 |
Thời
Sự Y Học số 175
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ NGỪA THAI NAM GIỚI :
HƯỚNG CỦA CÁC SIÊU ÂM.
Cơ quan Bill Gates vừa tài trợ cho những công trình của các nhà nghiên
cứu phát triển kỹ thuật có thể đảo ngược này.
PROCREATION. Thách thức thật sự của khoa học, sự
ngừa thai nam giới đã lâu lắm rồi là một chủ đề cấm kỵ. Hôm nay, viên
thuốc ngừa thai cho đàn ông vẫn còn thuộc về khoa học viễn tưởng. Cơ quan
Bill và Melinda Gates, mà mục đích là mang lại những đổi mới về sức khỏe
và thụ đắc các kiến thức, vừa đóng 100.000 dollars cho đại học Caroline
du Nord ở Hoa Kỳ. Tiền trợ cấp này sẽ cho phép James Tsuruta và Paul Dayton
theo đuổi những công trình nghiên cứu của họ về sự ngừa thai nam giới
bằng siêu âm. Họ cho rằng có thể làm vô sinh một người đàn ông, một cách
có thể hồi phục được trong 6 tháng, nhờ một điều trị bằng siêu âm, không
đau đớn, nơi các tinh hoàn. Theo họ, khả năng sinh sản của người đàn ông
sẽ tuyệt đối không bị ảnh hưởng sau khi ngừng điều trị. “Mục tiêu dài
hạn của chúng tôi là sử dụng kỹ thuật rẻ tiền của các siêu âm, rất phổ
biến trong y khoa thể thao, để sử dụng nó trong một sự ngừa thai có thể
đảo ngược được”, BS Tsuruta đã giải thích như vậy. Những nhà nghiên cứu
này, đã thành công làm nghèo tinh dịch bằng cách sử dụng kỹ thuật của
các siêu âm, bây giờ phải ra sức phát triển tính hiệu quả và tính vô hại
của điều trị.
Đối với BS Pierre Jouannet, chuyên viên về sinh học của sự sinh sản ở
bệnh viện Cochin, vấn đề chủ yếu là biết xem sự vô sinh có thể đảo ngược
hay không. Những tài liệu được xuất bản của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ
trong những năm 1970 cũng như một bài báo được viết bởi các người Ý năm
qua có bàn về vấn đề ngừa thai bằng các siêu âm này. Nhưng các công trình
chỉ liên hệ đến các động vật (chuột và chó). “Ý tưởng đáng quan tâm, Pierre
Jouannet đã tóm tắt như vậy, nhưng phải có các nghiên cứu thí nghiệm hơn
trên các động vật trước khi bắt đầu trên người. Mặt khác, vấn đề của các
tác dụng phụ khả dĩ trên các tế bào khác của các tinh hoàn cũng phải được
đặt ra.”
“ NHỮNG KỸ NIỆM XẤU ”.
Nhà sinh học Bernard Jegou, giám đốc của đơn vị Inserm 625, “nhóm nghiên
cứu về sự sinh sản nơi người và các động vật có vú” tỏ ra rất dè dặt.
Trước hết trên quan điểm nghĩa vụ luận, bởi vì kỹ thuật này “nhắc lại
nơi ông những kỷ niệm xấu, đó là những bức xạ các tinh hoàn được tiến
hành trong các nhà tù Hoa Kỳ trong những năm 1970 để đổi lấy các giảm
án tù”. Sau đó, ông cho rằng nếu kỹ thuật này có thể tỏ ra có hiệu quả,
thì nó có thể là như vậy đối với một số rất nhỏ các người đàn ông, phần
lớn sẽ không muốn chịu nhận các siêu âm. Sau cùng, ông phàn nàn rằng các
nghiên cứu rất nghiêm chỉnh về viên thuốc ngừa thai nam bị thiếu rất nghiêm
trọng những phương tiện tài chánh, lại càng đáng tiếc khi “ công nghiệp
dược phẩm không quan tâm đến vấn đề này ”, ông đã lấy làm tiếc như vậy.
Kỹ thuật ngừa thai, nếu một ngày nào đó xuất hiện trên thị trường, nhất
thiết dựa vào một mối quan hệ tin cậy nơi đôi lứa. Chính vì vậy phương
pháp này sẽ không liên hệ đến tất cả các đôi lứa mà chỉ những cặp nào
đã “an bề gia thất”. (LE FIGARO 13/5/2010)
2/ CHỨNG NÔN THAI NGHÉN ĐƯỢC TRUYỀN
TỪ MẸ ĐẾN CON.
Các phụ nữ, mà mẹ đã bị chứng nôn mửa thai nghén (hyperémèse) trong lúc
mang thai, đến lượt mình có nguy cơ 3 lần nhiều hơn cũng bị chứng nôn
mửa thai nghén này trong lúc chính mình mang thai. Đó là điều được giải
thích bởi các nhà nghiên cứu Na Uy trong BMJ.
Gần một nửa các phụ nữ có thai bị nôn và mửa. Nhưng có những phụ nữ mà
các triệu chứng nghiêm trọng và kéo dài đến độ họ bị mất cân và mất nước
và nhiễm xeton (cétose). Tình trạng này, được gọi là nôn mửa thai nghén
(hyperémèse gravidique), hay chứng mửa không cưỡng được (vomissements
incoercibles) ảnh hưởng lên 0,5 đến 2% các thai nghén và có thể được liên
kết với một trọng lượng thấp lúc sinh và một sự sinh non tháng. Đó là
nguyên nhân thông thường nhất khiến phải nhập viện trong những thời kỳ
đầu của thai nghén. Chứng nôn mửa thai nghén này chịu trách nhiệm một
sự khủng hoảng tâm lý (détresse psychologique) và được liên kết với một
sự gia tăng tỷ lệ bệnh của mẹ và thai nhi, với nguy cơ tử vong.
Căn nguyên của rối loạn này không được biết đến. Vào năm 2005, một công
trình nghiên cứu của Na Uy đã cho thấy rằng các phụ nữ bị chứng nôn mửa
thai nghén vào lúc có thai lần đầu, có một nguy cơ cao tái phát (15,2%)
và rằng sự thay đổi người sinh làm giảm nguy cơ này (10,9% so với 16%
nếu cùng một người sinh), gợi ý vai trò của các gène thai nhi.
GENOTYPE NGƯỜI MẸ.
Cùng nhóm nghiên cứu, luôn luôn được chỉ đạo bởi GS Per Magnus (đại học
Oslo), đã muốn xác định rõ hơn căn nguyên của rối loạn này. Bằng cách
căn cứ vào một ngân hàng các dữ kiện quốc gia, Ase Vikanes và các cộng
sự viên đã nghiên cứu sự tái diễn của chứng nôn mửa thai nghén xuyên qua
các thế hệ. Trong sổ khai sinh Na Uy, các nhà nghiên cứu đã giữ 544.087
đơn vị mẹ-con gái và 399.777 đơi vị mẹ-con trai và họ đã đánh giá nguy
cơ bị nôn mửa không cưỡng được nơi các con gái của những đơn vị thứ nhất
và nơi các người vợ của những người con trai của những đơn vị thứ hai.
Theo các kết quả, các con gái, được sinh sau một thai nghén có biến chứng
nôn mửa thai nghén, có một nguy cơ 3% bị nôn mửa thai nghén một khi mang
thai, trong khi nơi các con gái sinh sau một thai nghén không có gì âu
lo, nguy cơ này chỉ lên đến 1,1%. Nơi những người vợ của các người con
trai sinh sau một thai nghén có biến chứng nôn mửa, tỷ lệ này lên đến
1,2%. Những con gái được sinh sau một thai nghén không có biến chứng nôn
mửa thai nghén có một nguy cơ gia tăng bị chứng nôn mửa này nếu mẹ họ
trong lần thai trước đó hay sau này đã bi nôn mửa thai nghén.
Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng các gène nơi người mẹ là quan
trọng hơn các gène thai nhi trong căn nguyên của chứng nôn mửa thai nghén,
mặc dầu ta không loại bỏ ảnh hưởng của những yếu tố môi trường. Ngược
lại, sự việc có một người chồng mà người mẹ của người này vốn đã bị chứng
nôn mửa thai nghén, không làm gia tăng nguy cơ đối với người mẹ tương
lai. (LE JOURNAL DU MEDECIN 7/5/2010)
3/ SIROP CHỒNG HO BỊ CẤM DÙNG NƠI
TRẺ EM DƯỚI HAI TUỔI.
Ít hiệu quả, các sirop làm long đờm này có thể làm gia trọng các rối loạn
hô hấp.
PEDIATRIE. Đối với nhiều bậc bố mẹ, đó là một phản
xạ trong trường hợp ho hay ứ tiết phế quản nơi một em bé. Nhưng nhiều
thầy thuốc nhăn nhó không muốn kê toa vì ít tin vào tính hiệu quả của
nó. Từ vài tuần nay, các sirop mà chất cơ bản là các chất làm loãng niêm
dịch (mucofluidifiant) hay làm tan niêm dịch (mucolytique) bị cấm chỉ
định nơi các nhũ nhi, nghĩa là những trẻ dưới hai tuổi. Ngoài những dược
phẩm làm biến đổi các chất tiết phế quản, sự hạn chế sử dụng cũng liên
quan đến hélicidine, một thuốc chống ho với chất cơ bản là nước dãi ốc
sên (bave d’escargot). Carbocistéine (Balsoclase Mucolyticum, Siroxyl...),
Fluimucil, Rhinathiol …Tổng cộng hơn 20 đặc chế nhi đồng, phần lớn đã
được bán ra thị trường từ nhiều năm nay và có thể mua không cần toa bác
sĩ, đều bị liên hệ bởi quyết định này của Afssaps (Agence française de
sécurité sanitaire des produits de santé). Và ba dược phẩm, chỉ được dùng
cho các nhũ nhi, đã được rút ra khỏi thị trường.
Theo các chuyên gia, sự cấm chỉ này được biện minh bởi những kết quả không
thuận lợi của một điều tra cảnh giác dược (pharmacovigilance), được thực
hiện sau sự khai báo những tác dụng phụ nơi các nhũ nhi. Tổng cộng, cuộc
điều tra này, được tiến hành ở mức quốc gia và quốc tế, đã liệt kê gần
150 trường hợp có những tác dụng phụ không được mong muốn, phần lớn với
carbocistéine và acétylcystéine. Trong 70 trường hợp, đó là những sự trở
nặng thương tổn hô hấp, được ghi nhận chủ yếu nơi những trẻ dưới 1 tuổi.
Các trung tâm cảnh giác dược cũng đã đếm được 64 trường hợp các phản ứng
dị ứng hay giả dị ứng (trong đó 13 trường hợp nặng), và 6 trường hợp chết
đột ngột “ khó kết luận được ”, Afssaps đã xác nhận như thế.
TÔN TRỌNG CÁC CƠ CHẾ PHÒNG VỆ.
Từ nhiều năm nay, nhiều thầy thuốc đã không còn kê toa bao nhiêu những
dược phẩm này, vả lại được đánh giá là ít có hiệu quả, nơi những trẻ em
nhỏ. “Hiệu quả của các chất làm loãng dịch tiết phế quản (fluidifiants
bronchiques) đã không bao giờ được chứng minh, ở trẻ em cũng như ở người
lớn”, GS Jean-Paul Giroud, dược sĩ, đã nhấn mạnh như vậy.
Lý lẽ khác được đưa ra bởi các thầy thuốc nhi đồng, ho thường là một phương
tiện có hiệu quả để loại bỏ các dịch tiết khí và phế quản, đó là một cơ
chế phòng vệ cần được tôn trọng. “Nơi các trẻ em dưới 2 tuổi, nguyên nhân
thường xảy ra nhất của ho là viêm mũi-họng (rhinopharyngite), GS Amain
Chantepie, chủ tịch của Hiệp hội nhi khoa Pháp, đã nói thêm như vậy. Nhiễm
trùng này chủ yếu làm ho vào ban đêm do các dịch tiết chảy vào trong đáy
họng, nhưng không có thương tổn phế quản, vậy các thuốc làm loãng không
có một ích lợi nào. ” Đối với những viêm mũi-họng thông thường này, điều
trị nhằm, theo ông ta, rửa đều đặn mũi với dịch sinh lý hay một dung dịch
muối khác.
Trong một tài liệu dành cho các bố mẹ, Afssaps cũng chủ trương đặt nằm
ngửa mọi trẻ em bị ho, đồng thời nâng nệm ở đầu lên. Cũng khuyên cho trẻ
uống đều đặn ; chú ý giữ phòng trẻ nằm trong một bầu không khí mát mẻ
(10 đến 20 độ C) và làm thoáng khí đều đặn căn phòng. “Một sự loại bỏ
tiếp xúc với thuốc lá (không hút thuốc ở nhà, kể cả trong một căn phòng
khác với căn phòng trong đó nhũ nhi ngủ)” cũng được mong muốn, theo báo
cáo. Việc nhờ đến thầy thuốc chỉ được biện minh nếu ho kéo dài hơn 4 hay
5 ngày mà không có cải thiện, hoặc nếu sốt kéo dài hơn 3 ngày hoặc không
chịu được. Về vai trò của vật lý liệu pháp hô hấp (kinésithérapie respiratoire),
được kê đơn trong trường hợp ứ tiết phế quản và trong những viêm tiểu
phế quản, phương thức này ngày càng bị tranh cãi. “Một công trình nghiên
cứu mới đây ở Pháp cho thấy rằng vật lý liệu pháp không cho phép làm thu
giảm thời gian tiến triển của một viêm tiểu phế quản cũng như số các biến
chứng và những trường hợp nhập viện, GS Chantepie đã xác nhận như vậy.
Vậy một đứa trẻ khỏe mạnh với viêm tiểu phế quản lần đầu không cần phải
nhận vật lý liệu pháp một cách có hệ thống.” (LE FIGARO
19/5/2010)
4/ BỆNH PARKINSON : HƯỚNG
VỀ MỘT PHƯƠNG THUỐC THẬT SỰ.
Run rẩy, cứng đờ, tăng tính xúc cảm...bệnh Parkinson, ảnh hưởng lên gần
150.000 người ở Pháp, có lẽ đã tìm ra một phương thuốc đầu tiên. Ít nhất,
sau cùng có được một điều trị dập tắc được sự tiến triển của căn bệnh.
Bệnh Parkinson được gây nên bởi sự thoái hóa của các neurone sản xuất
dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteurs) đặc biệt
có liên hệ trong các hoạt động vận động.
Mặc dầu hiện nay nhiều chất được gọi là “dopaminergique” thay thế sự sản
xuất dopamine bị suy giảm, nhưng chưa có một chất nào tác dụng lên chính
căn bệnh cả. Mãi cho đến khi Olivier Rascol, neuropharmacologue ở CHU
de Toulouse, và Warren Olanow, thuộc bệnh viện Mount-Sinai ở Nữu Uớc,
khám phá khả năng lạ kỳ của rasagiline, một thuốc chống bệnh Parkinson
đã được biết đến. Trong một công trình nghiên cứu trong 18 tháng trên
1200 bệnh nhân châu Âu và Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu đã phân chia bệnh
nhân thành những nhóm khác nhau, vài bệnh nhân được điều trị ngay từ đầu
thử nghiệm, những bệnh nhân khác chỉ được điều trị trong 9 tháng cuối.
Sau 18 tháng theo dõi, những người đầu tiên có một sự gia trọng các triệu
chứng thấp hơn so với những người thuộc nhóm thứ hai. “Đó là lần đầu tiên
mà người ta cho thấy rằng một thuốc chống bệnh Parkinson có thể đồng thời
giới hạn các triệu chứng và làm chậm lại sự tiến triển của bệnh ”, Olivier
Rascol đã nhấn mạnh như vậy.
Là chất ức chế monoamine oxidase B, chất men có trong thiên nhiên có nhiệm
vụ làm thoái hóa dopamine, rasagiline được sử dụng vì khả năng duy trì
nồng độ dopamine trong não bộ. Nhưng cơ chế tác dụng của nó lên căn bệnh
vẫn khó hiểu. Nó có phải là chất bảo vệ thần kinh (neuroprotecteur) ?
Nó có kích thích những cơ chế của não bộ nhằm bù sự thiếu hụt dopamine
? Những chuyên gia vẫn luôn tự hỏi. “ Nhưng những kết quả này làm tăng
thêm ý tưởng cho rằng các bệnh nhân sẽ có lợi nếu được điều trị ngay khi
được chẩn đoán, để cải thiện sự thành công của điều trị ”, nhà nghiên
cứu nói thêm như vậy. Thế mà những lời khuyến nghị chính thức chỉ thúc
đẩy điều trị các bệnh nhân khi các triệu chứng trở nên quá gây khó chịu.
Những khuyến nghị mới, xét đến khám phá này, sẽ được đưa ra vào năm 2010.
“ Nhiều chuyên gia đã bắt đầu các điều trị sớm hơn so với quá khứ ”, Olivier
Rascol đã xác nhận như vậy.
LIỆU PHÁP GENE.
Không phải là tất cả. Bởi vì một hy vọng khác cũng có thể được xác nhận
vào khoảng cuối năm nay : trithérapie génique được hiệu chính bởi các
nhóm nghiên cứu Pháp-Anh. Liệu pháp này đã cho phép 18 macaque bị bệnh
parkinson phục hồi 80% khả năng vận động của chúng. Một lợi ích được duy
trì trong 44 tháng, không có tác dụng phụ. Nguyên tắc là gì ? “Nhờ một
vecteur virus, tiêm 3 gène cần thiết cho sự tổng hợp của dopamine vào
trong striatum, vùng của não bộ bị thương tổn bởi bệnh Parkinson, Stéphane
Palfi, thầy thuốc ngoại thần kinh của bệnh viện Henri-Mondor (Créteil),
người đã tham gia vào công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Điều
trị này là đổi mới bởi vì nó gây nên một sự tiết tự nhiên và liên tục
của dopamine, trái với những điều trị dopaminergique, mà ta nghĩ rằng
những cử động không thể kiểm soát được (dyskinésie) mà chúng gây nên là
do sự cung cấp không liên tục của dopamine.” Hôm nay, trong bối cảnh của
một thử nghiệm giai đoạn I (trắc nghiệm tính dung nạp) sẽ kéo dài một
năm, 6 bệnh nhân đã nhận điều trị này. “Chúng ta còn phải xác nhận liều
lượng tối ưu và chứng tỏ tính vô hại của nó trên người ”, Stéphane Palfi
đã xác nhận như vậy. Đó là mục đích của những thử nghiệm cổ điển của giai
đoạn II, được dự kiến trong vòng năm 2010, sẽ được thực hiện trên 12 bệnh
nhân, trước khi được triển khai trên quy mô lớn hơn. (SCIENCE
ET VIE 1/2010) Đọc thêm : Thông
Tin Y Học Về Bệnh Parkinson
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm
(TSYH số 105, bài số 7).
5/ TAI BIẾN ĐỘNG MẠCH VÀNH NƠI
CÁC PHỤ NỮ : CHÚ Ý ĐƯỜNG.
Một công trình nghiên cứu của Ý về những hậu quả của một sự tiêu thụ nhiều
đường đã bao gồm hơn 32.500 phụ nữ và 15.171 đàn ông. Trong 8 năm, các
nhà nghiên cứu đã liệt kê các thói quen ăn uống của các người tham dự,
đường cong đường huyết (courbe glycémique) của họ (trước và sau một bữa
ăn) và những chỉ dấu khác của chuyển hóa liên kết với đường. Kết luận
: một sự tiêu thụ nhiều glucide làm nhân lên gấp đôi nguy cơ tai biến
động mạch vành nơi các phụ nữ, nhưng không nơi các đàn ông. (PARIS
MATCH20/5-26/5/2010)
6/ NHỮNG RỐI LOẠN TRÍ NHỚ CÓ NHẤT
THIẾT BÁO HIỆU MỘT BỆNH ALZHEIMER ?
Professeur Jean-Jacques Hauw, Neuropathologiste
Không. Các rối loạn trí nhớ (troubles de la mémoire) có rất nhiều các
nguyên nhân. Chúng ta đã từng bị rối loạn trí nhớ sau một bữa chè chén
say sưa hay trong một đợt mệt nhọc, và những rối loạn này thoái lui sau
một đêm nghỉ ngơi hay sau vài ngày nghỉ công tác. Cũng có thể xảy ra một
sự mất đột ngột các ký ức về một thời kỳ ngắn ngủi, xảy ra không có dấu
hiệu báo trước và không có một nguyên nhân rõ ràng, kéo dài vài giờ và
không để lại một di chứng nào khác ngoài sự quên các sự kiện xảy ra trong
thời kỳ này.
Tuy vậy đôi khi, người, thường là già cả, kêu bị những rối loạn trí nhớ
dai dẳng, làm sợ mắc phải bệnh Alzheimer. Đó là nguyên nhân của 50% đến
70% chứng sa sút trí tuệ (démence), mà con số được ước tính là 5% nơi
những người từ 70 đến 80 tuổi, gia tăng cho đến 20% nơi những người từ
85 đến 90 tuổi. Ngoài những rối loạn trí nhớ, đôi khi còn có những biểu
hiện khác : bệnh nhân đi lạc hay tự cô lập. Vì lẽ người này không mắc
bệnh Alzheimer, và do đó thầy thuốc điều trị đôi khi có thể làm biến mất
một cách nhanh chóng các rối loạn.
Lú lẫn tâm thần (confusion mentale) thường xảy ra nơi những người già.
Những người già, thường âu lo, bị mất định hướng trong thời gian và không
gian (họ đã quên ngày tháng, tin là mình đang ở nơi một ngôi nhà khác..).
Những nguyên nhân thường rất nhiều, đặc biệt là sự dùng thuốc quá liều
lượng ; người thầy thuốc chỉ cần hạn chế các đơn thuốc vào cái cần thiết
tối thiểu và sự lú lẩn thoái lui trong vài ngày. Trong những trường hợp
khác, ông ta đòi những xét nghiệm bổ sung hay nhờ đến thầy thuốc chuyên
khoa thần kinh.
Chứng trầm cảm là một nguyên nhân khác của các rối loạn trí nhớ giống
với bệnh Alzheimer. Người bệnh cảm thấy mệt mỏi tinh thần, không thể nào
tập trung tâm trí được. Các tư duy bị trì chậm, buồn bã. Trong trường
hợp này, cần phải nhờ đến thầy thuốc chuyên khoa tâm thần. Ông ta có những
điều trị hiệu quả một cách nhanh chóng. Tuy nhiên không phải luôn luôn
đơn giản như vậy : một sự lú lẫn tâm thần hay một sự trầm cảm thật ra
có thể phát hiện một bệnh Alzheimer. Sự theo dõi bệnh nhân sẽ cho phép
xác định rõ. (LE FIGARO 10/5/2010)
7/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CHOCOLAT ĐEN.
Nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý sự hiện hữu của một tác dụng có lợi
của chocolat đen.
Một trong những công trình nghiên cứu này, được tiến hành ở Zutphen, ở
Hòa Lan, trên 470 bệnh nhân (từ 65 đến 84 tuổi) kéo dài 15 năm, đã cho
thấy rằng huyết áp tối đa và tối thiểu đối với những người tiêu thụ 10
g chocolat đen mỗi ngày được hạ xuống lần lượt 3,7 và 2,1 mmHg, so với
những người không tiêu thụ. Mới đây hơn, một thử nghiệm quy mô lớn, được
tiến hành bởi hai nhà dịch tễ học thuộc Institut germanique de nutrition
(Brian Buijsse et Heiner Boeing), cho thấy rằng ăn chocolat đều đặn với
lượng thấp tương ứng với một sự giảm của tỷ lệ tử vong tim-mạch. Hơn 19.000
người sống trong vùng Potsdam ở Đức (không có tiền sử tuần hoàn) đã được
theo dõi trong 8 năm. Kết luận : nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột qụy giảm
39% nơi những người tiêu thụ 6 g chocolat mỗi ngày. Các flavonoides, các
chất kháng oxy hóa mạnh được chứa trong cacao, mà nồng độ mạnh hơn trong
chocolat đen, là nguồn gốc của những lợi ích này. (PARIS
MATCH 22/4-28/4/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr24.htm
(TSYH số 24, bài số 7)
8/ KHÔNG CÓ NGUY CƠ GIA TĂNG BỊ
UNG THƯ VỚI CÁC ĐIỆN THOẠI CẦM TAY, THEO CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU INTERPHONE.
Công cuộc điều tra, được thực hiện trên hơn 6.500 người bị các khối u
trong 13 nước làm yên lòng. Cần có nhiều công trình nghiên cứu khác.
SANTE PUBLIQUE. Người ta chờ đợi hau háu điều đó
từ gần 3 năm nay. Người ta trông đợi kết quả điều tra để nó nói với chúng
ta là có hay không, điện thoại cầm tay là nguy hiểm và làm gia tăng các
nguy cơ mắc phải ung thư của não bộ, của tuyến mang tai hay của tai trong.
Công trình nghiên cứu Interphone, mà sự công bố các kết quả đã nhiều lần
bị hoãn lại, sau cùng xuất hiện hôm nay trong International Journal of
Epidemiology. Mặc dầu kết quả điều tra đã kết luận một cách làm an lòng,
về sự vắng mặt nguy cơ gia tăng bị ung thư đối với những người sử dụng
các điện thoại cầm tay. Nhưng như thể cuộc bàn cãi sẽ không bao giờ được
kết thúc, cuộc điều tra này sau cùng đánh giá rằng các nghiên cứu cần
phải được theo đuổi, rằng cuộc điều tra Interphone không phải là không
có những lệch lạc về phương pháp, rằng những cách sử dụng của các điện
thoại cầm tay đã thay đổi cũng như công suất của chúng …do đó mới có những
lời tuyên bố mập mờ cửa BS Elisabeth Cardis, người điều hành chính của
công trình nghiên cứu, với AFP : “ Công trình nghiên cứu không phát hiện
một nguy cơ gia tăng, nhưng chúng ta không thể kết luận rằng không có
nguy cơ bởi vì có đầy đủ các kết quả gợi ý một nguy cơ khả dĩ. ”
Được phát động bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu ung thư (CIRC : Centre
international de recherche sur le cancer), vào năm 2000 trong 13 nước
(Đức, Úc, Canada, Đan Mạch, Phần lan, Pháp, Israel, Ý, Nhật bản, Na Uy,
Tân tây lan, Vương Quốc Anh, Thụy điển), công cuộc điều tra này nhằm tìm
một mối liên hệ khả dĩ giữa việc sử dụng điện thoại cầm tay trong thời
gian 10 năm và những khối u của não (gliome, ménigiome), của dây thần
kinh thính giác (neurinome de l’acoustique) và của tuyến mang tai (nước
bọt). Trên thực tiễn, đó là hỏi các bệnh nhân bị các ung thư này về thời
gian sử dụng điện thoại cầm tay của họ và so sánh những câu trả lời của
họ với những câu trả lời của những người chứng khỏe mạnh. Cuộc điều tra
đã được thực hiện trên 2708 trường hợp gliome và 2409 trường hợp méningiome,
1100 neurinome de l’acoustique và 400 khối u của tuyến mang tai, được
so sánh với những người chứng lành mạnh, từ 30 đến 59 tuổi.
Nhìn toàn bộ, Interphone cho thấy một nguy cơ bị gliome 40% nhiều hơn
và một nguy cơ bị neurinome 15% nhiều hơn đối với những người tuyên bố
sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên, do những khó khăn về phương pháp học,
các tác giả đánh giá rằng ngay cả nguy cơ tương đối thấp này không hẳn
đã là chắc chắn. “ Những thiên lệch và sai lầm làm giới hạn sức mạnh của
các kết luận và ngăn cản thiết lập một sự giải thích nhân quả”, ta có
thể đọc như thế trong các kết luận của công trình nghiên cứu. Thủ thuật
này, được gọi là điều tra trường hợp- chứng (enquête cas-témoin) thường
có một thiên lệch không thể tránh được và khó khắc phục được : những người
bệnh có khuynh hướng muốn nhớ lại trong chi tiết về hành vi trong quá
khứ của họ (ở đây là sự sử dụng điện thoại cầm tay) để cố hiểu căn bệnh
của mình.
Interphone đã được tiến hành trong 13 nước khác nhau, với những kết quả
dị biệt tùy theo các nước. Ví dụ, nguy cơ gia tăng bị gliome không được
quan sát khắp nơi. Những kết quả ở Israel cho thấy một sự gia tăng nguy
cơ đối với các khối u của tuyến mang tai, nhưng không nhất thiết phải
được tìm thấy nơi những nước khác. Đối với BS Christopher Wild, giám đốc
của CIRC, “ những dữ kiện của Interphone không cho phép phát hiện một
nguy cơ gia tăng bị ung thư não. Tuy nhiên, tiến triển của cách sử dụng
của các điện thoại cầm tay từ thời kỳ được nghiên cứu bởi Interphone nhất
là nơi những người trẻ, cho thấy rằng nên theo đuổi sự nghiên cứu về việc
sử dụng của điện thoại cầm tay và về nguy cơ của ung thư não. ” Tuy nhiên,
sự bùng nổ của các sử dụng điện thoại cầm tay được tiết chế bởi một sự
giảm các bức xạ điện từ.
GS Elisabeth Cardis trong một thông báo nhắc lại rằng Interphone không
điều tra nơi những nguời dùng trẻ, và rằng một dự án mới, Mobikids, đang
được tiến hành để nghiên cứu nguy cơ bị những ung thư não của các trẻ
em và các thiếu niên. (LE FIGARO 18/5/2010)
Đọc thêm : TSYH số 12 bài số 2.
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr47.htm
(TSYH số 47, bài số 7)
9/ ÁNH NẮNG MẶT TRỜI, TẠI SAO,
ĐÚNG LIỀU LƯỢNG, LÀ CẦN THIẾT !
BS Brigitte Houssin, chuyên gia vi dinh dưỡng (micronutrition), tác giả
của “Soleil, mensonges et propagande” và GS Henri Joyeux, thầy thuốc chuyên
khoa ung thư của CHU de Montpellier, trình bày những lợi ích của sưởi
nắng.
Hỏi : Tại sao ông khuyên tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời ?
BS B-Houssin : Trước hết, bởi vì nhờ tác dụng của các tia tử ngoại B trên
da mà chúng ta có thể chế tạo sinh tố D với nhiều tính chất. Hai phần
ba của các dự trữ vitamine D của chúng ta phải được tạo nên bởi ánh nắng
mặt trời. 1/3 còn lại được mang lại bởi thức ăn.
Hỏi : Những tính chất nào của vitamine D làm cho nó trở nên cần thiết
?
BS B-Houssin : Vitamine này, cùng với calcium, tham gia vào cấu trúc và
sự khoáng hóa xương, làm gia tăng các phòng ngự miễn dịch và có một tác
dụng có lợi lên hệ tim-mạch. Và theo những công trình nghiên cứu mới đây,
vitamine D làm giảm nguy cơ bị cao huyết áp nhờ một tác dụng khả dĩ lên
vài hormone có liên hệ trong sự điều hòa huyết áp. Lợi ích khác của vitamine
này : nó cải thiện các bệnh ngoài da tự miễn dịch, như chàm (eczéma) và
bệnh vẩy nến (psoriasis). Vitamine D có những tính chất khác, như làm
dễ sự thải bỏ vài chất gây ô nhiễm (polluants).
Hỏi : Ta phải có nồng độ vitamine D trong
máu bao nhiêu ?
BS B-Houssin : Nồng độ được khuyến nghị nằm giữa 100 và 120 nanomole mỗi
lít nhưng, trong đất nước chúng ta và nhất là vào mùa đông, dân chúng
thiếu vitamine này. Nồng độ tối thiểu không được duới 75 nanomoles.
Hỏi : Ta phải tiêu thụ thức ăn giàu vitamine
D nào ?
BS B-Houssin : Ta tìm thấy vitamine D chủ yếu trong các cá mỡ (poissons
gras), những thức ăn nguồn gốc động vật, nhưng rất thường, sau một thăm
khám cho thấy một sự thiếu hụt, các thầy thuốc kê đơn một chất bổ sung
thức ăn (complément alimentaire) với những liều lượng mạnh ít hay nhiều.
Sự cho bổ sung này có vẻ thiết yếu nơi các người già, nhất là sau một
gãy cổ xương đùi. Trong trường hợp này khi đó phải khuyên một liều lượng
hàng ngày 2.000 đơn vị, theo một công trình nghiên cứu mới đây của Hoa
Kỳ.
Hỏi : Những công trình nào đã đưa ra giả
thuyết, theo đó vitamine D là một yếu tố chống ung thư ?
GS Henri Joyeux : Mối quan tâm đối với vitamine D chống lại quá trình
ung thư hóa tiếp theo sau nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học. Một
trong những công trình này, có tính chất so sánh và được tiến hành ở Scandinave
nơi các phụ nữ mãn kinh, đã cho phép quan sát rằng những phụ nữ bị ung
thư vú có một nồng độ vitamine D đặc biệt thấp. Những công trình nghiên
cứu khác nơi động vật (chuột) đã cho thấy rằng một sự cung cấp với những
liều lượng mạnh của vitamine này làm giảm kích thước của các khối u vú.
Một thử nghiêm khác, nơi các con chuột bị một ung thư tuyến tiền liệt
cũng đã được thực hiện. Tiến triển của các khối u của các con chuột nhận
những liều lượng mạnh vitamine D đã được làm chậm lại. Những công trình
nghiên cứu khác hiện dang được tiến hành ở Canada nơi những phụ nữ mãn
kinh.
Hỏi : Những lợi ích của mặt trời lên khí
chất được liên kết với vitamine D ?
BS B-Houssin : Những công trình nghiên cứu đã chứng minh ở mức độ nào,
bằng một tác dụng lên các neurone dẫn truyền, ánh sáng mặt trời có lợi
trong việc ngăn ngừa và điều trị vài chứng trầm cảm. Người ta đã quan
sát rằng nồng độ vitamine D thấp hơn nhiều nơi những người bị trầm cảm
so với những người không bị chứng bệnh này. Nơi những đứa trẻ khỏe mạnh,
một sự cho bổ sung vào cuối đông, 400 hay 800 đơn vị vitamine D mỗi ngày,
đã cho phép cải thiện tính khí !
Hỏi : Ánh nắng mặt trời với cường độ mạnh
là có hại : nhiều thông điệp khuyên bảo vệ chống lại.
BS B-Houssin : Quả thật là một sự tiếp xúc quá mức với ánh sáng mặt trời
làm dễ ung thư da, ta biết điều đó. Đó là mối nguy hiểm số 1. Mối nguy
hiểm thứ hai là một sự gia tốc của quá trình lão hóa da, ta cũng biết
điều đó. Nhưng chống lại những nguy cơ này, nhiều chiến dịch phòng ngừa
giải thích rất rõ làm sao bảo vệ . Những thông điệp khuyến khích chạy
trốn hoàn toàn ánh nắng chỉ tạo điều xấu hơn là điều tốt. (PARIS
MATCH 13/5-19/5/2010) Đọc thêm: Thông
Tin Y Học Về Vitamin D
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/5/2010)
TAGS: Ngừa thai nam giới, Nôn mửa thai
nghén (hyperémèse), Mửa không cưỡng được (vomissements incoercibles),
Khủng hoảng tâm lý (détresse psychologique), Gène thai nhi, Điều tra cảnh
giác dược (pharmacovigilance), Carbocistéine, Acétylcystéine, Vật lý liệu
pháp hô hấp (kinésithérapie respiratoire), Dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteurs),
Monoamine oxidase B, Trithérapie génique, Đường và nguy cơ tai biến động
mạch vành phụ nữ, Sa sút trí tuệ (démence), Lú lẫn tâm thần (confusion
mentale), Chocolat đen, Sinh tố D và ánh nắng mặt trời, Nguyen
Van Thinh
>>>back>>>
|
 |