 |
Thời
Sự Y Học số 176
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ NHỮNG TIẾN BỘ CỦA NGOẠI
KHOA CỦA ĐỤC THỦY TINH THỂ.
NHỮNG ĐIỂM MỐC
BỆNH ĐỤC THỦY TINH THẾ (CATARACTE) : Sự
giảm dần thị lực, cảm giác nhìn trong sương mù, những rối loạn của thị
giác màu sắc, là những triệu chứng cổ điển nhất. Đó là sự làm mờ đục của
thủy tinh thể, một thấu kính (lentille) bình thường trong suốt nằm sau
mống mắt, cơ quan này cho phép điều tiết mắt.
CÁC NGUYÊN NHÂN. Trong những nước
phát triển, bệnh đục thủy tinh thể thường nhất là do sự lão hóa của thủy
tinh thể. Bệnh này cũng được làm dễ bởi sự nhiễm độc thuốc lá (tabagisme)
hay một bệnh đái đường, và bệnh có thể thứ phát sau một chấn thương nhãn
cầu. Có những dạng bẩm sinh. Một sự tiếp xúc quá mức với các tia tử ngoại
là nguyên nhân trong một trường hợp trên năm, theo Tổ Chức Y Tế thế giới.
OMS ước tính rằng 20 triệu người trên thế giới bị mù lòa do đục thủy tinh
thể, nguyên nhân dẫn đầu trên thế giới của chứng mù.
NGOẠI KHOA. Ở Pháp, 600.000 phẫu
thuật được thực hiện mỗi năm, đây là can thiệp ngoại khoa thường xảy ra
nhất. Phẫu thuật nhằm lấy đi thủy tinh thể bị hỏng và thay thế nó bằng
một implant bằng acrylique (trở nên ngày càng hiệu năng). Nói chung chỉ
cần gây tê tại chỗ bằng một loại gel là đủ. Đường xẻ tối thiểu (đôi khi
dưới 2mm) và phần lớn các bệnh nhân chỉ được nhập viện nửa ngày. Giải
phẫu được thực hiện trong khu vực tư nhân trong 70% các trường hợp. “Từ
15 năm nay, có một sự bùng nổ của các kỹ thuật”, GS Béatrice Cochemer,
chủ tịch của Hiệp hội nhãn khoa Pháp đã nhấn mạnh như thế.
CÁC KẾT QUẢ. Sự phục hồi thị giác
nhanh chóng, đôi khi ngay ngày hôm sau. Vài bệnh nhân có thể không cần
đeo kính. Các biến chứng là hiếm hoi, ít nhất nơi các nhóm phẫu thuật
có kinh nghiệm. Phải tránh những gắng sức vật lý trong những ngày sau
mổ, và tránh thể thao trong ít nhất 15 ngày. Sự
ra đời của các implant còn hiệu năng hơn hẳn sẽ còn cải thiện các kết
quả của các phẫu thuật.
VISION. Trong những năm 1950, những
can thiệp ngoại khoa thường được thực hiện nhất, viêm ruột thừa và các
amygdales, liên hệ chủ yếu đến các trẻ em. Ngày nay, đó chính là ngoại
khoa của bệnh đục thủy tinh thể, hiếm khi gây bệnh cho những người dưới
60 tuổi … Với gần 600.000 phẫu thuật mỗi năm ở Pháp, phẫu thuật này cũng
là một minh họa đẹp của những bất bình đẳng xã hội-địa dư về sức khỏe.
Không ai thoát khỏi sự giảm thị giác này, do, khi lớn tuổi, một sự làm
đục dần dần của thủy tinh thể, được giải thích bởi cấu trúc của nó: “Thủy
tinh thể được bao quanh bởi một bao nang (capsule) mà chỉ có phần trước
là sản xuất các tế bào; những tế bào này sau đó mất nhân và trở thành
những tế bào sợi, chồng chất như vỏ của các quả hành, GS Francine Behar-Cohen,
thầy thuốc nhãn khoa thuộc bệnh viện Hôtel-Dieu de Paris đã giải thích
như vậy. Những tế bào này tồn tại suốt đời, nhưng chỉ nhờ những chất dinh
dưỡng được mang lại bởi các kênh màng tế bào (canaux membranaires). Thế
mà, với sự lão hóa, số những kênh này bị giảm, các sản phẩm thoái hóa
tích tụ và làm biến đổi cấu trúc của các sợi của thủy tinh thể, làm thủy
tinh thể mất sự trong suốt, cứng lên và vàng đi.”
Cơ chế này được khơi mào ngay năm 30 tuổi mặc dầu một sự giảm thị lực
chỉ được cảm thấy sau 60 hay 70 tuổi. Bị ảnh hưởng bởi những yếu tố di
truyền, sự giảm thị lực này có thể xuất hiện sớm hơn trong vài gia đình
mà không có lý do đặc biệt. Một chấn thương của mắt cũng có thể gây nên
đục thủy tinh thể. Tác dụng của ánh sáng đang còn được bàn cãi, nhưng
bệnh đái đường, có thể coi như là một sự lão hóa gia tốc, và chứng nghiện
thuốc lá, làm dễ chứng bệnh này. Những bệnh đục thủy tinh thể xuất hiện
rất sớm, hiếm khi xảy ra, nơi trẻ em có thể kèm theo những bệnh di truyền
khác như trisomie 21. Những bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh (cataractes
congénitales) này phải được chẩn đoán càng sớm càng tốt.
Ngoài những trường hợp đặc biệt này, đục thủy tinh thể chỉ là một dấu
hiệu làm bực mình của tuổi già. “Mức độ của những biến đổi, vị trí và
sự lan rộng của các vết mờ đục làm bệnh thủy tinh thể gây khó chịu ít
hay nhiều. Ngày xưa, nhìn kém vào tuổi 60 là chuyện bình thường. Ngày
nay ta còn có thể hoạt động hơn, lái xe ở tuổi 80-90, và mỗi người muốn
bảo tồn một thị lực tối ưu”, GS Behar-Cohen đã nói thêm vào như vậy.
Giải pháp duy nhất, phẫu thuật lấy đi thủy tinh thể bị hỏng, được thay
thế bằng một implant bằng acrylique, đặt trong nhãn cầu. “Không có chống
chỉ định, ngoài sự nhiễm trùng. Trong khoa của chúng tôi, tuổi trung bình
được mổ là 73 tuổi”, GS Antoine Brézin, người điều khiển trung tâm nhãn
khoa của bệnh viện Cochin, Paris (ở đây 2000 trường hợp mổ đục tinh thể
mỗi năm) đã nhấn mạnh như vậy. Trong phần lớn các trường hợp, chỉ cần
vài giờ là đủ.
15 PHÚT GIẢI PHẪU.
Vào lúc thăm khám trước khi mổ, sự đo cực kỳ chính xác các tham số của
mắt cho phép xác định loại thấu kính (lentille) cần thiết. Thường nhất,
một gây mê tại chỗ bằng một gel là đủ cho phẫu thuật kéo dài khoảng 15
phút và được thực hiện dưới kính hiển vi. Tiêm một chất nhớt đàn hồi (produit
viscoélastique) dưới giác mạc tạo phẫu trường cần thiết cho thầy thuốc
ngoại khoa để đưa dụng cụ vào nhờ hai đường xẻ nhỏ. Ông ta cắt một cửa
sổ nhỏ tròn trong bao nang của thủy tinh thể, rồi tiêm một chất làm cho
thủy tinh thể tách ra khỏi bao nang của nó. Thủy tinh thể, sau khi đã
trở nên di động, nhờ một ống thăm dò siêu âm (sonde à ultrasonde), được
nhũ hóa thành những mảnh nhỏ, được hút đi một cách cẩn thận : đó là phacoémulsification.
Implant, được quấn tròn trong cartouche của nó, khi đó được đưa vào trong
bao nang, ở đấy nó được triển khai ra.
“Tất cả sự khó khăn là ở chỗ tạo những đường xẻ càng nhỏ càng tốt (dưới
2mm) đối với những phẫu thuật viên giỏi nhất, để không tạo nên chứng loạn
thị làm biến dạng thị giác. Và cũng làm sao đừng làm vỡ bao nang thủy
tinh thể, chỉ dày một phần nghìn của milimet, bằng không thì không thể
đặt lentille vào trong vị trí cơ thể học của nó, thầy thuốc nhãn khoa
đã giải thích như vậy. Nhưng những biến chứng như những biến chứng này
hay một sự bong võng mạc vẫn khá hiếm hoi (dưới 1%), cũng như những nhiễm
trùng (dưới 1%). Tuy nhiên, vì lý do an toàn, phần lớn các nhóm phẫu thuật
ưa mổ một con mắt này cách xa con mắt kia một khoảng thời gian. Một đục
thủy tinh thể thứ phát do sự làm đục của bao nang có thể xảy ra, nhất
là nơi những người được mổ trẻ. Do sự di chuyển của các tế bào từ bao
nang, bao nang được điều trị bằng laser.
Sự lựa chọn implant là một sự thỏa hiệp giữa các ước muốn của bệnh nhân
và những bức thiết của sự điều chỉnh quang học. Nếu không có vấn đề mắt
nào khác, kết quả có thể là rất tốt và nhiều bệnh nhân sau khi mổ có một
thị lực tuyệt vời, mà đôi khi họ đã không bao giờ có được. Sự xuất hiện
sắp đến đây những implant thật sự có khả năng điều tiết, như thủy tinh
thể tự nhiên, hẳn phải còn cải thiện những hiệu năng của phẫu thuật. (LE
FIGARO 17/5/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr156.htm (TSYH số 156,
bài số 6 và số 8)
2/ UNG THƯ PHỔI : TỶ LỆ TỬ
VONG CỦA CÁC PHỤ NỮ BÙNG NỔ.
Những con số được ghi nhận nơi các phụ nữ từ 35 đến 54 tuổi là gần với
những con số của các người đàn ông trong những năm 1950.
ONCOLOGIE. Ở Pháp, mỗi năm người ta đếm được 30.000
trường hợp ung thư phổi mới. Tỷ lệ tử vong đối với loại ung thư này (thường
xảy ra nhất sau ung thư tuyến tiền liệt nơi đàn ông) đã được chia đôi
trong 10 năm nơi những người đàn ông 40 tuổi. Ngược lại, tỷ lệ này được
nhân 4 trong 15 năm nơi các phụ nữ 40 tuổi, cần biết rằng nơi các phụ
nữ, ung thư phổi là ung thư thường xảy ra nhất sau ung thư vú và ung thư
đại tràng. Chỉ còn vài ngày nữa là Ngày thế giới không thuốc lá (Journée
mondiale sans tabac), Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire)
công bố những con số này trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire (BEH).
Công trình nghiên cứu này, được tiến hành bởi Catherine Hill, chuyên gia
dịch tễ học thuộc Viện Gustave Roussy, nêu lên rằng sự thành công của
việc hạ tỷ lệ tử vong nơi các người đàn ông “hầu như hoàn toàn có thể
quy cho sự ngăn ngừa của nhiễm độc thuốc lá, bởi vì những sự tiếp xúc
khác (nghề nghiệp và ô nhiễm) có một ảnh hưởng ít hơn và bởi vì sự điều
trị ung thư phổi, bất hạnh thay, đã ít đạt được tiến bộ”.
Cũng từ công trình nghiên cứu này cho thấy rằng tỷ lệ tử vong bởi ung
thư phổi đã đạt một tối đa vào năm 1993 nơi những người đàn ông và rằng
từ đó tỷ lệ này đã hạ rất nhiều. Trái lại, nơi các phụ nữ, tỷ lệ này gia
tăng từ năm 1980 và ngay cả gia tốc trong những năm qua. Những sự biến
thiên này là do sự giảm của số trung bình các điếu thuốc được hút giữa
15 và 44 tuổi, nơi những người đàn ông suốt trong mười năm qua và do sự
gia tăng hút thuốc nơi các phụ nữ. Hậu quả : tỷ lệ tử vong bởi ung thư
phổi nơi các phụ nữ từ 35 đến 54 tuổi trong năm 2000-2007 “là gần với
tỷ lệ tử vong nơi những người đàn ông cùng lứa tuổi suốt trong những năm
1950”, Viện theo dõi y tế đã đánh giá như vậy.
“Những con số này là những hậu quả của sự chênh lệch thời gian giữa những
người đàn ông và các người đàn bà, BS Armelle Lavolé, thầy thuốc chuyên
khoa phổi-ung thư (pneumo-oncologue) thuộc bệnh viện Tenon, Paris đã chứng
thực như vậy. Cần biết rằng ta cần 20, 30 hoặc 40 năm để “làm” một ung
thư của phổi.” Tỷ lệ tử vong giữa 35 và 44 tuổi là kết quả của những sự
tiếp xúc của 20 đến 25 năm qua, trong chừng mực sự bắt đầu nghiện thuốc
lá được thực hiện giữa 15 và 20 tuổi.
Ở Pháp, các phụ nữ bắt đầu hút thuốc lá vào năm 1945. Khi đó quyền đi
bầu và thuốc lá há không phải là cùng một cuộc đấu tranh? “Thật vậy, đầu
chiến tranh, đó là sự bắt đầu của thuốc lá đối với các phụ nữ. Đó là sự
giải phóng của phụ nữ nhưng chỉ các đĩ điếm và vài cô gái tự do phóng
túng hút mà thôi, Catherine Hill đã nêu lên như vậy. Khi đó, đó là những
loại người rất xấu ! Rồi, dần dần các bà bắt đầu hút, và hút trở thành
một thời trang. “Vào năm 1945, các phụ nữ tiêu thụ 0,1 điếu thuốc mỗi
ngày, nhưng con số này sẽ không ngừng gia tăng với thời gian để vào năm
1955 đạt một cao điểm với 3,4 điếu mỗi ngày (so với 7 đối với các người
đàn ông). 4 năm trước đó, luật Evin đánh dấu một bước tiến đầu tiên trong
cuộc đấu tranh chống thuốc lá bằng cách cấm hút ở những nơi công cộng.
Sự quảng cáo thuốc lá cũng như việc bán cho những người dưới 18 tuổi cũng
bị cấm chỉ.
“ YẾU ỚT HƠN ”
Hoa Kỳ là nơi các phụ nữ đã bắt đầu hút thuốc trước cả những người Pháp,
tỷ lệ mắc phải ung thư phổi gia tăng nhưng tỷ lệ tử vong lại giảm. Bên
kia Đại Tây Dương, đối với các người đàn ông, tỷ lệ tử vong hạ từ đầu
những năm 1990. “Cùng nguy cơ như nhau, các phụ nữ mềm yếu hơn, BS Lavolé
đã ghi nhận như vậy. Đối với các người đàn ông, trên 100 ung thư phổi,
10 đến 15 xảy ra nơi những người không hút thuốc so với khoảng 30 nơi
các phụ nữ. Như vậy các phụ nữ dễ bị mắc bệnh hơn dầu cho không hút thuốc.”
Hiện nay, các nhà nghiên cứu không biết một cách đích xác phải quy những
khác nhau này cho gì. Hướng hormone và di truyền đã được đưa ra. Đối với
Viện theo dõi y tế, giải pháp không mập mờ : phải ngừng hút thuốc. “Không
có một hành động ngăn ngừa nào hiệu quả hơn là ngừng hút thuốc. Phải theo
đuổi các hành động trên mọi mặt trận, đặc biệt là về các giá cả, nếu ta
muốn đi đến một sự giảm lớn của vấn đề”, Viện đã kết luận như vậy. (LE
FIGARO 26/5/2010)
3/ UNG THƯ GIAI ĐOẠN SỚM : NGỪNG
THUỐC LÁ CÓ LỢI.
Ở Anh quốc, 10 công trình nghiên cứu dịch tễ lớn nơi gần 2.000 bệnh nhân
cho thấy rằng nơi những người bị chẩn đoán có một ung thư ở giai đoạn
sớm liên kết với thuốc lá (90% những u ác tính của phổi), tỷ lệ sinh tồn
vào 5 năm sau chẩn đoán được tăng gấp đôi nếu họ ngừng hút thuốc (chuyển
từ 33 đến 70%). Lợi thu được là do một sự chậm lại của sự tiến triển của
những tế bào ác tính. (PARIS MATCH 13/5-19/5/2010)
4/ GIỌNG NÓI CỦA BÀ MẸ CÓ TÁC DỤNG
LÀM VỮNG LÒNG CŨNG NHƯ SỰ HIỆN DIỆN CỦA BÀ MẸ.
Một cú gọi điện thoại của người mẹ phóng thích oxytocine nơi các cô thiếu
nữ bị căng thẳng và đủ để làm trấn an các cô gái này.
HORMONE. Sự tiếp xúc và sự hiện diện của bà mẹ không
phải là phương thuốc duy nhất trị stress đối với các trẻ em. Những lời
nói trấn an của bà mẹ cũng có tác dụng nhiệm màu, gây nên nơi các trẻ
em sự phóng thích oxytocine, một kích thích tố chống stress mà ta chỉ
mới bắt đầu đo lường tầm quan trọng và vai trò của nó nơi người và những
động vật có vú. Đó là điều được chứng minh bởi một công trình nghiên cứu
Hoa Kỳ, được thực hiện nơi khoảng 60 thiếu nữ tuổi từ 7 đến 12. Đây là
lần đầu tiên mà tác động và những lợi ích của lời nói người mẹ được đo
lường một cách trực tiếp nơi những đứa trẻ bằng những định lượng nồng
độ hormone. Nhóm nghiên cứu được chỉ đạo bởi Leslie Seltzer, thuộc Đại
học Wiconsin-Madison, đã cho các thiếu nữ chịu một trắc nghiệm nhằm gây
nên stress. Được cấp môn bài và được cho phép bởi các giới hữu trách của
đại học, trắc nghiệm nhằm yêu cầu các cô thiếu nữ này nói và làm những
bài tập toán trước một cử tọa gồm những người lớn. Một tình huống gây
lo âu mà những tác dụng đã gây nên nơi toàn bộ các thiếu nữ một sự tiết
mạnh cortisol, một hormone de stress, được định lượng trong nước miếng
và nước tiểu. Tại sao lại các cô con gái? “Bởi vì trong tình huống stress,
các cô gái có khuynh hướng tìm kiếm một sự che chở nhiều hơn so với các
cậu con trai”, Leslie Selzer đã biện minh như vậy.
Một khi đã bị làm mất ổn định, các cô gái nhỏ đã được chia thành 3 nhóm.
Những cô gái thuộc nhóm thứ nhất đã được cho tiếp xúc với mẹ để bà mẹ
làm chúng vững lòng bằng cách có thể nói với chúng và nắm cổ chúng, những
cô gái thuộc nhóm thứ hai được quyền nói bằng điện thoại với mẹ và kể
những nỗi bất hạnh của mình, trong khi những cô gái của nhóm sau cùng
xem phim La Marche de l’empereur, phim của Luc Jacquet.
“Những cô gái nhỏ, đã có thể tương tác với mẹ mình, dầu đó bằng một sự
tiếp xúc vật lý trực triếp hay chỉ qua điện thoại, đều đã có cùng đáp
ứng hormone”, nhà nghiên cứu nữ đã nhấn mạnh như vậy. Bù lại, không có
một dấu vết oxytocine nào đã được tìm thấy trong nước tiểu của những cô
gái đã xem phim và như thế đã không có một sự tiếp xúc nào với mẹ mình.
Nhóm nghiên cứu đã phải ngạc nhiên khi chứng thực rằng tất cả những trao
đổi đã xảy ra theo cùng kịch bản: trước hết một sự làm vững lòng không
chút dè dặt (“con sẽ tốt hơn”), tiếp theo là một sự gợi lên những sự hoạt
động sắp đến của gia đình và cuối cùng, những lời phát biểu thương yêu
và một “bisou” (hôn).
MỘT TRẮC NGHIỆM VỚI NHỮNG SMS.
Vào cuối thai nghén, nhũ nhi biết giọng nói của mẹ mình. Vậy ta có thể
tự hỏi trong thí nghiệm này những yếu tố làm an lòng trong những trao
đổi mẹ-con gái là gì. Ngôn ngữ nói riêng? Ngữ điệu ? Tiếng nói ? “Chúng
ta không thể biết điều đó, Leslie Seltzer đã công nhận như thế. Ta có
thể nghĩ rằng các con người sử dụng các tín hiệu ngôn từ như một thay
thế của xúc giác khi họ không có thể mang lại trực tiếp sự làm an lòng
cho một người nào đó. Đó là tất cả những gì ta có thể nói.” Để biết xem
ngôn ngữ có đóng một vài trò quyết định hay không, nhóm nghiên cứu của
ông làm cùng trắc nghiệm nhưng hạn chế những trao đổi vào những liên lạc
không ngôn từ, các SMS. Họ cũng làm trắc nghiệm với các động vật có vú,
cũng sử dụng các messages vocaux.
Được tổng hợp trong não bộ bởi vùng dưới đồi, oxytocine không chỉ là một
hormone chống stress. Nơi người mẹ, nó đóng một vai trò chủ chốt lúc sinh
đẻ và lúc cho bú. Hiện diện nơi nam lẫn nữ, oxytocine làm dễ sự quyến
luyến, tình yêu và lòng chung thủy. Được cho nơi những bệnh nhân tự kỷ
(autiste), oxytocine cải thiện mối quan hệ của những người này với ngoại
giới, như đã được chứng minh mới đây bởi Angela Sirigu, thuộc Institut
des sciences cognitives de Bron (Rhone). “Chú ý đừng giải thích sai công
trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, nhà nghiên cứu đã cảnh cáo như vậy, tất cả
những người tự kỷ đều có những người mẹ rất thương yêu. Chúng là những
bệnh nhân tự kỷ bởi vì cúng bị bệnh chứ không phải bởi vì chúng không
có sự tiếp xúc với người mẹ.” (LE FIGARO 13/5/2010)
5/ NHỮNG LUỒNG NICOTINE GIẢ.
ADDICTION. Phần lớn các chuyên gia nhiễm độc thuốc lá (tabacologue) đều
nghĩ rằng mỗi luồng thuốc lá (bouffée de cigarette) được hít vào gây nên
một sự đổ dồn ào ạt và ngắn ngủi của nicotine vào trong não bộ. Nhưng
không phải là như vậy. Người ta bị phụ thuộc thuốc lá như thế nào? Đối
với đại đa số các chuyên gia nhiễm độc thuốc lá, lối giải thích là đơn
giản. Khi người hút thuốc hít vào một hơi, nicotine được chứa trong thuốc
lá đi vào trong phổi. Nicotine được hấp thụ hoàn toàn bởi máu, và được
vận chuyển cả khối đến tận não bộ. Ở đó, nicotine khởi động các cơ chế
trong “vòng khen thưởng” (circuit de la récompense), một hệ thống có can
dự trong sự tạo động cơ cho những hành vi sinh tử như sự sinh sản hay
sự tìm kiếm thức ăn. Khi đó nicotine gây nên một sự khoái lạc mạnh mẽ.
Rồi nó biến mất sau khoảng 15 giây đồng hồ. Để tìm lại cùng cảm giác khoái
lạc, người hút hít vào một làn hơi khác, gây nên một cao điểm nồng độ
nicotine trong não bộ. Được lập lại nhiều lần, hiện tượng này làm rối
loạn hệ thống khoái lạc và gây nên một sự phụ thuộc (dépendance).
ĐỈNH CAO NICOTINE.
Lý thuyết này thật ra hoàn toàn sai, Jed Rose và các cộng sự thuộc đại
học Duke Hoa Kỳ vừa chứng tỏ như vậy. Những chuyên gia về chứng nghiện
này đã muốn trắc nghiệm giả thuyết về các đỉnh cao nicotine. Để thực hiện
điều đó, họ đã phân tích những nồng độ của chất này trong não bộ bằng
tomographie par émission de positons, một kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ
theo ba chiều không gian. Họ đã đặt 13 người hút thuốc đều đặn và 10 người
hút thuốc năm thì mười họa vào trong một scanner, và đã yêu cầu họ hút
một điếu thuốc. Thế mà những chuyên gia đã không quan sát thấy đỉnh cao
nicotine trong não bộ của một người nào cả. Trái lại, nồng độ của chất
này đã gia tăng đều đặn trong não bộ khi họ càng hút điếu thuốc của họ.
Lượng tối đa chỉ đạt được sau 3 đến 5 phút.
Mặt khác, sự tích tụ của nicotine khoảng hai lần chậm hơn nơi những người
hút thuốc đều đặn so với những người hút thuốc không thường xuyên. Theo
các tác giả, những người đại nghiện thuốc lá sẽ giữ nicotine lâu hơn trong
các lá phổi của họ vốn bị tắc nghẽn do những tác dụng mãn tính của thuốc
lá.
KHOÁI LẠC MẠNH.
“ Người ta biết rằng nicotine cần khoảng 13 phút để mất đi một nửa hoạt
tính của nó, Jean-Pol Tassin, nhà dược lý thần kinh (neuropharmacologue)
thuộc Inserm, Paris, đã xác nhận như vậy. Vậy nicotine không biến mất
sau vài giây, như các chuyên gia về chứng nghiện thuốc lá (tobacologue)
đã hằng tưởng như vậy. Nhờ công trình nghiên cứu được tiến hành bởi nhóm
nghiên cứu của Jed Rose, từ nay ta có bằng cớ rằng những đỉnh cao này
của nicotine không hiện hữu. Kết quả này xét lại ý tưởng cho rằng sự phụ
thuộc thuốc lá là do một sự nối tiếp của các khoái lạc mạnh.” Khám phá
này cũng khiến phải tìm kiếm những giả thuyết mới để giải thích sự thiếu
hiệu quả của các thuốc dán (patch) và các gomme dùng để nhai. Những chất
thay thế nicotine (substituts nicotiniques) này, nhằm làm cơ thể cai thuốc
lá, không hoạt động trong 85% các trường hợp. Theo các chuyên viên về
nhiễm độc thuốc lá, điều này là do sự kiện các chất thay thế nicotine
phát nicotine ra một cách liên tục: chúng không gây nên những cao điểm
nicotine, và do đó không gây nên những khoái lạc mạnh, trái với thuốc
lá. Thật vậy, Jean-Pol Tassin đã giải thích như vậy : “Nicotine có lẽ
không phải một mình gây nghiện. Vào năm 2009, nhóm nghiên cứu của chúng
tôi đã gợi ý rằng nicotine chỉ tác dụng với sự hiện diện của các hợp chất
độc hiện diện trong khói thuốc lá và không có trong các patch và gomme.
Việc không hiện hữu những cao điểm nicotine củng cố thêm giả thuyết này.”
(LA RECHERCHE 5/2010)
6/ TÌM KIẾM CHLAMYDIAE, BỆNH
LÂY NHIỄM BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC CỦA CÁC THIẾU NỮ.
Nhiễm trùng này, ảnh hưởng lên hơn 3% các thiếu nữ ở Pháp, làm gia tăng
nguy cơ vô sinh. Các chuyên gia người Anh chủ trương một xét nghiệm phát
hiện sau mỗi người bạn đường mới.
MST (MALADIE SEXUELLEMENT TRANSMISSIBLE). Có lẽ
đó là nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục thường xảy ra nhất. Tương
ứng với tên gọi khá duyên dáng chlamydia, bệnh nhiễm trùng này có đặc
điểm gây nên ít hoặc không những triệu chứng, đặc biệt là nơi các thiếu
nữ. Vấn đề, đó là nếu không được điều trị, nhiễm trùng này làm gia tăng
nguy cơ vô sinh và có thai ngoài tử cung do một sự viêm của các vòi dẫn
trứng. Ở Anh Quốc, chính quyền vào năm 2003 đã khuyến nghị một phát hiện
hàng năm đối với các thanh nữ dưới 25 tuổi. Sau một công trình nghiên
cứu mới được công bố trong Britisch Medical Journal, các chuyên viên Anh
gợi ý rằng phải thực hiện một xét nghiệm sau mỗi bạn đường mới.
TÚI DƯƠNG VẬT (PRESERVATIF)
Ở Pháp, giới hữu trách y tế, mặc dầu một báo cáo được công bố năm 2003,
đã không đưa ra những lời khuyến nghị điều tra phát hiện, vì thiếu những
dữ kiện dịch tễ học nghiêm chỉnh ở Pháp. “Ngày nay chúng ta có những con
số chính xác hơn với công trình nghiên cứu về hành vi sinh dục (comportement
sexuel) của những người Pháp, được công bố vào năm 2006, cùng với việc
gởi đi xét nghiệm đối với những thanh nữ từ 18 đến 25 tuổi, đã cho phép
biết được rằng 3,2% các thanh nữ trong lứa tuổi này mang chlamidiae, giáo
sư Michel Janier (người phụ trách của trung tâm MST thuộc bệnh viện Saint-Louis
và trưởng khoa da của bệnh viện Saint-Joseph) đã giải thích như vậy. Vào
năm 2006, một điều tra khác được tiến hành ở đại học Bordeaux bởi Centre
national de référence des chlamydiae đã ước tính rằng 2,5% các thanh thiếu
nữ bị nhiễm bởi chlamidiae.” Trong vài tỉnh, những tỷ lệ lây nhiễm đã
được quan sát lên đến 10% đối với những thanh nữ từ 18 đến 25 tuổi.
Nơi nhưng cô gái trẻ, nhiễm trùng bởi chlamydiae xảy ra hoàn toàn không
có triệu chứng trong 90% các trường hợp (trong 10% các trường hợp, đó
là những khí hư âm đạo.). Các cậu con trai trong 50% các trường hợp có
những triệu chứng (dịch chảy từ niệu đạo, đau buốt khi đi tiểu). Chính
sự kết hợp của một nhiễm trùng thường xảy ra nhưng không có triệu chứng
liên kết với một biến chứng tiềm tàng đáng sợ, sự vô sinh, đã khiến nhiều
nước thiết đặt một chiến dịch phát hiện và điều trị một cách hệ thống.
“Ở Pháp, đối với những thanh nữ dưới 25 tuổi, mặc dầu không có những khuyến
nghị chính thức, chúng tôi chủ trương làm xét nghiệm một lần mỗi năm,
nhất là trong trường hợp thay đổi người bạn đường, giáo sư Michel Janier
đã đảm bảo như vậy.
Hôm nay, các trung tâm phát hiện nặc danh và miễn phí đề nghị những xét
nghiệm như những Cidist (centre d’information et de dépistage des infections
sexuellement transmissibles). Việc tìm kiếm chlamydiae được thực hiện
bởi những kỹ thuật sinh học phân tử, từ một mẫu nghiệm lấy nơi âm đạo
đối với cô gái trẻ, được chính cô gái này thực hiện nhờ một kit, và nước
tiểu đối với cậu con trai. Lấy máu (huyết thanh học) để tìm kiếm các kháng
thể không đáng tin cậy. Điều trị đơn giản, hoặc 7 ngày kháng sinh (tétracyclines),
hoặc uống 4 viên một lần (azithromycine). Tuy nhiên nhiều câu hỏi vẫn
còn bỏ ngỏ. Mặc dầu vai trò của nhiễm trùng trong sự vô sinh là không
nghi ngờ gì nữa, tác động chính xác của nó vẫn không được biết đến. Tại
sao vài người bị nhiễm trùng có những biến chứng phụ khoa nghiêm trọng
còn những người khác thì không? Sau cùng, mặc dầu 25 năm chiến dịch cổ
động cho túi dương vật, nhưng các chuyên gia không hiểu tại sao các nhiễm
trùng bởi chlamydiae không bị thoái lui. (LE FIGARO
10/5/2010)
7/ MỘT PEPTIDE ĐỂ LÀM TÁI SINH
TỤY TẠNG.
Thách thức thật là táo bạo : làm tái sinh tụy tạng của những người bị
bệnh đái đường nhờ một loại thuốc. Trong tất cả các trường hợp, những
phương tiện được thực thi là to lớn, đáp ứng lại với những hy vọng được
mang lại bởi liệu pháp hoàn toàn đổi mới này. Một hợp đồng quan trọng
vừa được ký kết giữa nhóm dược phẩm Pháp Sanofi và một xí nghiệp Hoa Kỳ,
Cure DM, với một số tiền được ước tính 335 triệu dollar (246 triệu euro).
Mục tiêu là tạo mới các đảo tụy tạng, những cấu trúc tế bào có khả năng
sản xuất insuline có chức năng, nhờ một peptide có hoạt tính sinh học
(bioactif). Thuốc được mệnh danh Pancreate (proisleptide) phát xuất từ
một protéine người có trong tự nhiên (Human proIslet Peptide, HIP). Chất
này đã chứng tỏ tính hiệu quả nơi động vật qua những thử nghiệm tiền lâm
sàng. Chất này được xác định như là điều trị đầu tiên của y khoa tái sinh
(médecine régénérative) đối với bệnh đái đường và thật vậy can thiệp vào
trong quá trình làm thuần thục những tế bào gốc tụy tạng. Những thử nghiệm
lâm sàng giai đoạn 1 theo dự kiến bắt đầu vào năm này. 250 triệu người
trên thế giới bị liên hệ bởi căn bệnh đang bành trướng mạnh này. (SCIENCE
ET AVENIR 5/2010)
8/ UNG THƯ : NGĂN NGỪA BẰNG CHẾ
ĐỘ ĂN UỐNG.
GS David Khayat, trưởng khoa ung thư của bệnh viện la Pitié-Salpetrière,
Paris, tác giả của “ Vrai régime anticancer ” giải thích ăn uống làm sao
để làm giảm các nguy cơ.
Hỏi : Những loại ung thư nào đặc biệt có
thể được liên kết hơn với sự ăn uống ?
GS David Khayat : Những ung thư của bộ máy tiêu hóa, của tuyến tiền liệt,
của phổi. Chúng ta cũng có một ít nghi ngờ về u hắc tố ác tính (mélanome
malin). Cả thảy, đó là khoảng 70% các ung thư.
Hỏi : Những nghiên cứu nào cho phép quy trách
một yếu tố ăn uống trong sự xuất hiện của một ung thư ?
GS David Khayat : Nhiều trăm công trình nghiên cứu quốc tế đã so sánh
sự xuất hiện của một ung thư nào đó tùy theo những thói quen ăn uống.
Ngày nay, với tất cả các kết quả này, từ nay có thể thiết lập một số quy
tắc hành xử nào đó trong cách dinh dưỡng, tạo nên những lời khuyên thật
sự chống ung thư. Ngoài những kết luận này, tôi đã sử dụng một báo cáo
mới được công bố bởi Tổ chức nghiên cứu ung thư thế giới (World Cancer
Research Fund), đã tập hợp tất cả những phân tích được thực hiện về những
mối liên hệ khả dĩ giữa ung thư và chế độ ăn uống.
Hỏi : Chúng ta hãy bắt đầu với ung thư của
tuyến tiền liệt. Theo những kết quả của các công trình nghiên cứu, những
thức ăn nào dường như làm gia tăng nguy cơ bị ung thư ?
GS David Khayat : Đối với những người trên 50 tuổi, sự tiêu thụ qua mức
các đồ sữa dường như có hại (trong khi những thức ăn này lại là rất tốt
đối với những người trẻ tuổi nhất). Trong cuốn sách của tôi “Chế độ ăn
uống thật sự chống ung thư”, tôi đã báo cáo rằng, bắt đầu từ 50 tuổi,
một người đàn ông tiêu thụ mỗi ngày 2g calcium nguồn gốc sữa có nguy cơ
gia tăng 30% bị ung thư tuyến tiền liệt so với một người đàn ông khác
tiêu thụ toàn bộ dưới 1g mỗi ngày. Ngược lại những thức ăn khác tỏ ra
có lợi, như cà chua, nguồn caroténoides, có một hoạt tính kháng oxy (activité
oxydante) mạnh mẽ. Lycopène, chất rất hiện diện trong loại trái cây này,
làm giảm 30% nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt. Những thức ăn khác cần
khuyên sử dụng : gan bê (do chứa sélénium), những sản phẩm giàu quercétine
(tác nhân ngăn ngừa tuyệt hảo) như nụ bạch hoa (câpres), cacao…
Hỏi : Về sự xuất hiện ung thư vú, những kết
quả của những công trình nghiên cứu so sánh đã chứng minh điều gì ?
GS David Khayat : Sự cung cấp thặng dư calorie bởi một sự tiêu thụ quá
nhiều rượu hay các chất mỡ làm gia tăng một cách rõ rệt nguy cơ phát triển
một ung thư vú. Tại sao? Bởi vì tình trạng mập lên do sự tiêu thụ này
làm gia tăng sự tiết của các chất như vài hormone (các oestrogène) kích
thích sự tăng sinh của các tế bào ác tính. Những tế bào mỡ (adipocytes)
(những tế bào tích trữ mỡ) hành xử như những bơm kích thích tố (pompes
à hormone) thật sự. Nhưng những công trình nghiên cứu này cũng đã cho
phép chúng ta nêu lên những thức ăn khả dĩ làm giảm những nguy cơ mắc
phải ung thư vú, như đậu nành giàu phyto-oestrogène, chè xanh...
Hỏi : Còn chống lại ung thư đại tràng, ta
có thể bảo vệ mình như thế nào ?
GS David Khayat : Phải bắt đầu bằng cách giới hạn nhiều sự tiêu thụ đồ
thịt lợn công nghiệp (charcuterie industrielle), đặc biệt giàu các tác
nhân bảo quản hóa học hay những chất nâng khẩu vị (releveur du gout).
Một lời khuyên hay : làm sao để tiêu thụ một cách đều đặn những thức ăn
nhiều sợi (ngũ cốc, bánh mì hoàn toàn,...). Nhờ làm gia tốc sự vận chuyển
qua ruột, các sợi làm giảm thời gian tiếp xúc giữa niêm mạc và những sản
phẩm có tiềm năng gây ung thư được chứa trong viên thức ăn (bol alimentaire).
Trong những công trình nghiên cứu này, hành và tỏi tỏ ra là những chất
chống ung thư đặc sắc. Đứng trước các nguy cơ bị ung thư đại tràng, các
sản phẩm sữa cũng đã chứng tỏ một vai trò bảo vệ.
Hỏi : Loại chế độ ăn uống nào cũng có thể
tạo nên một yếu tố nguy cơ đối với phổi ?
GS David Khayat : Ở đây, chủ yếu các cách nấu chín có một nguy cơ gây
ung thư : cuisine au wok (đạt những nhiệt độ quá cao) và nấu barbecue.
Sự đánh dấu của bất cứ thức ăn nào bằng sự tiếp xúc của ngọn lửa đều tạo
những chất có hại. Nguy hiểm khác: vài loại nước chứa arsenic. Các nhà
nghiên cứu đã có thể, bằng những công trình nghiên cứu nhắm đích, nhận
diện vài loại thức ăn đóng một vai trò có lợi nơi những người hút thuốc
lá : các trái cây và rau vàng cam, nguồn tốt hơn của các bioflavonoides
trong đó có một chất đã cho thấy khả năng làm giảm tác dụng gây ung thư
của thuốc lá.
Hỏi : Những kết luận của các công trình nghiên
cứu này về sự tiêu thụ của các chất bổ sung thức ăn là gì ?
GS David Khayat : Những kết quả đều phù hợp : các người hút thuốc phải
tự cấm tiêu thụ các chất bổ sung thực phẩm chứa bêta-carotène hay một
trong những dẫn xuất làm gia tăng nguy cơ ung thư. Sau 50 tuổi, một sự
cho bổ sung vitamine E nơi người đàn ông cũng phải bị cấm chỉ : vitamine
này làm dễ nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt. Công trình nghiên cứu của
Hoa Kỳ “ Select ” đã chứng mình điều đó một cách rõ rệt : 30.000 người
đã được chia thành 4 nhóm. Một nhóm đã nhận sélénium, nhóm thứ hai nhận
vitamine E, nhóm thứ ba nhận cả hai yếu tố và nhóm thứ tư nhận một placebo.
Công trình nghiên cứu đã bị đình chỉ trước kỳ hạn bởi vì những người đàn
ông được cho vitamine E đã phát triển nhiều các ung thư so với những người
khác !
Hỏi : Ngược lại, những chất bổ sung thực
phẩm nào được khuyên tiêu thụ ?
GS David Khayat : Một sự cho bổ sung sélénium tỏ ra rất tốt trong sự ngăn
ngừa nhiều loại ung thư. Về ung thư của tuyến tiền liệt, một công trình
nghiên cứu rất đáng lưu ý đã được công bố trong tạp chí khoa học JAMA.Tỷ
lệ của ung thư đại tràng dường như cũng đã được huởng lợi từ sélénium
: trong một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, trong đó 1321 người tham
dự đã được chia thành hai nhóm, trong nhóm đã nhận một sự cho bổ sung
sélénium chỉ có 8 trường hợp ung thư đại tràng so với 19 trường hợp trong
nhóm nhận placebo. (PARIS MATCH 20/5-26/5/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr145.htm
(TSYH số 145, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr155.htm
(TSYH số 155, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr157.htm
(TSYH số 157, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr159.htm
(TSYH số 159, bài số 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr160.htm
(TSYH số 160, bài số 10)
9/ LÃO THỊ : KÍNH ĐEO HOẠT ĐỘNG
BẲNG ĐIỆN (LUNETTES ELECTRO-ACTIVES) HIỆU CHÍNH TỨC THỜI THAY CHO MẮT.
Các kính đeo có độ tăng dần (lunettes à verres progressifs) đã không phải
là đỉnh cao trí tuệ. Được phát minh vào năm 1953 bởi người Pháp Bernard
Maitenaz, các kính này là đối tượng thường xuyên của những đổi mới. Kính
mới nhất ? Một cặp kính điện tử (lunettes électroniques), từ nay đến vài
tháng nữa có thể cách mạng hóa thị giác của các bệnh nhân. Thật vậy trong
đại học Arizona (Hoa Kỳ), nhóm nghiên cứu của Nasser Peyghambarian đã
hiệu chính những kính “ hoạt động bằng điện ” (lunettes électro-actives).
Nguyên tắc của những loại kính này : chúng thực hiện một sự hiệu chính
tự động trên mỗi vật mà mắt bắt được, dầu góc nhìn và khoảng cách như
thế nào ! Để nhận lấy mối thách thức này, nhà nghiên cứu đã duyệt xét
lại toàn bộ sự tạo thành của các kính cổ điển, tạo nên một loại thấu kính
động lực Fresnel (lentille de Fresnel dynamique). Một lớp các tinh thể
lỏng được đưa vào giữa hai mắt kính, được nối với một thiết bị có kích
thước thu nhỏ : các capteur và một processeur được thiết đặt trên các
gọng kính để ghi hướng nhìn và khoảng cách giữa vật được nhìn và mắt.
Khi người sử dụng nhìn dò xét một vật, thiết bị phát hiện cái nhìn này
và sinh ra một điện thế vài volt. Tùy theo trị số này, các điện cực tạo
nên “en temps réel” một điện trường nơi lớp các tinh thể lỏng. Dưới tác
dụng của điện trường, lớp tinh thể này tái định hướng các phân tử để cho
chỉ số khúc xạ của nó tạo nên một hình ảnh rõ nét. Sự hiệu chính được
thực hiện một cách tự động trong thời gian chưa được một nháy mắt, nghĩa
là trong vài mili giây. Hôm nay, thiết bị này hoạt động, ngay cả ra khỏi
các phòng thí nghiệm bởi vì xí nghiệp Hoa Kỳ Pixeloptics trắc nghiệm nó
từ tháng hai năm ngoái. “Nếu mọi việc diễn biến tốt đẹp, kính hoạt động
bằng điện (lunettes électro-actives) này sẽ được thương mãi hóa từ nay
đến 6 đến 12 tháng nữa, thời gian cần thiết để thu lại những kết quả của
những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi và thực hiện vài cải thiện về
mặt làm thu nhỏ thiết bị”, Peter Zieman, người phụ trách xí nghiệp Pixeloptics
ở Châu âu đã bình luận như thế. Theo Ronald Blum, giám đốc của công ty,
những ưu điểm của các gọng kính mới được loan báo là đáng kể đối với những
người bị lão thị : “Ngoài việc thực hiện một chức năng tự điều tiêu trực
tiếp (autofocus en direct), các kính này sẽ tạo ít hơn một nửa các hình
ảnh méo mó và chúng mang lại một thị trường rõ nét hai lần lớn hơn so
với các kính đeo có độ tăng dần (verres progressifs)”. Nguyên mẫu này
làm khởi đầu một cuộc cách mạng thật sự của quang học. “Ngày mai, các
gọng kính của chúng ta sẽ gần với smartphone hơn là các kính đeo”, Jean-Paul
Cano, giám đốc khoa học của Essilor, cũng có liên can trong một dự án
các kính đeo điện tử, được mệnh danh là “Pix-cell”, đã bình luận như vậy.
Các nghiên cứu diễn ra ở Essilor kết hợp với CNRS và mục tiêu là phát
triển từ nay đến 10 năm nữa những kính “số” (verres “numériques) có khả
năng thực hiện một sự hiệu chính còn tinh tế hơn, từng pixel một
Trong lúc chờ đợi để có thể mang những loại kính high-tec, những người
lão thị có thể kiên nhẫn hướng về những loại kính mới nhất Varius Ipseo
“ new edition ”, được thiết kế cuối năm 2008 bởi Essilor. Thật vậy, lần
đầu tiên các kính này được chế tạo theo từng cá thể, bằng cách đưa vào
10 tiêu chuẩn cá thể hoá (thái độ thị giác, chuyển động của đầu, khoảng
cách đọc, những hoạt động hàng ngày…) (SCIENCE ET VIE 11/2009) Đọc thêm
:
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr86.htm
(TSYH 86, bài số 6)
10/KHUẨN CHÍ RUỘT ẢNH HƯỞNG LÊN
SỰ TĂNG THẾ TRỌNG.
Vai trò của các vi khuẩn hiện diện trong ruột mở ra những hướng điều trị
mới.
RECHERCHE. Từ một chục năm nay, các chuyên gia về bệnh béo phì (obésité)
khảo sát một cách quan tâm ảnh hưởng lên trọng lượng cơ thể của hàng triệu
tỷ vi khuẩn định cư trong ông tiếu hóa của chúng ta ở trạng thái bình
thường. Những công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ
Science đã chứng minh rằng vài trong số những vi sinh vật này, thường
dùng để tiêu hóa thức ăn, cũng có thể khiến cơ thể tích tụ kilo trong
trường hợp sự điều hòa kém. Trong số những yếu tố chịu trách nhiệm chứng
béo phì, việc không tập thể dục hay sự tiêu thụ quá mức calorie không
còn là những nguyên nhân duy nhất gây bệnh như người ta đã hằng tưởng
từ trước cho đến nay. Theo công trình nghiên cứu này, nếu vài loại vi
khuẩn trong khuẩn chí ruột (flore intestinale) thắng thế, một quá trinh
viêm có thể xuất hiện, làm gia tăng cảm giác ăn ngon và nguy cơ bị bệnh
đái đường.
“ Từ lâu người ta đã cho rằng dịch bệnh béo phì trong những nước phát
triển được liên kết với một lối sống càng ngày càng ít hoat động và sự
dồi dào thực phẩm có dung lượng calorie cao với giá rẻ ”, Andrew Gewirtz,
thuộc Emory University School of Medicine, Géorgie (Hoa kỳ), tác giả chính
của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. “ Nhưng những kết quả
của công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng một sự tiêu thụ quá
mức calorie không chỉ là kết quả của một chế độ ăn uống thái quá, nhưng
cũng gợi ý rằng những vi khuẩn ruột góp phần làm biến đổi cảm giác ăn
ngon và sự chuyển hóa. ”
M.Gewirtz và các đồng nghiệp đã khảo sát các con chuột bị biến đổi về
mặt di truyền để bị lấy mất một protéine miễn dịch chủ chốt, TLR5, giúp
các tế bào phát hiện sự hiện diện của các vi khuẩn. “ Protéine này đóng
vai trò công an khu vực trên khuẩn chí ruột, ông đã giải thích như vậy
với AFP. Protéine này biết vi khuẩn nào nó cần phải theo dõi và nó biết
làm thế nào để không tỏ ra quá nghiêm khắc nhằm không làm hại những vi
khuẩn tốt.”
NHỮNG RỐI LOẠN ĐƯỜNG HUYẾT.
Nếu không có protéine TLR5 này, thành phần của khuẩn chí ruột thay đổi.
Và một quá trình viêm nơi ruột xuất hiện. Những con chuột chịu sự biến
đổi di truyền này sau vài tuần đã ăn thêm khoảng 10% các thức ăn và sau
cùng đã đạt một trọng lượng 20% trên trọng lượng của các con chuột khác.
Ngoài ra chúng có những rối loạn về đường huyết, một tình trạng trước
đái đường (état prédiabétique).
Con người có một khuẩn chí ruột (flore intestinale) tương đối ổn định,
hiện diện lúc sinh ra đời, nhưng vài công trình nhiên cứu đã cho thấy
rằng khuẩn chí ruột này chịu những biến đổi liên kết với vài loại chế
độ ăn uống , nhưng cũng với sự sử dụng lan tràn của các kháng sinh. “Điều
đó gợi ý rằng một phần của dịch bệnh béo phì và các triệu chứng chuyển
hóa có thể là do những điều kiện môi trường ảnh hưởng lên khuẩn chí ruột
vào lúc khởi đầu của cuộc đời”, M.Gewirtz đã giải thích như vậy. Nhà nghiên
cứu gợi ý rằng những biến đổi này một ngày nào đó có lẽ được ngăn cản
lại bằng cách kê toa những vi khuẩn “tốt” trước khi những vi khuẩn xấu
xuất hiện.
Cách nay 3 năm, một nhóm nghiên cứu khác của Hoa Kỳ đã phát hiện sự kiện
là những người béo phì và những người mảnh khảnh không có cùng loại vi
khuẩn trong ruột. Cùng nhóm nghiên cứu đã thành công làm béo phì một con
chuột mảnh khảnh chỉ bằng cách chuyển khuẩn chí ruột từ một con chuột
béo phì sang. Ngoài ra, những nhà nghiên cứu này đã cho thấy rằng nơi
những con chuột béo phì, sự trích lấy calorie từ thức ăn ra là quan trọng
hơn so với những con chuột mảnh mai. Tuần lễ này, các nhà khoa học cũng
loan báo trong tạp chí Nature là đã thành công séquencer 80% các gène
của các vi khuẩn của ông tiêu hóa. Tất cả những dữ kiện này tích tụ lại
sẽ cho phép đưa ra những chiến lược mới chống lại bệnh béo phì. (LE
FIGARO 8/3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr155.htm
(TSYH số 155, bài số 10)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr158.htm
(TSYH số 158, bài số 9)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (30/5/2010)
TAGS: Đục thủy tinh thể (Cataracte), Đục thủy tinh thể bẩm sinh (Cataractes
congénitales), Ung thư phổi, Oxytocine, Cortisol, Hormone de stress, Luồng
thuốc lá (bouffée de cigarette), Nicotine, Chlamydiae, Hành vi sinh dục
(comportement sexuel), MST (Maladie Sexuellement transmissible), Hoạt
tính sinh học (Bioactif), Pancreate (proisleptide), Human pro-Islet Peptide
(HIP), Y khoa tái sinh (Médecine regenerative), Caroténoides, Hoạt tính
kháng oxy (activité oxydante), Lycopène, Quercétine, Nụ bạch hoa (câpres),
(adipocytes) những tế bào tích trữ mỡ, Bơm kích thích tố (pompes à hormone),
Gan bê (do chứa sélénium), Quercétine, Nụ bạch hoa (câpres), Cacao, Chất
nâng khẩu vị (releveur du gout), Nguy cơ gây ung thư : cuisine au wok,
Barbecue, Bioflavonoides, Vitamine E, Sélénium, Lão thị, Lunettes à verres
progressives, Lunettes électroniques, Lunettes électro-actives, Lentille
de Fresnel dynamique, Lentille de Fresnel dynamique, Kính đeo có độ tăng
dần (verres progressifs), Khuẩn chí ruột, Tình trạng tiền tiểu đường (État
prédiabétique), Rối loạn đường huyết, Nguyen van Thinh
>>>back>>>
|
 |