Thời Sự Y Học số 170
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ LỊCH SỬ BỆNH HỦI VÀ NHỮNG NGƯỜI HỦI 
Lễ phong thánh của Cha Damien, đã đi săn sóc trong thế kỷ qua những bệnh nhân hủi, được nhốt trên một hòn đảo của Hawai, để rồi chính ông cũng phải ngã gục vì căn bệnh khủng khiếp này, nhắc nhở cho chúng ta rằng bệnh hủi đúng là đã hiện diện trong suốt nhiều thế kỷ ở Tây Phương. Bệnh hủi là một trong những vết thương bên cạnh những dịch bệnh khủng khiếp dịch hạch và dịch tả.
NGUỒN GỐC BỆNH HỦI.
Quả thật là bệnh hủi không gây cùng tác hại như bệnh dịch hạch, mặc dầu bệnh cũng có tính chất lây nhiễm, nhưng suốt trong sự tiến triển của thời gian, bệnh hủi, cũng như bệnh lao đã tham gia vào sự hình thành sinh học của nhân loại trong một bối cảnh xã hội và văn hóa, trong đó căn bệnh này đã chiếm một vị trí to lớn.
Bệnh hủi xưa như trái đất hay gần như vậy, vì lẽ nó đã ngự trị ở Ẩn Độ và có lẽ ở Trung Hoa ngay trước công nguyên của chúng ta. Dẫu sao bệnh này dường như đúng là đã hiện diện vào năm 600 trước Jésus-Christ trong một bản văn đích thị của Ẩn Độ, và những người lính của Alexandre le Grand và của Darius, sau khi đi viễn chinh quân sự tận những miền xa của Phương Đông, đã mang bệnh hủi về đến vùng Cận Đông (Proche-Orient), rồi từ đó những người Phénicien đã mang đến châu Âu hay ít nhất đến các bờ biển Địa Trung Hải. Các đoàn lính lê dương La Mã hoàn tất công việc còn lại khi mang bệnh này vào trung tâm của Cựu lục địa. Những cuộc viễn chinh thập tự và những cuộc xâm lăng của người Ả rập đã chỉ có thể làm tăng cường sự hiện diện của nó. Dẫu sao, bệnh hủi trở nên thông thường ở châu Âu từ thế kỷ thứ XII, nếu ta tin vào nhiều tư liệu hiện có về chủ đề này vào thời đó. Thật vậy, bệnh hủi thuộc về lãnh vực của tòa án vì lẽ bất kỳ ai chứng thực một căn bệnh ngoài da nơi một người láng giềng đều buộc phải tố cáo người này trước chính quyền dân sự hay tôn giáo. Trong thời kỳ đầu, người ta yêu cầu chính những người bị bệnh hủi phải nhận biết những triệu chứng của căn bệnh, nhưng sau đó, những người bị hủi phải đối diện với một bồi thẩm đoàn (jury) gồm những thầy thuốc hay những nhà phẫu thuật và một đại diện thế tục hay tôn giáo. Người bị tình nghi kém may mắn này có thể được bào chữa bởi một người bà con, thậm chí một luật sư nếu người này có phương tiện.
CẢ MỘT VỤ ÁN
Làm sao người ta đã có thể chẩn đoán bệnh một cách chắc chắn? Người bị bệnh hủi hay được cho là như vậy phải trình diện mình trần như nhộng. Vào lúc đêm đến, người ta đặt gương mặt của bệnh nhân dưới sáng trăng và gương mặt của người bị bệnh hủi phô ra nhiều màu sắc, đó là dấu hiệu của bệnh bởi vì một gương mặt lành mạnh vẫn nhợt nhạt khi đứng trước vì tinh tú của ban đêm! “Người bị bệnh hủi có một gương mặt đỏ, đôi mắt lờ đờ, chiếc mũi hẹp, các sợi tóc rất mảnh và thưa, đôi tai bé nhỏ”. Một trắc nghiệm khác nhằm rải tro chì nấu chảy vào trong nuớc tiểu của một bệnh nhân hủi; các tro này nổi lên trong khi bình thường chúng nằm ở đáy lọ. Nhưng người ta cũng có thể nhờ đến thí nghiệm lấy máu của bệnh nhân pha trộn với giấm. Sau đó nếu người ta xoa hỗn hợp này vào lòng của bàn tay, nó cho một cảm tưởng khô nơi người bị hủi. Chưa phải là hết, còn phải lọc nó xuyên qua một tấm vải mịn để quan sát các chất cặn giống như những hạt kê. Sau cùng, người ta có thể trộn hỗn hợp này với nước phát xuất từ một nguồn nào đó để xem nó đông lại ở nơi mà máu phát xuất từ một cơ thể lành mạnh vẫn tinh khiết. Có lẽ đơn giản hơn nhiều, sự kiện chích vào gót chân của bệnh nhân mà không phản ứng với đau đớn hay đặt bệnh nhân nằm dài trên một vật lạnh mà không khiến người bệnh phải lùi lại một chút nào vì đã đã trở nên không nhạy cảm, đó là những dấu hiệu không lầm lẩn được. Dĩ nhiên người bị nghi ngờ có thể chống án. Nhưng điều đáng ngạc nhiên nhất là một khi bệnh được phát hiện, người bệnh không quan tâm đến phương cách chữa nó. Bệnh nhân xem căn bệnh hủi như là một định mệnh và do đó dưới mắt người bị hủi là hoàn toàn không thể chữa lành được ! Như một nhà sử học tâm sự với chúng ta điều đó : “Người ta có thể tắm họ thường xuyên, băng bó các vết thương của họ bằng vải đã sờn mòn, bôi các vết loét rỉ nước với thuốc bôi dẻo (onguent) và nhựa thơm (baume) có chất căn bản là hương liệu, phủ các chốc vảy (dartre) với các chất nghiền từ rắn lục, nuôi họ bằng thịt gà vỗ béo hay thịt ếch áp chảo, cho uống dâu tây ngâm cồn, nhung chẳng giúp ích được gì. Người hủi vẫn như thế suốt cả cuộc đời, bởi vì “những trường hợp miễn tố rất họa hoằn ”
Sau hết một phương thuốc tối hậu là thiến (castration). Phương pháp này trước hết tìm được một biện minh điều trị. Vì thể tạng của người hủi, bản văn nói với chúng ta như vậy, “ là sầu uất, nóng và khô, nên sự thiến làm thay đổi tính khí thành ôn hòa, bằng cách hủy bỏ các tinh hoàn, vốn làm gia tăng bệnh hủi do sự ảnh hưởng và sự khát khao của người bệnh. Những người hủi bị quấy rầy bởi một ham muốn đặc biệt của động tác giao cấu, họ luôn luôn có các chi cứng như các thần Dê (satyres), vậy ta phải thiến họ để chữa họ khỏi bị sự hành hạ quan trọng này.” Nhưng có lẽ đó chủ yếu là để tránh một sự thoái hóa của giống người.
MỘT THỂ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ LOẠI TRỪ.
Bản án một khi trở nên không vãn hồi được, người hủi sẽ bị loại trừ ra khỏi xã hội loài người bằng một sự chôn cất giả vờ ; trong vài ngôi làng người hủi buộc phải vào nằm trong một cái huyệt của nghĩa địa để vài lúc sau đó lại được đem ra. Vị linh mục ăn mặc đồ tang tiếp người bệnh đáng thương trên sân của nhà thờ để loan báo với người này những biện pháp trục xuất rồi dẫn vào nhà thờ, ở đó người ta đã chuẩn bị sẵn một nhà táng. Sau đó là bắt đầu lễ mai táng rồi một tấm vải trùm đen được ném lên người bị xua đuổi, được đặt nằm trên đất và còn phải chịu vài xẻng đá trước khi chấm dứt trò chết giả này. Phần còn lại của cuộc đời diễn ra xa thế giới trong một trại hủi (léproserie), thường lợi dụng sự hào phóng của các nhà vua và những người có quyền thế. Người ta sống ra sao trong những ngôi nhà đóng kín này ? Những người hủi làm việc theo khả năng nhưng cuộc sống gia đình bị cấm chỉ đối với họ. Đúng là đôi khi họ được phép đi ra ngoài nhưng với những nội quy rất nghiêm ngặt làm họ nản lòng. Đối với người hủi, không có vấn đề tắm trong một dòng sông, đi dạo với đôi chân trần hay ngỏ lời với ai ngoài cơn gió trước mặt. Người hủi cũng bị buộc chỉ được tham gia những buổi lễ tôn giáo từ xa, mặc những quần áo mà mọi người có thể thấy được và báo cho họ biết sự hiện diện bằng chiếc chuông nhỏ. Người hủi không còn có một quyền dân sự nào nữa và sự kết hôn trên thực tế bị bãi bỏ. Và một khi qua đời, hoài công khi nhờ đến những lễ tang thông thường và chỉ được chôn trong nghĩa địa dành cho người hủi mà thôi.
Nhưng dĩ nhiên chúng ta phải hơi tiết chế lại lời nói bởi vì các quy tắc mà chúng tôi vừa phát biểu đã không được áp dụng với cùng sự khô khan trong tất cả các giáo phận và các giáo khu. Tất cả các sự cưới hỏi đã không bị hủy bỏ và bệnh hủi không phải là lý do đủ để chấm dứt chúng. Tất cả những người hủi không bị tước mất đời sống xã hội. Vài người có thể đi hành hương, những người khác được phép đi ra ngoài để đi ăn xin và đảm bảo những lợi tức bổ sung nơi cộng đồng họ sinh sống, đến độ bắt đầu từ thế kỷ XV, không phải là hiếm khi phát hiện những tay chiếm đoạt sống rất sung sướng nhờ vào một trại hủi. Sau cùng, vài người hủi được phép sống tại nhà họ hay được tham gia vào những sinh hoạt tập thể của làng, để không chỉ canh tác đất đai mà còn chế tạo các thừng chảo của tàu bè (cordages des navires), đến độ danh từ “người làm thừng chảo” (cordier) đôi khi trở nên đồng nghĩa với người hủi.
BỆNH HỦI BIẾN MẤT KHỎI CHÂU ÂU.
Người ta có thể tự hỏi bệnh hủi đã có thể ảnh hưởng như thế nào lên sự phát triển của dân số? Có lẽ không đáng kể, nhưng dầu sao đúng là chưa đến mức của những tàn phá gây nên bởi bệnh dịch hạch, trong thế kỷ XIV, đã tàn sát châu Âu đến độ giết chết 1/3 dân số. Nói chung ta chấp nhận rằng bệnh hủi hoành hành nơi vùng của chúng ta từ thế kỷ XII đến XIX và bệnh hẳn đã được thể hiện bởi những đợt kế tiếp nhau, trong vài vùng nghiêm trọng hơn những vùng khác, nhưng tha miễn hoàn toàn vài vùng mà chúng ta không có được một chút giải thích nào về những ngoại lệ này. Dẫu sao, vào đầu thế kỷ XV, các trại hủi trống dần và các giới hữu trách giáo hội thu hồi lại các tài sản và đưa chúng đến những bệnh viện khác. Ở Pháp, Louis XIV chính thức thanh lý các trại hủi và các gia sản của chúng. Vậy, bệnh hủi đã hầu như biến mất khỏi châu Âu, ngoại trừ, thật kỳ lạ, ở Na Uy, là nơi bệnh hủi vẫn còn tồn tại đến tận thời kỳ hiện đại. Mặt khác, chính Hansen, một nhà nghiên cứu người Na Uy, đã nhận diện vi trùng gây bệnh, khá tương cận với trực khuẩn Koch, nhưng trước sự khám phá của vi khuẩn lao này.
Những nguyên nhân của sự suy tàn của căn bệnh hủi là gì ? Sự cải thiện của trình độ vệ sinh ? Đó là điều ít có khả năng bởi vì sự sạch sẽ đã tiến triển rất ít từ thế kỷ XI đến XIV để ta có thể đưa ra lời giải thích. Phải chăng những người hủi đã biến mất như là nạn nhân của những dịch bệnh khác như bệnh dịch hạch hay dịch tả ? Các tu viện và các trại hủi có lẽ đã phải trả giá nặng nề cho những căn bệnh này nhưng, như chúng ta đã thấy, tất cả các người hủi không đều bị nhốt cả và vài người mang vi trùng gây bệnh đã sống sót và tiếp tục vai trò gây nhiễm của họ. Trên thực tế, mặc dầu thiếu các lời giải thích, tuy vậy có một tác dụng tương quan giữa sự phát triển của bệnh lao và sự biến mất của bệnh hủi. Nhưng sự quan sát của hiện tượng này, mặc dầu được chứng minh về mặt thứ tự niên đại, nhưng vẫn có thể bị tranh cãi về quan hệ nhân quả của nó. Trực khuẩn Hansen đối với bệnh hủi và trực khuẩn Koch đối với bệnh lao mặc dầu có những tính chất sinh kháng nguyên tương tự và thuộc gia đình của các vi khuẩn, nhưng sự giống nhau này dừng lại ở đó ! Không có những bằng cớ nào khác. Phải chăng thế kỷ XVII đã lẩn lộn bệnh hủi với những bệnh phong tình khác, vì lẽ, người ta tin như vậy, có khả năng lây truyền lúc giao hợp ? (LA SEMAINE MEDICALE 24/12/2009)
2/ ĂN CHAY TỐT CHO XƯƠNG.
Người nào ăn chay có một nguy cơ bị mất canxi xương thấp hơn người ăn thịt. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi Peter Deriemaeker của VUB (Belgique).
Nói chung, một thức ăn giàu chất đạm, như thịt và các sản phẩm sữa có một tác dụng axít hóa (effet acidifiant) lên cơ thể, trong khi một chế độ ăn uống gồm các trái cây và rau xanh có một tác dụng kiềm (effet alcalin). Các chất đạm do đó làm dễ sự làm mất canxi (décalcification) : người ta ước tính lượng canxi bị mất đối với mỗi gam đạm được ăn vào là 1 mg. Các công trình nghiên cứu đã phát hiện một mối liên hệ rõ rệt giữa, một bên, sự tiêu thụ tăng cao đạm động vật và bên kia, nguy cơ bị gãy xương háng hay có những triệu chứng đau lưng (lombalgie).
Một cách khá mâu thuẫn, các chất đạm cũng kích thích sự tạo xương. Sau hết, phải biết xem chúng đóng một vai trò dương tính hay âm tính phần lớn tùy thuộc vào chế độ ăn uống, nhưng cũng tùy thuộc vào thể trạng di truyền của con người, tuổi tác và giới tính của người đó.
Các chất thức ăn kiềm làm gia tăng trị số của pH của máu, điều này bảo vệ xương tốt hơn và dẫn đến sự phóng thích canxi ít hơn.
NHIỀU TRÁI CÂY VÀ RAU XANH HƠN.
Peter Deriemaeker và các cộng sự viên của VUB đã khảo sát sự khác nhau giữa hai cách ăn uống này: họ đã so sánh một nhóm những người ăn chay với một nhóm tương tự (về giới tính, tuổi tác và chỉ số khối lượng cơ thể) những người không ăn chay. Từ những phân tích, họ rút ra kết quả xác nhận ý tưởng được nghi ngờ từ lâu, rằng một chế độ ăn uống giàu chất thức ăn nguồn gốc thực vật có một tác dụng kiềm hóa hơn lên cơ thể so với chế độ ăn uống nhiều thịt và như thế bảo vệ họ chống lại một loạt các bệnh tật, như chứng loãng xương (ostéoporose). (LE JOURNAL DU MEDECIN 23/3/2010)
3/ CHOCOLAT TỐT CHO TIM VÀ CÁC MẠCH MÁU
Các nhà nghiên cứu người Đức đã cho thấy rằng những lượng nhỏ chocolat được tiêu thụ mỗi ngày làm hạ huyết áp và làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Nhóm nghiên cứu người Đức đã theo dõi trong khoảng 10 năm những thói quen ăn uống của 19.357 người, tuổi từ 25 đến 65 tuổi. Các tác giả đã có thể chứng thực rằn, những người ăn nhiều chocolat nhất (trung bình 7,5 g mỗi ngày) có một huyết áp thấp hơn và một nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não giảm 39%, so với những người chỉ tiêu thụ rất ít (1,7g mỗi ngày). Về mặt nguy cơ tuyệt đối, điều đó có nghĩa là sự việc ăn một miếng vuông nhỏ chocolat khoảng 6g cho phép tránh, nơi 10.000 người, 85 nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não trong một khoảng thời gian 10 năm, BS Brian Buijssen, nhà dịch tễ dinh dưỡng, người điều khiển công trình nghiên cứu này, đã giải thích như vậy.
Nhưng không nên vì thế mà suy diễn ra rằng ta có thể đồng thời tự cho phép mình gia tăng sự tiêu thụ toàn thể calorie và tiêu thụ ít hơn những thức ăn lành mạnh, nhà nghiên cứu cảnh cáo như vậy. “Những lượng nhỏ chocolat giúp phòng ngừa sự xuất hiện các bệnh tim mạch, nhưng chỉ khi những lượng này thay thế một nguồn thức ăn giàu calorie khác, để trọng lượng có thể vẫn luôn luôn ổn định. ”
Mặc dầu sự tiếp tục của các nghiên cứu là tỏ ra cần thiết, nhưng nhóm nghiên cứu người Đức đã có thể xác nhận rằng tác dụng có lợi của chocolat được liên kết với sự hiện diện của flavonol trong cacao. Những chất này hiện diện chủ yếu trong chocolat đen. “ Các flavonol cải thiện biodisponibilité của monoxyde d’azote trong các huyết quản. Những chất này làm giãn các mạch máu hơn và điều này góp phần mang lại một huyết áp thấp hơn. Monoxyde d’azote cũng cải thiện chức năng của các tiểu cầu, làm cho máu ít dính hơn ”, Brian Buijsse nói tiếp như vậy.
TRÀ CŨNG THẾ.
Một công trình nghiên cứu mới đây của Hòa Lan cũng quan tâm đến những tác dụng có lợi của các flavonol. Peter Hollman của đại học Wageningen đã phân tích mối liên hệ giữa sự sử dụng các loại flavonoides khác nhau và sự xuất hiện của các tai biến mạch máu não. Trong một phân tích méta, ông đã xét đến hơn 100.000 người phát xuất từ 6 công trình nghiên cứu đã được công bố. Các flavonoides đặc hiệu như các flavonol, dường như có một tác dụng lên nguy cơ tai biến mạch máu não. “Nếu người ta tiêu thụ một lượng flavonol tương ứng với lượng được tìm thấy trong 3 tách trà, người ta có thể làm giảm 20% nguy cơ bị một tai biến mạch máu não”, nhà nghiên cứu Hòa Lan đã bình luận như vậy. Chúng ta hãy nhớ rằng các flavonols cũng hiện diện trong rau xanh và các trái cây. (LE JOURNAL DU MEDECIN 13/4/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr160.htm (TSYH số 160 bài số 3)
4/ BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC : NHỮNG PHƯƠNG TIỆN PHÒNG NGỪA BỆNH
Tất cả chúng ta không bình đằng trước bệnh bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Một vài người có nguy cơ hơn phát triển bệnh này vì có những yếu tố tố bẩm (facteurs de prédisposition). Kiến thức chỉ có lợi ích nếu ta có thể tác động ở thượng nguồn và đây chính là trường hợp như vậy.
Có các gène tố bẩm của bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA), trong đó gène thứ ba vừa được nhận diện ở CHU de Créteil, và vài gia đình có nhiều thành viên bị bệnh. Có một người anh/em hay chị/em bị bệnh, nhân gấp 4 lần nguy cơ, một ngày nào đó, bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác này. Tuy vậy, sự phát triển các trắc nghiệm di truyền (test génétique) không là một ưu tiên, bởi vì các thầy thuốc nhãn khoa đã biết rằng một người sẽ có nguy cơ mắc phải bệnh DMLA, nếu người này có những tiền sử gia đình, một con mắt đầu tiên bị bệnh, nếu người này hút thuốc (nguy cơ được nhân lên gấp 4), nếu béo phì (nguy cơ nhân lên gấp đôi), hay lại nữa, nếu thăm khám đáy mắt vào lúc 55 tuổi đã cho phép phát hiện sự hiện diện của những dấu hiệu báo trước.
“ Như vậy, một hoàng điểm (macula) hoàn toàn bình thường ở lứa tuổi này được thể hiện bởi một nguy cơ rất thấp (0,5%) phát triển một DMLA trong 5 năm đến, trong khi nếu hoàng điểm đã có những dấu hiệu báo trước, nguy cơ sẽ chuyển lên 50% sau 5 năm và ngay cả 75% sau 10 năm, GS Souied đã xác nhận như vậy.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG.
Khi người ta có một profil nguy cơ, điều đó không muốn nói rằng nhất thiết là ta sẽ phát triển bệnh. Nhưng ta có thể làm giảm nguy cơ này nhờ những biện pháp phòng ngừa, bắt đầu bằng chào vĩnh biệt thuốc lá và sự làm mất các kilo bị dư thừa. “Chế độ ăn uống của chúng ta cũng có ảnh hưởng nhiều. Như là một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng vài chất chống oxy hóa làm giảm 25% xác suất, đối với những người có nguy cơ cao, phát triển một DMLA trong 5 năm. Một ảnh hưởng không phải là nhỏ”, BS Benzacken đã nhận xét như vậy. Đó chủ yếu là lutéine và zéaxanthine, hai caroténoide tập trung ở võng mạc để bảo vệ nó. Để có kết quả tốt, ta phải có 6mg mỗi ngày. Các nhu cầu hàng ngày của chúng ta có thể được đảm bảo bằng cách tiêu thụ 5 suất trái cây và rau xanh, nhưng với điều kiện lựa chọn chúng trong số những trái cây và rau xanh chứa nhiều các chất này nhất : các rau xanh có lá xanh đậm, chou hay épinard, nhưng cũng brocolis, các petits pois, các poivrons màu da cam, bắp, kiwis hay nho.
Chất dinh dưỡng khác hữu ích : các axít béo oméga 3, rất có can dự trong sự vận hành chức năng tốt của các tế bào của võng mạc. Người ta tìm thấy chúng trong các loài cá béo của những vùng biển lạnh : saumon, sardine, maquereaux, harengs. “ Tiêu thụ những con cá này 3 đến 4 lần mỗi tuần có thể làm giảm 1/3 nguy cơ bị DMLA”, BS Benzacken đã nhấn mạnh như vậy. Sau cùng, các chất chống oxy hóa (vitamine C, E, kẽm) cũng là những ứng viên tốt bởi vì chúng ngăn cản những phản ứng oxy hóa dẫn đến sự lão hóa sớm của những tế bào của võng mạc. Thế có nên sử dụng tất cả bằng cấp bổ sung ? Một câu hỏi hay. Một công trình nghiên cứu đang được tiến hành, nhưng kết quả sẽ chỉ được biết trong vài năm. (LE FIGARO 8/3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr166.htm (TSYH số 166, bài số 8)
http://yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr82.htm (TSYH số 82 bài số 6)
5) NHỮNG TRẺ SINH THIẾU THÁNG GIỮA 27 VA 32 TUẦN BỊ NHỮNG NGUY CƠ NÀO ?
Professeur Bernard Salle, Néonatologiste, Membre de l’Académie nationale de médecine.

Mỗi năm ở Pháp 8000 trẻ em thiếu tháng nặng (grand prématuré), giữa tuần lễ thứ 27 và 32 của thai nghén, được sinh ra đời, điều này có nghĩa là khoảng 1% số các sinh đẻ. Trọng lượng lúc sinh của chúng biến thiên giữa 1000 và 1600 g. Nhờ những tiến bộ của sơ sinh học (néontologie), hơn 90% các em bé này sống sót và các biến chứng đã có thể giảm đi. Tuy nhiên, làm thu giảm số các trẻ sơ sinh thiếu tháng được sinh ra đời vẫn là một thách thức quan trọng đối với sản khoa.
Những biến chứng có thể xảy ra ngay tuần lễ đầu tiên sau khi sinh, chủ yếu là hô hấp và thần kinh, với một nguy cơ bị các di chứng lâu dài. Các biến chứng hô hấp là rất thường thấy. Chúng xảy ra là do tình trạng chưa thành thục của sự phát triển phổi hay của hệ thần kinh trung ương chỉ huy sự hô hấp. Sự suy hô hấp (détresse respiratoire) (hơn 60% các trường hợp) hiện nay có thể được ngăn ngừa bằng cách kê toa cortisone cho người mẹ và được điều trị lúc sinh ra bằng sự thông khí hỗ trợ (ventilation assistée) và cho surfactan vào trong khí quản, điều này cho phép duy trì các phế nang phổi hoạt động. Kế đến, trẻ sinh non có thể bị những đợt ngừng hô hấp (apnée de prématuré), mà ta chỉ cần điều trị với céféine bằng đường miệng. Các biến chứng thần kinh là do tính chất dễ vỡ của các mạch máu não và do tính chất dễ bị thương tổn của chất trắng bao quanh các não thất. Những biến chứng này thường thấy hơn nơi các trẻ sinh non nhỏ tuổi nhất và chịu trách nhiệm những di chứng lâu dài. Các biến chứng thần kinh chủ yếu là các xuất huyết não (5 đến 10% các trường hợp) và một sự hoại tử chất trắng nơi 2 đến 3% các trẻ em. Nhưng ta có thể theo dõi sự xuất hiện và tiến triển của các biến chứng này bằng siêu âm não và điện não đồ.
Những biến chứng có thể được ngăn ngừa hay điều trị : hoàng đảng sơ sinh (jaunisse) được điều trị bằng quang liệu pháp (photothérapie) và hiện nay không gây nên một di chứng nào. Sự thiếu máu, đặc biệt thường xảy ra, có thể được ngăn ngừa bằng cách hạn chế tần số và thể tích lấy máu và được điều trị bằng cách cho érythropoiétine (EPO), một hormone có tác dụng kích thích sự sản xuất các tế bào hồng cầu. Sau cùng, trẻ sinh non có thể được nuôi ăn bằng ống thông dạ dày với những lượng sữa rất nhỏ, tốt nhất là sữa mẹ, với một sự dinh dưỡng bổ sung bằng đường tĩnh mạch trong vài ngày.
CÁC RỐI LOẠN HỌC TẬP.
Những di chứng, khi chúng xuất hiện, ảnh hưởng lên sự phát triển của phổi và não bộ. Suy hô hấp mãn tính được thấy nơi 3 đến 5% các trẻ sinh non đã được hưởng một thông khí hỗ trợ. Trong đại đa số các trường hợp, di chứng hô hấp này được cải thiện trong những năm đầu của đời sống. Những rối loạn của sự phát triển não bộ được thể hiện bởi một sự suy yếu vận động não (infirmité motricee cérébrale), được liên kết hay không với một sự chậm phát triển tâm thần (retard mental). Những rối loạn này ảnh hưởng lên 3 đến 5% các trẻ sinh non, nhất là các trẻ mà tuổi thai nghén thấp và những trẻ đã có một biến chứng thần kinh trong thời kỳ sơ sinh. Sự mù lòa do thương tổn của võng mạc không được thấy trong nhóm trẻ sinh non này ; cũng vậy chứng điếc là ngoại lệ.
Tuy nhiên, những trẻ sinh non này, khi lớn lên, thường là nạn nhân của những rối loạn học tập, của một sự tăng hoạt động (hyperactivité), của một sự thiếu chú ý, nhất là ở nhà trường và những rối loạn động tác (désordres gestuels) ; 1/3 những trẻ sinh non bị liên hệ, nhất là các cháu trai và những em bé phát xuất từ một môi trường xã hội không được ưu đãi. Chúng phải được chăm sóc rất sớm. Nhưng những con số làm an lòng : đại đa số những trẻ này sau đó phát triển hoàn toàn bình thường. Nhưng nguy cơ bị các biến chứng không thể không được biết đến. (LE FIGARO 22/2/2010)
6/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG : QUÁ NHIỀU MUỐI.
Vào năm 2008, Pierre Meneton, nhà nhiên cứu của Inserm, đánh giá rằng sự tiêu thụ muối ở Pháp (đạt 10 đến 12 g mỗi người và mỗi ngày) là 3 hay 4 lần cao hơn nhu cầu, và chịu trách nhiệm mỗi năm ít nhất 75.000 tai biến tim mạch. Theo ông, sự thặng dư chủ yếu được liên kết với muối được chứa trong các sản phẩm chế biến kỹ nghệ. New England Journal of Medicine vừa công bố những công trình của các nhà dịch tễ học thuộc 3 đại học lớn của Hoa Kỳ (San Francisco, Stanford và Columbia) đưa đến cùng kết luận. Các nhà nghiên cứu đã lấy lại một mô hình các tính toán thống kê, cho phép những dự đoán đáng tin cậy trong lãnh vực tim mạch. Nơi các người Mỹ, tiêu thụ cùng lượng muối như các người Pháp, một sự giảm bớt 3 g mỗi ngày cho phép mỗi năm làm giảm số các trường hợp mới các bệnh động mạch vành 60.000, các tai biến mạch máu não 120.000, các nhồi máu cơ tim từ 99.000 đến 54.000. Với mỗi gam muối bớt đi mỗi ngày, lợi ích được chia ba. (PARIS MATCH 1/4-7/4/2010)
7/ UNG THƯ PHỔI : MỘT GENE TỔ BẨM.
BS MARTINE PEREZ
Nằm trên nhiễm sắc thể số 6, gène này làm gia tăng nguy cơ, ngay cả trong trường hợp nghiện thuốc lá ở mức độ vừa phải.
PNEUMOLOGIE. Những người hút thuốc không bình đẳng trước nguy cơ mắc phải ung thư phổi. Vài người có thể đốt hai bao thuốc mỗi ngày và không bị mắc phải bệnh này sau một cuộc sống kéo dài. Những người khác có thể chỉ hút rất ít hoặc không hút gì cả và ở tuổi 40 có một khối u phổi nghiêm trọng. Mặc dầu cứ 16 người hút thuốc thì một ngày nào đó sẽ có một người bị bệnh này, nhưng con số này thể hiện những thực tế rất thay đổi, được giải thích, ngoài những yếu tố khác ra, bởi những thay đổi về các tố bẩm di truyền (prédispositions génétiques). Những nhà dịch tễ học Hoa Kỳ của Centre Anderson chống bệnh ung thư (Texas), vừa công bố những kết quả của họ trong tạp chí Cancer Research, đã khám phá một yếu tố di truyền mẫn cảm (gène de susceptibilité), có khả năng làm dễ ung thư phổi, ngay cả trong trường hợp nghiện thuốc lá rất ít.
Trong những năm 1960, hai thầy thuốc Hoa Kỳ đã mang lại, một cách rõ ràng, những bằng cớ về các trường hợp ung thư phổi xảy ra trong gia đình nơi những người hút thuốc, gợi ý những tương tác giữa vài đặc tính di truyền với thuốc lá trong sự phát sinh của bệnh này. Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận khuynh hướng xảy ra trong gia đình này. Nguy cơ bị ung thư phổi được nhân lên gấp 3 lần khi ít nhất có 3 người trong cùng gia đình bị một khối u phổi và nhân lên gấp 4 khi ít nhất có 4 người bị bệnh, so với những người hút thuốc không có tiền sử gia đình.
Mới đây hơn, một vùng của nhiễm sắc thể số 6, được liên kết với một tố bẩm bị ung thư phế quản gia tăng nơi những người hút thuốc (và những người không hút thuốc), đã được nhận diện. Marshall Anderson và nhóm nghiên cứu của ông (Đại học Cincinnati) vừa đánh giá tác dụng của chứng nghiện thuốc lá lên nguy cơ bị ung thư phối tùy theo tính đặc hiệu di truyền này trên nhiễm sắc thể số 6. Trong các gia đình không có yếu tố nguy cơ di truyền này, nguy cơ phát triển một khối u phổi càng cao khi chứng nghiện thuốc lá càng quan trọng. Nhưng trong những gia đình, được truyền bởi gène tổ bẩm này, thì ngay cả một chứng nghiện thuốc lá thấp cũng gây nên một nguy cơ cao bị ung thư phổi. “Khi anh có yếu tố di truyền nhạy cảm (gène de susceptibilité) và anh hút thuốc, thì không quan trọng là anh hút ít hay nhiều các điếu thuốc, anh vẫn có một nguy cơ phát triển ung thư phổi”, Susan Pinney, một trong đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Marshall Anderson xác nhận rằng “nếu anh có một bệnh sử gia đình ung thư phổi, có lẽ anh phải tránh ở trong một môi trường trong đó người ta hút thuốc ”.
Hiện nay, tố bẩm di truyền này làm gia tăng nguy cơ nơi những người không hút thuốc, và lại còn hơn trong trường hợp nghiện thuốc lá. Hiện nay, trên bình diện cá nhân, không có một xét nghiệm nào cho phép đánh giá tính nhạy cảm đối với ung thư phổi. Dầu sao, có hay không có tổ bẩm di truyền, thuốc lá vẫn tuyệt đối không thể được khuyến nghị vì lẽ một nguy cơ ung thư phổi rất cao hơn so với những người không hút thuốc, cũng như những loại ung thư khác, các bệnh tim, mạch máu và hô hấp. (LE FIGARO 15/3/2010) Đọc thêm :
http://yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr81.htm (TSYH số 81, bài số 10)
8/ BALADEUR VÀ NHỮNG TIẾNG ỒN ĐÔ THỊ : NHỮNG HIỂM NGUY THẬT SỰ.
BS Gérald Fain, thầy thuốc chuyên khoa Tai Mũi Họng, giải thích những nguyên nhân của dịch bệnh các rối loạn thính giác, được phát hiện nhân Ngày thính giác toàn quốc.
Hỏi : Journée nationale de l’audition (Ngày toàn quốc của thính giác) vừa điểm tình hình về những hành vi có nguy cơ của các thiếu niên. Những kết luận được rút ra là gì ?
BS Gérald Fain : Người ta đã khám phá ra rằng các người trẻ tuổi, vẫn mắc vào máy baladeur trung bình một hay hai giờ mỗi ngày, thật là to lớn ! Phải biết rằng, trên ½ giờ tiếp xúc với những âm thanh có cường độ mạnh, tai cần một sự nghỉ ngơi âm thanh tối thiểu một giờ. Hành vi có hại này làm biến đổi sự vận hành chức năng của các tế bào thính giác. Thế mà thính giác là một trong những cơ quan quý báu nhất : 40% các thông tin từ môi trường của chúng ta đều đi qua tai ! Hiện nay các rối loạn của sự điếc tai tạo nên một phế tật xã hội hàng đầu : 7% dân chúng bị bệnh điếc.
Hỏi : Một tiếng ồn với cường độ quá mạnh có thể có hại đối với những tế bào nào của tai ?
BS Gérald Fain : Đối với 16.000 tế bào của tai trong (hay ốc tai : cochlée) ; 3.000 trong số những tế bào này cho phép nghe, còn những tế bào khác khuếch đại âm thanh và chọn lọc các tần số. Một sự vang âm (résonance) quá mạnh gây nên sự tăng tiết của glutamate, một chất, lúc thặng dư, trở nên độc hại bằng cách làm biến đổi sự sản xuất của dopamine (một chất dẫn truyền luồng thần kinh vào đến dây thần kinh thính giác). Các hậu quả : trước hết một sự mệt thính giác (fatigue auditive) với sự tăng nhạy cảm đối với tiếng ồn, một trạng thái bị kích thích (nervosité). Sau đó, điều trầm trọng hơn : một sự mất thính giác đối với những tần số cao (fréquence aigue).
Hỏi : Những nguy cơ này xuất hiện bắt đầu từ những mức độ tiếp xúc âm thanh quá mức nào?
BS Gérald Fain : Người ta cho rằng tiếng ồn bắt đầu có hại khi nó đạt 70 đến 80 décibel (tiếng hú của xe cứu thương, của xe cứu hỏa, tiếng búa giã...). Trên mức 80 décibel (discothèque, tiếng máy hút, tiếng khoan răng của nha sĩ...), tiếng ồn lúc đó thật sự trở nên gây thương tổn và tấn công các tế bào, mà những tế bào yếu ớt nhất được dành cho những tần số cao. Thật vậy, có 3 loại nguy cơ : thời gian tiếp xúc với tiếng ồn (trên 30 décibel không được vượt quá 30 phút), cường độ và sự ở gần nó.
Hỏi : Đứng trước những yếu tố nguy hại này, có những người dễ bị thương tổn hơn không ?
BS Gérald Fain : Có, và nhìn toàn bộ có 4 lý do. 1. Một khuynh hướng tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) (các tế bào thính giác có thể ít hoặc nhiều đề kháng đối với tiếng ồn). 2. Sự hiện diện của những bệnh lý trước đây của tai, như các viêm tai. 3. Các thuốc độc hại cho thính giác, được dùng lâu dài (aspirine, quinine, vài thuốc kháng sinh…). 4. Tuổi tác : với tuổi càng cao, các tế bào chịu trách nhiệm các tần số cao bị thoái hóa, điều này làm gia tăng tính dễ bị thương tổn của chúng.
Hỏi : Trong cuộc sống hàng ngày, những lời khuyên của ông để bảo vệ là gì ?
BS Gérald Fain : Không nên do dự yêu cầu hạ cường độ của âm nhạc trong một cửa hàng ăn uống hay trong một discothèque, bịt tai lại nếu cần, với các bàn tay hay với các nút tai (bouchons d’oreille). Sau khi tiếp xúc với một chấn thương âm thanh, hãy nghỉ ngơi âm thanh một giờ. Những người lớn phải giải thích cho những người trẻ tuổi những mối hiểm nguy đang rình chờ họ, và khuyên họ hạ một nửa cường độ của baladeur. Trong những nghề nghiệp khác, như trong âm nhạc, ngày nay người ta ngăn ngừa những biến đổi thính giác nhờ những bộ phận lọc tần số (filtre fréquentiel). Những người đi săn và vài người lao động từ nay mang những mũ cát chống ồn (casque antibruit) vì ý thức được những nguy cơ.
Hỏi : Có phải theo dõi thính giác của mình như đối với thị giác hay không ?
BS Gérald Fain : Người ta chủ trương một sự kiểm tra các chức năng thính giác vào những thời điểm khác nhau của cuộc đời. Ví dụ, mọi trẻ sơ sinh đều phải được hưởng một thăm khám đầu tiên. Sau đó người ta khuyến nghị người mẹ cho các con mình được đánh giá về thính giác vào những lứa tuổi 3, 6 và 15. Bắt đầu từ 40 tuổi, đối với toàn dân, thính giác phải là một đối tượng của một thăm khám thường quy và nếu bình thường hãy dời lại lần thăm khám sắp đến vào 10 năm sau. Trong vài trường hợp, cần thăm khám cấp cứu : thí dụ trong trường hợp chấn thương âm thanh cấp tính, gây nên một sự điếc đột ngột, hay trong trường hợp sốc tình cảm (choc émotionnel), gây nên những rối loạn thính giác.
(PARIS MATCH 8/4-14/4/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr167.htm (TSYH số 167, bài số 6)
9/ MỘT KEM CHỐNG NHĂN CÓ HOẠT CHẤT PHÁT XUẤT TỪ THAI NHI ĐƯỢC BÁN Ở HOA KỲ
Một mỹ phẩm, chứa những protéine trích từ canh cấy các tế bào da phát xuất từ một thai nhi người, được thương mãi hóa cách nay vài tháng ở Hoa Kỳ. Chất kem chống già (crème anti-âge) này, trên nguyên tắc phải có toa thầy thuốc mới mua được, nhưng cũng có thể tìm trên internet, đang là tâm điểm của một cuộc luận chiến gay gắt. Kem chống nhăn da (crème anti-ride) này được sản xuất bởi một start-up, Neocutis, được thành lập vào năm 2003 ở Thụy Sĩ nhằm làm sinh lợi các văn bằng của phòng thí nghiệm y khoa thai nhi (médecine foetale) của CHU vaudois, Lausane.
Cha đẻ của dự án, Patrick Hohlfeld, trưởng khoa Phụ Khoa của CHU vaudois, trong những năm 1990, đã chứng thực rằng những can thiệp ngoại khoa trong tử cung đã không để lại một vết sẹo nào trên các trẻ sơ sinh. Do đó nhóm nghiên cứu của ông đã quan tâm đến các khả năng tái sinh của các tế bào da của thai nhi. Nhóm nghiên cứu đã được biếu 4cm² da của một thai nhi sau một can thiệp làm gián đoạn thai nghén (interruption médicale de grossesse), với sự thỏa thuận của người mẹ, Neocutis đã giải thích như vậy. Các protéine được sử dụng trong kem của nhóm nghiên cứu phát xuất từ những tế bào được cấy trong một ngân hàng mô (banque de tissus).
Bị chỉ trích là đã sử dụng với mục đích thương mãi các tế bào người, Patrick Hohlfeld minh định rằng sản phẩm bán nhằm tài trợ cho sự hiệu chính các bông băng dùng cho những người bị bỏng nặng. Vào năm 2005, nhóm nghiên cứu của ông đã công bố trong tạp chí The Lancet những kết quả chữa lành ngoạn mục được quan sát thấy trên những trẻ em bị bỏng độ hai và ba. Sau khi đã nhờ đến một khuôn collagène có nguồn gốc ngựa, các nhà nghiên cứu đã hiệu chính một phương thức cấy cho phép họ có sử dụng nhiều triệu “ mảnh da ” (lambeau cutané), mỗi mảnh có bề rộng 100 cm. Các mảnh da này, được đổi mới mỗi 3 hay 4 ngày, đã kích thích sự tái tục của sự tăng sinh tự nhiên của các tế bào da.
Trong Le Parisien số ngày 16 tháng 4, nhà di truyền học Axel Kahl nhắc lại rằng, trước những năm 1990, công nghiệm mỹ phẩm sử dụng nhau người “được xem như là một đồ phế thải phòng mổ” (déchet opératoire). Sự lo ngại các lan truyền virus đã chấm dứt phương thức này. Ngoài ra, Axel Kakn phân biệt những tế bào thai nhi (cellules du fœtus) với những tế bào phôi thai (cellules embryonnaires) “phát xuất từ một con người đang lớn mạnh, nằm trong tâm điểm của một vấn đề đạo lý, trái với những tế bào khác”. (LE MONDE 17/4/2010)
10/ MỘT DẠNG MAGNESIUM MỚI DÙNG CHO TRÍ NHỚ ?
Magnésium là một oligoélément thiết yếu cho sự vận hành chức năng của các tế bào thần kinh và của các dây thần kinh.
Cách nay vài năm, hai nhà nghiên cứu Gusong Liu và Inna Slutski, đã cho thấy, trên các canh cấy tế bào và in vivo nơi động vật, rằng magnésium kích thích sự tạo thành của các nối kết (các khớp thần kinh : synapses) giữa các neurone, nghĩa là tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale), nhất là trong thùy hải mã (hippocampe), là nơi tọa vị các vùng của trí nhớ. Nhưng sự đi qua trong não của magnésium, nguồn gốc thức ăn, hay được cung cấp bởi các chất bổ sung (compléments), là rất thấp, thậm chí là số không. Mới đây ở đại học Tsinghua (Bắc Kính), Gusong Liu đã hiệu chính một dạng magnésium, thréonate (MgT), được não bộ bắt giữ và có thể làm gia tăng 10% nồng độ của nó. Một công trình nghiên cứu đã được tiến hành trên chuột, trong đó một nhóm đã nhận MgT và một nhóm khác nhận magnésium bình thường. Những kết quả với MgT đã rất là ngoạn mục, với sự cải thiện trí nhớ trước mắt và lâu dài, ở nơi các con chuột già cũng như nơi những con chuột nhỏ nhất. Lúc giải phẫu tử thi, các con chuột được cho MgT có nhiều nối kết thần kinh hơn. Các thử nghiệm đang được dự kiến trên người. (PARIS MATCH 8/4-14/4/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr165.htm (TSYH số 165, bài số 3)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (19/4/2010)
TAGS: Bệnh hủi, Ăn chay tốt cho xương, Chocolate tốt cho tim, mạch máu, Thoái hoá điểm vàng, Sinh thiếu tháng, Tránh ăn mặn, Ung thư phổi, Di thể (Gene) ung thư phổi, Baladeur, Crème anti-age, Magnesium, Nguyen Van Thinh

>>>back>>>

Tin Mới Y Học