 |
Thời
Sự Y Học số 178
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ UNG THƯ VÚ :
NHỮNG KẾT QUẢ HỨA HẸN CỦA MỘT VACCIN TRÊN CHUỘT
Không có một động vật gặm nhấm nào có khuynh hướng bị
bệnh này sau khi được tiêm vaccin.
PREVENTION. Trong các nước giàu có, ung thư vú gây bệnh cho một phụ nữ
trên tám trong suốt cuộc đời của họ. Nguyên nhân gây nên sự gia tăng theo
đường thẳng với thời gian này là có thai muộn, chứng béo phì, sự nhàn
rổi không hoạt động, sự giảm cho bú, ít con, các điều trị bằng hormone...
Một ngày nào đó ta có thể ngăn cản một căn bệnh như vậy hay không ? Trong
khi các chiến lược phòng ngừa bằng vaccin chủ yếu nhắm vào các bệnh lý
nhiễm khuẩn, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa hiệu chính một vaccin đã tỏ
ra có khả năng ngăn cản sự xuất hiện của bệnh ung thư này nơi các con
chuột có tố bẩm. Các kết quả, lý thú, được công bố tuần này trong tạp
chí Nature Medicine, mở ra những triển vọng mới. Những thử nghiệm trên
phụ nữ đã được dự kiến.
PROTEINE ALPHA-LACTALBUMINE.
Nói chung, một vaccin bình thường kích thích cơ thể sản xuất các kháng
thể chống lại một tác nhân nhiễm trùng (hay đúng hơn một trong những protéine
của nó). Trong trường hợp của ung thư vú, phải làm cho hệ miễn dịch chế
tạo những kháng thể chống lại một protéine của ung thư, nhưng với điều
kiện protéine này chỉ đặc hiệu đối với loại ung thư này (điều này rất
hiếm). Nếu không, mối nguy hiểm là khởi động một bệnh tự miễn dịch (chống
lại chính cơ quan của mình). Để tránh khó khăn này, các nhà nghiên cứu
đã nhận diện một protéine rất thường được tìm thấy trong các ung thư vú,
nhưng không phải trong các tế bào tuyến vú, ngoại trừ vào thời kỳ cho
bú : alpha-lactalbumine.
Các nhà nghiên cứu như thế đã nghiên cứu trên một nhóm các con chuột nhỏ
có nguy cơ di truyền cao phát triển ung thư vú (một nửa trong số các con
chuột này có một khối u sau khi sống được 205 ngày). Chúng được chia thành
hai nhóm : một nhóm đã nhận một vaccin chứa protéine alpha-lactalbumine
cặp với một chất bổ trợ (adjuvant), nhóm kia nhận một vaccin placebo chỉ
chứa chất bổ trợ. Sau 10 tháng, không có một con chuột nào của nhóm thứ
nhất (được chủng ngừa đúng phép) đã bị ung thư vú cả, trái với những con
chuột của nhóm thứ hai, tất cả đều bị ung thư vú. Những loại động vật
khác cũng đã nhận vaccin, cũng đã tỏ ra có hiệu quả. Sau cùng, cùng chế
phẩm đã được trắc nghiệm trên các họ chuột (muridés) đã bị bệnh. Và lại
nữa, vaccin lần này đã có một hiệu quả điều trị bằng cách ức chế khối
u. Không có một phản ứng viêm nào đã được quan sát trong các thử nghiệm
khác nhau. Tất cả các dữ kiện này đều có tính cách thực nghiệm, vả lại
được tiến hành trên một mô hình động vật, các con chuột, rất khác xa với
con người. Tuy nhiên, sau những thí nghiệm ly kỳ này, các tác giả kết
luận một cách phấn khởi: “Như thế sự tiêm chủng với alpha-lactalbumine
có lẽ có thể mang lại một sự bảo vệ chắc chắn và hiệu quả chống lại sự
phát triển của ung thư vú nơi các phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh,
khi mà chức năng cho bú không còn cần thiết nữa, và khi mà nguy cơ phát
triển một ung thư vú tăng cao.”
Đây không phải là lần đầu tiên mà các ứng viên vaccin được đề nghị chống
lại ung thư vú. Mãi đến nay, ý đồ của các vaccin này mang tính chất điều
trị. “Hiện nay có nhiều thử nghiệm đang được tiến hành nơi các phụ nữ
bị ung thư vú, ở Thụy Điển và Hoa Kỳ, với một thuốc chủng điều trị (vaccin
thérapeutique) chống lại một protéine HER2, có can dự trong 1/3 các ung
thư vú, GS Thomas Turz (Giám đốc Viện Gustave-Roussy,Villejuif) đã giải
thích như vậy. Hiện nay, các vaccin điều trị đang ở một giai đoạn tiên
tiến hơn các vaccin nhằm phòng ngừa. (LE JOURNAL DU
MEDECIN 2/6/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr101.htm
(TSYH số 101, bài số 3)
2/ VỆ SINH MIỆNG ẢNH HƯỞNG LÊN
SỨC KHOẺ TIM-MẠCH.
Những người trưởng thành, đánh răng dưới một lần mỗi ngày, làm gia tăng
nguy cơ tim mạch của họ. Trong 20 năm qua, người ta đặc biệt quan tâm
đến sức khỏe của miệng và đã xác lập một mối liên hệ giữa các bệnh của
răng, và chính xác hơn bệnh cận răng (maladie parodentale), và các bệnh
tim mạch. Một sự thiếu vệ sinh răng miệng là nguyên nhân chủ yếu của các
bệnh cận răng. Những bệnh cận răng này cũng nằm trong số những nhiễm trùng
mãn tính thường xảy ra nhất và chúng được liên kết với một sự gia tăng
nhẹ của đáp ứng viêm.
Gần 12.000 người Tô cách lan (hơn 35 tuổi, 46% là đàn ông) đã trả lời
những câu hỏi có liên quan đến vệ sinh. Sức khỏe miệng nhìn toàn bộ là
tốt, với 62% người được hỏi báo cáo đã thăm khám đều đặn các nha sĩ của
họ (mỗi 6 tháng) và 71% có một vệ sinh răng miệng tốt (rửa răng 2 lần
mỗi ngày). Những người đánh răng dưới hai lần mỗi ngày hơi lớn tuổi hơn,
thường là nam giới, và có vị thế xã hội thấp, và có một tỷ lệ mạnh của
các yêu tố nguy cơ, trong đó chứng nghiện thuốc lá, tình trạng không hoạt
động vật lý, chứng béo phì, cao huyết áp và bệnh đái đường.
Nơi những người trưởng thành trên 40 tuổi, bệnh của cận răng là nguyên
nhân chủ yếu của rụng răng và nó là hậu quả lôgíc của một vệ sinh răng
miệng kém.
Theo OMS, tỷ lệ lưu hành của bệnh cận răng trên thế giới lên đến 10 đến
20% đối với những thể nghiêm trọng nhất. Bệnh này rất thường xảy ra, nhất
là ở lứa tuổi trung niên, hoặc lứa tuổi trong đó các bệnh động mạch vành
cũng thường xảy ra nhất.
HAI LẦN MỖI NGÀY.
Trong 8 năm theo dõi, 555 biến cố tim mạch (74% bệnh động mạch vành) đã
xảy ra, trong đó 170 trường hợp tử vong. Những người tham gia, đánh răng
dưới một lần mỗi ngày, có thêm 70% nguy cơ bị một bệnh tim mạch so với
những người đánh răng hai lần mỗi ngày. Một vệ sinh miệng kém (không bao
giờ hay hiếm khi đánh răng) cũng được liên kết với một sự gia tăng của
các chất chỉ dấu viêm và đông máu (nồng độ CRP và fibrinogène).
Đối với các tác giả, Cesar de Oliveira và các cộng sự viên của ông thuộc
University College London, những dữ kiện của họ xác nhận phần lớn các
dữ kiện của các công trình nghiên cứu trước đây và như thế gợi ý “vai
trò khả dĩ của một vệ sinh răng miệng kém trong nguy cơ mắc phải các bệnh
tim mạch qua hệ viêm”. Những công trình nhiên cứu khác sẽ cần thiết để
xác nhận xem mối liên hệ giữa các điều trị răng và các bệnh tim mạch có
liên hệ nhân quả hay không hoặc đó có phải là một yếu tố nguy cơ hay không.
“Vì lẽ tỷ lệ lưu hành cao của những nhiễm trùng miệng trong dân chúng,
các thầy thuốc phải chú ý đến khả năng của một đợt viêm phát xuất từ nguồn
miệng. Ngoài ra, giáo dục bệnh nhân về sức khỏe miệng là có lợi vì lẽ
mối liên hệ giữa sức khỏe của răng và những bệnh toàn thân”, các tác giả
đã kết luận như vậy. (LE JOURNAL DU MEDECIN 4/6/2010)
Đọc thêm
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr144.htm
(TSYH số 144, bài số 9)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr109.htm
(TSYH số 109, bài số 8)
3/ BỆNH ALZHEIMER : NHỮNG NGHIÊN
CỨU ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH ĐỂ XÁC ĐỊNH NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA.
“Khi một thầy thuốc chuyên khoa tim xác định được vị trí của các mảng
xơ mỡ (plaques d’athérome) bịt các động mạch của bệnh nhân mình, đó là
dấu hiệu cho biết rằng ông ta phải hành động để phòng ngừa, GS Bruno Vellas,
người phụ trách Gérontopole de Toulouse, chịu trách nhiệm nghiên cứu các
bệnh xuất hiện với tuổi tác, đã đưa ra làm ví dụ như vậy. Bởi vì, nếu
ông ta không điều chỉnh những yếu tố nguy cơ khác nhau đã dẫn đến sự tạo
thành những mảng xơ mỡ này, bệnh nhân của ông ta sẽ có nguy cơ bị nhồi
máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não. Thế thì, ý tưởng cũng như vậy
đối với bệnh Alzheimer. Khi một chuyên gia, lúc chụp hình ảnh, quan sát
thấy những lắng đọng amyloides bất thường trong não bộ của bệnh nhân mình,
ông ta sẽ tự đặt cho mình câu hỏi phải biết gì để đề nghị với bệnh nhân
nhằm làm chậm lại sự tạo thành của các lắng đọng này. Và điều này phải
được thực hiện trước khi bệnh Alzheimer được thể hiện bởi các triệu chứng.
Những công trình nghiên cứu dịch tễ học, được thực hiện cho mãi đến ngày
hôm nay, cho thấy một mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu oméga (cá
mỡ 3 lần mỗi tuần), tập thể dục đều đặn (bước 45 phút mỗi ngày), và một
tần số mắc bệnh Alzheimer ít hơn hoặc, ít nhất, sự xuất hiện của bệnh
xảy ra chậm hơn. Vài công trình dịch tễ cũng phát hiện vai trò dương tính
của các môn giải trí tinh thần. Và caféine dường như cũng có những tác
dụng bảo vệ (ít nhất, nơi chuột). Nhưng, đối với GS Vellas, “không phải
bởi vì trên phương diện thống kê có một mối tương quan giữa tất cả các
dữ kiện này mà điều đó chứng tỏ sự hiện hữu của một mối liên hệ nhân quả.
Chúng ta không biết một vệ sinh đời sống tốt có thật sự có khả năng ngăn
ngừa bệnh hay không hoặc có phải bởi vì những người có một não bộ nguyên
vẹn nên họ có khả năng thực hiện tất cả những hoạt động này lâu hơn hay
không”. Điều chứng thực khác : chứng nghiện thuốc lá, chứng béo phì, bệnh
đái đường, cuộc sống nhàn rổi và một huyết áp tăng cao là những yếu tố
nguy cơ xuất hiện bệnh Alzheimer. Nhưng, lại nữa, đó chỉ là những giả
thuyết...
ẢNH HƯỞNG CỦA VỆ SINH ĐỜI SỐNG.
Nhằm chứng tỏ rằng một hành động phòng ngừa là khả dĩ, những công trình
nghiên cứu được thiết đặt. Một trong những công trình này (công trình
nghiên cứu châu Âu Guidage) phải chứng tỏ ginko biloba, một loại cây có
tiếng bảo vệ não bộ, với liều lượng cao trong năm năm, có thật sự có một
tác dụng lên trí nhớ và bệnh Alzheimer hay không. Những kết quả được chờ
đợi ngay vào mùa hè này.
Một công trình nghiên cứu châu Âu khác (được mệnh danh là “công trình
nghiên cứu Mapt”), bao gồm 1.200 lão niên có triệu chứng rối loạn trí
nhớ, đã được bắt đầu. “Nhưng có thể còn thêm 400 người tình nguyện, GS
Vellas đã xác nhận như vậy. Lần này, mục tiêu của công trình nghiên cứu
là tạo thành 4 nhóm, được theo dõi trong nhiều năm : nhóm thứ nhất sẽ
nhận những oméga 3 với liều lượng mạnh. Nhóm thứ hai, một placebo với
sự theo dõi trí nhớ. Ở nhóm thứ ba và thứ tư người ta khuyến nghị tập
hoạt động vật lý và trí óc nhiều hơn”. Mục tiêu là kiểm tra lợi ích của
một sự cho bổ sung oméga 3 và một hoạt động đều đặn để chống lại bệnh
này.
Sau cùng, một công trình nghiên cứu thứ ba, được thiết lập ở Gérontopole
de Toulouse, với mục tiêu là nghiên cứu ảnh hưởng của một vệ sinh đời
sống tốt lên các lắng đọng amyloide và sự thể hiện của nó trên phương
diện lâm sàng. Sau cùng có thể trả lời cho câu hỏi chủ yếu : làm giảm
các lắng đọng có được kèm theo một trí nhớ tốt hơn hay không? Câu trả
lời được chờ đợi ... trong 5 năm nữa! Nhưng chắc chắn không phải chờ đợi
những kết quả này trước khi tôn trọng vài quy tắc vệ sinh đời sống không
thể tranh cãi được. (LE FIGARO 3/5/2010)
4/ GIẢM ĐỒ UỐNG NGỌT
LÀM HẠ HUYẾT ÁP.
Uống nước uống có chất đường ít hơn mỗi ngày có thể được thể hiện bằng
một sự hạ đáng kể của huyết áp. Chúng ta biết những tác dụng âm tính của
một sự cung cấp quá mức đồ uống ngọt lên nguy cơ béo phì, hội chứng chuyển
hóa và đái đường loại 2. Nhưng còn huyết áp thì sao? Các nhà nghiên cứu
Hoa Kỳ đã nghiên cứu vấn đề này. Các kết quả của họ đã xuất hiện trong
Circultation, một ấn bản của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ.
BS Liwei Chen, giáo sư phân khoa y tế cộng đồng của đại học Louisane,
và các đồng nghiệp đã nghiên cứu các dữ kiện liên quan đến 810 người trưởng
thành (25 đến 79 tuổi) trong tình trạng tiền huyết áp (préhypertension)
hay cao huyết áp giai đoạn 1 (huyết áp tâm thu: 120-159 mmHg, huyết áp
trương tâm: 80 đến 95 mmHg). Những người này tham gia vào công trình nghiên
cứu PREMIER, một thử nghiệm kéo dài 18 tháng, được căn cứ trên những cố
gắng để làm mất cân và làm hạ huyết áp bằng thể dục và theo một chế độ
ăn uống lành mạnh. Huyết áp và cung cấp thức ăn được đo vào lúc bắt đầu
công trình nghiên cứu và sau 6 và 18 tháng. Vào lúc đầu thử nghiệm, sự
tiêu thụ trung bình đồ uống ngọt lên đến 310 ml/ngày và huyết áp trung
bình thu tâm/trương tâm lên đến 135/85mmHg.
Trong lúc thực hiện nghiên cứu (trong 18 tháng), những người tham gia
đã hủy bỏ một suất nước ngọt mỗi ngày đã cho thấy những sụt giảm đáng
kể của huyết áp thu tâm và trương tâm: lần lượt -1,8 và -1,1mmHg. Một
sự giảm cung cấp đường cũng được liên kết với một sự giảm huyết áp. Dung
lượng đường của các nước uống, hơn là caféine, dường như can thiệp vào
trong sự liên kết được quan sát. Như thế, các tác giả gợi ý rằng hoạt
động gia tăng của hệ thần kinh giao cảm có thể giải thích tác dụng của
đường lên huyết áp.
“Giảm sự tiêu thụ nước ngọt và đường làm hạ một cách đáng kể huyết áp.
Như vậy giảm cung cấp đồ ngọt và đường có thể là một chiến lược dinh dưỡng
hạ huyết áp (une stratégie diététique hypotensive) được lựa chọn, các
tác giả đã kết luận như vậy. “Một sự giảm 3mmHg của huyết áp thu tâm được
thể hiện bởi một sự hạ 8% tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não và 5%
những bệnh động mạch vành. Những sự giảm huyết áp thu tâm như vậy có thể
có được bằng cách giảm sự tiêu thụ nước ngọt 2 ly mỗi ngày”, BS Liwei
Chen, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 1/6/2010)
5/ NGƯỜI TA KHÔNG THỂ
LÀM 3 VIỆC MỘT LẦN.
Não bộ chỉ có thể theo đuổi hai mục đích cùng một lần, mỗi mục tiêu được
đảm nhận bởi một bán cầu đại não phân biệt. Con người có hai thùy trán
rất phát triển so với các loại động vật khác. Những cấu trúc này đảm nhận
những chức năng cao cấp như sự hoạch định kế hoạch, ngôn ngữ hay cử động
tự ý. Nhờ chúng, chúng ta có thể hành động theo những động cơ riêng của
chúng ta và thực hiện nhiều nhiệm vụ một cách đồng thời. Tuy vậy, những
khả năng nhận thức (capacité cognitive) của chúng ta không phải là vô
giới hạn. Bao nhiêu mục tiêu não bộ có thể theo đuổi cùng lúc? Não bộ
đảm nhận chúng như thế nào?
Để biết được điều đó, Etienne Koechlin và Sylvain Charron, thuộc Inserm
và Trường cao đẳng sư phạm, đã đặt 32 người dưới IRM chức năng. Những
người tham dự có trước mặt họ một écran, trên đó các mẫu tự tạo thành
chữ tiếng Anh tablet, hiện ra từng mẫu tự một. Sau mỗi loạt hai mẫu tự,
những người này phải nói những mẫu tự này có tiếp theo nhau theo cùng
thứ tự trong chữ tablet hay không. Khi những người tham dự cho một câu
trả lời đúng, họ được thưởng một số tiền. Sau vài thử nghiệm, các thầy
thuốc chuyên khoa thần kinh đã yêu cầu họ ngừng bài tập và thực hiện một
công việc khác tương tự, cũng được thưởng bởi một số tiền. Khi đó hai
tình huống xảy ra : hoặc là họ bỏ hoàn toàn công việc đầu tiên, hoặc là
họ đặt công việc này trong tình trạng chờ đợi để rồi tiếp tục một thời
gian sau.
Thế mà, theo trường hợp điển hình, các thùy trán đã không phản ứng cùng
phương cách. Trong trường hợp đầu, tương ứng với sự theo đuổi một mục
đích duy nhất, sự khen thưởng đã được mã hóa một cách đối xứng trong vỏ
não trước trán giữa (cortex préfrontal médian). Ngược lại, trong trường
hợp thứ hai, vùng này đã đã phân chia công việc : phần bên phải mã hóa
sự khen thưởng của công việc đầu tiên, phần bên trái mã hóa sự khen thưởng
của công việc thứ hai. Cũng sự phân chia như vậy đã được quan sát trong
vùng vận động của vỏ não trước trán, kiểm soát sự thực thi công việc.
Vùng trước trán, được biết đóng vai trò trong sự điều hòa của các mục
đích, được hoạt hóa từ hai phía suốt trong thời gian thí nghiệm.
Sau đó các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đã thêm vào một công việc
thứ ba. Kết quả : các thời gian phản ứng và tỷ lệ các sai lầm đã được
nhân lên ba lần. Như vậy, não bộ không thể theo đuổi một cách hiệu quả
hơn hai mục tiêu trong cùng một lần.
“Đó là một công trình rất lý thú và tiền phong, Stanislas Dehaene, giáo
sư tâm lý học nhận thức (psychologie cognitive) ở Collège de France đã
đánh giá như vậy. Công trình này cho thấy những khả năng của vỏ não trước
trán được chia thành hai mạng được phân biệt phần nào, mỗi mạng đảm đương
một công việc. Những mạng này nhờ đến những bán cầu não khác nhau, điều
này rất đáng ngạc nhiên”.
Từ đó ta có thể rút ra những hệ quả chung về hệ não bộ phụ trách động
cơ hành động? “Người ta không biết hiện tượng này có xảy ra với những
loại công việc khác hay không, và cũng không biết theo quy tắc nào một
công việc được chỉ định cho một bán cầu não, Stanislac Dehaene đã phân
tích như vậy. Trong những điều kiện này, sự không có thể thực hiện 3 công
việc cùng một lúc là một kết quả đáng lưu ý, nhưng không có gì chứng tỏ
rằng điều này là do sự kiện chúng ta chỉ có hai bán cầu não, như các tác
giả đã khẳng định như vậy”. (LA RECHERCHE 6/2010)
6/
MỐI LIÊN HỆ MẬT THIẾT GIỮA TIM VÀ LOẠN NĂNG SINH DỤC.
CARDIOLOGIE. Những người đàn ông có những khó khăn sinh dục sau 40 tuổi
phải thăm khám ưu tiên không phải một thầy thuốc chuyên về rối loạn sinh
dục (sexologue), mà là một thầy thuốc chuyên về tim. Đó là điều vừa được
đề nghị bởi một nhóm chuyên gia quốc tế, sau khi đã phân tích tất cả tư
liệu khoa học về chủ đề này. Các kết luận của họ (International Journal
of Clinical Practice, 5/2010) cho thấy rằng những người đàn ông bị loạn
năng cương (dysfonction érectile) có một nguy cơ gia tăng bị những bệnh
động mạch vành trong vòng 3 năm theo sau những khó khăn sinh dục này.
Và họ bị đe dọa bởi nhồi máu trong một thời hạn 3 đến 5 năm. 2/3 những
người đàn ông từ 40 đến 69 tuổi bị những rối loạn động mạch vành đã bị
mất hoạt năng sinh dục (panne sexuelle) trước đó. Cùng những thương tổn
ở các động mạch tim và sinh dục giải thích sự liên kết này. Và họ bị đe
dọa bởi nhồi máu trong một thời hạn 3 đến 5 năm. Do đó cần phải làm một
bilan (cholestérol, cao huyết áp, thuốc lá) trong trường hợp bị panne
sinh dục. (LE FIGARO 7/6/201) Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr145.htm
(TSYH số 145, bài số 10)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr118.htm
(TSYH số 18, bài số 7)
7/ CHÚNG TA CÓ THỂ CHỮA LÀNH BỆNH
HEN PHẾ QUẢN ?
GS Alain Didier, Pneumologue
CHU de Toulouse
Hiện nay, mặc dầu những tiến bộ hiển nhiên của 25 năm qua trong
sự điều trị của bệnh hen phế quản, câu trả lời cho câu hỏi này, bất hạnh
thay, vẫn thường âm tính. Tuy vậy, một niềm tin dân gian rất phổ biến
khiến phải tin rằng bệnh hen phế quản của trẻ em thường biến mất ở tuổi
dậy thì. Nếu quả thật đôi khi ta quan sát thấy một sự cải thiện, thậm
chí thuyên giảm vào thời kỳ này của đời sống, tất cả các công trình nghiên
cứu dịch tễ học đã quan tâm đến tương lai của các trẻ em hen phế quản,
đều xác nhận rằng các tái phát hay những trường hợp trở nặng ở tuổi trưởng
thành là quy luật. Ý niệm này là quan trọng, bởi vì nó khiến ta phải điều
trị sớm ngay khi chẩn đoán được xác định, vào một giai đoạn mà sự ảnh
hưởng lên cây hô hấp vẫn còn ít quan trọng và không chờ đợi một sự thuyên
giám có tính chất lý thuyết.
Tuy nhiên, mặc dầu câu ngạn ngữ “suyễn một ngày, suyễn suốt đời” tương
ứng với đại đa số các trường hợp, điều này phải được diễn đạt một cách
tương đối. Trước hết, phải ghi nhớ rằng tiên lượng của hen phế quản, khi
được điều trị một cách đúng đắn, không phải là tồi. Với một điều trị thích
ứng, phần lớn những bệnh nhân suyễn có thể có một cuộc sống bình thường,
kể cả trên bình diện thể thao. Sự giảm ly kỳ của số các trường hợp tử
vong do hen phế quản trong những năm qua ở Pháp cũng chứng tỏ sự giảm
toàn bộ của tiên lượng của bệnh. Ngoài ra, mặc dầu mối hy vọng một ngày
nào đó có một điều trị khả dĩ chữa lành bệnh suyễn dường như còn xa xăm,
nhưng nhiều cố gắng đã được thực hiện trong lãnh vực phòng ngừa bệnh.
Bên cạnh những khía cạnh di truyền càng ngày càng được biết rõ hơn, nhưng,
cũng lại nữa, có lẽ còn lâu mới có thể tiếp cận được với các điều trị,
các yếu tố môi trường chung, có liên hệ trong việc quyết định của bệnh,
đang được nhận diện. Đó là giai đoạn đầu tiên cần thiết cho sự xây dựng
những chiến lược phòng ngừa tập thể.
GIẢI CẢM ỨNG (DESENSIBILISATION)
Trong lãnh vực đặc biệt hơn của môi trường lúc lao động,
kiến thức tốt hơn về những hoạt động liên kết với với một nguy cơ tăng
cao phát triển bệnh suyễn nghề nghiệp đã cho phép thiết đặt những biện
pháp phòng ngừa hiệu quả. Ở quy mô cá nhân, bây giờ người ta biết rằng
việc xác định và điều trị sớm những biểu hiện đầu tiên của thể trạng dị
ứng (atopie) (nghĩa là thể trạng làm dễ sự phát triển của các bệnh dị
ứng) như chàm (eczéma) và/hoặc viêm mũi dị ứng, có thể cho phép làm chậm,
thậm chí tránh, trong một số các trường hợp, sự xuất hiện của hen phế
quản.
Sự phòng ngừa của bệnh suyễn này là một trong những mục tiêu chủ yếu của
những thử nghiệm điều trị quy mô lớn hiện đang được tiến hành, sử dụng
miễn dịch liệu pháp (immunothérapie) đặc hiệu (hay giải mẫn cảm : désensibilisation)
trong điều trị viêm mũi dị ứng, một bệnh lý thường đi trước vài năm sự
xuất hiện của hen phế quản. Vậy ta có thể giữ niềm hy vọng một cách hợp
lý rằng câu trả lời hiện nay toàn bộ âm tính có thể tiến triển thành dương
tính trong những năm đến. (LE FIGARO 7/6/2010)
8/ TẠI SAO RƯỢU LÀ
MỘT NGUYÊN NHÂN QUAN TRỌNG CỦA CÁC UNG THƯ ?
GS Roger Normann, Biologiste
et Spécialiste en Santé Publique
Trong khi tất cả chúng ta đều ý thức về vai trò của chứng nghiện
thuốc lá (tabagisme) là nguồn gốc của các ung thư, thì sự liên kết giữa
việc tiêu thụ rượu quá mức và các ung thư thường ít được biết đến. Tuy
vậy, ở Châu Âu, khoảng 150.000 trường hợp ung thư có thể được quy trực
tiếp cho rượu. Ở Pháp, gần 10% các trường hợp tử vong do ung thư được
liên kết với sự lạm dụng rượu nơi đàn ông và 3% nơi phụ nữ. Như thế ruợu
là nguyên nhân thứ hai có thể tránh được của ung thư sau thuốc lá. Sự
liên kết giữa việc tiêu thụ các đồ uống có chất cồn (boissons alcooliques)
và các ung thư đặc biệt rõ ràng đối với các ung thư của phần trên của
những đường hô hấp-tiêu hóa (cancers des voies aéro-digestives supérieures),
các ung thư đại-trực tràng, cũng như những ung thư gan và vú, nhưng, mặc
dầu các cơ chế gây bệnh khác nhau đối với mỗi loại ung thư, nhưng người
ta biết rằng, dầu đó là loại ung thư gì chăng nữa, không phải loại rượu
là nguyên nhân gây bệnh, mà luôn luôn là lượng cồn được tiêu thụ.
KHUẨN CHÍ RUỘT : KẺ ĐỒNG LÕA CỦA RƯỢU.
Các vi khuẩn và các men hiện diện trong xoang miệng và phần tận cùng của
ruột có những enzymes có tác dụng xúc tác sự biến đổi rượu thành acétaldéhyde.
Không phải chính rượu mà là sự tích tụ acétaldéhyde mới là độc. Nồng độ
acétaldéhyde trong nước miếng có thể 10 đến 100 lần cao hơn trong máu,
làm dễ sự xuất hiện của ung thư. Nồng độ này càng mạnh khi người ta đồng
thời vừa hút thuốc và uống rượu, tạo nên một tác dụng cộng lực của rượu
và thuốc lá trong các ung thư của các đường hô hấp-tiêu hóa trên (voies
aéro-digestives supérieures) (miệng, thanh quản, hầu, thực quản). Thiếu
vệ sinh răng-miệng cũng làm dễ sự hiện diện trong miệng của quần thể vi
khuẩn gây nên sự tích tụ tại chỗ của acétaldéhyde từ alcool. Sự oxy hóa
của alcool bởi khuẩn chí ruột với sự tích tụ tại chỗ acétaldéhyde cũng
giải thích sự gia tăng quan trọng của nguy cơ ung thư đại-trực tràng nơi
những người tiêu thụ đều đặn các đồ uống có chất cồn.
NHỮNG GỐC TỰ DO, VŨ KHÍ BÍ MẬT CỦA RƯỢU.
Sau khi được hấp thụ ở ruột, alcool được oxy hóa ở gan và được loại bỏ.
Đó là xa lộ mà các đồ uống cồn đi qua với hiệu quả năng lượng mà ta đã
biết…cho đến lúc, bị bảo hòa, xa lộ gởi trả lại rượu thặng dư về phía
các đường nối (bretelles), ở đó hoành hành các gốc tự do, những loại phản
ứng khả dĩ gây nên những chỗ gãy và những thương tổn của các hệ sửa chữa
của ADN, cũng như những rối loạn của sự điều hòa của các gène bảo vệ,
với sự tăng sinh vô tổ chức của các tế bào. Như thế, stress oxy hóa, liên
kết với sự tăng sản xuất các gốc tự do trong lúc chuyển hóa rượu theo
đường này, là một nguyên nhân quan trọng của ung thư gan. Theo cùng hiện
tượng, rượu làm tăng tác dụng sinh ung thư của các độc chất có thể được
chứa trong thức ăn hay các loại thuốc. Sự lạm dụng rượu cũng tác động
lên cân bằng hormone với một vai trò làm dễ ung thư vú.
TIÊU THỤ CÓ MỨC ĐỘ : MỘT KHẨU HIỆU NGUY HIỂM...
Nguy cơ ung thư gia tăng theo lượng rượu được tiêu thụ. Nhưng điều này
chỉ có tính cách chỉ dẫn, vì lẽ mỗi người có một khả năng phản ứng và
tính nhạy cảm khác nhau đối với rượu. Những chiến dịch phòng ngừa giải
thích những cái mốc “tiêu thụ có ít nguy cơ hơn” không nhấn mạnh đầy đủ
nguy cơ mắc phải ung thư, phần lớn không được biết đến đối với những đồ
uống cồn. Những chiến dịch hẳn phải khiến các người tiêu thụ giảm bớt
sự tiêu thụ của họ, nhưng điều quan trọng là ghi chú rằng một nguy cơ
tiềm tàng làm gia tăng một ung thư hiện hữu ngay cả đối với những tiêu
thụ dưới những điểm mốc này. Cần khuyến nghị, trên cơ sở một đơn vị rượu
=10g, đối với một người đàn ông, đừng vượt quá 21 đơn vị cồn mỗi tuần
và 14 đối với một phụ nữ. (LE FIGARO 17/5/2010)
9/ MỘT GENE LÀM BUỒN
NGỦ VÀ BẢO VỆ KHỎI BỊ NHIỄM ĐỘC RƯỢU.
ADDICTION. Tại sao vài người rơi vào giấc ngủ chỉ sau một ly rượu van
trong khi những người khác có thể liên hồi ly này qua ly khác cho đến
cuối đêm mà chẳng thấy buồn ngủ chút nào? Sự khác nhau có thể là do một
gène. Một gène, theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, bảo vệ các cá thể, mà
người ta thường nói là “không chịu được” rượu, khỏi bị phụ thuộc vào sản
phẩm này. Để đạt được kết luận độc đáo này, nhóm nghiên cứu của Denis
McCarthy (đại học Missouri) đã theo dõi hành vi của 91 thanh niên Mỹ gốc
Phi Châu trong những giờ sau khi uống một lượng rượu vừa phải. Người ta
nhận thấy rằng những người có khuynh hướng buồn ngủ nhất sau khi đã uống
thường mang một gène được gọi là ADH1B3 hơn. Thế mà, các nhà nghiên cứu
khác đã xác lập rằng loại gène này của ADH (alcool déshydrogénase, một
trong những men có trách nhiệm trong sự chuyển hóa của rượu) được liên
kết với với một sự phụ thuộc rượu thấp. Gène này có một đặc điểm khác
: nó hầu như chỉ được tìm thấy nơi những nhóm dân có nguồn gốc châu Phi.
Theo Denis MacCarthy, công bố những kết quả trong tạp chí Clinical &Experimental
Research, tác dụng an thần của rượu được quan sát nơi những người mang
gène ADH1B3 có thể là một trong những giải thích về sự phụ thuộc ruợu
(alcoolodépendance) của họ, “những người ít muốn uống lượng lớn nếu điều
đó làm họ mệt hơn là nếu đều đó kích thích hay làm mất ức chế họ, ông
ta đã nêu lên như vậy. Thật vậy các nhà nghiên cứu chưa hẳn đã chọc thủng
được tất cả các bí mật của các hành vi của chúng ta đối với rượu. Nhiều
gène chịu trách nhiệm sự nhạy cảm đối với chứng nghiện này đã được nhận
diện, chúng tương tác một cách phục hợp đối với môi trường. Nhiều yếu
tố cá nhân và xã hội cũng được nhận biết : thất nghiệp, tình trạng công
ăn việc làm mong manh, sự cô lập, chồng/vợ nghiện rượu hay các bệnh tâm
thần như bệnh trầm cảm, bệnh tâm thần phân liệt hay các rối loạn nhân
cách...
Ở quy mô gia đình, nguy cơ phát triển một sự phụ thuộc rượu được nhân
lên ba lần nơi các trẻ có người thân nghiện rượu, nhưng chỉ có một tỷ
lệ nhỏ trong số các trẻ này cuối cùng trở thành phụ thuộc rượu (15% các
con trai và 5% con gái ). Ngoài các gène, hành vi của các bố mẹ chúng
và sự giáo dục của họ, các đứa trẻ bị ảnh hưởng nhiều bởi ...cinéma. Việc
xem các phim cấm trẻ vị thành niên, trong đó 90% có những biểu diễn về
rượu, có một vai trò không phải là không đáng kể, một cuộc điều tra nơi
3600 học sinh trung học Hoa kỳ mới được công bố gần đây đã kết luận như
vậy. Trong hai năm theo dõi, chỉ 3% các thiếu niên đã không xem những
phim như thế đã bắt đầu uống, trong khi tỷ lệ này là 19% trong số những
thiếu niên đã đôi khi được xem những phim như vậy, và 25% nơi những thiếu
niên đã được xem một cách không hạn chế những phim như vậy.
(LE FIGARO 10/5/2010)
10/ UNG THƯ TRỰC TRÀNG : NHỮNG CHỈ
ĐỊNH CỦA LIỆU PHÁP PHÓNG XẠ TIẾP XÚC.
GS Jean-Pierre Gérard, thầy thuốc chuyên khoa ung
thư phóng xạ liệu pháp ở trung tâm chống ung thư Antoine-Lacassagne de
Nice, giải thích trong những trường hợp nào ta có thể đề nghị kỹ thuật
này như là một phương thức thay thế một hậu môn nhân tạo hay một cắt bỏ
trực tràng.
Hỏi : Các
ung thư trực tràng có thường xảy ra không và những giai đoạn khác nhau
là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Ở Pháp sẽ có khoảng 12.000 trường hợp mới vào
năm 2010. Ta co thể chia ung thư trực tràng thành 3 giai đoạn : 1. Những
khối u T1,T2, có kích thước nhỏ, không di căn, chiếm 10 đến 15% các ung
thư đại tràng. 2. Những khối u T3,T4, to lớn hơn, không có di căn, chiếm
75% các ung thư này. 3. Các T3 và T4 với các di căn.
Hỏi : Tùy
theo các giai đoạn, các điều trị quy ước là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Những ung thư T1 và T2, kích thước đo dưới 3cm,
được điều trị bằng ngoại khoa vi xâm nhập (chirurgie mini-invasive), người
ta lấy khối u đi bằng các đường tự nhiên. Đối với những ung thư T1,T2
kích thước hơn 3cm, người ta thực hiện mở bụng ngoại khoa để có thể thực
hiện sự cắt bỏ không những khối u, mà còn cả toàn bộ trực tràng. Với kỹ
thuật này, có thể tái lập sự liên tục của ruột, điều này có thể tránh
khỏi phải thiết đặt một hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Về những ung thư lớn
T3 và T4 không có di căn, protocole được khuyến nghị bao gồm thực hiện
đồng thời hóa học liệu pháp và phóng xạ liệu pháp trong 5 tháng. Khối
u sau đó được lấy đi bằng phẫu thuật ngoại khoa. Vấn đề thiết đặt hậu
môn nhân tạo vĩnh viễn được đặt ra khi khối u nằm ở vị trí không tốt,
nghĩa là sát với hậu môn. Trong trường hợp này, cần thực hiện cắt cụt
toàn bộ trực tràng và hậu môn. Đối với các khối u với các di căn, điều
trị quy ước là hóa học liệu pháp. Trong vài tình huống, trong đó di căn,
nằm ở gan, có thể mổ được, ta bổ sung hóa học liệu pháp này bằng hai cắt
bỏ ngoại khoa có mục đích chữa lành : ở gan và ở trực tràng.
Hỏi : Những
tỷ lệ chữa lành là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Những kết quả tốt tiến triển. Hiện nay, ta chữa
lành 55% các khối u trực tràng ! Cách nay 20 năm, ta thiết đặt một hậu
môn nhân tạo trong 60% các trường hợp, còn ngày nay trong chỉ 20% các
trường hợp mà thôi. Mặc dầu, như thế vẫn còn quá mức ! Và ngay cả sau
một ngoại khoa cắt bỏ trước (chirurgie de résection antérieure), trong
đó ta đã có thể tránh một cắt cụt hậu môn, tuy vậy chức năng ruột vẫn
thường còn kém.
Hỏi : Do đó
phải tìm kiếm những phương thức khác...Phóng xạ tiếp xúc (radiothérapie
de contact) là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Điều trị này sử dụng các tia X 50 kilovolt có
tác dụng rất nông. Một ống thu nhỏ (tube miniaturisé) được đưa vào bên
trong hậu môn, dưới sự kiểm soát thị giác bằng một ống soi trực tràng,
rồi được đặt tiếp xúc với khối u. Sau đó sự bức xạ rất nhắm đích được
phát ra với những liều lượng cao, trong một đến hai phút. Phải cần 3 đến
5 buổi phóng xạ, cách nhau 8 hay 15 ngày, để khử khối u. Phóng xạ liệu
pháp này được thực hiện ngoại trú.
Hỏi : Những
chỉ định đối với phóng xạ liệu pháp này là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Người ta đề nghị liệu pháp phóng xạ để điều trị
những ung thư nhỏ T1 và cho những bệnh nhân bị những ung thư T2 và T3
có kích thước dưới 5 cm, không thể mổ được hay từ chối một sự cắt cụt
với sự thiết đặt một hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Đối với những ung thư
T2 và T3, cần kết hợp với kỹ thuật này một phóng xạ liệu pháp ngoài (radiothérapie
externe), sẽ bức xạ các hạch lân cận và cũng tùy theo trường hợp, một
hóa học liệu pháp để tăng cường các điều trị của phóng xạ liệu pháp.
Hỏi : Những
kết quả thu được với những protocoles sau cùng này là gì ?
GS Jean-Pierre Gérard : Về những ung thư nhỏ T1, được điều trị riêng rẻ
bởi phóng xạ liệu pháp tiếp xúc, những kết quả của các công trình nghiên
cứu quốc tế, được tiến hành trên nhiều ngàn bệnh nhân, chỉ rõ rằng ta
thu được tỷ lệ chữa lành 90 đến 95%. Những công trình nghiên cứu khác
đã được thực hiện nơi những người mang những khối u trực tràng quan trọng
hơn T2 và T3. Kết quả : ta đã ghi nhận được tỷ lệ chữa lành 80% đối với
các T2 và gần 50% đối với các T3. Một thử nghiệm mới đây ở Lyon đã cho
thấy rằng, trong 70% các trường hợp các khối u nằm ở vị trí không tốt
T2 và T3, phóng xạ liệu pháp tiếp xúc đã cho phép tránh một hậu môn nhân
tạo vĩnh viễn. (PARIS MATCH 3/6-9/6/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/6/2010)
TAGS: Ung thư, thuốc chủng (vaccine),
Alpha-lactalbumine, chất bổ trợ (adjuvant), Chuột (muridés, HER2, Bệnh
cận răng (maladie parodentale), Alzheimer, Tiền huyết áp (préhypertension),
Khả năng nhận thức (capacité cognitive), Hen phế quản, Suyễn, Giải cảm
ứng (Desensibilisation), Khuẩn chí ruột, ADH1B3, Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |