 |
Thời
Sự Y Học số 172
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ MỘT THẤU KÍNH (LENTILLE)
ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOME).
Tăng nhãn áp (hypertension oculaire), nguyên nhân quan trọng của mù lòa,
có thể được phát hiện tốt hơn nhờ đeo liên tục trong 24 giờ, một “ thấu
kính thông minh ” (lentille intelligente).
Chậm chạp, âm ỉ và không đau đớn. Đó là những đặc điểm của bệnh tăng nhãn
áp, nguyên nhân thứ hai gây mù lòa trên thế giới, mà người ta ước tính
rằng cứ hai người bệnh thì có một người không hay biết là mình bị bệnh.
May mắn thay, bệnh này từ nay có thể được phát hiện rất sớm nhờ đeo một
thấu kính tiếp xúc (lentille de contact) “ thông minh ”, được hiệu chính
bởi công ty quốc tế STMicroelectronics. Được đặt bởi thầy thuốc và được
đeo trong 24 giờ, thấu kính này ghi liên tục nhưng trị số của nhãn áp.
Hãy nhắc lại rằng bệnh glaucome được gây nên bởi sự đóng lại dần dần của
trabeculum, bộ phận lọc có nhiệm vụ bài xuất thủy dịch (humeur aqueuse),
được sản xuất bởi mắt. Sự tích tụ của chất dịch này gây nên một sự gia
tăng áp lực, đè ép động mạch của mắt và gây nên sự teo của các sợi của
dây thần kinh thị giác với hậu quả thu hẹp thị trường và gây mù lòa.
Hôm nay, việc phát hiện dựa trên sự đo áp lực nhãn cầu được thực hiện
bởi thầy thuốc nhãn khoa với một nhãn áp kế (tonomètre). Thế mà, như GS
Philippe Denis, trưởng khoa mắt của bệnh viện Edouard-Herriot (Lyon) và
là hội viên của Hiệp hội của bệnh glaucome ở Pháp, đã giải thích, “Áp
lực nội nhãn thường chịu những thay đối sinh lý trong ngày do đó sự tăng
nhãn áp có thể không được phát hiện bởi một lần đo duy nhất ”. Được đặt
tên là Sensimed, lăng kính mới cho phép truyền một cách liên tục những
trị số được đo nhờ một thiết bị được nối với một máy thu (récepteur) mà
bệnh nhân đeo quanh cổ. Nếu được phát hiện kịp thời, bệnh tăng nhãn áp
có thể được điều trị bằng thuốc nhỏ mắt, các buổi laser hay ngoại khoa.
Được trắc nghiệm ở Thụy Sĩ và ở Đức, các thử nghiệm đang được tiếp tục
và sự thương mãi hóa ở châu Âu được dự kiến vào tam cá nguyệt thứ hai
của năm nay (SCIENCES ET AVENIR 5/2010)
2/ MỘT CÁI ĐÍCH MỚI ĐỂ KIỂM SOÁT
KHẢ NĂNG SINH SẢN.
Bernard Jégou, điều khiển unité Inserm “groupe d’étude de la reproduction
chez l’homme et les mammifères” ở Univerité de Rennes-I, trả lời các câu
hỏi.
Hỏi : Các nhà sinh học đã khám phá ra cơ
chế cho phép các tinh trùng người di chuyển đến tận các noãn (ovules).
Cơ chế này là thế nào ?
Bernard Jégou : Để di chuyển đến tận noãn, và làm thụ tinh, các tinh trùng
người phải được hoạt hóa trong bộ máy sinh dục nữ. Để có được sự hoạt
hóa này, cần phải làm hạ nồng độ axít nội tại bằng cách tống các ion xuyên
qua màng tế bào của chúng. Mãi đến nay, cơ chế phân tử giải thích sự tống
xuất này vẫn còn bí ẩn. Nhưng Yuriy Kirichok và nhóm nghiên cứu của ông
của đại học Californie vừa nhận diện một kênh màng (canal membranaire)
chuyên về công tác này. Được mệnh danh là Hv1, kênh này có nhiều trên
đoạn chính của roi (flagelle) của các tinh trùng.
Hỏi : Các nhà khoa học đã tiến hành như thế
nào ?
Bernard Jégou : Họ đã khám phá vai trò của kênh Hv1 nhờ sự thích ứng kỹ
thuật “patch clamp” vào các tinh trùng người. Phương pháp này cho phép
ghi những dòng ion vận chuyển qua các màng tế bào. Đó là một thành tích
bởi vì các tinh trùng người có kích thước rất nhỏ, với một thể tích bên
trong cực kỳ nhỏ.
Hỏi : Những yếu tố nào ảnh hưởng lên sự mở
của kênh này ?
Bernard Jégou : Các nhà sinh học đã nhận diện nhiều yếu tố. Theo các kết
quả của họ, sự mở của kênh Hv1 được làm dễ nếu các tinh trùng tắm trong
một môi trường kiềm, điều này xảy ra trong bộ máy sinh dục nữ, trong khi
môi trường là axít trong các tinh hoàn. Một chất endocannabinoide, anandamide,
cũng có một tác dụng dương tính. Chất này thuộc cùng họ với hợp chất hoạt
tính của marijuana. Điều này giải thích tại sao sự tiêu thụ chất ma túy
này làm giảm khả năng sinh sản nam giới: nó hoạt hóa sớm các tinh trùng.
Nó cũng làm giảm khả năng sinh sản nữ giới, do làm biến đổi nồng độ của
các endocannabinoide trong đường sinh dục. Nhưng điều đó cần phải được
chứng minh. Ngược lại, kẽm, nguyên tố hiện diện với những nồng độ trong
bộ máy sinh dục nam cao hơn trong bộ máy sinh dục nữ, ức chế sự vận hành
chức năng của kênh tế bào. Đây là lần đầu tiên mà người ta xác định được
các cơ chế phân tử, qua đó nhiều yếu tố khác nhau tác động.
Hỏi : Từ khám phá này, những áp dụng điều
trị là gì ?
Bernard Jégou : Ta có thể tưởng tượng sự phát triển của các kháng thể
có khả năng ức chế sự vận hành chức năng của kênh tế bào, hay phát triển
những loại thuốc khả dĩ tác động lên những yếu tố kiểm soát sự mở của
kênh này. Được đưa vào trong gel được đặt trong âm đạo, các loại thuốc
này có thể có một tác dụng ngừa thai. Ngược lại, người ta phát triển các
chất hoạt hóa Hv1 để thử điều trị những trường hợp vô sinh nam giới mà
người ta không biết được nguyên nhân. Chúng có thể được sử dụng in vivo
hay bằng thụ tinh in vitro.
Nhưng trong tất cả các trường hợp, những thứ thuốc điều trị này sẽ chỉ
được nhắm vào các kênh Hv1 hiện diện trên các tinh trùng, để không làm
xáo trộn những kênh hiện diện trên những tế bào khác của cơ thể. (LA
RECHERCHE 4/2010)
3/ VAI TRÒ CỦA NGỪA THAI CẤP CỨU
?
Mặc dầu có một sự bảo vệ ngừa thai (couverture contraceptive) rất tốt,
nước Pháp mỗi năm vẫn còn ghi nhận 350.000 trường hợp có thai ngoài ý
muốn, trong đó 200.000 trường hợp nhiên hậu phải gián đoạn tự ý thai nghén
(IVG : interruption volontaire de grossesse). 72% những trường hợp IVG
này có liên quan đến những phụ nữ sử dụng phương pháp ngừa thai, trong
đó 2/3 uống thuốc ngừa thai. Một điều tra đã cho thấy rằng 54,9% những
người sử dụng thuốc ngừa thai đã quên uống từ 1 đến 5 lần trong 6 tháng
trước… điều đó nói lên tầm quan trọng của ngừa thai cấp cứu (contraception
d’urgence), trong tình huống này và trong trường hợp giao hợp không được
bảo vệ.
Được thương mãi hóa từ năm 2000, Norlevo (levonorgestrel) được bán tự
do trong các hiệu thuốc và có thể được cấp miễn phí cho các thiếu nữ,
ở trường học hay theo kế hoạch gia đình. Nhưng hiệu quả của nó chỉ kéo
dài 72 giờ và thuốc phải được uống càng sớm càng tốt. “Từ đó nảy ra ý
tưởng kéo dài tính hiệu quả ít nhất đến 5 ngày, như vòng ngừa thai (stérilet)
được đặt để ngừa thai cấp cứu. Đó là điều EllaOne cho phép, thuốc ngừa
thai cấp cứu mới đã có từ vài tháng nay, BS Nathalie Chabbert-Buffet,
thầy thuốc chuyên khoa nội tiết ở bệnh viện Tenon (Paris) đã giải thích
như vậy. Người ta còn chưa biết rõ lý do của tác dụng kéo dài này, có
thể là do một tác động khác lên nội mạc tử cung.” EllaOne chỉ có thể được
cấp theo toa và không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế, do đó giá rõ rệt
đắc hơn (30 euro đối với EllaOne trong khi 7,5 euro đối với Norlevo).
Tuy vậy, một cách đáng ngạc nhiên, sự ngừa thai cấp cứu không làm giảm
tỷ lệ IVG. “Dường như vài phụ nữ không áp dụng biện pháp ngừa thai cấp
cứu bởi vì họ nghĩ là không ở trong một tình huống có liên quan đến họ,
người thầy thuốc giải thích như vậy. Những lời khuyến nghị trong trường
hợp quên viên thuốc ngừa thai cũng quá ư là phức tạp. Trong trường hợp
này phải luôn luôn áp dụng biện pháp ngừa thai cấp cứu. Và cũng thông
tin tốt hơn các thiếu nữ để làm giảm những hành vi có nguy cơ. ”
QUÊN UỐNG THUỐC.
Theo GS Quéreux, “ viên ngừa thai (pilule) không phải là phương tiện ngừa
thai tốt. Thất bại của của sự ngừa thai, trước hết là quên viên thuốc
ngừa thai. Càng ngày càng có nhiều thầy thuốc phụ khoa ủng hộ vòng tránh
thai, áp đặt hiệu quả ngừa thai lên các phụ nữ ”. Là nhà xã hội học của
Inserm và chuyên viên về những vấn đề này, Nathalie Bajos chứng thực sự
tiến triển theo chiều hướng này của một bộ phận y sĩ đoàn về vòng tránh
thai. “ Vậy ta dự kiến sẽ có nhiều phụ nữ trẻ hơn nhờ đến phương pháp
ngừa thai này. Nhưng tôi tin rằng không nên chờ đợi những sự đảo lộn quan
trọng chừng nào các thầy thuốc không được đào tạo để đặt vòng tránh thai.
(LE FIGARO 26/4/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr143.htm
(TSYH số 143, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr146.htm
(TSYH số 146, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr154.htm
(TSYH số 154, bài số 2)
4/ SỰ NGƯỢC ĐÃI TRẺ EM TRONG THỜI
THƠ ẤU LÓT ĐƯỜNG CHO BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG (MIGRAINE).
Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, sự ngược đãi trong thời thơ
ấu, nhất là sự lạm dụng (abus) và sự lơ là về mặt tình cảm, là thường
xảy ra nơi các bệnh nhân bị bệnh thiên đầu thống. Ngoài ra, nơi các bệnh
nhân này, sự ngược đãi có thể là một yếu tố nguy cơ của các bệnh xảy ra
đồng thời (comorbidités).
Các công trình nghiên cứu đã chứng minh sự liên kết giữa các lạm dụng
(abus) trong thời thơ ấu và các cơn thiên đầu thống ở tuổi trưởng thành.
Các nhà nghiên cứu của American Headache Society Gretchen Tiejen và các
cộng sự viên, đã nghiên cứu mối liên hệ này. Các bệnh nhân đến 11 trung
tâm điều trị bệnh thiên đầu thống (centre de la migraine) ở Hoa Kỳ và
Canada, đã trả lời các bảng điều tra có liên quan đến các chẩn đoán thiên
đầu thống và chứng trầm cảm, các dữ kiện dân số cũng như các dữ kiện có
liên quan đến các tiền sử và mức độ nghiêm trọng của các lạm dụng (tình
dục, tình cảm và vật lý) và các sao lãng (tình cảm và vật lý) bị chịu
đựng trong thời thơ ấu. Các bệnh xảy ra đồng thời (comorbidités) như các
hội chứng đại tràng dễ kích thích (syndrome du colon irritable) và mỏi
mệt kinh niên, fibromyalgie, viêm bàng quang kẽ (cystite interstitielle)
và viêm khớp, cũng đã được ghi nhận.
Toàn bộ, 1348 người bị bệnh thiên đầu thống (88% phụ nữ) đã được đưa vào
công trình nghiên cứu (tuổi trung bình 41), 40% đã báo cáo những cơn thiên
đầu thống với tiền triệu (aura) và 34% báo cáo đau đầu kinh niên ( >
15 ngày mỗi tháng).
Những sự ngược đãi (maltraitance) được nói đến là gì ? Trong nhóm người
được khảo sát này, 38% đã bị lạm dụng (abus) và lơ là (négligence) tình
cảm, 25% bị lạm dụng tình dục, 22% bị lơ là thể chất và 21% bị lạm dụng
vật lý (abus physique). 9% báo cáo 3 loại lạm dụng (vật lý, tình dục và
tình cảm) và 17% kêu ca các lơ là vật lý và tình cảm (négligences physiques
et émotionnelles). Tỷ lệ bị tái diễn (revictimisation) ở tuổi trưởng thành
không phải là ít (43%). Sau hết, những người đau thiên đầu thống báo cáo
ít nhất 3 loại chấn thương trong thời thơ ấu, có nhiều nguy cơ hơn nhận
chẩn đoán bệnh trầm cảm và lo âu.
Ngoài ra công trình nghiên cứu này đã chứng minh rằng loại ngược đãi này
có thể là một yếu tố nguy cơ phát triển các chứng đau đầu mãn tính, trong
đó có bệnh thiên đầu thống. Sự liên kết của sự ngược đãi và của tần số
các cơn đau đầu dường như độc lập với chứng trầm cảm và chứng lo âu. Việc
khám phá sự kiện rằng sự lạm dụng tình cảm (abus émotionnel) được liên
kết với một khởi đầu sớm hơn của bệnh thiên đầu thống có thể có những
hàm ý trong vai trò của đáp ứng đối với stress trong sinh lý bệnh của
bệnh thiên đầu thống.
NHỮNG BỆNH LIÊN KẾT.
Những người đau thiên đầu thống đã bị lạm dụng tình cảm hay bị lơ là vật
lý trong thời thơ ấu có một tỷ lệ các bệnh cùng xảy ra tăng cao hơn một
cách đáng kể, so với những người trưởng thành không có những tiền sử như
thế. 31% bi hội chứng đại tràng dễ kích thích (syndrome du côlon irritable),
1% bị mệt mỏi kinh niên, 10% bị fibromyalgie, 6,5% bị viêm bàng quan kẽ,
25% bị viêm khớp, ngoài ra các phụ nữ báo cáo lạc nội mạc tử cung (15%)
và các u xơ tử cung (14%).
61% các bệnh nhân có ít nhất một bệnh cùng xảy ra, 18% có hai bệnh và
13% ba hay nhiều hơn. 58% các bệnh nhân cũng đã tuyên bố bị ngược đãi
trong thời thơ ấu. Số các ngược đãi mà người bệnh đầu thống đã chịu đựng
trong thời thơ ấu tương quan với số các bệnh cùng xảy ra vào tuổi trưởng
thành. Đặc biệt hơn, sự lạm dụng vật lý (abus physique) được liên kết
với một tỷ lệ bị viêm khớp lớn hơn, sự làm dụng tình cảm (abus émotionnel)
được liên kết với một tỷ lệ bị hội chứng đại tràng dễ bị kích thích, mệt
mỏi mãn tính, fibromyalgie và viêm khớp lớn hơn ; và sự lơ là vật lý (négligence
physique) được liên kết nhiều hơn với hội chứng đại tràng dễ bị kích thích,
mệt mỏi mãn tính, viêm bàng quan kẽ và viêm khớp. Nơi các phụ nữ, sự lạm
dụng và lơ là vật lý được liên kết với lạc nội mạc tử cung và các u xơ
tử cung.
Những dữ kiện này gợi ý rằng, nơi những người đau thiên đầu thống, sự
ngược đãi trong thời kỳ thơ ấu có thể là một yếu tố nguy cơ phát triển
các bệnh cùng xảy ra (comorbidités). “Nếu sự xuất hiện của một bệnh thiên
đầu thống đi trước sự xuất hiện của các bệnh xảy ra đồng thời, thì những
chiến lược điều trị như các liệu pháp hành vi nhận thức (thérapies comportementales
cognitives) sẽ được đặc biệt thích ứng”, BS Tietjen đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 15/1/2010). Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr152.htm
(TSYH số 152 bài số 9).
5/ MỘT HORMONE TĂNG CƯỜNG
LÒNG TIN CẬY CỦA CÁC BỆNH NHÂN TỰ KỶ (AUTISTE).
Việc cho một hormone, oxytoxin, bằng đường mũi, đã cho phép cải thiện
hành vi xã hội (comportement social) của những bệnh nhân mắc bệnh tự kỷ
(autistes). Đó là kết quả đáng phấn khởi thu được bởi một nhóm nghiên
cứu Pháp, được lãnh đạo bởi Marion Leboyer (Inserm, Créteil) và Angela
Sirigu (CNRS, Bron). Được tổng hợp bởi vùng dưới đồi (hypothalamus), oxytoxine
đặc biệt làm dễ sự điều hoàn các cảm xúc, làm dễ sự quyến luyến hay sự
nhận biết các khuôn mặt.
Tài liệu khoa học đã gợi ý rằng bệnh tự kỷ (autisme) có thể là do những
bất thường trong sự tổng hợp của kích thích tố chủ chốt này. Dựa trên
tất cả các dữ kiện này, các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm sau đây:
13 bệnh nhân bị bệnh tự kỷ mức độ cao (hay hội chứng Asperger : có trí
năng được bảo tồn nhưng khó khăn trong giao tiếp xã hội) đã chơi bóng
(ballon). Cách chơi : bệnh nhân được tiền mỗi lần nhận được bóng. Trước
mỗi bệnh nhân là 3 cầu thủ mà hành vi khác nhau : cầu thủ thứ nhất dội
lại bóng 7 lần trên 10, cầu thủ thứ hai, 3 lần trên 10 và cầu thủ thứ
ba chỉ 1 lần trên 10. Nhận xét : với placebo, bệnh nhân tự kỷ chuyển bóng
một cách không phân biệt cho 3 ba cầu thủ đối diện, không tỏ một ưu tiên
nào đối với một trong những người này. Với oxytoxine, bệnh nhân tự kỷ
nhiên hậu chuyển bóng cho cầu thủ có tinh thần hợp tác nhất. “ Ngoài ra,
sau cuộc chơi, bệnh nhân cho cầu thủ được ưa thích này điểm tốt nhất trên
một thang đánh giá, Angela Sirigu đã ghi nhận như vậy. Vậy bệnh nhân đã
cải thiện khả năng phân biệt và năng lực tin cậy. ” Oxytocine, điều trị
tương lai của bệnh tự kỷ ? Hiện nay thì không, bởi vì tác dụng của nó
lên não bộ chỉ khoảng 90 phút mà thôi, nhà nghiên cứu nói tiếp như vậy.
Phải sản xuất một chất tương tự nhưng có thời gian tác dụng dài hơn. (SCIENCES
ET AVENIR 4/2010)
6/ DẬY THÌ SỚM : HƯỚNG BỊ TRANH
CÃI CỦA CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM.
Nhân một cuộc hội thảo, được tổ chức về các chất gây rối loạn nội tiết
(perturbateurs endocriniens), các nhà nghiên cứu Pháp đã bày tỏ nỗi băn
khoăn của họ.
TOXICOLOGIE. Từ năm 1850 đến 1950, ở Châu Âu và ở Hoa Kỳ, tuổi dậy thì
của các cô con gái trung bình sớm 3 năm, chuyển từ 17 tuổi xuống còn 14
tuổi. Sự tiến triển này ngày nay dường như được ổn định, nhưng ngược lại,
người ta gặp ngày càng nhiều những trường hợp dậy thì cực sớm, được đặc
trưng chủ yếu bởi sự xuất hiện vú trước 8 tuổi hay kinh nguyệt trước 10
tuổi.
Nguồn gốc của những xáo trộn của sự phát triển sinh dục này là gì ? Mặt
khác những xáo trộn này cũng ảnh hưởng các cậu con trai với những bất
thường tinh hoàn hay những dị tật niệu quản.Từ những năm 1980-1990, một
bộ phận của các chuyên gia độc chất học (toxicologue) quy trách nhiệm
vào các chất hoá học, được biết hơn dưới tên các chất gây xáo trộn nội
tiết (perturbateurs endocriniens) bởi vì chúng có khả năng biến đổi những
chức năng hormone. Những chất gây rối loạn nội tiết này hiện diện khắp
nơi trong môi trường (các thuốc trừ sâu), nhưng cũng trong nhiều sản phẩm
mà chúng ta sử dụng trong đời sống hàng ngày (plastiques, các mỹ phẩm,
đồ bao bì, nước hoa…)
LIỀU LƯỢNG KHÔNG TẠO NÊN ĐỘC CHẤT.
Tuy nhiên hướng này không mang lại sự nhất trí trong giới nghiên cứu.
Một colloque được tổ chức ở Rennes để trình bày những kết quả của các
công trình nghiên cứu, được tài trợ trong bối cảnh của của chương trình
nghiên cứu về các chất gây rối loạn nội tiết, được phát động ở Pháp bởi
bộ trưởng môi trường năm 2005. Có những chỉ dấu, nhưng dưới mắt của các
nhà nghiên cứu thì chúng không đủ để xác lập một mối liên hệ nhân quả
trực tiếp. Vài yếu tố vững chắc đã hiện hữu trong lãnh vực kích thích
tố : cửa sổ tiếp xúc (fenêtre d’exposition) (thai nghén và những tháng
đầu tiên của thai nhi) có một vai trò chủ yếu và mặt khác, chính không
phải liều lượng gây độc, điều này làm phức tạp tất cả. Các nhà nghiên
cũng đã khám phá rằng các phản ứng đối với các chất gây rối loạn nội tiết
có thể thay đổi tùy theo cá thể.
3 LỚP SẢN PHẨM.
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ mới đây đã cho thấy rằng, trong số
một nhóm hơn 1000 thiếu nữ, mà ¼ đã bắt đầu tuổi dậy thì vào năm 8 tuổi
và ½ vào năm 9 tuổi, các nồng độ đáng kể của các chất gây rối loạn nội
tiết đã được ghi nhận trong nước tiểu của chúng. 3 lớp sản phẩm đã được
phát hiện : các phénol, trong đó có biphénol nổi tiếng, hiện diện trong
các bình sữa, các phtalate và các phyto-œstrogène, mà các tính chất thơm
rất được ưa chuộng bởi công nghiệp.
Phản ứng lại công trình nghiên cứu này trong le Quotidien du médecin,
GS Charles Sultan, CHU de Montpellier, đánh giá rằng công trình nghiên
cứu mang lại những lý lẽ để “ đề nghị giảm bớt, nếu không thì cấm chỉ
các chất gây ô nhiễm nói chung và các thuốc trừ sâu nói riêng, mà ảnh
hưởng lên sự cân bằng nội tiết vẫn đáng quan ngại ”. Ở Rennes, ý kiến
được đưa ra lại khác hẳn. “ Nguồn gốc của những trường hợp dậy thì rất
sớm có lẽ do nhiều yếu tố ”, Jean-Paul Bourguignon, thầy thuốc chuyên
khoa nhi nội tiết của đại học Liège (Bỉ) đã đánh giá như vậy. Đối với
ông ta phải tính đến nhiều yếu tố khác như chế độ ăn uống hay stress của
người mẹ trong thời kỳ thai nghén (LE FIGARO 14/4/2010)
7/ NÃO BỘ KHÔNG NGỦ CÙNG MỘT LẦN.
Các bạn nghĩ là các bạn bắt đầu ngủ đùng một cái chăng ? Các bạn đừng
lầm nhé : não bộ không ngủ toàn bộ cùng một lúc. Nó “lịm dần đi” vùng
này qua vùng khác. Đó là điều được khám phá bởi Michel Magnin và nhóm
nghiên cứu của ông ở Inserm (Lyon), trong lúc nghiên cứu lần đầu tiên
hoạt động điện của não bộ khi não đi từ trạng thái thức tỉnh (éveil) sang
trạng thái ngủ (sommeil). Để đạt được điều đó, các nhà nghiên cứu đã khai
thác các dữ kiện ghi được bởi các điện cực cắm vào bên trong não bộ của
các bệnh nhân bị bệnh động kinh. Nơi những bệnh nhân này, các điện cực
cho phép định vị trí vùng phát khởi các cơn động kinh trước khi thực hiện
một điều trị ngoại khoa. Nhưng các điện cực cũng đã cho phép phát hiện
điều gì xảy ra lúc bắt đầu vào giấc ngủ (endormissement): đồi thị (thalamus),
nhận những thông tin cảm giác (informations sensorielles), ngủ trước tiên.
Vỏ não (cortex), phân tích những thông tin này, ngủ 10 đến 15 phút sau
đó ! “Thật đáng ngạc nhiên, bởi vì vỏ não và đồi thị vốn rất liên hệ mật
thiết với nhau, Michel Magnin đã giải thích như vậy. Lúc ngủ, đồi thị
(thalamus) cắt đứt chúng ta ra khỏi thế giới bên ngoài, trong khi vỏ não
tiếp tục hoạt động, điều này giải thích những ảo giác (hallucinations)
xảy ra khi ta ngủ. “Nhưng những nghiên cứu này cho thấy nhất là vai trò
quan trọng của đồi thị khi bắt đầu vào giấc ngủ, và có thể giúp hiểu hơn
chứng mất ngủ không tránh được có tính chất gia đình (insomnie fatale
familiale), một sự mất ngủ mãn tính được liên kết với những thương tổn
của đồi thị. (SCIENCE ET VIE 5/2010)
8/ TIẾN VỀ MỘT SỰ PHÁT HIỆN SỚM
CỦA BỆNH XƠ GAN.
Trong trường hợp ngộ độc rượu mãn tính (alcoolisation chronique), gan
trước hết trải qua một giai đoạn gan mỡ (stéatose), rồi trở thành nơi
của một quá trình viêm nhiễm mãn tính (hépatite chronique), rồi xơ hóa
(fibrose). Tình trạng xơ hóa vẫn có thể đảo ngược được, với điều kiện
từ bỏ rượu. Nếu không, sẽ xuất hiện một xơ gan (cirrhose du foie), là
biểu hiện một yếu tố nguy cơ của ung thư gan. Do đó lợi ích của một phát
hiện sớm…
“ Mọi người Pháp có nguy cơ xơ hóa gan phải được đề nghị phát hiện. Đặc
biệt có liên quan là những người tiêu thụ quá nhiều rượu (khoảng 8% các
người Pháp), nhưng cũng những người trưởng thành tăng thể trọng (15%)
và, dĩ nhiên những nạn nhân của một nhiễm trùng mãn tính bởi một virus
của viêm gan B hay C (1,5%), GS Stanislas Pol, trưởng khoa gan của bệnh
viện Cochin (Paris) đã giải thích như vậy.
Tin vui, đó là để phát hiện một xơ hóa gan, không còn cần phải thực hiện
một sinh thiết nữa. Có hai thăm khám không xâm nhập : xét nghiệm máu đo
những chất chỉ dấu khác nhau và Fibroscan tính tốc độ di chuyển của một
làn sóng từ da đến gan (làn sóng đi càng nhanh khi gan càng bị xơ).
“Khi một sự xơ hóa được khám phá, sự kiểm soát lâu dài của tất cả các
yếu tố nguy cơ (rượu, tăng thể trọng, virus) đã chứng tỏ kết quả: bệnh
khi đó có thể đảo ngược 100%. Sự trở lại bình thường này đã khó đạt được
vào giai đoạn xơ gan, nhưng chúng tôi hy vọng có khả năng tạo lại dáng
(remodeler) hoàn toàn gan trong 5 đến 10 năm đến”, GS Pol nói tiếp như
vậy.
Đối với 250.000 người Pháp có một xơ gan, cần phải phát hiện sớm ung thư.
Mọi người có một xơ gan được biết phải được hưởng một siêu âm gan một
cách hệ thống mỗi 6 tháng. Biện pháp duy nhất này đã cho phép gia tăng
hơn 20% số các khối u được nhận diện ở một giai đoạn có thể mổ được. Đó
cũng là số người mà ta sẽ chữa lành bệnh ung thư của họ.
Bên cạnh phẫu thuật cổ điển (cắt bỏ khối u), cắt bỏ bằng nhiệt (thermo-ablation)
bùng nổ. Phương pháp này nhằm cắm một chiếc kim vào trong khối u, dưới
sự kiểm soát của siêu âm, và đốt bằng những micro-ondes. Một kỹ thuật
mới, chimio-embolisation artérielle hépatique, nhằm bít các huyết quản
nuôi dưỡng khối u, cho phép phá hủy nó hơn 95%. Hiện nay phương pháp này
đặc biệt dành cho những bệnh nhân chờ đợi một ghép gan hay như điều trị
chữa tạm (traitement palliatif).
“ Người ta chữa lành khối u nhưng không chữa lành xơ gan. Vậy, những nguy
cơ tái phát khởi khối u là luôn luôn có thể. Đó là lý đó tại sao, khi
có thể thực hiện được, ghép gan vẫn là giải pháp làm thỏa mãn nhất ”,
GS Stanislas Pol đã kết luận như vậy. Mỗi năm, 125 trường hợp ghép gan
được thực hiện nơi những bệnh nhân bị xơ gan do rượu, nhưng đã vĩnh viễn
từ bỏ rượu. (LE FIGARO 22/3/2010) Đọc thêm
:
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr130.htm
(TSYH số 130, bài số 8)
9/ THALIDOMIDE TÌM RA NHỮNG ÁP
DỤNG MỚI.
Bị cấm chỉ từ 50 năm nay, thalidomide chữa lành bệnh Rendu-Osler và có
hiệu quả chống lại các ung thư.
MEDECINE. Thalidomide là một loại thuốc nổi tiếng chẳng hay ho gì nhưng
chẳng bao lâu nữa có thể được nhắc lại về nó trong điều trị vài bệnh ung
thư và các bệnh xuất huyết. Đó là một sự phục quyền khó có thể tin được.
Được kê toa trong những năm 1950-1960 cho các phụ nữ có thai để chống
lại nôn mửa, thalidomide là nguồn gốc của một trong những vụ tai tiếng
lớn nhất về y tế cộng đồng trong 50 năm qua. Thật vậy, các thầy thuốc
đã khám phá, sau khi thuốc xuất hiện trên thị trường rằng, thalidomide
gây nên những dị dạng rất nghiêm trọng nơi thai nhi. Người ta ước tính
rằng gần 12.000 trẻ em đã là nạn nhân của thuốc này trong khoảng 40 nước,
trong đó 4000 đã không sống sót. Mặt khác, sự vụ đã dẫn đến một sự tăng
cường các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá tốt hơn những tác dụng phụ của
các loại thuốc lên các phụ nữ có thai và phôi thai (effets tératogènes).
Ngày nay, thalidomide tái xuất hiện trong một bối cảnh khác. Một nhóm
nghiên cứu được lèo lái bởi Franck Lebrin, nhà nghiên cứu của Inserm và
Collège de France, vừa cho thấy rằng loại thuốc này rất có hiệu quả chống
lại bệnh Rendu-Osler, một bệnh lý xuất huyết gây bệnh một trên 10.000
người và không có một loại thuốc nào để điều trị nó cả.
Nguồn gốc di truyền, bệnh Rendu-Osler được gây nên bởi một sự thiếu ổn
định của các huyết quản. Bệnh được đặc trưng bởi 3 triệu chứng : những
xuất huyết ruột và mũi nghiêm trọng cũng như nhiều courts-circuits động-tĩnh
mạch. Chảy máu mũi có thể xảy ra hơn 30 lần mỗi ngày và kéo dài một giờ.
Thalidomide đã được thử nghiệm thành công ở Hoà Lan trên 7 bệnh nhân tuổi
từ 48 đến 75 và bị những thể nặng. Uống mỗi ngày 100 mg thalidomide đã
đủ để làm giảm bớt một cách đáng kể tần số và thời gian chảy máu. Điều
trị trong thời gian 6 tháng đến 5 năm đã cho phép tránh các truyền máu,
đặc biệt cần thiết nhất là khi chảy máu đường tiêu hóa, để chữa tạm sự
thiếu máu. Các tác dụng phụ của thalidomide, ngoài những tác dụng sinh
quái thai, là những nguy cơ gây huyết khối (thrombose). Chính vì vậy những
người cảm thấy triệu chứng kiến bò sau khi uống một viên thuốc đầu tiên
đã bị loại khỏi các cuộc thử nghiệm.
CÁC CƠ CHẾ PHỤC HỒI.
“ Tác dụng có lợi của thuốc có thể đo lường được một tháng sau khi sử
dụng thuốc. Nếu bệnh nhân ngừng điều trị, các xuất huyết cũng bắt đầu
lại một tháng sau ”, Franck Lebrin đã đảm bảo như vậy. Một thử nghiệm
quy mô lớn hơn có thể được tổ chức trên 32 bệnh nhân ở bệnh viện Tenon
(Paris).
Bằng cách hiểu được các cơ chế tác dụng của thalidomide chống lại bệnh
Rendu-Osler, các nhà nghiên cứu sẽ mở ra những hướng điều trị mới. Thật
vậy, trong khi cho đến nay thuốc này có tiếng là ức chế sự tăng trưởng
của các huyết quản, thì các phân tích đã cho thấy rằng nó có tác dụng
ngược lại. Thalidomide khôi phục các huyết quản bằng cách làm gia tăng
số các tế bào được gọi là thành, che phủ thành ngoài và cần thiết cho
sự sống còn của chúng. “Điều trị cho phép thu hồi lại một lớp phủ binh
thường của các huyết quản”, Franck Lebrin đã nhấn mạnh như vậy. Cơ chế
phục hồi này, theo nhà nghiên cứu, chẳng bao lâu nữa sẽ được trắc nghiệm
chống lại các khối u. Một sự phân bố mạch (vascularisation) tốt hơn có
thể cho phép mang các thuốc chống ung thư đến trung tâm của khối u để
hủy diệt nó. Vì thalidomide cũng có tính chất hoạt hóa các tế bào lympho
T (mà một vài tế bào thuộc loại này cũng tấn công các tế bào ung thư),
nên thalidomide có thể tỏ ra có hiệu quả trong khung cảnh của một hóa
học liệu pháp cổ điển.
Nhóm nghiên cứu Pháp không phải là nhóm duy nhất theo hướng điều trị này.
Khoảng 50 thử nghiệm đang được tiến hành trên thế giới. Thalidomide đã
được sử dụng trong điều trị bệnh hủi (lèpre) và vài loại myélome. “Thalidomide
đã được hiệu chính trong những năm đầu tiên của hóa học và ta còn lâu
mới biết được tất cả các cơ chế tác dụng của nó, Franck Lebrin đã ghi
nhận như vậy. (LE FIGARO 7/4/2010)
10/ BỆNH THỐNG PHONG : SAU
CÙNG MỘT ĐIỀU TRỊ MẠNH !
GS Thomas Bardin, trưởng khoa khoa thấp khớp của bệnh viện Lariboisière,
giải thích tiến bộ điều trị được thực hiện đối với bệnh thống phong (gây
bệnh cho 600.000 người Pháp).
Hỏi : Bệnh thống phong nghĩa là gì ?
GS Thomas Bardin : Đó là những cơn cực kỳ đau đớn (liên kết với một viêm
khớp rất cấp tính xuất hiện đột ngột), được gây nên bởi các tinh thể dẫn
xuất từ axít uric hiện diện trong dịch khớp. Viêm khớp của bệnh thống
phong thường nhất là gây bệnh nơi đàn ông. Vào lúc bắt đầu bệnh, cái đích
đầu tiên là khớp của ngón cái, bị sưng tấy lên, trở nên đỏ, nóng (với
các chỗ sưng khó chịu dưới da), tạo nên một phế tật lúc bước. Không điều
trị, trong 10 năm sau, các cơn sẽ trở nên thường xuyên hơn và lan rộng
qua các khớp khác. Ở một giai đoạn rất nghiêm trọng, các chất lắng của
các tinh thể hủy hoại dần dần xương và sụn, gây nên một tàn tật vĩnh viễn.
Hỏi : Xin ông hãy nhắc lại cho chúng tôi
nguyên nhân của bệnh viêm khớp đau đớn này.
GS Thomas Bardin : Bệnh thống phong là do một sự thặng dư axít uric trong
máu vì nhiều nguyên nhân. 1. Một sự khiếm khuyết di truyền của chức năng
thận liên kết với một chế độ ăn uống giàu các tiền chất (précurseur) của
axít uric (thí dụ : thịt...). 2. Việc sử dụng lâu dài vài loại thuốc ngăn
cản sự loại bỏ của axít uric bởi thận, như các chất lợi tiểu. 3. một suy
thận mãn tính.
Hỏi : Cho mãi đến nay, điều trị cổ điển của
bệnh thống phong là gì ?
GS Thomas Bardin : Protocole gồm hai liệu pháp bổ sung nhau. 1. Chống
lại viêm với colchicine hay các chất kháng viêm không phải stéroide. 2.
Một điều trị chữa lành với các thuốc làm giảm sự sản xuất axít uric hay
loại bỏ nó. Trong loại này, thuốc được dùng nhất từ 30 năm nay là allopurinol.
Nơi rất nhiều bệnh nhân, điều trị này đã cho phép làm hạ một cách đáng
kể nồng độ axít uric trong máu. Nhưng trong khoảng một trường hợp trên
năm, có một thất bại điều trị.
Hỏi : Những thất bại này là do gì ?
GS Thomas Bardin : Các đề kháng với điều trị xảy ra hoặc là do một sự
bất dung nạp (với các ban da đôi khi nghiêm trọng), hoặc do một sự suy
thận ngăn cản gia tăng liều lượng để chữa lành bệnh, hoặc do sự không
tuân thủ điều trị.
Hỏi : Tác dụng của thuốc mới vừa được thương
mãi hóa là gì ?
GS Thomas Bardin : Đó là một loại thuốc mới, febuxostat, tạo nên một bước
tiến quan trọng đối với tất cả các bệnh nhân đề kháng với điều trị quy
ước. Thuốc này luôn luôn được sử dụng để làm hạ nồng độ axít uric, nhưng
có một thành phần rất khác với allopurinol. Ngoài tác dụng mạnh hơn, febuxostat
có một ưu điểm khác : sự sử dụng của nó không bị hạn chế bởi suy thận
hay những loạn năng khác của thận.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã
chứng tỏ hiệu quả lớn hơn của febuxostat ?
GS Thomas Bardin : 3 công trình nghiên cứu so sánh quốc tế lớn đã được
thực hiện trên khoảng 3.000 bệnh nhân. Tôi nêu lên các kết quả của một
trong những công trình này, được chia thành 3 nhóm. Trong nhóm đầu tiên,
các bệnh nhân được điều trị với allopurinol, nhóm thứ hai, với febuxostat
và, trong nhóm thứ ba, các bệnh nhân đã nhận một placebo. Kết luận : điều
trị mới (với febuxostat) cho phép thu được một nồng độ axít uric bình
thường trong 50 đến 65% các trường hợp, so với 20 đến 30% với điều trị
quy ước (allopurinol). Những công trình nghiên cứu đầu tiên bây giờ có
một thời gian nhìn lại 5 năm. Febuxostat, được thương mãi hóa cách nay
một năm ở Hoa Kỳ và ở Pháp từ một tháng nay.
Hỏi : Thuốc mới này có gây nên những tác
dụng phụ hay không ?
GS Thomas Bardin : Người ta đã ghi nhận vài trường hợp nổi ban da nhẹ,
một sự gia tăng của các men gan (enzymes hépatiques), và sự xuất hiện
của các cơn thống phong tạm thời vào lúc bắt đầu điều trị (được tránh
bởi colchicine). Có hai loại chống chỉ định: các suy gan và suy thận nặng
và sự sử dụng vài loại thuốc làm suy giảm miễn dịch nơi những bệnh nhân
được ghép. Cũng phải thận trọng đối với những người bị bệnh tim. (PARIS
MATCH 15/4- 21/4/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr132.htm
(TSYH 132, bài số 6)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (3/5/2010)
TAGS: Bệnh tăng
nhãn áp (Glaucoma), Thấu kính tiếp xúc (Lentille de cintact), Khả năng
sinh sản, Bảo vệ ngừa thai (Couverture contraceptive), Thiên đầu thống
(Migraine), Bệnh tự kỷ (Autistes), Đồi thị (Thalamus), Ngộ độc rượu mãn
tính (Alcoolisation chronique), Gan mỡ (Stéatose), Thalidomide, Bệnh hủi
(lèpre), Bệnh thống phong, Colchicine, Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |