 |
Thời
Sự Y Học số 173
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CHẲNG BAO LÂU NỮA CHÚNG
TA CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ CÁC DI CHỨNG CỦA NHỒI MÁU CƠ TIM BẰNG NHỮNG TẾ BÀO
GỐC ?
Nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) được đặc trưng bởi một sự mất
trong chốc lát oxy đến cơ tim (myocarde), do sự tắc của một động mạch
vành nuôi dưỡng. Hậu quả là một sự hoại tử của mô ở vùng hạ lưu của chỗ
tắc này. Sự mất tổ chức mô sẽ được đi kèm theo bởi một sự mất tính co
bóp của cơ tim, vài tháng sau khi bị nhồi máu, sau khi mô lành mạnh chung
quanh đã cạn kiệt các năng lực bù trừ. Khi đó một sự suy của cơ tim sẽ
dần dần được thiết lập. Chắc hẳn là điều trị nhồi máu ở giai đoạn cấp
tính đã đạt được những tiến bộ đáng kể nhờ sự “mở lại” sớm của động mạch
bị tắc, nhờ các loại thuốc làm tan cục máu đông hoặc là, thường hơn, nhờ
sự tái thông dòng huyết quản bằng dụng cụ (recanalisation instrumentale)
(đặt stent). Tuy nhiên, mặc dầu tỷ lệ tử vong đã giảm một cách đáng kể
nhờ những biện pháp này, vài bệnh nhân vẫn tiếp tục một cách không cưỡng
được về hướng suy tim thứ phát.
Điều trị thuốc làm giới hạn các triệu chứng suy tim nhưng không chữa lành
được nó. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, chỉ có thể ghép tim
mới có thể cứu sống, nhưng những trường hợp ghép tim này ngày nay rất
bị giới hạn. Do đó, từ nhiều thập niên qua các nhà nghiên cứu và lâm sàng
đã thử thay thế, nơi động vật, không phải toàn bộ cơ quan mà một phần
của mô tạo nên cơ quan đó, bằng cách cấp những tế bào mới. Những công
trình nghiên cứu khác nhau đã đưa đến kết luận rằng sự thay thế của mô
bị hoại tử đòi hỏi được cung cấp bởi những tế bào tim thật sự để có thể
phục hồi một chức năng. Chính như thế mà ngay từ năm 1998, các tế bào
gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires), được gọi là “ đa năng
” (pluripotentes), có khả năng sinh ra tất cả các mô cùa cơ thể của chúng
ta, đã tức thời tỏ ra mang nhiều hy vọng. Thật vậy, trái với những mô
khác như da và cơ có những năng lực tái sinh, tim lại không có khả năng
này. Việc nhờ đến các tế bào gốc phôi thai để tái tạo lại mô tim dường
như được chỉ định.
Y KHOA TÁI SINH (MEDECINE REGENERATIVE).
Cách nay vài năm, những chướng ngại (khó sinh sản mô tim in vitro, nguy
cơ bị khối u, sự bất tương hợp miễn dịch) trong sự sử dụng lâm sàng những
tế bào này hay những tế bào con được biệt hóa thành những tế bào tiền
cơ tim (cellules précurseurs cardiaques) của chúng, dường như khó vượt
qua. Tuy vậy ngày nay các nhà nghiên cứu đã học được cách chế ngự sự tăng
sinh của các tế bào và hướng chúng để sử dụng cho tim. Nhiều thí nghiệm
nơi động vật, được thực hiện bởi nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới,
đã thành công ghép những tế bào được sản sinh từ các tế bào gốc phôi thai.
Những ghép này kèm theo một sự cải thiện của chức năng của cơ tim, nơi
động vật nhỏ phòng thí nghiệm. Ở Pháp, chúng ta đã thực hiện những thử
nghiệm nơi động vật linh trưởng bằng cách ghép những tế bào tiền cơ tim
được sản sinh từ những tế bào gốc phôi thai. Trong những công trình này,
các tế bào tiền cơ tim đã tiếp tục hành trình của chúng, cũng như suốt
trong thời kỳ phát triển phôi thai và đã trở nên những tế bào tim mà không
tạo nên khối u.
Thật là nghịch lý, vết sẹo của nhồi máu cơ tim, trong đó các tế bào được
ghép, góp phần làm chúng thành thục thành những tế bào tim, bằng cách
sản xuất những yếu tố cần thiết cho sự biệt hóa này. Ngoài ra, những tế
bào được ghép trở thành những tế bào tim này dường như nối kết với những
tế bào nội tại, điều này cho phép nghĩ rằng luồng điện vào (influx électrique)
sẽ được truyền xuyên qua vùng được ghép và do đó nhịp tim sẽ không bị
rối loạn.
Còn lại là trở ngại của bản chất lạ mặt của những tế bào này và do đó
gây nên sự thải bỏ (rejet) chúng bởi cơ quan trưởng thành. Các nhà nghiên
cứu đang làm việc theo các hướng đầy hứa hẹn này (tiêm đồng thời những
tế bào autologue làm dễ sự dung nạp, chế độ làm suy giảm miễn dịch thấp...)
Trong tương lai, những tế bào gốc đa năng được chương trình hóa lại (cellules
souches polypotentes reprogrammées) có thể giải quyết vấn đề miễn dịch
vì lẽ tế bào được chương trình hóa lại sẽ là tế bào của bệnh nhân (một
fibroblaste của da hay một sợi tóc). Còn quá sớm để dự kiến sự sử dụng
những tế bào này trên lâm sàng nhưng hy vọng đang vương lên. Tế bào gốc
phôi thai, và nhất là các tế bào con tiền cơ tim của nó (cellules filles
précurseurs cardiaques) đã gần có thể được sử dụng trên người và có lẽ
sẽ mở đường tiến về một nền y khoa tái sinh (médecine régénérative). (LE
FIGARO 3/5/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr53.htm
(TSYH số 53, bài số 7)
2/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG : ÁNH SÁNG
ĐÚNG LÀ NGUỒN GỐC CỦA SỰ ĐAU ĐỚN.
Ngay thế kỷ thứ IV trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả cơn đau của
bệnh thiên đầu thống, kèm theo nôn, mửa và sợ sáng (photophobie). Từ ít
lâu nay, các nhà nghiên cứu đã được biết rằng đó là một bệnh thần kinh.
Nhưng họ vẫn còn tự hỏi không biết tại sao sự đau đớn trong bệnh này lại
bị làm gia trọng của bởi ánh sáng, trong khi, họ đã nghĩ như vậy, những
đường vòng tế bào thần kinh (circuits neuronaux) của thị giác và của cảm
giác đau đớn lại độc lập với nhau. Bí mật này vừa được giải quyết.
Các bệnh nhân đau thiên đầu thông (migraineux) biết rõ điều đó: khi một
cơn đau bắt đầu, tốt nhất là họ tách mình vào nơi yên tĩnh và đặc biệt
là trong một phòng tối. Bởi vì tiếng ồn và ánh sáng trở nên không chịu
đựng nổi, làm gia trọng sự đau đầu vốn đã mãnh liệt. Nhưng, dầu cho hiển
nhiên như thế nào đi nữa, đối với những bệnh nhân đau thiên đầu thống,
mối liên hệ giữa đau đầu và ánh sáng từ lâu vẫn là một bí ẩn đối với khoa
học.
Đó là vì những vùng của não bộ quản lý thị giác và những vùng não bộ cảm
nhận sự đau đớn là độc lập với nhau ; vậy chúng không có khả năng tương
tác với nhau một cách trực tiếp. Thế thì, tác dụng làm dịu của bóng tối
có thể là một định kiến. Tuy vậy, các đôi mắt, bằng cách này hay cách
khác, đúng là liên hệ với các cơn đau đầu thống. Trước hết bởi vì chứng
“sợ ánh sáng” (photophobie) này ảnh hưởng gần 90% các bệnh nhân đau đầu
thống. Kế đó, bởi vì, nơi những bệnh nhân hoàn toàn mù lòa, ánh sáng không
có một ảnh hưởng nào lên bệnh thiên đầu thống cả.
VAI TRÒ CỦA DÂY THẦN KINH THỊ GIÁC.
Thế mà đúng như vậy! Chính trong lúc quan sát 20 bệnh nhân mù bị bệnh
thiên đầu thống mà nhóm nghiên cứu của GS Burstein, thầy thuốc gây mê
của Centre Beth Israel Deaconess d’Harvard (Boston) đã chọc thủng màn
bí mật của mối liên hệ giữa đau đầu và ánh sáng. “Nơi những người đã mất
thị giác nhưng vẫn còn khả năng cảm nhận những biến thiên cường độ ánh
sáng, ánh sáng làm gia trọng bệnh thiên đầu thống, Rami Burstein đã giải
thích như vậy. Vậy rõ ràng là cơ chế gây triệu chứng sợ ánh sáng (photophobie)
hàm ý dây thần kinh thị giác, vốn bị phá hủy nơi những bệnh nhân hoàn
toàn bị mù lòa, nhưng vẫn hoạt động nơi những người còn cảm nhận được
ánh sáng.” Thế mà dây thần kinh thị giác bình thường nhận từ võng mạc
những thông tin được truyền bởi những thể nón (cône) và thể gậy (batonnet),
những tế bào này bắt ánh sáng và cho phép nhìn thấy. Nơi những người mù,
những tế bào thị giác này bị hỏng. “Những tế bào bắt ánh sáng (capteur)
duy nhất còn hoạt động trong võng mạc của các bệnh nhân cảm nhận những
biến thiên cường độ ánh sáng là những tế bào hạch (cellules ganglionnaires):
do đó người ta đã giả sử rằng chúng có quan hệ trong triệu chứng sợ ánh
sáng”, Rami Burnstein đã kể lại như vậy. Được khám phá nơi người vào năm
2000, những tế bào hạch sản xuất một sắc tố nhạy cảm với ánh sáng, mélanopsine,
không có một vai trò thị giác nào, nhưng điều hòa đồng hồ sinh học ngày
đêm (horloge circadienne) (hệ thống, qua nhiều tế bào cảm nhận ánh sáng,
cho phép có thể, phân biệt ngày và đêm) và tham gia vào các phản xạ của
đồng tử.
MỘT VÒNG THẦN KINH CHƯA TỪNG CÓ.
Vấn đề còn lại là cần phải chứng tỏ mối liên hệ giữa các tế bào nhạy cảm
với ánh sáng này và cơn đau đầu thống. Để đạt được điều đó, các nhà nghiên
cứu đã tiêm một chất huỳnh quang vào trong các tế bào hạch võng mạc của
các con chuột. Lan truyền từ neurone này qua neurone, chất đánh dấu huỳnh
quang (“traceur” fluorescent) này hẳn phải theo cùng lộ trình của tín
hiệu thần kinh (messager nerveux), cho phép vạch lại đường đi một cách
chính xác. Kết quả? Chất đánh dấu đã “thắp sáng” một đường vòng tế bào
thần kinh (un circuit neuronal) chưa từng bao giờ được mô tả trước đây,
nối trực tiếp võng mạc với đồi thị (thalamus), một vùng của não bộ có
liên hệ trong sự cảm nhận đau đớn, và các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy
rằng đường vòng tế bào thần kinh này được hoạt hóa lên trong cơn đau đầu
thống. Bằng cớ cho thấy rằng đúng là có một mối liên hệ vật lý giữa đau
đầu và ánh sáng, nhưng liên hệ đến những tế bào khác với những tế bào
của thị giác !
“Ánh sáng kích thích các tế bào hạch, những tế bào này truyền tín hiệu
thần kinh đến tận một nhóm các neurone của đồi thị, những tế bào thần
kinh này đã được hoạt hóa trong trường hợp đau đầu thống.Và khi tín hiệu
này đạt đến các tế bào thần kinh “đau đầu thống” (neurones migraineux),
hoạt tính của chúng gia tăng, do đó một cảm nhận đau đớn gia tăng”, Rodrigo
Noseda, người điều khiển công trình nghiên cứu đã mô tả như vậy. Thật
vậy, lúc đưa các điện cực vào trong các neurone của đồi thị, các nhà nghiên
cứu có thể kiểm chứng thấy rằng những tế bào thần kinh này “hăng tiết
lên” dưới tác dụng của ánh sáng. Hoạt động điện của chúng, vốn tương quan
với cường độ của sự đau đớn được cảm nhận, được nhân lên hai lần khi tiếp
xúc với một ánh sáng dịu và gấp lên 4 lần nếu ánh sáng mạnh ! Và sự “hưng
phấn” này không biến mất tức thời khi ta đắm mình trong bóng tối. “Nơi
phần lớn những người đau đầu thống sợ ánh sáng , ánh sáng làm gia tăng
cường độ của đau đầu trong vài giây đồng hồ và tác dụng này kéo dài 20
phút, đôi khi hơn, sau khi bệnh nhân đã đi vào trong một buồng tối, nhà
sinh thần kinh (neurobiologiste) đã xác nhận như vậy.
Những công trình nghiên cứu này, được chào đón bởi toàn thể các nhà nghiên
cứu đang làm việc về bệnh thiên đầu thống, mở ra con đường cho những điều
trị mới chống lại chứng sợ ánh sáng, cũng xảy ra trong những bệnh khác
của não bộ, như bệnh viêm màng nào. “Vào lúc này, chúng tôi tìm cách nhận
diện những phân tử hóa học có liên quan trong sự vận hành chức năng của
vòng các neurone này”, Rodrigo Noseda đã chỉ rõ như vậy. Nhưng sự khám
phá mối liên hệ của những tế bào hạch của võng mạc trong sự làm gia trọng
của các cơn đau đầu thống đã mang lại một phương tiện làm thuyên giảm.
“Người ta biết rằng những tế bào này là đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng
xanh. Vậy ta có thể khuyên những người sợ ánh sáng đang lên cơn, mang
các kính nhuộm màu (lunettes teintées) (màu da cam) nhằm ức chế ánh sáng
xanh”, Ana Recober, nhà sinh thần kinh chuyên viên về bệnh thiên đầu thống
của đại học Iowa (Hoa Kỳ) đã giải thích như vậy. Bà nhấn mạnh tầm quan
trọng của khám phá. “Biết được cơ chế sợ ánh sáng cho phép biết được hơn
về bệnh thiên đầu thống nói chung, bà đã nói thêm như vậy. Phải nói rằng
những cơ chế của bệnh này còn lâu mới được làm sáng tỏ. Người ta không
biết được tại sao vài bệnh nhân bị các cơn đau đầu thống còn những bệnh
nhân khác thì không.” Và người ta cũng chẳng biết tại sao đường vòng tế
bào thần kinh thần kinh (circuit neuronal) nối võng mạc với đồi thị này
lại là cội nguồn của sự đau đớn, chỉ trong trường hợp đau đầu thống mà
thôi... “Câu hỏi là phúc tạp, Rodrigo Noseda đã công nhận như thế. Trong
cơn đau đầu thống, các neurone cảm thụ đau đớn bị hưng phấn và chúng trở
nên tiếp nhận hơn các tín hiệu thần kinh.” Điều này có nghĩa rằng ánh
sáng, bình thường không gây đau đớn, trở nên một tín hiệu khá mạnh để
làm hoạt hóa quá mức các neurone đã ở trong cơn. “Để so sánh, khi ta tắm
nước nóng, thì thật là dễ chịu. Nhưng nếu ta bị trúng nắng, điều đó trở
nên đau đớn : nhiệt lượng trở nên đủ để làm hưng phấn các neurone và gây
nên một sự đau đớn ”, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Một điều chắc
chắn : nếu 7 đến 10 triệu người Pháp đang bị chứng đau đầu thống, đã biết
rằng cần phải ở trong bóng tối, thế thì khoa học vừa giải thích cho họ
tại sao. Và khuyên họ tránh ánh sáng xanh… (SCIENCE
ET VIE 5/2010)
3/ MẸ CÀNG CAO LỚN THÌ CON CÀNG
CÓ SỨC KHOẺ HƠN ?
Các nhà nghiên cứu của Havard School of Public Health (Boston) đã tìm
thấy một mối liên hệ nghịch giữa tầm vóc của người mẹ và tỷ lệ tử vong,
sự giảm thể trọng (sous-poids) cũng như sự chậm tăng trưởng nơi các đứa
con của họ, ít nhất xảy ra trong những nước có lợi tức từ thấp đến trung
bình. Các công trình nghiên cứu trước đây đã nêu lên một mối liên hệ giữa
tầm vóc của người mẹ và sức khỏe cũng như nguy cơ tử vong của các người
con. Nhưng ta không thể nói mối liên hệ này có hiện diện khắp mọi nơi
trong các nước đang phát triển hay không. Emile Ozaltin và các cộng sự
viên đã nghiên cứu các dữ kiện được cung cấp bởi 109 công trình nghiên
cứu dân số học và những công trình khác liên quan đến sức khỏe, được thực
hiện giữa năm 1998 và 2008, trong 54 nước, trong đó các lợi tức mỗi người
dân từ thấp đến trung bình.
Đặc biệt hơn khi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đánh giá mức độ sức khỏe và
nguy cơ tử vong nơi các trẻ em nhỏ tuổi (0 đến 59 tháng) tùy theo kích
thước của cơ thể của người mẹ, họ đã quan sát thấy rằng một sự gia tăng
1cm kích thước của người mẹ được liên kết với một sự giảm nguy cơ tử vong,
nguy cơ giảm thể trọng và nguy cơ chậm tăng tưởng của trẻ em. Nguy cơ
tử vong tuyệt đối nơi các trẻ em mà người mẹ có tầm vóc cao lớn nhất (>160
cm) lên đến 7,3% so với 12,8% nơi những trẻ em có mẹ với kích thước bé
nhỏ nhất (<145 cm). (LE JOURNAL DU MEDECIN 4/5/2010).
4/ LÀM SAO TRÁNH KHỎI BỊ
TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ?
BS MARTINE PEREZ.
Neurologie. Bà X, 70 tuổi, được điều trị cao huyết áp mãn tính, đang ngồi
xem TV vào một buổi tối nào đó thì bị qụy xuống dưới mắt của chồng mình,
nạn nhân của một bại liệt bên phải của cơ thể. Người chồng giúp bà nằm
xuống và chờ đợi hơn hai giờ với hy vọng rằng điều đó sẽ qua đi mà không
cần gọi cấp cứu. Sai lầm. Đã là quá muộn khi bà đến bệnh viện để được
điều trị tan huyết khối cấp cứu (thrombolyse en urgence) khi IRM cho thấy
một thiếu máu cục bộ não (ischémie cérébrale). 6 tháng sau, bà bị bại
liệt nửa người và cấm khẩu, nghĩa là bà không thể bước hay nói.
Những bệnh sử bi thảm như thế, các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đều
thấy mỗi ngày. Và thật đáng buồn. Bởi vì tai biến mạch máu não không phải
là một định mệnh. Mặc dầu mỗi năm tai biến mạch máu não gây bệnh cho 130.000
người ở Pháp, là nguyên nhân gây tử vong thứ ba đối với đàn ông, nguyên
nhân gây tử vong thứ hai đối với phụ nữ, nguyên nhân thứ nhất gây phế
tật mắc phải của người trưởng thành, nguyên nhân thứ hai của chứng sa
sút trí tuệ sau bệnh Alzheimer, tuy vậy tai biến mạch máu não vẫn không
được nhận rõ bởi các người Pháp, thật là không thể tin được. Một sự không
nhận biết lại càng gây tổn hại nhất là khi các chiến lược phòng ngừa và
điều trị đang hiện hữu.
Tai biến mạch máu nào được thể hiện bởi sự xuất hiện đột ngột những bại
liệt gây nên bởi sự ngừng tưới máu của một vùng của não bộ. Hơn 80% các
tai biến này có nguồn gốc thiếu máu cục bộ (ischémique) : một huyết quản
bị tắc (dưới tác dụng của một mảng xơ mỡ, như trong nhồi màu cơ tim).
Gần 20% có nguồn gốc xuất huyết, một huyết quản bị vỡ. Sự gián đoạn của
vận chuyển máu đến một phần của não bộ gây nên một sự thoái hóa của vùng
bị liên hệ nếu không gì được thực hiện cấp cứu, với trong vài trường hợp
một sự phục hồi ngẫu nhiên khó tiên đoán được.
“Cách hay nhất để dự phòng tai biến mạch máu não, đó là làm hạ huyết áp
xuống dưới 140/90 mmHg và dưới 130/80 đối với những bệnh nhân đái đường,
GS Pierre Amarenco, trưởng khoa thần kinh và của trung tâm tiếp đón và
điều trị tai biến mạch máu não (bệnh viện Bichat, Paris) đã giải thích
như vậy. Mỗi khi ta giảm huyết áp 10 mmHg, ta hạ 20% nguy cơ bị tai biến
mạch máu não.” Cũng vậy, điều trị bởi statines làm giảm nguy cơ 50% nơi
những bệnh nhân đái đường hay nơi những người có một nồng độ cholestérol
tăng cao hay ngay cả ở mức trung gian. Tập thể dục, chế độ ăn uống không
quá nhiều muối, đường, mỡ, sự việc không hút thuốc, là những yếu tố bảo
vệ.
Sự xuất hiện đột ngột một sự yếu đi một bên cơ thể, những khó khăn đột
ngột trong diễn đạt hay trong sự thông hiểu, nhưng rối loạn thị giác hay
không có cảm giác phải được báo động. Ngay những triệu chứng đầu tiên,
phải gọi cấp cứu số 15 để được đưa đến một khoa chuyên môn. Mỗi giây phút
trôi qua là rất quan trọng.
Khi tai biến mạch máu não có nguồn gốc do thiếu máu cục bộ (ischémique),
một điều trị để làm tan cực huyết đông (thrombolyse) có thể được thực
hiện, nhưng chỉ trong 3 giờ sau những triệu chứng đầu tiên. “Những công
trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng ta có thể chậm đến 4 giờ30, nhưng
thời hạn càng dài, thì điều trị càng kém hiệu quả, G Hugues Chabriat (trưởng
khoa thần kinh, bệnh viện Lariboisière, Paris) đã đảm bảo như vậy. Phải
dạy cho dân chúng nhận biết những dấu hiệu sớm của tai biến mạch máu não
để họ có thể được tiếp cận tốt hơn với những điều trị cấp cứu.” Hiện nay,
khoảng 1% các bệnh nhân được hưởng một điều trị tan huyết khối (thrombolyse)
(làm giảm 40% phế tật), trong khi 10% bệnh nhân có thể cần đến điều trị
này.
Kế hoạch quốc gia hành động chống tai biến mạch máu não của Pháp dự kiến
phát triển các đơn vị thần kinh-mạch máu (unité neuro-vasculaire) để đạt
140 đơn vị từ nay đến cuối 2010, thay vì 87 như hiện nay. “Nếu ta thật
sự muốn cho mình các phương tiện để chống lại tai biến mạch máu não, thì
ưu tiên đầu tiên là nên có các IRM (appareils d’imagerie par résonance
magnétique nucléaire) trong tất cả các bệnh viện của Pháp. Khi đó ta có
thể thực hiện chẩn đoán khắp nơi và nhờ một console de télémédecine, truyền
các hình ảnh đến một đơn vị chuyên về mạch máu-thần kinh (neuro-vasculaire).
Đơn vị này sẽ hướng dẫn sự thực hiện của liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse),
nếu cần thiết”, GS Aramengo đã phàn nàn như vậy.
Những kỹ thuật nội huyết quản (techniques endovasculaires) khác đang được
đánh giá, như lấy bỏ huyết khối (thrombectomie) nhằm loại bỏ cục máu đông,
với những kết quả ngoạn mục đầu tiên. Những thuốc bảo vệ thần kinh (médicaments
neuroprotecteurs) cũng đang được thử nghiệm. (LE FIGARO
26/4/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr71.htm
(TSYH số 71, bài số 1)
5/ CUỘC CHẠY ĐUA THUA CUỘC CỦA
TINH TRÙNG BẤT LỰC.
Dầu nguyên nhân là gì đi nữa, nhưng vấn đề vô sinh đang gia tăng : 15
đến 20% các cặp vợ chồng ngày nay kinh qua mối lo âu thuộc loại này. May
mắn thay, các kỹ thuật thụ thai nhân tạo (procréation assistée) đã được
hiệu chính, mang lại một giải pháp phần nào, vì lẽ 2% các trẻ em ngày
nay là kết quả của những kỹ thuật như thế. Như là, sự thụ thai trong ống
nghiệm (fécondation in vitro), làm thụ tinh ngoài tử cung, các noãn bào
(ovules) và các tinh trùng rồi sau đó đưa vào trở lại để được định sào
trong tử cung. Hoặc là thụ thai bằng tiêm dưới hiển vi (fécondation par
micro-injection), trong đó người ta tiêm một cách trực tiếp, nhờ một micro-pipette,
tinh trùng vào trong noãn bào. Kỹ thuật này được đặc biệt sử dụng đối
với những trường hợp vô sinh nam, khi có số lượng tinh trùng quá ít.
Nhưng điều gì đã khiến cho vài tinh trùng thắng cuộc chạy đua ? Làm sao
tái tạo sự chọn lọc này ? Các nhóm nghiên cứu người Pháp có lẽ đã tìm
ra chìa khóa : họ vừa cho thấy, nơi các con chuột, sự hiện hữu của một
cơ chế cho phép loại bỏ một nhóm quần thể các con tinh trùng có những
bất thường trên các lipides cấu tạo màng tế bào plasmique của chúng. Thật
vậy, sau khi đi vào trong đường sinh dục nữ, vài tinh trùng sẽ thả ra,
trong qua trình thành thục của chúng, một enzyme được gọi là “phospholipase
A2”. Men này phá hủy cái mũ trùm (capuchon), được gọi là thể ngọn (acrosome),
bao quanh đầu tinh trùng, khi các tinh trùng bị hỏng. Thế mà, không có
thể ngọn này, không thể có sự phóng thích các men cho phép kết hợp tinh
trùng với noãn bào. Các tinh trùng bất lực do đó bị làm trở thành vô sinh
và bị tách khỏi “cuộc đua đến sự thụ tinh” (la course à la fécondation).
MỘT SỰ CHỌN LỌC “ TỰ NHIÊN ” ĐƯỢC TÁI TẠO.
Các nhà nghiên cứu, công bố các kết quả trong Journal of clinical investigation,
đã thực hiện những thí nghiệm cho thấy rằng sự vắng mặt của phospholipase
làm giảm tỷ lệ thụ tinh và làm biến đổi sự phát triển của phôi thai. Ngược
lại, nếu ta thêm một nồng độ mạnh men tổng hợp cho một quần thể các tinh
trùng, ta quan sát thấy một sự gia tăng tỷ lệ thụ tinh 30 đến 100%. Vậy
enzyme này cho phép loại bỏ một phần lớn các tinh trùng bị hỏng. Nếu những
công trình này được tiến hành nơi người với những kết quả tương tự, sự
khám phá này có thể cho phép cải thiện kỹ thuật thụ thái nhân tạo (procréation
médicalement assistée) bằng cách chọn lọc tốt hơn những tình trùng cho
cuộc chạy đua cho khả năng sinh sản (la course à la fécondité). (LE
SOIR 27/4/2010)
6/ CÁC NANOPARTICULE TẤN CÔNG UNG
THƯ NƠI NGƯỜI.
Lần đầu tiên, các nanoparticule đã có thể mang một loại thuốc trực tiếp
đến tận các khối u, nơi người, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã loan báo như
vậy trong tạp chí Nature. Nhiều bệnh nhân bị một u hắc tố ác tính (mélanome)
không chữa được, đã nhận những mũi tiêm tĩnh mạch các phần tử bé xíu đường
kính 70 nanomètre, được cấu tạo từ một loại đường, cyclodextrine. Những
nanoparticule này mang và bảo vệ thuốc, một ARN interférent. Trên bề mặt
của chúng cũng có một protéine mà các tế bào ung thư rất thèm muốn, transferrine.
Các nhà nghiên cứu, được điều khiển bởi Mark E.Davis của Caltech (Pasadena),
đã chứng thực rằng các nanoparticule đúng là đã được hấp thụ bởi các tế
bào ung thư và đã có thể phóng thích ADN interférent bé nhỏ của chúng.
Khi đó ADN interférent đã phá hủy đích mà nó nhắm đến, ADN messager của
một enzyme sinh tử đối với các tế bào ung thư, ribonucléotide réductase.
Những công trình này, cũng là lần đầu tiên, mang lại bằng cớ rằng một
ADN interférent có thể hiệu quả nơi người, như vậy mở ra một thế giới
trị liệu mới đối với các nhà nghiên cứu. (SCIENCES
ET AVENIR 5/2010)
7/ BỆNH HƯ KHỚP HÁNG: NHỮNG BƯỚC
TIẾN VỀ MẶT NGHIÊN CỨU.
BS NATHALIE SZAPIRO-MANOUKIAN
Bệnh hư khớp (arthrose) không phải chỉ đặc hiệu cho khớp háng (hư khớp
háng: coxarthrose). Tất cả các khớp đều có thể bị liên hệ, bắt đầu bằng
những khớp đã bị đòi hỏi sử dụng nhiều, trong công việc hay trong đời
sống hàng ngày: các khớp gối (gonarthrose : hư khớp gối), các ngón tay
(hư khớp ngón tay) và ngón cái (rhizarthrose), cũng như cột sống và đặc
biệt hơn là thắt lưng (lombaire). 6 triệu người Pháp bị bệnh hư khớp.
“Từ lâu người ta đã xem bệnh hư khớp như là một định mệnh liên kết với
tuổi tác, trong khi đó là một bệnh nói riêng, GS Francis Berenbaum, trưởng
khoa khoa khớp (bệnh viện Saint-Antoine, Paris) đã giải thích như vậy.
Nói một cách khác, tất cả các lão niên không phải ai cũng bị hư khớp.
Bởi vì, để một hư khớp phát triển, sụn phải bị thoái biến. Điều đó xảy
ra dưới tác dụng của các men phá hủy (enzymes destructrices) được sản
xuất bởi chính sụn, nhưng không phải chỉ có vậy mà thôi. Các tế bào xương
và màng hoạt dịch (membrane synoviale) (bao phủ khớp) tham gia một cách
gián tiếp vào sự thoái biến này. Ngoài ra chính theo hướng này mà sự nghiên
cứu phát triển.”
Một hư khớp háng (coxarthrose) bắt đầu bằng đau đớn khi cử động, đôi khi
đến độ bệnh nhân phải đi cà nhắc, đó là một dấu hiệu cần xem trọng. Bởi
vì nếu ta không làm gì hết và để cho tình hình thoái biến đi, ta sẽ phải
thu giảm hoạt động vật lý của mình. Ta sẽ mất cơ. Và như thế lại càng
làm cho tình hình trở thành khó khăn hơn. Chỉ cần thăm khám thầy thuốc
là có thể cho phép chẩn đoán. Về chụp X quang hai khớp háng (để so sánh),
hình ảnh không nhất thiết tương ứng với lâm sàng. Như thế, ta có thể rất
là đau đớn và có một hình chụp quang tuyến gần như bình thường, hay, ngược
lại, không đau đớn gì cả mặc dầu một hư khớp trên hình quang tuyến rất
là tiến triển.
Vì lẽ người thầy thuốc điều trị một bệnh nhân chứ không phải điều trị
một phim chụp X quang nên trước hết triệu chứng của bệnh nhân mới là đáng
kể. “Người thầy thuốc bắt đầu bằng cách cho những điều trị toàn thân có
tác dụng nhanh : chủ yếu là paracétamol và các thuốc kháng viêm không
phải stéroide. Khi những thuốc này không chịu được, hoặc khi tác dụng
không được đầy đủ, ta có thể ghi toa những điều trị có tác dụng chậm:
diacéréine, glucosamine, chondroitine sulfate, insaponifiables d’avocat
et de soja, tất cả được dung nạp rất tốt. Sau hết có thể nhờ đến các mũi
tiêm tại chỗ (tiêm ngấm : infiltrations). Vấn đề duy nhất, đối với các
tiêm ngấm này, đó là chúng phải được thực hiện dưới sự kiểm soát quang
tuyến. Chính vì thế không có thể đề nghị hơn hai mũi corticoides mỗi năm.
Còn về các mũi tiêm acide hyaluronique, vốn cho những kết quả tốt đối
với hư khớp gối, nhưng chúng không được cho phép đưa ra thị trường trong
chỉ định này”, GS Berenbaum đã giải thích như vậy.
Từ chủ nghĩa định mệnh của những năm 1980, chúng ta đã chuyển qua thời
đại của các liệu pháp nhắm đích (thérapies ciblées). “Vì lẽ rối loạn của
các tế bào xương xảy ra do sự gia tốc của quá trình thoái hóa của sụn,
nên vài người đã có ý nghĩ thử nghiệm những tác dụng của một loại thuốc
dùng cho bệnh loãng xương (ranélate de strontium) tvào bệnh hư khớp. Hiện
nay, công trình nghiên cứu tiến bước nhất nhằm vào những bệnh nhân bị
hư khớp gối, thường xảy ra nhất, với những kết quả được dự kiến vào năm
2011, nhưng hiển nhiên là nếu ta chứng tỏ được rằng điều trị này cho phép
vô hiệu hóa sự thoái hóa của sụn, thì những công trình nghiên cứu khác
sẽ được khởi động để kiểm chứng lợi ích của nó trong hư khớp háng”, GS
Berenbaum đã nói tiếp như vậy.
SỤN NHÂN TẠO.
Những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành mà những kết quả
rất được chờ đợi : tiêm vào trong khớp một yếu tố tăng trưởng với hy vọng
làm ngưng quá trình thoái hóa sụn. Hay lại nữa, sự nhờ đến các chất anti-TNF,
các thuốc kháng viêm mạnh đã được kê toa trong viêm đa khớp dạng thấp.
Sự làm giảm đau đớn cũng không kém phần quan trọng, với một loại thuốc
mới rất mạnh, tanezumab, đang trong giai đoạn thử nghiệm (sẽ có mặt trên
thị trường từ nay đến 2013).
Về lâu dài hơn, luôn luôn có hy vọng thay thế sụn già nua nhưng còn tốt
bị hao mòn của mình bằng một khớp mới nhưng không phải là một khớp giả.
Chính vì thế vài nhà nghiên cứu đang làm việc cật lực cho một sụn nhân
tạo (cartilage artificiel). Chúng ta sẽ có được sụn nhân tạo này bằng
cách đặt các tế bào gốc vào trong một cái khuôn nhân tạo (matrice artificielle)
3 kích thước, hoặc bằng cách lấy những tế bào của sụn trong một khớp ít
bị sức ép của trọng lượng, để cấy chúng trong một gel trước khi đưa chúng
vào lại nơi cần điều trị.
Vậy có thể rằng, nhờ liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire), một ngày
nào đó, ta có khả năng thay thế một sụn bị hỏng trước khi nó bị hủy hoại.
Nhưng nếu có ai đó phải được hưởng sụn nhân tạo này, thì đó có lẽ là những
người trong lứa tuổi 40 hôm nay...nghĩa là từ nay đến khoảng 15 năm nữa.
(LE FIGARO 19/4/2010)
8/ CHỤP HÌNH ẢNH VÀ BỆNH TỰ KỶ.
Nơi những trẻ bị bệnh tự kỷ (autisme), các âm thanh được não bộ xử lý
chậm 11 giây. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được
thực hiện bởi magnéto-encéphalographie, so sánh 25 đứa bé bị bệnh tự kỷ
với 17 đứa bé có sự phát triển bình thường. Sự chậm này là do một khiếm
khuyết trong vỏ bọc chất trắng bảo vệ các neurone. Các tác giả hy vọng
rằng loại đo lường này sẽ được sử dụng trong tương lai để chẩn đoán bệnh
tự kỷ. (LA RECHERCHE 5/2010)
9/ HEN PHẾ QUẢN TRẺ EM NHỎ: NHỮNG
LỢI ÍCH CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI
GS Brigitte Fauroux, thầy thuốc chuyên khoa Phổi nhi đồng của bệnh viện
Trousseau, giải thích tiến bộ do việc xuất hiện một thuốc kháng viêm không
phải corticoides và được dung nạp tốt.
Hỏi : Hen phế quân nơi trẻ em nhỏ có thường
xảy ra không ?
GS Brigitte Fauroux : Khoảng 30% các nhũ nhi đã có ít nhất một đợt khó
thở với ho và thở rít trước năm 3 tuổi. Nhưng ta chỉ nói là hen phế quản
(asthme) khi những em bé này đã kinh qua ít nhất 3 đợt của các cơn này
(trung bình nơi 10% các nhũ nhi). Kịch bản quen thuộc : sau một nhiễm
trùng virus của phạm vi tai mũi họng (cảm cúm), đứa trẻ phát triển một
viêm tiểu phế quản (bronchiolite) ; chứng viêm tiểu phế quản này có thể
vẫn đơn độc (chỉ xảy ra một lần)...hay tái phát. Do đó đôi khi có vài
sự khó khăn trong việc xác lập chẩn đoán. Cũng không nên quên rằng những
bệnh khác cũng có thể gây nên cùng những triệu chứng này (dị dạng của
khí quản hay của những phế quản). Một phim X quang phổi là cần thiết nơi
mọi nhũ nhi “ thở rít ”(sifflements).
Hỏi : Trong trường hợp sai lầm chẩn đoán,
những nguy cơ là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Đứa trẻ có thể phát triển một cơn hen phế quản đôi
khi nghiêm trọng mỗi lần bị cảm cúm. Trong vài trường hợp, một sự nhập
viện có thể là cần thiết để cho oxy. May mắn thay, hai phần ba trong số
những em bé nhỏ này lành bệnh giữa 2 và 5 tuổi bởi vì bệnh hen phế quản
của chúng chủ yếu gây nên bởi virus ” (viro-induit), nghĩa là được làm
phát khởi bởi các nhiễm trung do siêu vi gây nên. 1/3 còn lại, nói chung
có một thể địa gia đình dị ứng và/hoặc hen phế quản (một cách di truyền),
nguy cơ bị các cơn có thể tồn tại mãi đến tuổi trưởng thành.
Hỏi : Đến nay, điều trị cổ điển của hen phế
quả là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Ta bắt đầu điều trị cơn hen phế quản với các thuốc
dưới dạng spray, được gọi là “những thuốc giãn phế quản” (bronchodilatateur),
có tác dụng làm giãn cơ phế quản. Nếu các cơn lặp đi lặp lại, khi đó ta
thực hiện một điều trị duy trì trên cơ sở corticoides, nhằm làm giảm dần
dần sự phản ứng quá mức của các phế quản. Các spray được cho nhờ một máy
hít (inhalateur), đôi khi khó sử dụng nơi các em bé. Đó là một điều trị
hàng ngày và dài lâu.
Hỏi : Những kết quả thu được với những điều
trị này là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Trong những trường hợp các cơn nghiêm trọng và thường
xuyên, ta làm giảm được tính phản ứng của các phế quản, điều này được
thể hiện bởi một sự giảm tần số và cường độ của các triệu chứng. Những
điều trị duy trì không cho phép kiểm soát được bệnh 100%. Mặt khác, sự
hấp thụ corticoides (ngay cả được thu giảm bằng đường phổi) có nguy cơ,
nơi vài trẻ em, gây nên những tác dụng phụ. Thường xảy ra nhất là một
sự chậm tăng trưởng.
Hỏi : Điều trị mới nhất không có những tác
dụng có hại này là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Đó là một loại thuốc kháng viêm mới không phải corticoide,
và tác dụng bằng cách phong bế tác dụng của các leucotriène (thuốc có
một vai trò được chứng minh trong hen phế quản và không nhạy cảm với các
corticoides ). Thuốc này được cho một lần mỗi ngày, bằng đường miệng,
dưới dạng các granulé nhỏ. Người ta kê toa nó trong hai chỉ định. 1. Nơi
những trẻ từ 6 tháng đến 2 năm mà ta không kiểm soát đầy đủ được căn bệnh
với những liều lượng cổ điển corticoides. “Antileucotriènes” khi đó được
thêm bổ sung vào điều trị thông thường để làm gia tăng tính hiệu quả của
nó. 2. Nơi các trẻ từ 2 đến 5 tuổi, không chịu được điều trị quy ước bằng
corticoides, đặc biệt là khi có một sự chậm tăng trưởng.
Hỏi : Những ưu điểm của những antileucotriène
này là gì ?
GS Brigitte Fauroux : Đây là lần đầu tiên chúng ta hưởng được điều trị
kháng viêm không có corticoides đối với hen phế quản của các em bé xíu.
Hiệu quả của nó đã được chứng mình bởi nhiều công trình nghiên cứu quốc
tế, trong đó có công trình Previa được thực hiện trên 549 trẻ em hen phế
quản từ 2 đến 5 tuổi. Các kết quả thật hùng hồn vì lẽ số các cơn trung
bình được chuyển từ 3 còn 2 mỗi năm đối với mỗi em bé. Ưu điểm khác :
đường cho thuốc dễ thực hiện và thuốc được dung nạp tốt. (PARIS
MATCH 6/5-12/5/2010)
10/ CÁC THÓI QUEN XẤU LÀM MAU CHẾT
SỚM.
Hút thuốc, uống quá nhiều rượu, không tập thể dục và không ăn khá đủ trái
cây và rau xanh làm rút ngắn cuộc đời 12 năm.
Người ta biết rằng hoạt động vật lý, chế độ ăn uống, nghiện thuốc lá và
sự tiêu thụ rượu được liên kết với tỷ lệ tử vong. Các nhà nghiên cứu Na
Uy và Anh đã phân tích ảnh hưởng riêng rẻ và phối hợp của những yếu tố
nguy cơ này lên tỷ lệ tử vong.
Elisabeth Kvaavik (khoa dinh dưỡng, bệnh viện Oslo) và các đồng nghiệp
đã thực hiện một nghiên cứu bao gồm 4.886 người Anh hơn 18 tuổi (tuổi
trung bình 44), được hỏi giữa năm 1984 và 1985. Đối với mỗi người được
hỏi, người ta đã tính một điểm số hành vi sức khoẻ (score de comportement
de santé) bằng cách cho 1 điểm đối với mọi thói quen xấu : hút thuốc,
tiêu thụ trái cây và rau xanh dưới 3 lần mỗi ngày, tập thể đục dưới 2
giờ mỗi tuần, và tiêu thụ mỗi tuần hơn 14 đơn vị alcool (hoặc 2 ly mỗi
ngày, đối với phụ nữ) và hơn 21 đơn vị (hoặc 3 ly mỗi ngày đối với đàn
ông). Các điểm số do đó biến thiên từ 0 đến 4.
Suốt trong thời gian theo dõi 20 năm, 1.080 người tham dự bị chết, 431
người bị các bệnh tim mạch, 318 bị ung thư và 331 bị những nguyên nhân
khác. Các điểm số (score) biến thiên từ 1 đến 4, được thể hiện bởi một
sự gia tăng nguy cơ tử vong toàn bộ. Hiệu quả của một sự phối hợp của
những thói quen xấu của đời sống là mạnh hơn đối với tỷ lệ tử vong vì
ung thư. Như thế, hút thuốc, uống quá nhiều rượu, không tập thể dục đầy
đủ và ăn không đủ trái cây và rau xanh nhân lên gấp ba nguy cơ tử vong
vì một bệnh tim mạch hay một bệnh ung thư. Một sự phối hợp tai hại nhân
gấp 4 xác suất chết vì những nguyên nhân khác. Nói một cách khác, nguy
cơ chung tử vong đối với những người tích tụ tất cả những thói quen xấu
này tương đương với 12 năm già hơn so với những người cùng lứa tuổi nhưng
không có một yếu tố nguy cơ nào trong số những yếu tố này. Đối với các
tác giả, tác dụng phối hợp của những thói quen xấu trong đời sống lên
tỷ lệ tử vong là quan trọng và cho thấy rằng những sự cải thiện khiêm
tốn, nhưng liên tục của chế độ ăn uống và của lối sống có thể có những
lợi ích đáng kể lên sức khoẻ cộng đồng. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 4/5/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (10/5/2010)
TAGS: Nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde),
Tái thông dòng huyết quản bằng dụng cụ (recanalisation instrumentale),
Tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires), Y khoa tái sinh
(médecine regénérative), Sợ sáng (photophobie), Đồi thị (thalamus), Tế
bào nón (cône), Tế bào thể gậy (batonnet), Tín hiệu thần kinh (messager
nerveux), Thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro), Tế bào hạch
(cellules ganglionnaires), Đồng hồ sinh học ngày đêm (horloge circadienne),
Kính nhuộm màu (lunettes teintées), Tan huyết khối cấp cứu (thrombolyse
en urgence), Thiếu máu cục bộ não (ischémie cérébrale), Tan cực huyết
đông (thrombolyse), Kỹ thuật nội huyết quản (techniques endovasculaires),
Kỹ thuật thụ thái nhân tạo (procréation médicalement assistée), Bệnh hư
khớp (arthrose), Liệu pháp nhắm đích (thérapies ciblées), Liệu pháp tế
bào (thérapie cellulaire), Bệnh tự kỷ (autisme), Hen phế quản (asthme),
Nguyen van Thinh
>>>back>>>
|
 |