 |
Thời
Sự Y Học số 171
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ TỶ LỆ SINH TỒN SAU UNG
THƯ ĐƯỢC CẢI THIỆN Ở PHÁP.
Hơn 50% các bệnh nhân bị một ung thư vẫn còn sống 5 năm sau. Một số quan
trọng các bệnh nhân được xem là được chữa lành bệnh.
EPIDEMIOLOGIE. Cuộc đấu tranh chống lại ung thư
đang tiến triển. Tuy không phải là cách mạng, nhưng những tiến bộ từng
bước nhỏ về sự phát hiện, chẩn đoán sớm và các điều trị, sau cùng mang
lại một sự cải thiện đáng kể của tỷ lệ sinh tồn sau ung thư, và ngay cả
tỷ lệ chữa lành, một từ cho đến nay vẫn còn cấm kỵ đối với các thầy thuốc
chuyên khoa ung thư, vốn từ chối tạo cho bệnh nhân những niềm hy vọng
hão. Những bước tiến này có thể được đo bằng những dữ kiện thống kê, tính
toán, với 10 năm nhìn lại, tỷ lệ sống sót sau một ung thư. Hôm nay, việc
công bố của một báo cáo của Viện ung thư quốc gia (Inca : institut national
du cancer) với nhan đề : “ Tỷ lệ sống sót được dự kiến nơi những bệnh
nhân bị ung thư ở Pháp. Báo cáo tình hình ”, cho phép khám phá ra rằng,
đối với hơn 40% các trường hợp ung thư xảy ra suốt trong thập nhiên qua,
tỷ lệ sống sót sau 5 năm là trên 80%. Với một tỷ lệ còn sống sau 10 năm
cũng không kém phần quan trọng.
Những con số này được căn cứ trên những trường hợp ung thư đã cũ, vì lẽ
phải có một thời gian nhìn lại quan trọng để phân tích tỷ lệ sống còn.
Có thể là những kết quả này sẽ còn tốt hơn đối với những ung thư đang
được điều trị. Việc loan báo của một ung thư trong một cuộc đời có tác
dụng như sự nổ của một quả bom. Tuy vậy, ngày này ta có thể vẫn còn sống,
sống và lành bệnh trong một số các trường hợp không phải nhỏ, sau khi
mắc phải một ung thư.
Theo báo cáo của Inca, “tất cả các dữ kiện đưa đến một sự nhất trí về
tỷ lệ còn sống vào lúc 5 năm là trên 50% ”. Với những biến thiên tùy theo
nguồn gốc của các con số, vì lẽ tỷ lệ còn sống vào lúc 5 năm là 53% đối
với các dữ kiện của Pháp đối với những bệnh nhân đã được chẩn đoán ung
thư giữa năm 1987 và 1997. Tỷ lệ này là 51,9% nếu ta tham chiếu những
dữ kiện châu Âu và 66,1% theo những thống kê Hoa Kỳ được thực hiện trên
những trường hợp ung thư được khám phá mới đây hơn giữa năm 1999 và 2005.
GIAI ĐOẠN VÀO LÚC CHẨN ĐOÁN.
Tỷ lệ còn sống (taux de survie) dĩ nhiên được liên kết với sự định vị
của ung thư và giai đoạn vào lúc chẩn đoán của nó. Như thế, vài loại ung
thư có thể được sắp xếp như là có tiên lượng tốt, như các ung thư của
tuyến tiền liệt, của vú, của tuyến giáp, u hắc tố ác tính (mélanome),
bệnh bạch cầu lympho mãn tính (leucémie lymphoide chronique), của tinh
hoàn, bệnh Hodgkin, vì lẽ tỷ lệ còn sống của các bệnh nhân vào lúc 5 năm
là trên 80%. Thế mà các ung thư này chiếm 42% các trường hợp được chẩn
đoán mỗi năm. Mặt khác, trong loại trung gian (catégorie intermédiaire),
thì ra rằng đối với hơn một nửa của những ung thư đại tràng, của miệng
và của hầu, của bàng quang, của thận, của dạ dày,của tử cung, của thanh
quản, của buồng trứng... tỷ lệ sống sót sau 5 năm hiện nay vượt quá 80%.
Còn lại 17% các ung thư có tiên lượng tồi.
Nhưng sau đó điều gì xảy ra, giữa 5 và 10 năm sau khi chẩn đoán ung thư.
“ Sự phân tích của tỷ lệ tử vong đối với những bệnh nhân bị ung thư thể
hiện một sự sụt giảm nguy cơ sau 5 năm đối với đại đa số các ung thư,
bảng báo cáo đã nói như vậy. Theo những dữ kiện của Hoa Kỳ, đối với những
bệnh nhân được điều trị giữa năm 1988 và 2001, phần lớn các ung thư, có
một tỷ lệ còn sống 80% vào lúc 5 năm, cũng đã có một tỷ lệ còn sống khoảng
80% vào lúc 10 năm hay hơn thế. ”
” NHỮNG DỮ KIỆN VỮNG CHẮC ”
Theo các tác giả của báo cáo, ở Pháp mỗi năm, trên 319.000 những bệnh
nhân mới của ung thư, có ít nhất 123.000 trường hợp phải có thể được xem
như là chữa lành vĩnh viễn. “ Những dữ kiện của Pháp được sử dụng dựa
trên những nhóm bệnh nhân được điều trị trước năm 2000. Vậy đó là những
dữ kiện vững vàng xác lập những tỷ lệ sống sót tối thiểu được dự kiến.
Không phải là phi lý khi nghĩ rằng tỷ lệ sống sót vào lúc 5 năm của các
bệnh nhân được chẩn đoán vào năm 2005, thậm chí vào năm 2010, là hoặc
sẽ là tốt hơn, các tác giả của bảng báo cáo đã tin chắc như vậy.
Công trình gom góp các dữ kiện này cho thấy một cách chắc chắn sự cải
thiện của các tỷ lệ còn sống sau khi bị ung thư. “Chúng ta chứng kiến
một quá trình cải thiện của tỷ lệ sống sót sau ung thư khoảng 10% mỗi
thập niên, nếu ta tham chiếu các công trình điều tra trước đây”, GS Dominique
Maraninchi, tổng giám đốc của Viện ung thư quốc gia đã xác nhận như thế.
(LE FIGARO 23/4/2010)
2/ CHỐNG UNG THU TIỀN LIỆT TUYỂN,
MỘT VIRUS HIỀN TÍNH VÀ RẤT PHỔ BIẾN, TỎ RA CÓ HIỆU QUẢ.
Sử dụng một virus nhắm đích một cách đặc hiệu các tế bào ung thư của tuyến
tiền liệt trước khi tiêu diệt chúng, đó là ý tưởng của các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ của đại học Calgary, ở Canada. Các réovirus (Respiratory Enteric
Orphan Virus) là những tác nhân nhiễm trùng rất phổ biến, làm nhiễm trùng
không nghiêm trọng các hệ hô hấp và tiêu hóa, gây nên vài triệu chứng
hiền tính trong trường hợp tệ hại nhất. Thí nghiệm nhằm tiêm một réovirus
vào trong những tế bào ung thư in vitro, và cũng vào nơi 6 bệnh nhân bị
một ung thư của tuyến tiền liệt, trước khi rút chúng ra khỏi tuyến này.
Các kết quả là đáng phấn khởi : in vitro, virus đã gây nên sự chết của
hầu như toàn bộ các tế bào ung thư ; in vivo, virus tiêu hủy các tế bào
ung thư rồi đã ngừng tăng sinh, như thế tha miễn các tế bào lành mạnh.
Tác dụng vô cùng đặc hiệu và vô hại này làm quan tâm nhiều các nhà khoa
học, đã dự kiến mở rộng các dữ kiện lâm sàng nhằm trắc nghiện tính hiệu
quả của điều trị này, phối hợp với những liệu pháp khác. (SCIENCE
ET VIE 5/2010)
3/ SỰ MÙ LÒA : HƯỚNG VỀ NHỮNG ĐIỀU
TRỊ MỚI CHỐNG SỰ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG.
Các loại thuốc dễ sử dụng hơn được dự kiến từ nay đến dưới 5 năm.
OPHTALMOLOGIE. Là nguyên nhân dẫn đầu của kém thị
lực (malvoyance) của các lão niên, bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác
(DMLA: dégérérescence maculaire liée à l’âge) gây
bệnh cho hơn 1 triệu người Pháp. Và con số này sẽ tăng gấp đôi từ nay
đến 2030. Trong căn bệnh này, vùng trung tâm của võng mạc (macula : hoàng
điểm) là nơi của một quá trình viêm, với những phản ứng nối tiếp nhau
(réaction en cascade). Có bao nhiêu phân tử khác nhau liên hệ vào trong
căn bệnh này, thì có bấy nhiêu mục tiêu tiềm tàng cho những điều trị của
ngày mai.
Có thể có hai loại tiến triển. Loại tiến triển đầu tiên dẫn đến một sự
phá hủy rất chậm của những tế bào võng mạc (thể khô của bệnh, thường gặp
nhất). Và loại tiến triển thứ hai, dẫn đến sự tăng sinh hỗn loạn của các
mạch máu mới (néovaisseaux) (thể ướt), do sự sản xuất của các yếu tố tăng
trưởng (VEGF). Khi những tân huyết quản này phát triển ngay trước hoàng
điểm, sự đánh mất thị lực trung tâm (vision centrale) có thể xảy ra nhanh
chóng. Vậy đó là một cấp cứu nhãn khoa. Vấn đề : DMLA vẫn không có triệu
chứng trong một thời gian lâu và khi những triệu chứng điển hình của bệnh
xuất hiện (các đường thẳng dường như lượn sóng) thì các tân huyết quản
đã thắng thế.
“ Chính vì thế mà người ta khuyên thăm khám thầy thuốc nhãn khoa ngay
ở tuổi 50 để thực hiện một thăm khám đáy mắt phát hiện bệnh (un fond’oeil
de dépistage), GS Eric Souied (trưởng khoa mắt, CHI Créteil) và BS Laurent
Benzacken (trưởng khoa mắt, CHU Aulnay-sous-Bois) đã nhấn mạnh như vậy.
Trong trường hợp có những dấu hiệu thương tổn ở hoàng điểm, khám đáy mắt
được bổ sung bởi chụp mạch (angiographie) để xem các tân mạch máu có thể
xảy ra và nhất là bởi một tomographie par cohérence optique (OCT). Thăm
khám này, vì cho phép thấy tất cả các lớp của võng mạc, nên có thể phát
hiện những thương tổn sớm. Như thế có thể hành động trước khi thị giác
bị ảnh hưởng.”
Những điều trị hiện nay (anti-VEGF) ức chế sự tiết của các yếu tố tăng
trưởng (VEGF) và do đó ức chế sự tăng sinh của các tân mạch máu không
được mong muốn. Các thuốc này rất có hiệu quả với điều kiện can thiệp
trước khi các tế bào võng mạc bị chết. Dầu chúng có tính chất cách mạng
như thế nào đi nữa, tuy nhiên các anti-VEGF đặt ra hai vấn đề. Một mặt,
chúng phải được tiêm vào bên trong nhãn cầu, với một nguy cơ nhiễm trùng
nặng nhưng hiếm xảy ra. Và, mặt khác, chúng rất đắc (1290 Euro đối với
mũi tiêm Lucentis, thuốc điều trị chuẩn). Thế mà, cần phải tiêm nhiều
lần mỗi năm.
Để làm giảm phí tổn mà không đánh mất tính hiệu quả, khuynh hướng hiện
nay là gia tăng các kiểm tra (một lần mỗi tháng) nhằm chỉ tiêm thuốc khi
điều đó tỏ ra cần thiết. Phương thức này đã cho phép làm giảm số các mũi
tiêm toàn bộ được thực hiện đồng thời giữ một tính hiệu quả rất tốt của
điều trị. Mặt khác, theo yêu cầu của Bộ y tế và Afssaps (Agence française
de sécurité sanitaire des produits de santé), nhóm nghiên cứu của GS Souied
tham gia vào một công trình nghiên cứu so sánh tính hiệu quả của Avastin
với tính hiệu quả của Lucentis. Bình thường, Avastin là một thuốc để điều
trị ung thư đại tràng, nhưng người ta nhận thấy rằng nó cũng cho những
kết quả tốt trong DMLA : vả lại, chinh trong lúc điều trị các bệnh nhân
bị đồng thời hai bệnh lý này mà các thầy thuốc đã nhận thấy như vậy. Thế
mà phí tổn của Avastin chỉ khoảng 30 Euro một mũi tiêm. Tuy nhiên hiện
nay Aventis không có được giấy phép bán ra thị trường đối với chỉ định
này, vì vậy công trình nghiên cứu đang được thực hiện mà những kết quả
sẽ được biết trong 3 năm nữa.
Tất cả đầu tư hiện nay là tìm thêm những loại thuốc khác có khả năng tác
dụng ở những mức khác và dễ cho thuốc hơn. Khoảng gần một chục loại thuốc
hiện được đưa vào trong các công trình nghiên cứu. Vậy từ nay đến năm
2015, sẽ xuất hiện nhiều loại thuốc, trước hết dưới dạng tiêm, rồi có
lẽ dưới dạng thuốc nhỏ mắt hay implant nhãn cầu, có khả năng cấp chừng
ít một liều lượng của hoạt chất. Những thuốc này có thể được liên kết
với các anti-VRGF đã hiện hữu và như thế tăng gấp mười tính hiệu quả của
chúng. “Chúng ta cũng đã tìm thấy những chất chỉ dấu di truyền (marqueurs
génétiques) tiên đoán mức độ nghiêm trọng của bệnh. Vậy, trước mắt, chúng
ta sẽ có khả năng nói trước bệnh nhân nào sẽ là những người đáp ứng tốt
hay xấu đối với các điều trị và do đó thích ứng thái độ điều trị của chúng
ta”, BS Souied đã xác nhận như vậy. Còn lại dạng khô (forme sèche) của
bệnh này, mãi đến nay là người bà con nghèo của DMLA vì lẽ vào lúc này
không có một điều trị nào để ngăn chặn nó. Lại nữa, các loại thuốc còn
đang được đánh giá. Nhằm mục đích ngăn cản sự chết sớm của các tế bào
võng mạc, các thuốc loại này là một đường hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn,
với những thuốc đầu tiên sẽ xuất hiện trong khoảng một chục năm nữa. (LE
FIGARO 8/3/2010) Đọc thêm : Thời Sự Y Học 15, bài số 1.
4/ KHI CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
ĂN NHỊP VỚI CƠN ĐAU TIM.
CARDIOLOGIE. Chắc chắn là số nạn nhân của cuộc khủng
hoảng kinh tế không ngừng gia tăng. Điều chứng thực sau cùng : các biến
động của tỷ giá của các cổ phần ảnh hưởng trực tiếp lên số các trường
hợp các cơn đau tim (crises cardiques)! Đó là điều đã được chứng thực
bởi các nhà nghiên cứu của Duke University Medical Center, Hoa Kỳ, trong
lúc phân tích các trường hợp nhập viện vì cơn đau tim được đăng ký ở bệnh
vien Duke giữa tháng giêng 2006 và tháng 7/2009. Bảng tổng kết: “Khi thị
trường chứng khoáng sụt xuống, tỷ lệ cơn đau tim gia tăng. Tỷ lệ này giảm
xuống khi các giá trị chứng khoáng tăng lên trở lại, Mona Fiuzat, người
đã thực hiện công trình nghiên cứu, giải thích như vậy. Những dữ kiện
này xác nhận ảnh hưởng của các biến cố gây căng thẳng (événements stressants)
lên sức khỏe của nhân dân. Cũng vậy, một sự gia tăng tỷ lệ cơn đau tim
đã được quan sát trong những ngày theo sau biến có 11/9. Cũng vậy lúc
trận bão Katrina đi qua. (SCIENCE ET VIE 5/2010)
5/ NGUỒN GỐC CỦA CHỨNG HÓI ĐẦU
: MỘT SỰ BIẾN DỊ TRÊN NHIỄM SẮC THỂ SỐ 18 ĐƯỢC NHẬN DIỆN.
Rất bị ghê sợ bởi các người đàn ông lớn tuổi, chứng rụng tóc hùng sinh
(alopécie androgénique), thường được gọi là chứng hói đầu (calvitie),
đang chờ đón một người đàn ông trên ba ở tuổi 30 và một người đàn ông
trên hai ở tuổi 50.
Mặc dầu mỗi ngày chúng ta đánh mất từ 50 đến 100 sợi tóc trong số khoảng
100.000 sợi che phủ mái đầu của chúng ta, nhưng những sợi tóc này bình
thường được thay thế bởi những sợi tóc mới, mọc ở chỗ của những sợi tóc
đã rụng đi. Chính vào khi nhịp độ rụng của tóc gia tốc, và không có sợi
tóc kế vị nào mọc ra thì khi đó chứng hói đầu mới xuất hiện.
Trong một công trình được công bố tuần này trong Nature, các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ tiết lộ sự khám phá của một gène mới có can dự trong sự tăng
trưởng của các sợi tóc. Để tìm ra một gène như thế, các nhà khoa học đã
dò xét bộ gène (génome) của các thành viên của những gia đình Pakistan
và Ý, bị mắc phải một dạng di truyền hiếm của bệnh rụng tóc : chứng ít
lông di truyền đơn thuần (hypotrichose héréditaire simple). Bệnh này,
do một thiều sót di truyền, được đặc trưng bởi hệ lông (pilosité) bị giảm
trên cơ thể và da đầu, và tình trạng này xảy ra ngay từ tuổi ấu thơ. Những
phân tích di truyền đã cho phép phát hiện nơi những người này một sự biến
dị chung nơi gène APCDD1. Gène này nằm trên một vùng đặc hiệu của nhiễm
sắc thể 18, có can dự trong những dạng khác của bệnh rụng tóc như chứng
rụng tóc hùng sinh (alopécie androgénique) hay chứng trụi tóc (pelade).
Không những đã khám phá ra gène liên kết với sự rụng tóc, các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ đã nhận thức rằng rằng gène này ức chế một đường mang tín hiệu
(voie de signalisation), được biết nhằm kiểm soát sự tăng trưởng của các
sợi lông nơi chuột. “Đây là lần đầu tiên mà người ta chứng tỏ rằng con
đường mang tín hiệu này, được gọi là Wnt, đóng một vai trò quan trọng
trong sự tăng trưởng của các sợi tóc nơi người”, Angela Christiano, giáo
sư của Đại học Columbia và là tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu
này đã chỉ rõ như vậy. Vậy người và chuột đã chia sẻ nhiều điểm tương
tự hơn về các cơ chế điều hòa sự xuất hiện của “mái tóc” (toison) hơn
là điều được nghĩ bởi các nhà khoa học cho đến nay.
“Những khám phá này gợi ý rằng nếu ta tác động lên con đường mang tín
hiệu này, điều đó có thể có một ảnh hưởng lên sự tăng trưởng của các sợi
tóc nơi người ”, Angela Christiano nói tiếp. Theo bà, những điều trị nhằm
ngăn cản đường mang tín hiệu Wnt hơn là các đường kích thích tố (voies
hormonales), như được thực hiện bởi những điều trị hiện nay, có thể được
áp dụng rộng rãi hơn nơi những người bị rụng tóc quan trọng. (LE
SOIR 15/4/2010)
6/ CÁC NỐT RUỒI PHẢI CHĂNG LÀ CƠ
SỞ CỦA CÁC U HẮC TỐ ÁC TÍNH ?
Được các thầy thuốc bệnh ngoài da gọi là naevus, các nốt ruồi (grains
de beauté) là những khối u hiền tính của da (một khối u là một đám bất
thường những tế bào, dẫu chúng hiền tính hay ung thư). Hiếm khi thấy một
cá nhân không có một nốt ruồi nào cả. Nói chung các nốt ruồi xuất hiện
bắt đầu năm 3 tuổi (các nốt ruồi hiện hữu vào lúc sinh là hiếm, chúng
có tính chất khác với những nốt ruồi được phát triển sau khi sinh) và
tiếp tục xuất hiện cho đến tuổi trưởng thành. Nhưng sự xuất hiện của chúng
sau 50 tuổi là hiếm.
Các u hắc tố (mélanome) là những ung thư da, nghĩa là những khối u ác
tính. Đó là những ung thư da nghiêm trọng nhất, khả dĩ cho các di căn
và gây nên tử vong của bệnh nhân. Các tế bào cấu tạo một u hắc tố, cũng
như các nốt ruồi, là những mélanocyte. Trong trường hợp u hắc tố, những
tế bào này đã chịu một sự biến hóa ác tính và đã trở thành những tế bào
ung thư. Vì lẽ các nốt ruồi và các u hắc tố ác tính đều được cấu tạo bởi
cùng các loại tế bào, nên có vẻ hợp lý khi đặt câu hỏi phải chăng các
nốt ruồi là nguồn gốc của những u hắc tố ác tính : nói một cách khác,
các nốt ruồi có phải là những tác nhân báo trước (précurseurs) của các
u hắc tố ác tính hay không,
Câu trả lời cho câu hỏi này được mang lại cho chúng ta bởi những công
trình nghiên cứu dịch tễ học. Phần lớn các u hắc tố ác tính không được
phát triển bắt đầu từ một nốt ruồi có trước. Chúng xuất hiện trên da ở
một nơi đã không hiện hữu một cấu tạo đặc biệt nào, nghĩa là trên da lành
mạnh. Một số lớn các u hắc tố ác tính bắt đầu bằng sự xuất hiện của một
vết (tache) giống như một naevus mới. Chỉ 15 đến 30% các u hắc tố ác tính
có thể được phát triển từ một nốt ruồi đã có trước.
Như thế ở nơi vài người, các naevus có thể là những chỉ dấu nguy cơ để
phát triển một u hắc tố ác tính. Một chỉ dấu nguy cơ (marqueur du risque)
là một yếu tố lâm sàng (có thể được phát hiện bằng một thăm khám bệnh
nhân) hay sinh học (có thể được phát hiện bằng một thăm khám sinh học
như xét nghiệm máu) chỉ rõ rằng bệnh nhân mang chỉ dấu này có một nguy
cơ tương đối gia tăng (risque relatif augmenté) phát triển một bệnh nào
đó. Nguy cơ tương đối gia tăng là một sự gia tăng nguy cơ phát triển một
bệnh so với một người bình thường. Ví dụ, đi bộ xuyên qua đường bao hàm
một nguy cơ có thể tính được về mặt thống kê bị làm té ngã bởi một chiếc
xe hơi. Đi xuyên qua đường đôi mắt bị bịt lại tạo một nguy cơ tương đối
gia tăng bị quật ngã bởi một chiếc xe hơi.
Những người mang nhiều nốt ruồi (hơn 15 đến 20) có kích thựớc lớn (đường
kính trên 4 hay 5 mm) có một nguy cơ tương đối gia tăng phát triển một
u hắc tố ác tính. Nguy cơ này cũng được liên kết với những yếu tố di truyền
(màu da, sự phát triển của một u hắc tố ác tính nơi cha mẹ hay con cái)
và những yếu tố môi trường (thói quen sưởi nắng, trúng nắng nặng trong
thời kỳ thơ ấu hay thiếu niên).
Những người này tạo nên một nhóm người có nguy cơ và họ phải là đối tượng
của một sự theo dõi bởi một thầy thuốc chuyên khoa da một lần mỗi năm
và học cách tự khám lấy mình đều đặn để có thể đi thăm khám nhanh chóng
trong trường hợp một nốt ruồi bị biến đổi hay nếu một yếu tố khác xuất
hiện. Vậy các nốt ruồi không phải là những dấu hiệu báo trước của các
u hắc tố ác tính. (LE FIGARO 22/3/2010)
7/ SỐ TRƯỜNG HỢP CÁC UNG THƯ DA
GIA TĂNG.
Sự phơi nắng và sự lão hóa giải thích tiến triển này.
DERMATOLOGIE. Nếu như các u hắc tố ác tính (mélanome
malin), các ung thư da rất nghiêm trọng, đã được quảng bá khá rộng rãi
trong những năm qua, những khối u da khác (cancers baso- hay spino-cellulaires)
lại không được biết nhiều bởi dân chúng, mặc dầu tần số của những ung
thư này đang gia tăng trong một số lớn các nước phương tây. Hôm nay, một
bài báo được công bố trong Archives of Dermatology, lo ngại về sự gia
tăng số các trường hợp ở Hoa Kỳ. Nước Pháp cũng bị ảnh hưởng bởi một tiến
triển tương tự. Mặc dầu tỷ lệ tử vong liên kết với những ung thư này vẫn
thấp nhưng chúng có thể dẫn đến những hủy hoại mô quan trọng nếu chúng
không được điều trị kịp thời. Một lý do gây lo ngại khác của giới hữu
trách y tế Hoa Kỳ là tổn phí sinh ra bởi những khối u này, đôi khi cần
những can thiệp nhiều lần.
“ Các cancer baso-cellulaire xuất hiện thường nhất ở mặt hay trên những
vùng hở của cơ thể, cũng ở trên lưng, và tần số của nó gia tăng rõ rệt
với tuổi tác, BS Claudine Blanchet-Bardon, phó chủ tịch của Syndicat national
des dermatologues-vénérologues đã xác nhận như thế. Hình thái của cancer
baso-cellulaire là đa dạng, cũng như màu sắc của nó. Mặc dầu ung thư da
này không bao giờ gây nên di căn, nhưng nó có thể tăng trưởng theo chiều
rộng và bề sâu và gây nên những tàn phá không sửa chữa được. Về ung thư
được gọi là spino-cellulaire, dầu ít gặp hơn, nhưng tiên lượng của nó
hơi it tốt hơn, bởi vì loại ung thư này có thể gây nên các di căn. ” Không
có sổ ghi các ung thư ở Pháp theo dõi tần số xuất hiện của các cancer
baso- và spinocellulaire, vài dữ kiện đưa ra con số khoảng 100.000 trường
hợp mỗi năm. Để có một sự đánh giá chính xác, một thầy thuốc Hoa Kỳ, khảo
sát từ một mô hình toán học (modèle mathématique), đã ước tính rằng, đối
với năm 2007 không thôi, 13 triệu người Mỹ (không kể đến những người nguồn
gốc châu Phi hay hispanique) đã bị một lần trong cuộc đời mình, ít nhất
một ung thư da khác với u hắc tố ác tính.Khoảng một người trên 70 tuổi
trên năm đã bị một cancer baso- hay spinocellulaire. “Tần số cùa ung thư
da cao hơn nhiều so với tần số của bất cứ ung thư nào khác”, GS Robert
Stern (Havard Medical School, Boston) đã giải thích như vậy.
“ CÓ MỘT DỊCH BỆNH ”
Tỷ lệ điều trị toàn bộ đối với những ung thư này đã gia tăng 77% từ năm
1992 đến 2006, số các thủ thuật điều trị đã chuyển từ 1,6 triệu vào năm
1992 lên 2 triệu năm 2006 ở Hoa Kỳ. “Có một dịch bệnh ung thư da khác
với các u hắc tố ác tính, các tác giả đã xác nhận như vậy, với một sự
gia tăng hàng năm 4,2% số các trường hợp, theo các cơ sở dữ kiện của Medicare.
Những chương trình bảo vệ chồng nắng đã gây thất vọng vì không kềm hãm
được tỷ lệ ung thư gia tăng. Cần những công trình nghiên cứu bổ sung để
tối ưu hoà những chiến dịch giáo dục, ngăn ngừa.”
Trên bình diện điều trị, sự xử trí trước hết là ngoại khoa. “ Điều trị
ưu tiên một, đó là ngoại khoa ở phòng mạch của thầy thuốc bệnh ngoài da.
Khi người ta đã có một lần cancer baso-cellulaire, cần phải được tái khám
mỗi năm, bởi vì nguy cơ mắc phải một ung thư khác là tăng cao ”, BS Blanchet-Bardon
đã kết luận như vậy. (LE FIGARO 16/3/2010)
8/ NHỮNG ĐƯỜNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU
CHƯA TỪNG CÓ CHỒNG BỆNH HEN PHẾ QUẢN THỂ NẶNG.
Những hướng mới được thăm dò để trả lời tốt hơn căn bệnh vẫn còn khó hiểu
này.
RESPIRATION. “ Hen phế quản là một bệnh vừa dễ lại
vừa khó điều trị : dễ đối với đại đa số các bệnh nhân chỉ cần một điều
trị nhẹ, và khó đối với những bệnh nhân mà điều trị đầu tiên không kiểm
soát được bệnh tức thời.” New England Journal of Medicine đã trình bày
như thế một công trình nghiên cứu mới đây về sự điều trị của các trẻ em
bị hen quản quản nặng. Đối với các trẻ em này, chỉ một quy tắc : một điều
trị tùy theo từng cá thể (un traitement sur mesure), được đánh giá đều
đặn. Bằng không, căn bệnh viêm mãn tính này, gồm các cơn, trong đó sự
hẹp của các khí quản hạn chế sự hô hấp, có nguy cơ trầm trọng thêm.
3 triệu người Pháp bị hen phế quản, và 350 triệu người bị ảnh hưởng trên
thế giới. “Căn bệnh đã tiến triển nhiều trong vòng 40 năm trong các nước
công nghiệp hóa, với, dường như, một mức bình nguyên (plateau) từ ba năm
nay nơi người trưởng thành, trong khi bệnh tiếp tục gia tăng nơi trẻ em.
Trong các nước mới phát khởi theo lối sống phương Tây, sự gia tăng nhanh
như chớp”, GS Michel Aubier, trưởng khoa phổi của CHU Bichat (Paris) đã
chỉ rõ như vậy. Có nhiều lý do. “ Để phát triển một bệnh hen phế quản,
phải có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và những yếu tố
môi trường. Sự ô nhiễm không khí đóng một vài trò, nhưng môi trường nội
thất cũng vậy bởi vì 90% thời gian của cuộc sống của chúng ta được trải
qua trong các gian phòng ít thoáng khí, nhiều các dị ứng nguyên đủ loại.
Chế độ ăn uống của chúng ta đã bị biến đổi. Chúng ta tiêu thụ ít các sản
phẩm tươi hơn, do đó ít các chất chống oxy hóa (antioxydants) có tác dụng
bảo vệ hơn, và nhiều thức ăn công nghiệp hơn chứa nhiều dị ứng nguyên
: các dầu lạc (huiles d’archide), các chất nhuộm màu, các chất bảo quản.
Sau cùng, việc làm giảm các nhiễm trùng của thời thơ ấu, do một trình
độ vệ sinh tốt hơn, hướng sự phát triển của hệ miễn dịch về một profil
dị ứng hơn là nhiễm trùng.” Ở Pháp, một sự xử trí điều trị tốt hơn đã
làm thu giảm các tử vong do hen phế quản của năm 2000 xuống dưới 1500
trường hợp mỗi năm, nhưng số các trường hợp nặng dường như gia tăng.
Hen phế quản là do một loạn năng miễn dịch (dysfonctionnement immunitaire),
gây nên một sự bất dung nạp của các phế quản đối với vài kháng nguyên
(antigène) hay các dị ứng nguyên (allergène) của môi trường. Sự hiện diện
của chúng làm phát khởi một chuỗi nối tiếp nhau các phản ứng “ thù địch
” , được chỉ đạo bởi các tế bào miễn dịch, nhiều loại tế bào lympho T,
như những tế bào hoạt hóa sự sản xuất các chất trung gian của phản ứng
dị ứng hay những tế bào trung gian có nhiệm vụ “ giám sát ” toàn bộ sự
thiết đặt của các phòng vệ.
Nhưng đặc biệt là bệnh hen phế quản càng ngày xuất hiện như là một bệnh
của biểu mô (maladie de l’épithélium), lớp phủ của các phế quản. “ Có
những trao đổi giữa lớp biểu mô phế quản này với các tổ chức mô bên dưới,
G.S Aubier đã giải thích như vậy. Trong vài hen phế quản thể nặng (asthme
sévère), lớp biểu mô có một sự vận hành chức năng bất bình thường, đôi
khi ngay từ tuổi bé thơ, gây nên một quá trình tạo dáng lại (remodelage)
dần dần của các phế quản, trở nên bị xơ hóa đi, và một sự phì đại của
các cơ trơn phế quản, chúng cũng bất bình thường. Sự tạo dáng lại (remodelage)
này, mà ta không biết làm thoái triển như thế nào, là nguồn gốc của sự
tắc phế quản (obstruction bronchiqu). Hiểu điều đó tốt hơn để tìm ra những
mục tiêu điều trị là một thách thức quan trọng. Do đó, ta bắt đầu tự hỏi
bệnh hen phế quản có phải là một bệnh duy nhất và đơn độc hay không. “
80% các hen phế quản thể nhẹ đến trung bình được kiểm soát dễ dàng với
các bêta-mimétiques, làm giãn các cơ trơn và các corticoides, ức chế phản
ứng viêm. Với điều kiện theo dõi tốt sự điều trị, GS Aubier lấy làm tiếc,
vì điều này chỉ đúng đối với 30% các bệnh nhân, có nghĩa là có 60% các
hen phế quản không được kiểm soát tốt ”
1,5 TỶ EURO MỖI NĂM.
Còn lại là 20% các phế quản thể nặng, chiếm 80% phí tổn gây nên bởi hen
phế quản, 1,5 tỷ euro mỗi năm. “ Những bệnh nhân hen phế quản có thành
phản dị ứng mạnh (asthme à forte composante allergique) được cái thiện
rõ rệt nhờ một thứ thuốc tiêm mới anti-IgE, Xolair. Những bệnh nhân khác
có tăng bạch cầu ưa éosine cao (asthme à forte éosinophilie) có thể được
điều trị bằng những kháng thể anti-IL5. Nhưng vài hen phế quản thể nặng
không đáp ứng với corticoides vẫn không có phương pháp điều trị mới. Chúng
ta đã chứng tỏ rằng endothéline 1, một yếu tố làm dễ xơ hóa và tăng sinh
(facteur profibrosant et proliférant) của cơ trơn, là rất được qua biểu
hiện trong biểu mô của những bệnh nhân không đáp ứng. Một công trình nghiên
cứu đang tiến hành đánh giá lợi ích của một kháng thụ thể (antirécepteur)
của endothéline 1 ”, GS Aubier nói rõ như vậy.
Người ta thử chia cắt hen phế quản thể nặng thành những nhóm đồng nhất
các bệnh nhân để nhận diện những chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) thích
ứng và để hiệu chính những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) đối
với những nhóm khác nhau này. Những đường hướng mới, với những kháng thể
đơn dòng (anticorps monoclonaux) khác đang là đối tượng của các nghiên
cứu. Một hướng khác, thermoplsatie, nhằm phá hủy một phần cơ trơn bằng
tần số phóng xạ (radiofréquence) để làm giảm khối cơ trơn này. Được trắc
nghiệm ở Hoa Kỳ, phương pháp này dường như làm giảm tần số của các cơn.
(LE FIGARO 6/4/2010)
9/ CANNABIS CÓ THỂ LÀ NGUỒN GỐC
CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ?
Những cuộc luận chiến và tranh luận không còn có lý do để tồn tại nữa
: không những cannabis không phải là một điều trị trong trường hợp những
rối loạn tâm thần, mà đúng chính cannabis, trong 15% đến 20% các trường
hợp, tác dụng như là yếu tố khởi phát trên những người dễ bị thương tổn
này.
Cannabis đúng là có liên hệ với một sự phát triển gia tăng của các bệnh
tâm thần (psychose), trong đó có bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie).
Mối liên hệ rõ ràng đầu tiên giữa cannabis và bệnh tâm thần đã được phát
hiện ở Thụy Điển vào năm 1988. Một cuộc điều tra, đã kéo dài 15 năm, trên
một quần thể hơn 45.000 tân binh trẻ nhập ngũ dưới 20 tuổi, đã chứng minh
một mối liên hệ giữa sự tiêu thụ cannabis và sự phát triển của bệnh tâm
thần phân liệt. Ngay cả nguy cơ đã được định lượng : nguy cơ này được
nhân lên 6 lần.
NHỮNG TÁC DỤNG CÓ HẠI LÊN SỨC KHOẺ TÂM THẦN.
Vào năm 2002, giả thuyết này đã được xác nhận : sự chẩn đoán của bệnh
tâm thần phân liệt và của những bệnh tâm thần khác đã được liên kết về
lượng với sự tiêu thụ của cannabis : 50 “joints” nhân nguy cơ tâm thần
lên 6,7 và sự chứng minh trở nên rõ ràng khi tiêu thụ 10 joints trước
18 tuổi. Vào năm 2007, sự chứng minh được khẳng định sau khi so sánh và
phân tích các kết quả phát xuất từ gần 5.000 công trình nghiên cứu. Khi
đó người ta chứng tỏ rằng số các trường hợp các bệnh tâm thần (psychose)
gia tăng khoảng 40% nơi những người tiêu thụ cannabis, và rằng vì mối
liên hệ này phụ thuộc liều lượng, nên sự gia tăng này có thể quan trọng
hơn nhiều nơi những người tiêu thụ thường xuyên nhất.
Ngay năm 1845, thầy thuốc tâm thần người Pháp Jacques-Joseph Moreau de
Tours đã mô tả những tác dụng có hại của cannabis lên sức khỏe tâm thần.
Nhưng vào thời kỳ đó, sự tiêu thụ cannabis không có tính chất đại trà,
chỉ xảy ra nơi vài người, nên cannabis không đặt ra một vấn đề y tế công
cộng, như từ vài năm qua. Theo các cuộc điều tra dịch tễ học, cannabis
đúng là được liên kết với sự xuất hiện của những triệu chứng tâm thần
: lo âu, chứng trầm cảm, các rối loạn về trí nhớ, sự mất thích thú đối
với môi trường gia đình, học đường, tình cảm, nhưng cả bệnh tâm thần phân
liệt nữa. Là một căn bệnh nói riêng, bệnh tâm thần phân liệt thể hiện
một rối loạn quan trọng của nhân cách, một bệnh trầm trọng ảnh hưởng một
người Pháp trên 100 mà sự điều trị vẫn không được đầy đủ. Những người
bị bệnh tâm thần phân liệt có những triệu chứng loạn tâm thần, được biểu
hiện, ngoài những triệu chứng khác ra, bởi những ảo giác (hallucination),
những mê sảng (délires) và những rối loạn tư duy và của hành vi, có thể
kèm theo những lo âu dữ dội với những hậu quả không thể tiên đoán được.
Nguy cơ phát triển các rối loạn tâm thần phân liệt tỷ lệ với cường độ
của sự tiêu thụ và nhất là với tuổi lúc tiêu thụ lần đầu. Khi sự tiêu
thụ cannabis bắt đầu lúc 15 tuổi, nguy cơ cao hơn khi bắt đầu lúc 18 tuổi.
Nguy cơ gia tăng 40% nơi những người trẻ hút joints, so với những người
đã không bao giờ hút thuốc. Thế mà cannabis là thuốc ma túy bất hợp pháp
được tiêu thụ nhất bởi những người trẻ tuổi. Trên toàn thể những người
tiêu thụ đều đặn, 20% các thiếu nữ và 30% các thanh niên 17 tuổi tuyên
bố đã tiêu thụ cannabis trong tháng vừa qua.
Và, mặc dầu bệnh tâm thần phân liệt hẳn còn có những nguyên nhân khác
ngoài cannabis không thôi, nhưng cannabis có lẽ là nguồn gốc của 15% những
trường hợp được chẩn đoán ở Pháp. Cannabis tác động như là một yếu tố
phát khởi nơi những bệnh nhân yếu ớt, trẻ tuổi và tiêu thụ mạnh. Nhưng
cannabis không chỉ có những hậu quả tâm thần, nó cũng là nguồn gốc của
những nguy cơ khác được biết và không phải là kém nghiêm trọng, từ các
ung thư (phổi, tai mũi họng, bàng quang, tuyến tiền liệt), các rối loạn
mạch máu (viêm động mạch) và sự sinh sản, ở phụ nữ cũng như các đàn ông,
tần số của các tai nạn lưu thông, ở nhà, ở nơi làm việc.
(LE FIGARO 19/4/2010)
10/ NHỮNG THUỐC CỦA THẾ KỶ XXI
: NHỮNG ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA (TRAITEMENTS À LA CARTE).
Trong cuốn sách của mình “ Médicament, enjeu du XXI siècle ”, Christian
Lajoux, chủ tịch của Liên đoàn công nghiệp y tế Pháp, giải thích làm sao,
nhờ những kỹ thuật mới, các bệnh nhân sẽ hưởng được một điều trị cá thể
hóa (prise en charge sur mesure).
Hỏi : Từ năm 2000, một trong những tiến bộ
của nghiên cứu trong công nghiệp dược phẩm là gì ?
Christian Lajoux : Kỹ thuật sinh vật (biotechnique hay biotechnologie)
đã đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong việc chế tạo thuốc men ! Nhất
là đối với các thuốc chống ung thư. Ngược lại với phần lớn các dược phẩm
cổ điển được tạo ra từ những nguyên tố hóa học, những loại thuốc phát
xuất từ kỹ thuật sinh vật được cấu tạo từ những hoạt chất trích ra từ
người, thực vật hay siêu vi trùng (được tái sản xuất với số lượng lớn
bằng cấy trong phòng thí nghiệm). Nguyên tắc của “ biotech ” là thay thế
trong cơ thể một yếu tố “ không chạy ” bằng một yếu tố khác phát xuất
từ người sống. Để đơn giản hóa, tôi sẽ nói rằng đó là những loại thuốc
tạo lại những tác dụng của các phân tử trong chính cơ thể của chúng ta.
Giai đoạn mới này thể hiện một sự thay đổi quyết định trong nghiên cứu.
Quá trình được phát động với một quy mô lớn : nếu hôm nay 20% các loại
thuốc phát xuất từ kỹ thuật sinh vật (biotechnologies) và 80% từ hóa học,
thì ngày mai, 40 đến 50% sẽ phát xuất từ kỹ thuật sinh vật.
Hỏi : Phải chăng chúng ta sẽ tiến về một nền y khoa cá thể hóa (médecine
individualisée) ?
Christian Lajoux : Vâng, bởi vì với những điều trị nhắm đích (traitements
ciblés) này, bệnh nhân được xem như là một cá thế, hơn là như là một yếu
tố của một quần thể rộng lớn. Người ta điều trị một bệnh nhân hơn là điều
trị một căn bệnh. Căn bệnh này từ lâu đã được xử trí theo một phương pháp
đại trà (une approche de masse), trong đó chúng ta điều trị hầu như tất
cả các bệnh nhân bị cùng một bệnh lý, theo một cách giống hệt nhau, dầu
trọng lượng, tuổi tác..của bệnh nhân như thế nào. Đối với ung thư, chúng
ta đã có những kỹ thuật nhắm đích (techniques ciblées) cho phép vài điều
trị tùy theo cá thể (traitements sur mesure).
Hỏi : Những công trình nghiên cứu về các
biotechnologies này được thực hiện với mức độ an toàn nào ?
Christian Lajoux : Vào đầu thế kỷ này đã có một sự thay đổi thật sự :
những thí nghiệm lâm sàng của các loại thuốc từ nay diễn ra trong một
môi trường đúng quy cách, quan tâm bảo vệ các bệnh nhân được đưa vào trong
các công trình nghiên cứu hơn. Các protocole được tiến hành dưới sự kiểm
soát của một comité d’éthique được gọi là “ comité de protection des personnes
”. Từ nay bệnh nhân nằm trong tâm điểm của thử nghiệm, tham gia vào sự
đánh giá điều trị của mình và có quyền ngưng bất cứ lúc nào.
Hỏi : Để có một phương cách điều trị các
bệnh nhân cá thể hóa hơn, những tiến bộ mà ta chờ đợi là gì ?
Christian Lajoux : Với sự kéo dài tuổi thọ, chúng ta sẽ điều trị càng
ngày càng nhiều những bệnh nhân già. Thế mà, mãi đến nay, các hiệu quả
của phần lớn các loại thuốc đã không được đánh giá nơi những người 80
tuổi hoặc hơn. Cũng sẽ phải kiểm tra những tương tác khả dĩ của những
phối hợp thuốc rất thường được kê toa nơi những người già. Tất cả những
kết quả nghiên cứu này sẽ cho phép thích ứng các liều lượng theo trọng
lượng, tình trạng sức khỏe tổng quát...cho phép thực hiện một y khoa theo
từng trường hợp (une médecine au cas par cas). Ngày hôm nay, về quần thể
người già này, chúng ta ở trong cùng tình huống mà ta đã gặp cách nay
10 năm đối với sự cho thuốc của các trẻ em ! Chúng ta đã bằng lòng việc
cắt một viên thuốc thành hai hoặc ba : một phương pháp rất là thường nghiệm
(une approche très empirique).
Hỏi : Vào thế kỷ thứ XXI này, đâu là những
hy vọng lớn nhất của sự nghiên cứu ?
Christian Lajoux : Nhờ một sự tiến triển nhanh của các kiến thức về bộ
gène (génome), những hy vọng lớn nhất được đặt vào các bệnh di truyền
(maladies génétiques). Đó là can thiệp vào các gène bị thiếu. Một thử
nghiệm đang được tiến hành đối với các trẻ em bị bệnh adrénoleucodystrophie
(có thể phá hủy não bộ trong vài tháng). Đối với bệnh sclérose latérale
amyotrophique, một bệnh lý trầm trọng dẫn đến tử vong, những công trình
nghiên cứu giai đoạn III đã cho phép nhận diện nguồn gốc di truyền của
căn bệnh này. Trong tương lai, chúng ta hy vọng hưởng được một y khoa
sẽ điều trị những cái đích mới của cơ thể, mà các loại thuốc hiện nay
không thể đến được : nanotechnologies. Đó là sử dụng những hạt (particules)
có kích thước một phần triệu của milimet. (PARIS MATCH
25/3-31/3/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (26/4/2010)
TAGS : Ung thư tuyến tiền liệt, Ung thư
vú, Ung thư tuyến giáp, u hắc tố ác tính (mélanome), bệnh bạch cầu lympho
mãn tính (leucémie lymphoide chronique), Ung thư tinh hoàn, bệnh Hodgkin,
bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA: dégérérescence maculaire liée
à l’âge), Khủng hoảng kinh tế và cơn đau tim, Chứng hói đầu (calvitie),
U hắc tố (mélanome), Hen phế quản, Cannabis và bệnh tâm thần (psychose),
Y khoa cá thể hóa (médecine individualisée), Nanotechnologies, Nguyen
van Thinh
>>>back>>>
|
 |