Thời Sự Y Học số 174
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ ALZHEIMER : MỘT THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI Y KHOA.
135,6 triệu người bệnh trên thế giới, trong đó 1 triệu ở Pháp.
NEUROLOGIE. Nguyên nhân đầu tiên gây lệ thuộc và nguyên nhân đầu tiên của chi phí y tế của các lão niên, bệnh Alzheimer, dầu có thường xảy ra như thế nào đi nữa, không có liên hệ gì với sự lão hóa bình thường của não bộ. Mặc dầu bệnh ảnh hưởng lên khoảng 20% những người trên 80 tuổi, nhưng hơn ¾ những người trên 80 tuổi không có một triệu chứng nào, GS Bruno Dubois, giám đốc của Viện trí nhớ và bệnh Alzheimer (hopital La Pitié-Salpetrière, Paris) tương lai đã nhắc lại như vậy. Vậy đó là một bằng chứng rằng bệnh Alzheimer là một bệnh riêng biệt. Một căn bệnh xóa đi những kỹ niệm mới và làm biến đổi sự phán đoán. Do đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng khả năng tự trị và làm phức tạp đời sống của gia đình.”
Ngoại trừ 0,3% các bệnh nhân có một thể sớm của bệnh do một biến dị di truyền, ta vẫn luôn luôn không biết tại sao bệnh Alzheimer xảy ra. Nhưng ít nhất người ta biết rằng sự tích tụ các protéine bất thường trong não bộ là cơ sở của bệnh này. Một vài trong những protéine này, được gọi là “bêta-amyloides”, tích tụ dưới dạng các mảng (plaques) giữa các tế bào của não bộ, ngăn cản các neurone, đặc biệt là các neurone có can dự trong trí nhớ, liên lạc bình thường với nhau. Những protéine khác (các protéine tau), ở bên trong các tế bào, hiện diện dưới dạng các sợi (filaments) dẫn đến sự ngạt của các neurone.
“Chính vì thế, mọi công cuộc nghiên cứu hiện nay đều tập trung vào những phương tiện nhằm phá hủy các mảng này: trong số khoảng 20 loại thuốc hiện đang được trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm có lẽ sẽ xuất hiện trên thị trường những loại thuốc của ngày mai. Chúng ta cũng tiến hành một công trình nghiên cứu nhằm chống lại các chất ứ đọng này. Những kết quả sẽ được biết trong 3 năm nữa ”, GS Dubois đã nêu lên nhận xét như vậy. Sự nghiên cứu cũng quan tâm đến phương tiện để loại bỏ các sợi của protéine tau : đó là một hướng mới được thăm dò, đặc biệt (nhưng không chỉ) bởi GS Braulieu và nhóm nghiên cứu của ông (Inserm). Mục tiêu chung của những thuốc của tương lai này : ngăn cản sự chết của những neurone quý báu.
CÁC NĂNG LƯỢNG ĐƯỢC HUY ĐỘNG.
Đó là tất cả sự nghịch lý của bệnh Alzheimer : mặc dầu cuộc chạy đua tìm những điều trị mới có tiến bộ tốt, nhưng người ta không biết chẩn đoán tốt bệnh này ngoại trừ sau khi chết, nhưng dĩ nhiên đó không phải là giải pháp. Người ta cũng không biết làm sao phòng ngừa nó, cũng không biết ngay cả làm sao giải thích nó !
Thật vậy, vì thiếu nghiên cứu được tổ chức tốt cho đến nay, nên người ta thiếu những dữ kiện đáng tin cậy, và do đó không có những câu trả lời cho những câu hỏi này : có những dấu hiệu báo trước của căn bệnh hay không (trước khi xuất hiện những rối loạn về trí nhớ gây trở ngại) và vào lứa tuổi nào chúng xuất hiện? Có một sự phù hợp giữa các triệu chứng được mô tả bởi các bệnh nhân và những thương tổn được quan sát trong não bộ của chúng ?
Những câu hỏi chủ yếu nếu ta muốn một ngày nào đó thắng căn bệnh này. Điểm dương tính : tất cả các năng lượng sau cùng được huy động. “Đất nước chúng ta mong muốn trở thành một pôle d’excellence trong lãnh vực nghiên cứu bệnh Alzheimer. Chính vì thế, Tổ chức hợp tác khoa học kế hoạch Alzheimer đã được thành lập trong bối cảnh kế hoạch chính phủ Alzheimer 2008-2012. Tổ chức này đóng một vai trò “siêu điều hành” (supercoordinateur), bằng cách kết hợp tất cả các tác nhân của nghiên cứu này, dầu công hay tư”, GS Alexis Brice, giám đốc của Viện thần kinh-khoa học (Institut de neurosciences), phụ trách những đường hướng chiến lược quốc gia, đã giải thích như vậy. (LE FIGARO 3/5/2010)
2/ CÀ PHÊ VÀ THAI NGHÉN
Uống caféine trong lúc có thai có ảnh hưởng lên sự tăng trưởng thai nhi và sự phát triển hay không ? Rachel Bakker và các đồng nghiệp của ông ở Erasmus Medical Center ở Rotterdam (Hòa Lan) đã đánh giá sự tiêu thụ caféine (có trong cà phê và trà) của các bà mẹ và đã đo lường sự tăng trưởng thai nhi ở mỗi tam cá nguyệt của thai nghén. 7.346 phụ nữ có thai tham gia vào một công trình nghiên cứu ở Hòa Lan giữa năm 2001 và 2005
Các tác giả đã không quan sát thấy một mối liên kết nào giữa việc hấp thụ caféine và chu vi sọ thai nhi (périmètre cranien fœtal) hay trọng lượng thai nhi được ước tính theo mỗi tam cá nguyệt thai kỳ. Một sự tiêu thụ mạnh caféine được liên kết, vào tam các nguyệt đầu tiên, với một chiều dài đỉnh đầu- xương cụt (vertex-coccyx) nhỏ hơn, vào tam cả nguyệt thứ hai và thứ ba, một chiều dài của xương đùi bé hơn và vào lúc sinh, một tầm vóc thấp hơn. Các đứa bé có mẹ uống 6 đơn vị caféine hay nhiều hơn mỗi ngày có một nguy cơ gia tăng sinh ra đời nhỏ con so với tuổi thai nghén. “Những kết quả của chúng tôi gợi ý rằng sự tiêu thụ mỗi ngày 6 đơn vị caféine hay nhiều hơn trong thai kỳ được liên kết với những rối loạn tăng trưởng về kích thước của thai nhi. Sự tiếp xúc với caféine có thể làm hại ưu tiên sự tăng trưởng của khung xương thai nhi. Những công trình nghiên cứu khác, trong dân chúng không phải châu Âu, sẽ là cần thiết để đánh giá mối liên kết này cũng như những hậu quả sau khi sinh”, các tác giả đã kết luận như vậy. (LE JOURNAL DU MEDECIN 7/5/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr61.htm (TSYH số 61, bài số 7)
3/ CHÍNH TRONG LÚC HÁT NHỮNG NGƯỜI CẠM ĐÃ TÌM LẠI ĐƯỢC SỰ SỬ DỤNG LỜI NÓI.
Một đột qụy xảy ra ở bán cầu đại não trái có thể ảnh hưởng lên khả năng nói, nhưng không ảnh hưởng … lên khả năng hát ! Đó là thí nghiệm gây ngạc nhiên được tiến hành bởi Gottfried Schlaug, giáo sư thần kinh học của phân khoa y khoa của đại học Havard. Không thể đọc những lời của bài ca Happy Birthday to You, một trong những bệnh nhân bị câm sau một cơn đột qụy đã có thể hát lời một cách rõ ràng ngay khi một người nào đó vừa cầm tay bệnh nhân vừa đánh nhịp. “ Hiện tượng này gợi ý rằng trong não bộ có hai đường khả dĩ để phát âm các chữ : một, cổ điển, đi qua bán cầu đại não trái, tại đây là nơi của trung khu của lời nói, đường kia, căn cứ trên âm điệu của giai điệu (intonation mélodique), đi qua hoặc là hai bán cầu đại não, hoặc là bán cầu đại não phải ”, Gottfried Schlaug đã giải thích như vậy. Theo nhà thần kinh học, liệu pháp bằng âm nhạc có thể cho phép nhiều bệnh nhân bị tai biến mạch máu não phục hồi lại lời nói. (SCIENCE ET VIE 5/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr66.htm (TSYH số 66, bài số 4)
4/ VÀO LỨA TUỔI NÀO CẦN PHẢI ĐỊNH LƯỢNG CHOLESTEROL ?
Chính vào cuối thế kỷ XIX mà các nhà bảo hiểm Hoa Kỳ đã phát minh ra y khoa tiên liệu (médecine prédictive). Trong lúc gom góp những dữ kiện của những người được bảo hiểm, các nhà dịch tễ học và các nhà thống kê của các công ty bảo hiểm lớn này đã xác lập những mô hình tiên đoán tử vong (modèle de prédiction du décès). Những mô hình tiên đoán này nhanh chóng trở nên tinh tế hơn để được áp dụng cho bệnh tim mạch. Chính như thế mà ý niệm về yếu tố nguy cơ (facteur de risque) của bệnh tim mạch đã được tạo ra. Ở Pháp cũng như ở những nơi khác, chính 4 yếu tố nguy cơ chủ yếu giải thích hơn ¾ các biến cố động mạch vành cấp tính; đó là thuốc lá, các dyslipidémie, cao huyết áp và bệnh đái đường. Sự tăng cholestérol-huyết thường xảy ra vì lẽ khoảng ¾ các bệnh nhân được nhập viện vì hội chứng động mạch vành cấp tính ở Pháp có một sự gia tăng của cholestérol xấu của họ.
HAI TÌNH HUỐNG PHÁT HIỆN
Vấn đề phát hiện những yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là xưa rồi và bình thường phải được áp dụng cho toàn thể những yếu tố nguy cơ có một mối liên hệ nhân quả với chứng xơ mỡ động mạch huyết quản. Sự định lượng của cholestérol và các fractions của nó được căn cứ trên một kỹ thuật sinh học đơn giản để thực hiện trên một mẫu nghiệm máu được lấy lúc nhịn đói. Hai tình huống quan trọng phát hiện cholestérol được thực hiện ở Pháp. Một mặt, thầy thuốc có thể gặp một bệnh nhiễm sắc thể thường tính trội (maladie autosomique dominante), bệnh tăng cholestérol-huyết gia đình dị hợp tử (hypercholestérolémie familiale hétérozygote). Bất thường sinh học lipit này hiện diện nơi một trên 500 trường hợp sinh ở Pháp. Sự gia tăng cholestérol-huyết hiện diện ngay lúc sinh và các trị số của cholestérol-huyết tăng cao dần dần với tuổi tác của các bệnh nhân. Đó là một bệnh di truyền hung dữ đối với các động mạch và điều trị vệ sinh-ăn uống và/hoặc thuốc men phải bắt đầu càng sớm càng tốt. Do đó, trong bệnh tăng cholestérol-huyết gia đình, sự định lượng phải được thực hiện càng sớm càng tốt nơi trẻ em, ngay khi có một cơ hội để thực hiện sự lấy máu. Việc tìm kiếm những bệnh nhân trẻ này trong dân chúng là dễ dàng vì lẽ đó là những gia đình đã có những tai biến tim mạch xảy ra sớm và có những tăng cao quan trọng của cholestérol trong huyết tương. Những trị số cholestérol toàn thể 1,80 g/l nơi trẻ em 10 tuổi được xem như là bệnh lý. Nơi những gia đình này, sự định lượng của cholestérol sẽ được thực hiện đều đặn và sự theo dõi sẽ chú y tìm kiếm một sự gia trọng của các trị số và những định vị của bệnh tim mạch. Cũng như đối với những yếu tố nguy cơ khác, sự xác định của cholestérol nơi người trưởng thành là một bộ phận cơ bản của sự phòng ngừa tim mạch. Mỗi người trưởng thành hơn 18 tuổi phải được hưởng vào một lúc nào đó một bilan sinh học lipit toàn bộ. Xét nghiệm máu này sẽ gồm có cholestérol xấu, cholestérol tốt và các triglycéride. Sự định lượng này sẽ được lập lại mỗi năm năm nếu không có một bất thường hay nhanh hơn nếu những yếu tố nguy cơ khác xuất hiện hay nếu một bệnh đến làm phức tạp sự điều trị. Những trị số cholestérol toàn thể 2,20g/l nơi người trưởng thành buộc phải theo dõi đều đặn nơi thầy thuốc gia đình. Nơi bệnh nhân đã có một biến cố tim mạch, chính thường trong lúc nhập viện mà chẩn đoán tăng cholestérol-huyết được thực hiện. Đó là một tình huống rất tai hại đối với tiên lượng vì lẽ sự điều trị tăng cholestérol-huyết vài năm trước có lẽ đã cho phép tránh được biến cố tim mạch cấp tính này.
Những bệnh nhân người Pháp có được may mắn được tiếp cận tương đối dễ dàng với những thầy thuốc gia đình và với các dịch vụ phòng ngừa trong khung cảnh y khoa lao động hay chiến dịch phát hiện đại chúng. Tai biến tim mạch không phải là một định mệnh an bài và toàn bộ những người can thiệp y và cận y sẵn sàng phuc vụ cho các công dân đề phòng ngừa, phát hiện và điều trị các yếu tố nguy cơ để tránh một cách tối đa các biến có tim mạch. (LE FIGARO 26/4/2010)
5/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHỜ NƯỚC MẮT.
Sự phân tích nước mắt có thể cho phép chẩn đoán sớm bệnh xơ cứng rải rác. Đó là điều vừa được chứng minh bởi một nhóm nghiên cứu của Lille (Pháp), được điều khiển bởi Gauthier Calais, bằng cách tìm kiếm trong nước mắt những bất thường miễn dịch học, đặc biệt là vài protéine, những “bandes oligoclonales” của immunoglobulines (IgG). Mãi đến nay người ta chủ yếu nhờ đến chụp hình ảnh bằng IRM và phân tích nước não tủy. Kỹ thuật mới này cho phép tránh phải nhờ đến chọc dò tủy sống trong 40% các trường hợp. Và thật vậy theo những kết quả thu được nơi 70 bệnh nhân, có một sự tương hợp thỏa mãn giữa électrophorèse của nước mắt và électrophorèse của dịch tủy sống, có lẽ bởi vì các nang lympho (follicules lymphoides) của các tuyến nước mắt gần giống với các nang lympho của hệ thần kinh trung ương, hay bởi vì các tế bào lympho hay các IgG có khả năng di chuyển xuyên qua hàng rào huyết-màng não (barrière hématoméningée). (SCIENCES ET AVENIR 5/2010)
6/ TUYẾN TIỀN LIỆT : CÓ PHẢI ĐỊNH LƯỢNG PSA SAU 50 TUỔI ?
PROFESSEUR GUY VALLANCIEN, Urologue (Paris)
Membre correspondant de l’ Académie de médecine

Mọi người đàn ông 50 tuổi muốn được thông tin về tình trạng của tuyến tiền liệt của mình phải có thể được tiếp cận hai xét nghiệm đơn giản : định lượng PSA (antigène spécifique de la prostate) khi lấy máu, và thăm khám trực tràng để tìm kiếm một bất thường về thể chất của tuyến tiền liệt.
Tại sao tìm kiếm một ung thư tuyến tiền liệt? Không phải để “phòng ngừa”, như người ta thường nghe nói mà để phát hiện nó ngay từ đầu, khi còn có thể chữa lành được. Chúng ta biết rằng ung thư này phát triển khá chậm, nhưng chúng ta cũng biết rằng các người đàn ông sống càng ngày càng thọ hơn. Vào năm 2009, 70.000 ung thư của tuyến tiền liệt đã được phát hiện ở Pháp, nhưng tỷ lệ tử vong hàng năm (8600 tử vong năm 2008) đang giảm xuống nhờ sự kiện là những người đàn ông được điều trị kịp thời. Việc cãi cọ về sự hữu ích của sự điều tra phát hiện một ung thư không nguy hiểm không có một ý nghĩa nào. Biết xem ta có bị một ung thư hay không thuộc về một phương pháp tiến hành logic mà các thầy thuốc không thể từ chối đối với những kẻ quan tâm đến sức khỏe của mình.
Vấn đề thật sự là vấn đề biết xem có cần phải điều trị nó hay không, với những vũ khí nào ? Ta có thể thật sự chữa lành một ung thư khởi đầu trong khi điều trị của một ung thư tiến triển chỉ là điều trị chữa tạm (traitement palliatif). Hiện nay, 80% các bệnh nhân mà ta điều trị vì các ung thư của tuyến tiền liệt ở giai đoạn khởi đầu, lành bệnh hoàn toàn. Nếu nồng độ của PSA thấp (dưới 2,5 nanogramme mỗi ml máu) đối với một tuyến tiền liệt bình thường hay gia tăng một cách vừa phải (20 đến 30 g), được tính từ hình ảnh của tuyến bằng siêu âm, thì không có gì khác phải làm ngoài việc dự kiến một định lượng mới vào một năm sau. Nếu nồng độ của chất chỉ dấu vẫn không thay đổi, ta có thể cách quảng các kiểm tra mỗi 2 năm. Trong trường hợp PSA tăng cao liên tục, khôn ngoan là thăm khám một thầy thuốc niệu khoa sẽ phân tích tình hình. Tuy nhiên, nồng độ PSA không liên hệ một cách đặc hiệu với ung thư. Adénome (u hiền tính, rất thường gặp nơi những người đàn ông trên 50 tuổi) và nhiễm trùng tuyến tiền liệt (viêm tiền liệt tuyến) cũng làm tăng cao nồng độ của chất chỉ dấu PSA.
Nơi những người đàn ông có những tiền sử gia đình ung thư tuyến tiền liệt (anh em, cha, ông nội ông ngoại), cũng như những người da đen (nguy cơ mắc phải ung thư rất cao đối với những đối tượng này), người ta khuyến nghị thực hiện bilan ngay ở lứa tuổi 45.
Khi ung thư được nghi ngờ, thầy thuốc niệu khoa thực hiện những “sinh thiết ” của tuyến tiền liệt, nghĩa là lấy những mảnh mô của tuyến để phân tích dưới kính hiển vi. Nếu kết quả bình thường, chỉ cần theo dõi nồng độ PSA. Nếu, ngược lại, các tế bào ung thư được phát hiện, khi đó đặt ra vấn đề thái độ điều trị là thái độ nào. Việc quyết định phải theo không bao giờ khẩn cấp cả. Phải tìm hiểu và đánh giá những hậu quả lên các chức năng tiết niệu và sinh dục của những điều trị được đề nghị. Việc lựa chọn tùy thuộc tuổi tác, tình trạng chung của bệnh nhân, tính hung dữ của ung thư và thể tích của nó. Có tất cả các giải pháp, từ việc theo dõi đơn thuần cho đến phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn, nhằm giúp các bệnh nhân bị bệnh. (LE FIGARO 15/3/2010)
7/ CÁC ROBOT PHẪU THUẬT CỦA TUYẾN TIỀN LIỆT.
Điều trị chuẩn của ung thư khu trú của tuyến tiền liệt là sự cắt bỏ toàn bộ tuyến và các lớp vỏ bọc của nó. Nhưng với biến chứng chính là nguy cơ xuất huyết. Như một công trình nghiên cứu xác nhận, ta có thể thu giảm nguy cơ này bằng cách nhờ đến một giải phẫu được điều khiển bởi robot (opération robotisée), được thực hiện bằng nội soi (laparoscopie). Ngồi trước một bàn quỳ (console) cách xa bệnh nhân, thầy thuốc ngoại khoa mổ trên một màn ảnh một cách an toàn với một cái nhìn hoàn hảo theo 3 chiều không gian. Nguy cơ chảy máu và giảm tỷ lệ hồng cầu trong máu (huyết cầu tố : hématocrite) trong lúc mổ ít hơn so với ngoại khoa cổ điển, cũng như việc phải nhờ đến truyền máu. (SCIENCE ET AVENIR 5/2010)
8/ CÁC UNG THƯ : NHỮNG TRƯỜNG HỢP CHỮA LÀNH TĂNG CAO !
GS Dominique Maraninchi, chủ tịch của Viện ung thư quốc gia (Inca : Institut national de cancer), nêu lên những kết quả của báo cáo mới đây, cho thấy một sự cải thiện rõ rệt.
Hỏi : Mục tiêu của bản báo cáo vừa rồi của Inca (Institut national du cancer) là gì ?
GS Dominique Maraninchi : Báo cáo này tương ứng với một trong những giai đoạn đầu tiên của kế hoạch ung thư mới. Đó là kiểm điểm tình hình hiện nay về tỷ lệ chữa lành và thuyên giảm. Mục đích : làm cho nhận thức rằng hàng trăm ngàn người sẽ vẫn tiếp tục sống sau khi ung thư được chẩn đoán và rằng phải cho phép họ tiếp tục lại một cuộc sống bình thường.
Hỏi : Ông đã tiến hành như thế nào để thực hiện công tác này ?
GS Dominique Maraninchi : Chúng tôi đã bắt đầu bằng cách thiết lập một sưu tập các dữ kiện đã có trên 6 triệu bệnh nhân (Hoa Kỳ và Châu Âu) bị ung thư thuộc đủ loại. Rồi chúng tôi đã khảo sát rất nghiêm chỉnh, đối với mỗi loại khối u, những kết quả thu được về sinh tồn và chữa lành với những điều trị đã được sử dụng vào cuối những năm 1990. Sau đó chúng tôi đã chuyển tất cả những dữ kiện này lên tình hình của các bệnh nhân hiện đang bị một ung thư ở Pháp, đồng thời chúng tôi biết rằng ta có thể tối ưu hóa những tiên đoán này nhờ những tiến bộ điều trị mới nhất. Chúng tôi đã nhận thức rằng 42% các bệnh nhân được điều trị hôm nay có hơn 80% các may mắn lành bệnh hay sống sót, điều này thể hiện 135.000 bệnh nhân mỗi năm !
Hỏi : Trong số những ung thư thường xảy ra nhất, những ung thư nào có tiên lượng tốt ?
GS Dominique Maraninchi : 4 loại khác nhau tạo thành, do tần số của chúng, một nửa của các ung thư có tiên lượng tốt : các ung thư của vú, của tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng và ung thư phổi. Nếu chúng được khám phá sớm, những ung thư này có 90% cơ may được chữa lành, điều này nói lên tầm quan trọng chủ yếu của sự phát hiện. Đó là những con số để chứng minh rằng phần lớn có thể chữa lành : 85% các ung thư vú, 80% các ung thư tuyến tiền liệt và khoảng 50% những ung thư đại tràng và trực tràng được chữa lành. Ung thư phổi, bất hạnh thay, là ung thư thường nhất được khám phá ở một giai đoạn muộn, điều này giải thích một tỷ lệ chữa lành thấp hơn : khoảng 15%.
Hỏi : Nhờ những tiến bộ nào ta có được sự tăng cao tỷ lệ chữa lành hay thuyên giảm này ?
GS Dominique Maraninchi : Các ung thư được chẩn đoán sớm hơn. Một mặt, nhờ sự phổ biến của các công tác phát hiện và, mặt khác, nhờ vào những tiến bộ của các kỹ thuật chụp hình ảnh cho một cartographie của một khối u chính xác hơn nhiều. Tiến bộ khác : sự thực hiện, nhờ các chất chỉ dấu phân tử (marqueurs moléculaires), các điều trị nhắm đích (traitements ciblés), tác dụng trực tiếp lên các tế bào ung thư, bằng cách ức chế cơ chế có hại của chúng. Khoảng 40 thuốc cho điều trị nhắm đích đang được bào chế. Những liệu pháp “ theo từng cá thể ” (thérapies sur mesure) này tạo nên một niềm hy vọng tuyệt vời !
Hỏi : Theo báo cáo này, có phải tỷ lệ của các ung thư đang gia tăng ?
GS Dominique Maraninchi : Vài ung thư trở nên thường xảy ra hơn, còn những ung thư khác thì lại đang giảm xuống. Hiện nay ở Pháp, người ta thống kê 60.000 trường hợp ung thư tuyến tiền liệt mỗi năm, một con số tăng hơn gấp đôi trong vòng 10 năm! (nhưng với một tỷ lệ tử vong đã sụt xuống trong cùng những tỷ lệ). Những ung thư khác đang gia tăng : ung thư vú với 50.000 trường hợp mới mỗi năm vào năm 2005, so sánh với 35.000 vào năm 1995. May mắn thay, tần số của các loại ung thư khác rất là hạ : như các ung thư của dạ dày, của họng...
Hỏi : Những biện pháp cụ thể nào sẽ được thực hiện sau báo cáo này ?
GS Dominique Maraninchi: Ưu tiên của “kế hoạch ung thư” này là cho phép tất cả những người đã được điều trị tiếp tục trở lại một cuộc sống bình thường : làm việc, đầu tư,.. mà không bị phát lại bệnh. Chúng ta đã có khá đủ thời gian nhìn lại để xác nhận rằng nhiều người bệnh được chữa lành. Và vài ung thư, trước đây có tiên lượng xấu, ngày này đã trở nên những bệnh lý mãn tính, cho phép, nhờ những tiến bộ điều trị, một chất lượng cuộc sống tốt. Chúng tôi sẽ thiết lập vào cuối lúc điều trị một “dispositif de sortie” bao gồm một chương trình thích ứng cho mỗi bệnh nhân. Người thầy thuốc chuyên khoa ung thư và thầy thuốc gia đình sẽ chuẩn bị thời kỳ “sau ung thư”(apres-cancer) bằng cách đánh giá những nhu cầu, như là một sự hỗ trợ tâm lý hay xã hội. (PARIS MATCH 22/4-28/4/2010)
9/ CHOCOLAT, NGUYÊN NHÂN HAY PHƯƠNG THUỐC ĐIỀU TRỊ CHỨNG TRẦM CẢM ?
Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, những người tiêu thụ nhiều chocolat có nguy cơ nhiều hơn bị chứng trầm cảm. Vậy đúng là có một sự liên kết giữa chứng trầm cảm và chocolat, nhưng theo chiều hướng nào ?
Người ta nói nhiều về sự liên kết chocolat/ khí chất, nhưng ít công trình nghiên cứu mô tả một cách chính xác bản chất của mối liên hệ này. Natalie Rose ( Đại học californie, San Diego) và các cộng sự viên đã tập hợp 1.018 người trưởng thành (694 đàn ông và 324 phụ nữ) không bị đái đường lẫn bệnh động mạch vành. Các nhà nghiên cứu tập trung vào 931 người không dùng thuốc chống trầm cảm và được biết là có tiêu thụ chocolat. Khí chất của họ được đánh giá theo thang CES-D (Centre for Epidemiologic Studies Depression Scale). Một tình trạng trầm cảm được định nghĩa bởi một điểm số (score) CED-D > hoặc = 16 và một hội chứng trầm cảm quan trọng bởi một điểm số > hoặc = 22.
Những kết quả cho thấy rằng những người bị trầm cảm (CES-D > hoặc =16) tiêu thụ nhiều hơn một cách đáng kể (8,4 suất mỗi tháng) so với những người không bị trầm cảm (5,4 suất/tháng). Những người hội đủ những tiêu chuẩn của một hội chứng trầm cảm quan trọng (CES-D > hoac =22) ăn chocolat còn nhiều hơn (1,8 suất mỗi tháng). Một suất (portion) tương ứng với 28 g chocolat.
Sự liên kết này liên hệ đến các phụ nữ và các đàn ông và nó không được giải thích bởi một sự gia tăng chung của các cung cấp mỡ, hydrate de carbone, caféine hay calorie. “Điều này gợi ý rằng những kết quả của chúng tôi là đặc hiệu đối với chocolat ”, các nhà nghiên cứu đã nói thêm như vậy ; họ không phân biệt giữa chocolat đen và chocolat sữa. Cũng không có sự khác nhau giữa những người trầm cảm và không trầm cảm trong sự tiêu thụ những thức ăn khác giàu các chất kháng oxy hóa khác như cá, cà phê, trá cây và rau xanh.
“Những điểm số trầm cảm (CES-D) tăng cao được liên kết với một sự tiêu thụ chocolat lớn hơn. Tuy nhiên chúng tôi sẽ phải xem có một sự liên hệ nhân quả hay không và nếu có, theo chiều hướng nào: chocolat làm giảm hay tăng cường những triệu chứng trầm cảm?”, các tác giả kết luận như vậy. Tuy nhiên họ đưa ra vài giả thuyết. Chứng trầm cảm có thể kích thích khẩu vị đối với chocolat, hoặc bằng sự tự cho thuốc lấy vì những tính chất được cho là chống trầm cảm của chocolat, hoặc vì một lý lẽ không liên kết với một lợi ích điều trị. Nhưng, các tác giả của công trình nghiên cứu đã nhắc lại như vậy, ta không biết chocolat có làm dễ sự trầm cảm hay không. Những công trình tương lai sẽ phải làm sáng tỏ về sự liên kết này, chắc chắn là rất phức tạp ... (LE JOURNAL DU MEDECIN 4/5/2010)
10/ HIỆN TƯỢNG ARTHUS.
Sinh năm 1862 ở Angers, Nicolas Maurice Arthus học y khoa ở Paris. Ông chỉ vừa tốt nghiệp được 5 năm thì được bổ nhiệm làm giáo sư sinh lý học ở đại học Friburg. Ông trở lại Pháp năm 1900 ở viện Pasteur rồi ở Ecole de Médecine de Marseille, trước khi được bổ nhiệm ở đại học Lausane (Thụy Sĩ), mà cuối cùng ông sẽ qua đời ở đó vào năm tuổi 83.
Vào năm 1890, ông bắt đầu nghiên cứu về sự đông của sữa, dĩ nhiên đưa ông đến sau đó sự đông của máu. Ông khám phá ra một chất kháng đông (anticoagulant), hiệu quả lên sữa và máu : oxalate de sodium. Hiện tượng phản vệ (anaphylaxie) bắt đầu làm ông quan tâm vào đầu thế kỷ XX, sau khi một đồng nghiệp đã chứng minh trên chó được tiêm chủng với những trích chất của động vật biển. Arthus quyết định thí nghiệm tác dụng gây dị ứng của huyết thanh ngựa được tiêm ngấm nông vào các con thỏ. Sau mũi tiêm thứ 4, một phản ứng phù nề tại chỗ xuất hiện. Ở mũi tiêm thứ 5, vùng tiêm trở nên nung mủ ; vùng này gần như hoại tử ở mũi tiêm thứ 7. Còn khi tiêm vào tĩnh mạch, mũi tiêm gây nên thở nhanh, hạ huyết áp, máu không đông và, nếu như liều lượng đầy đủ, con thỏ chết vì suy tim-hô hấp.
TỪ THỎ ĐẾN RẮN MANG BÀNH (COBRA).
Nicolas Maurice Arthus cũng khảo sát tác dụng của các nọc độc rắn : nọc độc của rắn mang bành (cobra), gây chết người do ngưng hô hấp, nọc độc của rắn lục (vipère), phát khởi một sự đông máu ồ ạt và nọc độc của rắn chuông (crotale), gây chết người do choáng xảy ra nhanh. Ông cũng nhận xét rằng những liều lượng rất nhỏ của nọc độc rắn mang bành làm cho động vật được chủng trở nên được miễn dịch chống lại sự bại liệt, nhưng con vật này cũng vẫn bị chết trong tình trạng choáng. Nhờ cái gì cũng đụng vào, nhà khoa học như thế đã đi từ những ý niệm tiêm chủng (vaccination) sang ý niệm phản vệ (anaphylaxie). Ông cũng phát triển một chất đối kháng (antidote) của nọc độc bằng cách xử lý bằng formaline. Chính một cuốn sách nhỏ được xuất bản vào năm 1903 làm ông trở thành nổi tiếng : “Những mũi tiêm được lập lại của huyết thanh ngựa vào thỏ”. Trong sách này ông mô tả hiện tượng mà, chỉ bắt đầu từ năm 1966, mới sẽ mang tên ông : hiện tượng Arthus. (GENERALISTE 6/5/2010)

TAGS: Alzheimer, Plaques, Cà phê và thai nghén, Người câm hát, Định lượng Cholesterol, Bệnh nhiễm sắc thể thường tính trội (maladie autosomique dominante), Bệnh tăng cholestérol -huyết gia đình dị hợp tử (hypercholestérolémie familiale hétérozygote), Bệnh xơ cứng rải rác, Tuyến tiền liệt, PSA (antigène spécifique de la prostate), Robot giải phẫu tuyến tiền liệt, Chocolat và trầm cảm, Hiện tượng Arthus, Nguyen van Thinh

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (17/5/2010)

>>>back>>>

Tin Mới Y Học