tập đã được ghi nhận là bị bệnh Alzheimer
hơn. Điều này tán trợ cho giả thuyết của một “nhận thức dự trữ” (réserve
cognitive), có khả năng làm hoãn lại sự xuất hiện của các triệu chứng
nơi những người được hưởng một trình đó học vấn cao. Tóm lại, luyện tập
vật lý và trí tuệ có thể là một yếu tố bảo vệ.
MỘT TRIỆU NGƯỜI BỆNH.
Tuy nhiên chẩn đoán phải được thực hiện càng sớm càng tốt. Ở Pháp, bệnh
Alzheimer thiếu được chẩn đoán : dưới 25% những người trên 80 tuổi bị
bệnh Alzheimer được hưởng những điều trị hiện có; dưới một nửa những người
bị mang chứng bệnh này đã được khai báo. Hoặc gần một triệu người Pháp
hiện nay bị bệnh Alzheimer : 2-4% những người trên 65 tuổi, hơn 20% những
người đã vượt quá tuổi 80. Thay đổi đoạn kết của cuộc đời mình, đó là
thay đổi lối sống càng sớm càng tốt. (LE FIGARO 31/5/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr43.htm
(TSYH số 43, bài số 8-10)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr49.htm
(TSYH số 49, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr51.htm
(TSYH số 51, bài số 9)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr60.htm
(TSYH số 60, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr75.htm
(TSYH số 75, bài số 3)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr79.htm
(TSYH số 79, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr85.htm
(TSYH số 85, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr95.htm
(TSYH số 95, bài số 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr103.htm
(TSYH số 103, bài số 6)
5/ BỆNH TÂM THẤN PHÂN LIỆT CÓ PHẢI
LÀ MỘT BỆNH DI TRUYỀN ?
Professeur Jean-Marie Danion,
Directeur de l’ unité Inserm “Physiopathologie et psychopathologie cognitive
de la schizophrénie”, Université de Strasbourg
Thường khởi đầu giữa năm 15 và 25 tuổi, bệnh tâm thần phân
liệt liên kết, theo tỷ lệ thay đổi, một sự mê sảng (délire), những ảo
giác (hallucinations) (người bệnh thường nghe những giọng nói), một sự
rối loạn của hành vi và của tư duy và một sự khép mình lại (repli sur
soi). Căn bệnh kèm theo một sự đau khổ tâm thần (souffrance psychique),
đôi khi mạnh mẽ, nơi bệnh nhân cũng như nơi những người chung quanh, và
một phế tật thật sự (phế tật tâm thần : handicap psychique), được đặc
trưng bởi những khó khăn trong đời sống hàng ngày và sự hội nhập xã hội
và nghề nghiệp.
Bệnh tâm thần phân liệt có phải do di truyền hay không ? Cũng như tất
cả những gì liên quan đến các bệnh tâm thần, câu hỏi này là nhạy cảm,
nhất là nó liên hệ đến một căn bệnh mà sự xuất hiện của nó trong một gia
đình luôn luôn gây nên một sự tra vấn âu lo và đau khổ về nguồn gốc của
bệnh. Cái thời kỳ, trong đó người ta quy tội một cách nặng nề các bố mẹ
khi buộc tội họ là những bố mẹ “xấu”, và như thế chịu trách nhiệm về căn
bệnh mắc phải của đứa con của mình, may mắn thay đã qua rồi. Những câu
hỏi về tính chất di truyền có thể làm nảy sinh một dạng tội lỗi khác,
cái tội lỗi đã truyền lại cho con mình những gène “ xấu ”, là nguyên nhân
của căn bệnh.
Tính chất tội lỗi sau không được biện minh hơn so với tính chất tội lỗi
đã được nói trước đó. Mặc dầu nơi vài bố mẹ, ngày nay, sự hiện diện của
một thành phần di truyền được chứng minh, nhưng nhiều công trình nghiên
cứu về các tiền sử gia đình của các bệnh nhân, cũng như những công trình
nghiên cứu các người sinh đôi và các con nuôi, cho phép đánh giá ảnh hưởng
lần lượt của những yếu tố di truyền, gia đình và môi trường, chứng tỏ
một thực tế phức tạp và tương đối hơn nhiều. Trong khi trong dân chúng
nói chung cứ 100 người có khoảng một người bị bệnh tâm thần phân liệt,
thì nơi những người trưởng thành mà một trong các bố mẹ bị bệnh, thì cứ
100 người có bảy người có nguy cơ bị mắc bệnh. Trong quần thể những người
mà cả hai bố mẹ bị bệnh tâm thần phân liệt, thì cứ 100 người có 27 người
khả dĩ bị bệnh. Trong khi nơi những người anh, chị và những người sinh
đôi giả (faux jumeaux) của những bệnh nhân tâm thần phân liệt (chỉ có
một nửa các gène của họ), nguy cơ là 10%, thì nguy cơ này đạt 50% nơi
những người sinh đôi thật (vrais jumeaux), có một bộ gène (génome) gần
như tương tự.
Vậy, đúng là có một thành phần di truyền của bệnh tâm thần phân liệt.
Nhưng sự kiện nguy cơ trở thành tâm thần phân liệt nơi những người sinh
đôi thật là 50%, chứ không phải là 100%, cũng cho thấy rằng bệnh tâm thần
phân liệt không phải là một bệnh di truyền theo nghĩa thông thường của
thuật ngữ này: mang thành phần di truyền này không nhất thiết rằng ta
sẽ trở nên tâm thần phân liệt. Điều này có nghĩa rằng ta có một nguy cơ
gia tăng phát triển một bệnh tâm thần phân liệt, rằng ta có một tính nhạy
cảm (susceptibilité) hay một tính dễ bị thương tổn (vulnérabilité) đặc
biệt đối với bệnh này do các gène được gọi là “tính dễ bị thương tổn”
(gène de vulnérabilité), khác xa với ý niệm về các gène “xấu”. Rõ nét,
những yếu tố khác với di truyền phải hiện diện để bệnh có thể xảy ra.
Mặc dầu nhiều “gène tính dễ bị thương tổn” đã được nghi ngờ, nhưng chỉ
một số nhỏ trong số các gène này đã có thể được xác nhận bởi nhiều công
trình nghiên cứu độc lập trên bình diện quốc tế. Chúng đều tham dự vào
trong sự phát triển và sự vận hành chức năng của não bộ. Sau cùng, những
công trình nghiên cứu rất mới đây gợi ý rằng tính dễ bị thương tổn di
truyền của bệnh tâm thần phân liệt một phần được chia sẻ với một dạng
đặc biệt của các rối loạn khí chất, rối loạn lưỡng cực (trước đây gọi
là loạn tâm thần hưng- trầm cảm : psychose maniaco-dépressive).
NHỮNG TƯƠNG TÁC.
Trong số những yếu tố không di truyền (facteurs non génétiques) làm gia
tăng nguy cơ bệnh tâm thần phân liệt, vài yếu tố can thiệp rất sớm, ngay
trong đời sống phôi thai hay ngay lúc sinh ra đời. Nguy cơ cũng được gia
tăng nơi những người sinh ra từ một bà mẹ đã chịu một bệnh nhiễm trùng
hay bệnh chuyển hóa, một tình trạng suy dinh dưỡng hay bị stress qua mức
trong thời kỳ thai nghén, hay đã bị sinh khó, nguồn gốc của một tình trạng
giảm oxy mô của đứa trẻ. Tuy nhiên những yếu tố này chỉ là nguyên nhân
trong một số nhỏ các trường hợp. Những chấn thương tâm lý trầm trọng trong
thời kỳ thơ ấu cũng bị quy kết. Sự cô lập về mặt xã hội tiếp theo sau
sự đô thị hóa hay sự nhập cư cũng có thể góp phần vào sự phát triển của
bệnh. Sau cùng, ngày nay người ta đã xác lập rằng sự tiêu thụ cannabis
làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh tâm thần phân liệt, và điều này nhất
là khi sự tiêu thụ là quan trọng và được bắt đầu rất sớm trong thời kỳ
thiếu niên.
Từ nay các nghiên cứu hướng về sự phân tích các tương tác giữa các gène
“tính dễ bị thương tổn” và những yếu tố không phải di truyền : đó là sự
gặp gỡ giữa các yếu tố nguy cơ và một thể trạng di truyền dễ bị thương
tổn. Như thế rất có khả năng rằng bệnh tâm thần phân liệt là do nhiều
mối tương tác phức hợp giữa các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, mà
những tác dụng càng quan trọng khi chúng xảy ra, vào thời thơ ấu và tuổi
thiếu niên, trong một trạng thái động của sự phát triển não bộ và của
sự cấu thành của nhân cách. Những yếu tố này kết hợp với nhau để làm xáo
trộn động lực này và làm biến đổi sự liên lạc trao đổi giữa các vùng khác
nhau của não bộ, điều này có thể tạo nên con đường chung cuối cùng của
bệnh tâm thần phân liệt. Bản chất và sức nặng của mỗi yếu tố này thay
đổi với mỗi bệnh nhân, điều này giải thích tính đa dạng lâm sàng và mức
độ trầm trọng khác nhau của bệnh.
Vậy những tranh cãi về nguồn gốc duy nhất sinh học, hay ngược lại độc
nhất tâm lý, ngày nay không còn có lý do để tồn tại nữa. (LE
FIGARO 16/6/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr91.htm
(TSYH số 91, bài số 2 - 3)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr92.htm
(TSYH số 92, bài số 8)
6/ TRÁI CÂY VÀ RAU XANH LÀM
GIẢM ÍT NGUY CƠ UNG THƯ.
Ăn 5 suất trái cây và rau xanh mỗi ngày có lợi, với điều kiện biết thích
nghi lối sống của mình
Tổ chức y tế thế giới từ năm 1990 luôn nhấn mạnh điều đó: Ăn năm suất
trái cây và rau xanh mỗi ngày làm giảm nguy cơ mắc phải ung thư. Theo
các nhà nghiên cứu của trường y Mont Sinai (Nữu Ước), sự khẳng định này
là quá đáng về mặt khoa học. Thông điệp của OMS căn cứ trên vài quan sát
có tính cách thường nghiệm (observation empirique), bằng cách tập trung
vào các ung thư đặc hiệu hay vào vài loại trái cây và rau xanh. Thế mà
các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã đo lường tác động của một chế độ ăn uống
trái cây/rau xanh lên tất cả các loại ung thư, bằng cách nghiên cứu một
cơ sở rộng rãi các dữ kiện của 142.000 người đàn ông và của 335.000 phụ
nữ tình nguyện, được tuyển mộ giữa năm 1992 và 2000 trong 10 nước châu
Âu. Kết luận : sự tiêu thụ hơn 200g trái cây và rau xanh mỗi ngày chỉ
làm giảm 3% nguy cơ bị ung thư. Và nếu như các rau tươi có một lợi ích
thấp, lợi ích này chỉ có thể được quan sát ở các phụ nữ. Bù lại, những
người tiêu thụ nhiều trái cây và rau xanh có một vệ sinh đời sống tốt
hơn : họ uống rượu ít hơn, hút thuốc ít hoặc không và ít bị béo phì. Các
trái cây và rau xanh tuy vậy bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch. (SCIENCE
ET VIE 6/2010)
7/ CÓ NÊN BẢO TỒN MÁU CUỐNG RỐN
LÚC SINH ĐỂ NGĂN NGỪA MỘT BỆNH THOÁI HÓA VỀ SAU ?
Professeur Luc Douay,
Hématologiste, Membre correspondant de l’Académie nationale de médecine
Máu lưu thông trong cuống rốn chứa các tế bào gốc (cellules
souches), thường định vị trong tủy xương. Những tế bào gốc này sản xuất
các tế bào máu : các hồng cầu, bạch cầu và các tiểu cầu. Được lấy vào
lúc sinh, các tế bào gốc này được gọi là “sinh huyết” (hématopoiétique),
có thể được sử dụng để thay thế ghép tủy xương (greffe de moelle osseuse)
để điều trị những bệnh của máu, như các bệnh bạch cầu (leucémie) hay các
u bạch huyết (lymphome), các bệnh di truyền hay các thiếu hụt miễn dịch
(déficience immunitaire). Sau khi được tiêm bằng đường tĩnh mạch, những
tế bào gốc này sẽ di tản một cách ngẫu nhiên về tủy xương, tăng sinh ở
đó và tái sinh những tế bào máu của người nhận.
Hơn 20.000 những loại ghép này đã được thực hiện trên thế giới trong 20
năm qua. Chính vì thế, các ngân hàng máu cuống rốn (banque de sang de
cordon) phát triển nhanh chóng, và đặc biệt là ở Pháp, bổ sung cho những
hộp phiếu những người cho tủy xương thiện nguyện (donneurs volontaires
de moelle osseuse). Trong trường hợp này, đối với một phụ nữ đang sinh,
đó là một sự biếu tặng nặc danh và miễn phí máu cuống rốn của con mình,
để máu được trích lấy, hợp thức hóa, làm đông lạnh và được tích trữ trong
các ngân hàng công không lợi nhuận của Etablissement français du sang
hay của một trung tâm bệnh viện-đại học (CHU). Đó đúng là một cho đồng
loại (don allogénique), phát xuất từ một cơ thể người khác, sẽ được dùng
cho những bệnh nhân khác bị mắc phải bệnh. Thật hiển nhiên, nhiều người
đặt nghi vấn về lợi ích bảo quản máu cuống rốn của chính đứa con mình.
Đó là để dành những tế bào gốc quý giá của nó. Ở đây không phải là vấn
đề biếu tặng, mà là trả tiền các ngân hàng tư dùng cho mục đích cá nhân
để làm đông lạnh và bảo tồn cuống rốn lúc hữu sự...Có thể nói đó là một
loại đánh cá trên một “bảo hiểm nhân mạng tế bào” (assurance-vie cellulaire)
! Có những lý lẽ khoa học và y khoa được xác nhận để đề nghị điều đó với
các bố mẹ mong muốn bảo bệ đứa con của mình hay không ? Câu trả lời dứt
khoát là không.
Không có lý do khoa học cũng như y học nào khuyên thực hiện điều như thế
cả. Ghép máu cuống rốn (greffe de sang de cordon) có lợi ích tích cực
trong các bệnh ung thư bạch cầu (leucémie) bởi vì người cho và người nhận
là hai cá thể phân biệt về phương diện miễn dịch học (người ta nói là
ghép đồng loại : greffe allogénique hay homogreffe). Thật vậy, trong số
những tế bào được ghép, những tế bào miễn dịch có khả năng nhận diện những
tế bào ung thư máu (cellules leucémiques) còn lại của người nhận và hủy
diệt chúng. Khi đó ta nói là một tác dụng “mẫu ghép chống bệnh bạch cầu”
(greffon contre leucémie). Ghép bản thân (greffe autologue hay autogreffe
: ghép đuợc thực hiện từ một mẫu ghép lấy trên chính người được ghép)
máu cuống rốn không cho phép điều đó và do đó không có lợi ích trị liệu.
Những công trình nghiên cứu nơi các trẻ phát triển một bệnh bạch cầu cho
thấy rằng máu cuống rốn lúc sinh đã chứa các tế bào ung thư máu. Đưa các
mẫu ghép bản thân (greffons autologues) này vào những người bệnh nhân
trẻ này chẳng khác nào tiêm trở lại cho chúng chính căn bệnh đã bị mắc
phải.
CHỈ 30% CÁC MẪU GHÉP ĐƯỢC HỢP THỨC BỞI CÁC NGÂN
HÀNG MÁU.
Khi để điều trị một căn bệnh di truyền, các tế bào được tiêm vào không
mang bất thường mà ta muốn sửa chữa. Ở đây cũng vậy, phải sử dụng những
tế bào phát xuất từ một người cho không mang bất thường. Sau cùng, để
cho thủ thuật ghép được thành công, các tế bào gốc sinh huyết (cellules
souches hématopoiétiques) phải có số lượng đầy đủ, nếu không, sự tái tạo
của tủy xương sẽ không xảy ra. Chỉ có 30% các mẫu ghép được lấy đáp ứng
với các tiêu chuẩn này và được hợp thức hóa để tích trữ trong các ngân
hàng. Đến nay chúng ta không biết làm khuếch đại số các tế bào gốc, trái
với điều mà vài xí nghiệp tư nhân làm bố mẹ tưởng như vậy. Vậy nguy cơ
là bảo tồn một mẫu ghép không thể sử dụng được trong tương lai. Những
máu cuống rốn này có thể dùng làm kho dự trữ các tế bào gốc để điều trị
tất cả các bệnh?
Để sửa chữa một cơ quan bị thương tổn trầm trọng, ngày nay chúng ta chỉ
có khả năng ghép một cơ quan lành. Hôm nay có một lựa chọn khác : thay
thế các tế bào không hoạt động hay bị phá hủy. Đó là liệu pháp tế bào
(thérapie cellulaire), đang mở đường cho nền y học tái sinh (médecine
régénérative) của ngày mai. Những tế bào gốc được sử dụng để sửa chữa
những mô bị thương tổn, một cách tạm thời hay vĩnh viễn. Để được điều
đó chúng ta phải có những tế bào chuyên biệt (cellules spécifiques) của
mô cần sửa chữa, dễ tách riêng với số lượng lớn, có khả năng hòa mình
vào trong mô cần sửa chữa (tissu cible) và hoạt động ở đó.
Rất nhiều nghiên cứu đang được tiến hành với cố gắng làm chủ quá trình
biệt hóa các tế bào gốc (différenciation de cellules souches) của máu
cuống rốn thành tất cả các loại mô : xương, sụn, tụy tạng, thần kinh,
gan, bì, cơ và tim. Nhiều công trình cũng đang được tiến hành về sự biệt
hóa của các tế bào gốc được tách từ các mô nhau, đặc biệt là từ gelée
de Wharton (cấu tạo vỏ bao quanh cuống rốn). Mặc dầu đầy hứa hẹn, nhưng
những nghiên cứu này vẫn luôn luôn ở mức của nghiên cứu cơ bản, và mọi
hy vọng điều trị vẫn còn không được biện minh.
Cần chống lại sự cám dỗ của các xí nghiệp thương mại, đề nghị, với điều
kiện phải trả một số tiền quan trọng, tích trữ vô thời hạn các máu cuống
rốn với mục đích cá nhân. Ngoài ra, nhiều nghi vấn vẫn tồn tại về chất
lượng của các phương cách lấy và bảo quản các tế bào trong những điều
kiện này. Người ta không biết, liệu các tế bào này có thể đề kháng một
sự đông lạnh trong nhiều thập niên hay không, điều này tạo vấn đề đối
với các bệnh, mà đại bộ phận sẽ xảy ra trong một nửa thứ hai của cuộc
đời. Như thế, nếu việc cho thiện nguyện, ẩn danh và miễn phí của máu cuống
rốn trong các ngân hàng đồng loại (banques allogéniques) cua nhà nước
có một lợi ích điều trị không thể tranh cãi được, thì sự bảo quản các
máu ghép bản thân (conservation autologue) cần được bác bỏ, và sự quảng
cáo cổ võ sự bảo tồn này chỉ có tính chất dối trá. (LE
FIGARO 17/5/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm
(TSYH số 105, bài số 6)
8/ GIAO HỢP ĐAU : THƯỜNG XẢY RA
VÀ THẦM KÍN.
Chỉ cần đặt câu hỏi cho họ thì cứ năm phụ nữ sẽ có một kêu đau khi giao
hợp (dyspareunie). Mặc dầu thường được xem như là một loạn năng sinh dục
do tâm lý (dysfonction sexuelle psychogénique), chứng giao hợp đau này
có thể có nguyên nhân thực thể. Trong tất cả các trường hợp, chứng giao
hợp đau nên được thăm dò trên bình diện thân thể cũng như trên bình diện
tâm thần. Cần biết vài hướng mới.
Chứng giao hợp đau (dyspareunie), từ tiếng Hy lạp “dus”, nghĩa là khó
khăn, và “pareunos”, nghĩa là người chồng, gợi lên một cách cổ điển những
đau đớn của phụ nữ trong lúc giao hợp. Sự bôi trơn sinh lý (lubrification
physiologique), bị giảm trong thời kỳ mãn kinh do giảm oestrogène (hypo-oestrogénie),
nhưng cũng trong thời kỳ hậu sản (biểu mô âm đạo bị teo lại và đánh mất
một nửa các tế bào), là căn nguyên thông thường nhất. Khi chứng giao hợp
đau có nguồn gốc ở lỗ vào (dyspareunie orificielle), thì thường là do
nguyên nhân thực thể: sự lành sẹo xấu của thủ thuật cắt tầng sinh môn
(épisiotomie), rách tầng sinh môn (déchirure périnéale), sa sinh dục (prolapsus),
loét, nhiễm trùng sinh dục hay đường tiểu, ban đỏ âm hộ (chàm, bệnh vẩy
nến (psoriasis). Ở sâu, tận đáy của âm đạo, chứng giao hợp đau được gây
nên do sự lay động của tử cung. Nguyên nhân là do sinh đẻ, nếu được thực
hiện bằng dụng cụ hay trong trường hợp rách cơ-gân và thần kinh (Hội chứng
Allen và Masters), nhưng nhất là lạc nội mạc tử cung (endométriose), tử
cung hậu lệch (rétroversion) và các nhiễm trùng sinh dục. Trong trường
hợp loại bỏ nguyên nhân bệnh lý cơ thể, phải tìm kiếm nguồn gốc tâm thần
(lo âu và trầm cảm). Khi đó, việc từ chối không để cho đưa vào, là do
một sự vô hiệu hóa của lòng ham muốn tình dục (nền giáo dục cứng nhắc,
chấn thương tình dục, xung đột lứa đôi), không khởi động đường cong kích
thích và không bôi trơn. Một sự e sợ âm tính sau đó tăng cường hiện tượng,
có thể đi đến chỗ gây co thắt phản xạ của hệ cơ vùng hội âm, liên kết
với một trạng thái tăng cảm giác (hyperesthésie) âm hộ-âm đạo, gây nên
một sự bịt khít phản xạ của âm đạo, hay chứng co đau âm đạo (vaginisme).
ĐÔI KHI DO ĐIỀU TRỊ.
Một duyệt xét tư liệu nhằm đánh giá những giải phẫu quan trọng gây nên
chứng giao hợp đau, ngoài ung thư học. Điều trị bằng phẫu thuật chứng
són đái bằng treo âm đạo (colposuspension) theo phương pháp Burch (cố
định thành trước của âm đạo vào các dây chằng của các xương vùng chậu)
không gây nên hoặc ít chứng giao họp đau. Trái lại colporraphie postérieure
(khâu âm đạo sau) là nguyên nhân khá thường với 26% giao hợp đau sau phẫu
thuật. Cắt bỏ tử cung (hystérectomie) thường không bị cáo buộc, nhưng
mới đây, sự kiểm tra khoảng 60 người được mổ bằng đường âm đạo hay bằng
đường bụng, đã chứng minh rằng chứng giao hợp đau sau mổ là thường xảy
ra hơn sự can thiệp lên âm đạo, có lẽ do sự rút ngắn của các kích thước
âm đạo.
KHÔ ÂM ĐẠO : CÓ GÌ MỚI ?
Tình trạng giảm oestrogène (hypo-oestrogénie) lúc mãn kinh thường bị cáo
buộc trong trường hợp khô âm đạo. Tuy nhiên, sự điều chỉnh kích thích
tố không phải luôn luôn là đủ. Tất cả các bài báo gợi ý rằng chứng giao
hợp đau là thông thường nơi phụ nữ mãn kinh nhưng không phải hoàn toàn
tương quan với các nồng độ của œstrogène trong máu cũng như với sự teo
âm đạo (atrophie vaginale). Tuy nhiên, một sự giảm oestradiol trong máu
góp phần vào và một điều trị thay thế thường có thể làm thuyên giảm. Ospemifène
là một chất chủ vận (agoniste)/đối kháng (antagoniste) mới không phải
hormone của các thụ thể đối với oestrogène. Những thử nghiệm lâm sàng
đầu tiên cho thấy một tính hiệu quả và một độ dung nạp rất tốt để làm
bình thường hóa chỉ số thành thục (index de maturation) của biểu mô âm
đạo cũng như pH. Thuốc đang được thí nghiệm giai đoạn III với liều lượng
60mg mỗi ngày. Một tác dụng thuận lợi lên vú và xương cũng được dự kiến,
mà không làm tăng sản nội mạc tử cung (hyperplasie endométriale) hay làm
phừng mặt (bouffée de chaleur). Loạt các chất mới này được gọi là SERM
hay Selective Estrogen Receptor Modulator, nằm trong dòng dõi của tamoxifen,
toremfene, clomifene và raloxifene. Thế hệ các hợp chất mới này kết hợp
những đặc tính của các thuốc trước, không có những tác dụng phụ, bảo vệ
vú và khung xương và làm tái sinh niêm mạc âm đạo mà không tác động lên
nội mạc tử cung cũng như không làm gia tăng sự phừng mặt hay nguy cơ huyết
khối nghẽn mạch (risque thromboembolique). Bazedoxifene, arzoxifene, lasofoxifene
và ospemifene là 4 ứng viên đang đua tranh.
MỞ RỘNG BẰNG PHUƠNG PHÁP CƠ HỌC.
Liệu pháp của đau tiền đình âm đạo (vestibulodynie) (đau ở phan phía trước
hết của âm đạo, gây nên chứng đau giao hợp lỗ, (dyspareunie orificielle),
cần đến các kỹ thuật nong. Một nghiên cứu đa trung tâm đã quan tâm đến
việc sử dụng một bộ 4 dụng cụ nong âm đạo (dilatateur vaginal), có một
kích thước gần giống với dụng cụ soi hậu môn. Hệ thống này đóng một vai
trò dương tính nơi các phụ nữ đã thử không thành công những liệu pháp
khác. Sự đưa vào thận trọng và dần dần dụng cụ nong mảnh nhất, để trong
âm đạo 10 phút, 3 lần mỗi tuần, tiếp theo sau, khi thủ thuật được thực
hiện dễ dàng, bởi cùng công việc với dụng cụ nong hơi lớn hơn, và như
thế cho 4 dụng cụ nong.
TOXINE BOTULIQUE, TẠI SAO KHÔNG ?
Một nhóm nghiên cứu của Cleveland đã đề nghị toxine botulique cho khoảng
40 phụ nữ có tình trạng tăng hoạt tính lúc nghỉ ngơi của cơ nâng hậu môn
(muscle releveur de l’anus) (được phát hiện bởi EMG), cũng như một sự
ức chế bị giảm trong thời kỳ giãn ra của cơ. Được theo dõi trong khoảng
hai năm, các phụ nữ này đã nhận những mũi tiêm toxine botulique vào trong
cơ nâng hậu môn. Được hỏi và thăm khám một tháng sau mỗi buổi tiêm, họ
tuyên bố một sự cải thiện của khả năng đưa vào dương vật, không gây trở
ngại lên chức năng ruột và đường tiểu. Vào cuối thời kỳ theo dõi, 63,2%
hoàn toàn được chữa lành, 15,4% cần phải được tiêm trở lại và cùng tỷ
lệ này đã bỏ cuộc. Các tác giả khuyến nghị kỹ thuật này đặc biệt là khi
chứng giao hợp đau không đáp ứng với các liệu pháp thuốc và nhận thức,
nhất là nếu nguyên nhân là giải phẫu. (GENERALISTE
20/5/2010)
9/ MỠ BỤNG LÀM TĂNG NGUY
CƠ SA SÚT TRÍ TUỆ.
Nơi những người ở lứa tuổi trung niên, mỡ tạng (graisse viscérale) được
liên kết với một sự giảm thể tích não bộ và như thế với một nguy cơ mắc
phải chứng sa sút trí tuệ về sau này trong đời sống.
Chứng béo phì được liên kết với một sự gia tăng của nguy cơ mắc phải chứng
sa sút trí tuệ. Mặc dầu chúng ta không biết một cách chính xác tại sao,
tuy nhiên sự chứng thực này có thể mang lại một khả năng phòng ngừa nào
đó. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ ở Boston, công tác trong bối cảnh của Framingham
Heart Study, đã phân tích mối liên hệ giữa chỉ số khối lượng cơ thể (BMI),
vòng thân (tour de taille), tỷ số giữa thân hình/ háng, kích thước của
mô mỡ dưới da và tạng và những chỉ dấu khác của sự lão hóa não bộ trong
một tập thể những người trưởng thành tuổi trung niên. Các đo lường bằng
IRM nhằm vào thể tích toàn bộ não, thể tích sừng thái dương (corne temporale),
thể tích chất trắng và nhồi máu não.
Nơi 733 người tham dự (tuổi trung bình 60 tuổi, 53% các phụ nữ), Stéphanie
Debette và các đồng nghiệp đã quan sát thấy một mối liên kết nghịch giữa
chỉ số khối lượng cơ thể, vòng thân, tỷ số thân hình/háng, kích thước
mô mỡ dưới da và thể tích toàn bộ não là quan trọng nhất và vững chắc
nhất và điều này cũng độc lập với chỉ số khối lượng cơ thể và sự đề kháng
đối với insuline. Các nhà nghiên cứu đã không ghi nhận những mối liên
kết có ý nghĩa giữa các trị số đo mỡ bụng (bằng scanner) và thể tích sừng
thái dương, cũng như với thể tích chất trắng và các nhồi máu não.
“Những kết quả của chúng tôi xác nhận sự liên kết nghịch giữa một chỉ
số khối lượng cơ thể tăng cao (BMI) và các thể tích não nhỏ hơn nơi những
người trưởng thành lớn tuổi và nơi những người trẻ tuổi nhất. Điều này
càng được xác nhận vì những dữ kiện phát xuất từ một công trình nghiên
cứu có quy mô lớn hơn (700 người so với 300 người trong những lần nghiên
cứu trước đây). Điều quan trọng hơn, những công trình nghiên cứu của chúng
tôi gợi ý một mối liên hệ mạnh hơn giữa chúng béo phì trung tâm (obésité
centrale) (đặc biệt là mỡ tạng trong trường hợp béo phì bụng) và nguy
cơ bị chứng sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer”, một trong các tác giả của
công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 1/6/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr99.htm
(TSYH số 99, bài số 6)
http://yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr123.htm
(TSYH số 123, bài số 6).
10/ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME) VÀ LỢI
ÍCH CỦA OCYTOCINE.
GS Marion Leboyer, giám đốc phòng thí nghiệm Inserm Tâm thần học di truyền,
giải thích những lợi ích có được với một kích thích tố : ocytocine.
Hỏi : Sự công bố mới đây, trong tạp chí khoa
học có uy tín “Nature”, thời sự hóa trở lại các công trình của bà về bệnh
tự kỷ. Những đặc điểm của căn bệnh tâm-thần kinh (maladie neuropsychiatrique)
này là gì ?
GS Marion Leboyer : Đó là một rối loạn của sự phát triển của hệ thần kinh
não bộ, bắt đầu trước 3 tuổi và được thể hiện bởi 3 loại triệu chứng.
1. Một sự thu mình lại (repli sur soi) với sự tránh cái nhìn của kẻ khác,
điều này làm giảm những quan hệ xã hội. 2. Những khó khăn về ngôn ngữ:
người bệnh phát biểu một cách dè xẻn và với một giọng nói đều đều. Ngay
cả đôi khi họ không nói gì cả. 3. Những hành vi ám ảnh (comportements
obsessionnels). Ở Pháp, sự phát hiện bệnh tự kỷ gia tăng: đến 1% dân chúng
ngày nay bị mắc phải bệnh này, với nhiều thể dạng và độ trầm trọng ít
hay nhiều. Những kết quả của công trình nghiên cứu được công bố trong
“ Nature ” (mà chúng tôi đã tham dự) chứng minh sự hiện diện của rất nhiều
bất thường di truyền. Các gène liên hệ mã hóa (chế tạo) các protéine có
trách nhiệm về những nối kết giữa các neurone.
Hỏi : Với thời gian, bệnh lý này tiến triển
như thế nào ?
GS Marion Leboyer : Tùy theo dạng bệnh, căn bệnh sẽ tạo nên một phế tật
quan trọng ít hay nhiều. Trong những trường hợp trầm trọng, kết cục là
bi thảm. Những đứa trẻ vẫn phải ở suốt đời trong những cơ sở điều trị
đặc biệt. Thể được gọi là “hội chứng Asperger”, trong đó các năng lực
trí tuệ được bảo tồn, là có tiên lượng tốt hơn. Tuy nhiên, những người
bị bệnh thường bị phế tật nặng trong đời sống xã hội của họ.
Hỏi : Than ôi, không có điều trị đặc hiệu,
do đó các kết quả của bà với với ocytocine rất được quan tâm. Làm sao
bà đã có ý tưởng sử dụng kích thích tố này ?
GS Marion Leboyer : Chúng tôi biết rằng những người bị bệnh tự kỷ có một
sự thiếu hụt ocytocine, hormone được tiết ra bởi não thùy. Vì kích thích
tố này đóng một vai trò quan trọng trong những hành vi cảm xúc (comportements
affectifs), nên chúng tôi đã nghĩ rằng nếu cho người bệnh ocytocine tổng
hợp, thì có lẽ ta sẽ có thể cải thiện những khó khăn về quan hệ (diificultés
relationnelles) của họ.
Hỏi : Thử nghiệm được diễn ra như thế nào
?
GS Marion Leboyer : 13 người trưởng thành bị dạng Asperger đã được điều
trị bằng đường mũi (hít với một bình xịt mũi), cho phép hormone đến não
trong vài phút. Trước khi được thải ra một cách nhanh chóng. Sau một liều
duy nhất, chúng tôi đã quan sát thấy, suốt trong 90 phút (trong đó các
bệnh nhân đã chịu những trắc nghiệm), hai cải thiện rất có ý nghĩa. 1.
Trên bình điền cái nhìn : không có ocytocine, khi người ta trình cho họ
thấy các gương mặt trên ordinateur, các người bệnh đều nhìn đi cho khác.
Nhưng, dưới tác dụng của hormone, họ chăm chú đôi mắt vào những gương
mặt của người đó trên màn ảnh. 2. Trong trắc nghiệm thứ hai các người
bệnh tham dự vào một trò chơi bóng với 3 người ảo, tương tác với các người
chơi đã tỏ ra tốt hơn dưới tác dụng của ocytocine.
Hỏi : Sau những kết quả đầu tiên này, kết
quả sắp đến của bà là gì ?
GS Marion Leboyer : Với nhóm nghiên cứu của BS Angela Sirigu (CNRS de
Lyon), chúng tôi đang tiến hành những công trình nghiên cứu khác ở Pháp,
trên nhiều chục bệnh nhân bị dạng Asperger. Chúng tôi muốn biết cơ chế
thật sự của ocytocine ở não bộ. Nhưng để theo đuổi những thử nghiệm này,
chúng tôi cần một kích thích tố tổng hợp có một thời gian tác dụng dài
hơn. Điều này cần đến những phương tiện tài chánh quan trọng...FondaMental,
được thành lập để khuyến khích những công trình nghiên cứu về các bệnh
tâm thần, đang chờ đợi những quyên góp.
Hỏi : Nếu những kết quả của những công trình
nghiên cứu này xác nhận những kết quả trước, khi nào chúng ta có thể hy
vọng một thuốc điều trị ?
GS Marion Leboyer : Có lẽ chúng ta sẽ không có những kết quả này trước
một năm. Giai đoạn còn rất sơ khởi. Nhưng nếu những thử nghiệm này dương
tính, chúng ta có thể hy vọng, từ nay đến vài năm nữa, cải thiện đời sống
xã hội của những người bị bệnh tự kỷ. (PARIS MATCH
17-23/6/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr94.htm
(TSYH số 94, bài số 9)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr97.htm
(TSYH số 97, bài số 7)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (21/6/2010)
TAGS: Tuổi thanh xuân, Gia sản di truyền
(patrimoine génétique), Gene bảo vệ (gène protecteur), Chương trình di
truyền (programmation génétique), Cholestérol tốt, IGF (insulin-like growth
factors, Kích thích tố tăng trưởng (hormone de croissance), Deoxycoformycine,
Khối lượng xương (masse osseuse), Chức năng nhận thức (fonctions cognitives),
Triệu chứng lo âu và trầm cảm (symptômes anxieux et dépressifs), Triệu
chứng nhận thức (symptômes cognitifs), Mê sảng (délire), Ảo giác (hallucinations),
Đau khổ tâm thần (souffrance psychique), Phế tật tâm thần (handicap psychique),
Loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), Yếu tố không
di truyền (facteurs non génétiques), Trái cây và rau xanh, Tế bào gốc
(cellules souches), Ghép tủy xương (greffe de moelle osseuse), Ung thư
bạch cầu (leucémie), U bạch huyết (lymphome), Ngân hàng máu cuống rốn
(banque de sang de cordon), Thiếu hệ miễn dịch (déficience immunitaire),
Máu ghép bản thân (conservation autologue), Đau khi giao hợp (dyspareunie),
Chứng co đau âm đạo (vaginisme), Đau tiền đình âm đạo (vestibulodynie),
Toxine botulique, Mỡ tạng (graisse viscérale), Thể tích sừng thái dương
(corne temporale), Bệnh tự kỷ, Hành vi ám ảnh (comportements obsessionnels),
Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |