![]() |
![]() |
|
| |
||
| |
||
| |
Thời
Sự Y Học số 169 RHUMATOLOGIE. Bệnh thống phong (goutte) hầu như đã bị lãng quên, được liệt vào hàng các bệnh lịch sử. Nhưng không hẳn đã biến mất, bệnh thống phong đang trở lại mạnh mẽ. Ngày xưa được mệnh danh là căn bệnh của những người giàu, thậm chí của các bậc vua chúa, bởi vì xuất hiện nơi những “người thích vui chơi ” (bons vivants), bệnh thấp khớp viêm (rhumatisme inflammatoire) này hiện đang gia tăng trong hầu hết các nước trên thế giới. Và sau nhiều thập niên hững hờ, sự nghiên cứu giờ đây trở nên rất tích cực. 9 gène nhạy cảm vừa được nhận diện và, lần đầu tiên từ hơn 40 năm qua, một loại thuốc mới xuất hiện trên thị trường. Những loại thuốc khác đang được nghiên cứu. Trong các nước công nghiệp, bệnh thống phong là bệnh thấp khớp viêm thường xảy ra hơn cả : 1% đến 2% dân số bị liên quan bởi bệnh này, hơn 600.000 người ở Pháp. Những người đàn ông, nhất là lão niên, là những nạn nhân chính, trong khi các phụ nữ tương đối được bảo vệ bởi các oestrogène. Tất cả các công trình nghiên cứu dịch tễ đều ăn khớp nhau, tần số của bệnh thống phong đang tăng vọt lên. Ở Anh Quốc, tỷ lệ này chuyển từ 0,3% lên 1% giữa năm 1970 và 1990. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ này tăng gấp đôi (từ 2,1 lên 4,1%) trong vòng chưa được 10 năm nơi những người đàn ông trên 75 tuổi. Tân Tây Lan giữ kỷ lục thế giới, với gần 15% người bị bệnh thống phong trong số những người Maoris nam giới, hai lần cao hơn so với cuối những năm 1950. Một “ dịch bệnh ” do sự khiếm khuyết di truyền trong dân tộc thiểu số này, liên kết với sự tây phương hóa của chế độ ăn uống, GS Thomas Bardin, thầy thuốc chuyên khoa bệnh thấp khớp của bệnh viện Lariboisière (Paris) đã đảm bảo như vậy. “Bệnh thống phong trở lại với sự mỹ hóa của chế độ ăn uống ”, ông đã nhấn mạnh như thế. Người ta đã chứng minh rằng một sự tiêu thụ mạnh thịt, tôm ốc ngao sò (fruits de mer), soda giàu fructose, bia và những rượu nặng khác, những thức ăn giàu purine (một thành phần của ADN và của ARN), làm dễ sự tăng cao của acide urique trong máu. Điều này nhiên hậu dẫn đến các lắng đọng (dépôts) của các tinh thể urate de sodium trong các khớp. Khi các lắng đọng này bị vỡ và phóng thích các tinh thể của chúng vào trong xoang khớp, đó là cơn thống phong (crise de goutte). “Cảm giác một chiếc đinh được ấn vào trong chỗ khớp”, “xé rách da thịt bởi các gọng kìm mạnh”, sự đau đớn, thường ở ngón cái, với viêm và đôi khi sốt, là một trong những điều tệ hại nhất trong y khoa. Cơn đau thoái bộ một cách ngẫu nhiên trong vài ngày. Tuy vậy, bệnh thống phong không hẳn là một bệnh hiền tính. GS Bardin nhấn mạnh những mối liên hệ nguy hiểm của nó với chứng béo phì, bệnh cao huyết áp và một cách tổng quát, những bệnh lý tim mạch. Ngay cả sau khi đã điều chỉnh những yếu tố nguy cơ khác, tần số mắc bệnh nhồi máu được nhân lên từ hai đến ba lần nơi những người bị bệnh thống phong. Mặt khác, căn bệnh hoàn toàn có thể chữa lành này, nếu bị lơ là, có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng của khớp và thận. Mục tiêu của điều trị là làm hạ nồng độ acide urique trong máu xuống dưới mức 60mg/l, để làm hòa tan các lắng đọng urate. Chế độ ăn uống cho phép hạ được 10mg/l. THUYẾT PHỤC NHƯNG NGƯỜI BỊ BỆNH THÔNG PHONG. Được thương mãi hóa từ những năm 1960, allopurinol (Zyloric) là điều trị chuẩn. Thuốc này có hiệu quả, nhưng trong những trường hợp hiếm hoi, có thể gây nên những phản ứng dị ứng da đôi khi rất nghiêm trọng. Ngoài ra, liều lượng phải được thích ứng trong trường hợp suy thận. Một loại thuốc, có cách tác dụng tương tự nhưng không có những điều bất tiện này, vừa được thương mãi hóa : febuxostat (Adenuric, được bào chế bởi các hãng dược phẩm Menarini và Ipsen). “ Trong các thử nghiệm, thuốc này tỏ ra mạnh hơn allopurinol trong việc làm giảm nồng độ acide urique trong máu (uricémie), GS Gérard Chalès, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp (CHU de Rennes) mới đây đã xác nhận như vậy. Tuy nhiên, thuốc mới này đã gây nên một sự gia tăng, không đáng kể, những biến cố tim mạch. Một nghiên cứu bổ sung được dự kiến để làm sáng tỏ vấn đề này”. Vấn đề còn lại là phải thuyết phục những người bị bệnh thống phong điều trị. Sau một năm, cứ hai người thì còn một người tiếp tục uống thuốc. “Bệnh nhân phải được thông tin rằng sự tuân thủ điều trị (observance thérapeutique), một phần lớn, là điều kiện của sự thành công, và người bệnh phải biết rằng điều trị duy trì (traitement de fond) phải được kéo dài, thường là suốt đời, để tránh sự tái xuất hiện của các cơn đau đớn”, BS Xavier Puéchal, thầy thuốc chuyên khoa khớp của Hôpital du Mans đã nhấn mạnh như thế. (LE FIGARO 15/3/2010) Đọc thêm : http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr109.htm (TSYH số 109, bài số 2 và 3). 2/ OXYTOCINE VÀ BỆNH TỰ KỶ. Sự hít oxytocine, được gọi là kích thích tố của tình yêu và của sự quyến luyến (hormone de l’amour et de l’attachement), sẽ làm dễ mối tương tác xã hội (interaction sociale) của những bệnh nhân bị bệnh tự kỷ (autisme). Angela Sirigu và các đồng nghiệp của Centre de neuroscience cognitive de Lyon đã cấp oxytocine bằng đường mũi cho các bệnh nhân bị hội chứng Asperger, bệnh tự kỷ liên kết với những năng lực trí tuệ quan trọng. Sau đó họ quan sát hành vi của những bệnh nhân này. Trước hết, trong một trò chơi bóng (jeu de balle), những bệnh nhân này thắng được tiền mỗi lần một câu thủ chuyển cho họ một quả bóng. Rồi trong những trắc nghiệm quan sát các tấm hình, cho thấy những gương mặt biểu lộ những cảm xúc khác nhau. Dưới tác dụng của oxytocine, các bệnh nhân có khuynh hướng đưa bóng cho cầu thủ hợp tác với họ nhất và, khi được đặt đối mặt với các tấm hình, họ tập trung vào các đôi mắt chứ không phải vào cái miệng. Hai thái độ này không thường thấy đối với những người bị hội chứng Asperger. Thế thì, vào khi nào cho một điều trị với thuốc xịt oxytocine? Chưa, Angela Sirigu đã báo trước như vậy. “Phải trắc nghiệm liều lượng và tần số lần cho thuốc, bởi vì hiệu quả chỉ kéo dài 90 phút. Thế mà, hội chứng Asperger là một dạng rất đặc hiệu của bệnh tự kỷ. Công trình nghiên cứu của chúng tôi là một điểm khởi đầu.” (SCIENCE ET VIE 4/2010) Đọc thêm : http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr97.htm (TSYH số 97, bài số 7). http://yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr94.htm (TSYH số 94, bài số 9). 3/ NGHIỆN RƯỢU : NHỮNG HƯỚNG MỚI Mặc dầu những thuốc mới đang được thử nghiệm, nhưng ta không thể không biết tầm quan trọng của hỗ trợ tâm lý (soutien psychologique). DROGUE. Đối với 2 triệu người Pháp tiêu thụ quá nhiều rượu và đã bị phụ thuộc (dépendant), vấn đề không những là cai rượu (sevrage) mà còn là ngăn ngừa các tái phát. Các con số chứng tỏ điều đó : sau khi cai rượu, một năm sau, khoảng 1/3 đã không đụng trở lại một giọt rượu nào. 1/3 khác trải qua những giai đoạn kiêng khem và những thời kỳ tái phát. Sau cùng, 1/3 còn lại đã không bao giờ thành công cai được rượu. Đối với GS Patrice Couzigou (thay thuốc chuyên khoa gan-dạ dày-ruột, CHU de Bordeaux), điều đó không có gì là ngạc nhiên: “Vấn đề không phải là có một cuộc sống không rượu (une vie sans alcool) mà là tìm ra một cân bằng mới trong cuộc sống, không có chất cồn. Thế mà chỉ với việc kê đơn thuốc mà thôi điều đó không có thể và sẽ không bao giờ có thể thực hiện được. Phải thay thế sự phụ thuộc rượu (dépendance à l’alcool), có hại, bằng những phụ thuộc khác dương tính hơn (thể thao, giải trí, âm nhạc...) tùy theo những quan tâm chính của mỗi người. Điều đó đòi hỏi một “prise en soins” sur mesure và đòi hỏi thời gian”. Về thuốc men, nó chỉ có thể mang lại một sự hỗ trợ bổ sung. Hiện nay nhiều thử nghiệm điều trị đang được tiến hành ở Pháp và Hoa Kỳ, với một thứ thuốc đầy hứa hẹn, baclofène (Loresal), được cho là làm giảm sự thèm rượu, nhưng không phải vì thế là một giải pháp nhiệm màu. Một trong những vấn đề được đặt ra bởi sự lạm dụng rượu (abus d’alcool), đó là sự lạm dụng này bị che khuất quá thường và quá lâu. Khi người ta lo lắng thì thường đã quá muộn. Người ta thường có thói quen gợi ra một nguy cơ đối với sức khỏe khi uống trung bình trên 3 ly chuẩn mỗi ngày (như các ly rượu được phục vụ ở các bar) đối với những người đàn ông hay 2 ly mỗi ngày đối với các phụ nữ (hoặc 21 ly mỗi tuần đối với những người đàn ông và 14 ly đối với các phụ nữ) nhưng chúng ta không bình đẳng trước sự phụ thuộc (dépendance), vài người mẫn cảm hơn nhiều so với những người khác. “Ngoài ra, việc không thể kiêng uống trong vài trường hợp, ví dụ mỗi lần ra đi vui chơi giữa các bạn bè, thì có lẽ đã là một dấu hiệu phụ thuộc tâm thần (dépendance psychique), mặc dầu khoảng 2 triệu người Pháp có liên hệ nghĩ là minh không bị như vậy, lấy cớ là họ có thể nhiều ngày không uống khi họ không ra khỏi nhà”, BS Kiritzé-Topor, thầy thuốc chuyên khoa về rượu đã nhấn mạnh như thế. Sau cùng, không cần phải là “nô lệ” của rượu mới khỏi trả giá cho các hậu quả : khoảng hai trường hợp tử vong sớm thì có một được liên kết với rượu, xảy ra noi những người tiêu thụ rượu nhưng không phụ thuộc. Như thế, để làm tốt cần phải xét lại công tác phát hiện những người có nguy cơ. “Hiện nay, trên 5 triệu người Pháp lạm dụng rượu, rất ít được theo dõi bởi một thầy thuốc vì vấn đề này”, BS Kiritzé-Topor đã xác nhận như vậy. Việc cai (sevrage) của những người phụ thuộc rượu (alcoolo-dépendant) tự nó không đặt vấn đề. Sự cai rượu này dựa trên một phác đồ (protocole) đã chứng tỏ có hiệu quả : 1,5 đến 2 lít nước uống mỗi ngày (không cồn, không đường và không caféine). Các benzodiazépine trong 48 giờ với liều mạnh, rồi giảm dần, không vượt quá 10 ngày. Vitamine B1 và acide folique. Và trong 3 đến 10 ngày, vụ việc được giải quết : ít mệt hơn, ít các thay đổi tính khí đột ngột hơn, nhưng ăn ngon hơn … ít nhất, cho đến các ly rượu sắp đến. Bởi vì các tái phát là rất (quá) thường xảy ra và đó mới đúng là vấn đề. Để cố giải quyết điều này, khoảng 100.000 bệnh nhân nhận một trong hai điều trị hiện nay giúp duy trì sự cai rượu : naltrexone (Nalorex) và acamprosate (Campral), nhằm làm cho sự duy trì kiêng khem được dễ dàng hơn. Những loại thuốc này nhằm ức chế sự ham muốn liên kết với việc uống rượu. Tỷ lệ thấp các bệnh nhân được điều trị bởi những thuốc này nói lên sự ưa thích hơn của các chuyên gia đối với tâm lý liệu pháp (psychothérapie), đặc biệt là những liệu pháp hành vi và nhận thức (thérapie comportementale et cognitive). Và không phải sự nghiên cứu hiện nay về baclofène (không được phép đưa ra thị trường trong chỉ định này) làm thay đổi cục diện. Chất giãn cơ (myorelaxant) này, bình thường được chỉ định để điều trị các co thắt (contracture spastique), lại làm bệnh nhân ít nhiều hờ hững với rượu khi thuốc được cho với liều rất cao (2 đến 4 lần liều lượng bình thường). Một công trình nghiên cứu của Ý, được công bố trên The Lancet năm 2007, đã cho thấy rằng có nhiều người kiêng rượu trong số những bệnh nhân được điều trị với baclofène hơn so với những người được cho placebo. Nhưng trong thời gian bao lâu ? Với những tác dụng phụ trước mắt và lâu dài nào? Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành sẽ mang lại câu trả lời. (LE FIGARO 22/3/2010) 4/ MỘT GÁO NƯỚC LẠNH ĐỐI VỚI VITAMINE B9 (ACID FOLIQUE). Acide folique vẫn rất quý để chống lại các dị dạng của thai nhi. Nhưng sự sử dụng mạnh đặt vấn đề. Vitamine B9 rất quý trong vài trường hợp, nhưng quá nhiều vitamine này có thể làm gia tăng nguy cơ bị ung thư. Vitamine B9 hay acide folique có tên phát xuất từ những nguồn đầu tiên được nhận diện : các lá (folium) thực vật xanh. Epinard, chou vert, rau diếp (laitue)... giàu acide folique, cũng như cam quýt (agrumes) và các ngũ cốc hoàn toàn (céréales complètes). Mặc dầu chúng có những chức năng khác nhau, nhưng có một chức năng nổi trội hơn hết : khả năng của acide folique làm giảm nguy cơ bị vài dị dạng bẩm sinh. Miễn là vitamine B9 được tiêu thụ với lượng đầy đủ và, nhất là đúng lúc, nghĩa là vào ngay lúc thụ thai.Thật vậy, chính vào 3 tuần lễ đầu sau khi thụ thai (nghĩa là trước khi biết là có thai), vitamine B9 mới có tác dụng bảo vệ. Nói vắn tắt, để việc cấp bổ sung vitamine B9 hữu ích, không nên chờ đợi xem để biết có thai hay không, như thế đã là quá muộn... Để lấy đi chướng ngại vật này, các người Mỹ đã không bủn xỉn : họ đã quyết định, cách nay hơn 10 năm, làm phong phú với B9 các chất bột (farine) và những sản phẩm ngũ cốc khác, để cho mọi phụ nữ ở lứa tuổi có con hưởng được một bảo đảm tốt hơn acide folique. Và từ hơn 10 năm nay, các phân tích cho thấy rằng chiến lược tỏ ra có hiệu quả để làm giảm nguy cơ bị các dị tật bẩm sinh. Hơn thế nữa, nhiều công trình nghiên cứu gợi ý rằng acide folique cũng có thể đóng một vai trò có lợi trong sự ngăn ngừa nhiều vấn đề, như các bệnh tim mạch, thậm chí trong sự lão hóa não bộ. KHÔNG LỢI ÍCH CHO TẤT CẢ ? Tiếc thay chỉ đến nay, không có gì như thế đã được kiểm tra. Về việc sử dụng các bổ sung B9, mặc dầu việc sử dụng này được biện minh trong trường hợp thai nghén, nhưng việc này không nhất thiết có lợi cho tất cả. Dầu so đó là điều được rút ra từ các công trình nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở hai nghiên cứu bao gồm 6.800 người bị bệnh tim. Một bộ phận của những người tham dự sử dụng đều đặn các bổ sung acide folique, có hay không có B12 và B6, được cho là tăng cường vài tác dụng có lợi của vitamine B9. Sau 39 tháng điều trị (hay kiểm chứng đối những người không được điều trị bằng vitamines) và rồi còn một thời kỳ theo dõi 38 tháng, đó là lúc tổng kết. Ít đáng phấn khởi, vì lẽ công trình nghiên cứu, được công bố mới đây trong tạp chí rất đứng đắn Journal of the American Association, sự sử dụng vitamine B9, nhất là lúc được phối hợp với vitamine B12, được liên kết với một sự gia tăng đáng kể số các trường hợp ung thư và cac nguy cơ bị ung thư (+21% đối với B9+B12), cũng như sự gia tăng tỷ lệ tử vong do ung thư (+38% đối với B9 phối hợp với B12). Công trình nghiên cứu này mặc dầu không cho phép rút ra những kết luận lâu dài, nhưng nếu những kết quả này được xác nhận bởi những công trình nghiên cứu khác được tiến hành với quy mô lớn hơn và trong những nhóm người khác, điều này có thể khiến phải xem lại việc cho bổ sung. (LE SOIR 1/12/2009) 5/ BÂY GIỜ TA BIẾT TẠI SAO BỆNH DENGUE (SỐT XUẤT HUYẾT) TRỞ NẶNG HƠN KHI BỊ NHIỄM LẦN THỨ HAI. Màn bí mật trùm lên từ khoảng 40 năm nay. Vài người bị nhiễm trùng một lần đầu bởi virus của bệnh sốt xuất huyết (virus de la dengue) sẽ bị bệnh nặng hơn khi bị nhiễm lần thứ hai. Lời giải thích vừa được tìm ra bởi các nhà sinh học của Viện La Jolla (Californie). Có 4 giống gốc của virus của bệnh dengue.Trong những năm 1970, người ta đưa giả thuyết cho rằng một người bị nhiễm bởi một giống gốc (souche) của virus của bệnh sốt xuất huyết, chế tạo đồng thời các kháng thể bảo vệ mình chống lại giống gốc này, nhưng đồng thời cũng tạo nên những kháng thể chống lại 3 giống gốc kia. Thế mà, thay vì bảo vệ, 3 giống gốc này làm bộc phát sự nhiễm trùng. Giả thuyết ngày nay được kiểm chứng. Các nhà sinh học của Californie đã tiêm các con chuột với một trong những giống gốc của virus của bệnh sốt xuất huyết, rồi tiêm cho chúng các kháng thể nhận diện một trong 3 giống gốc kia. Vài con chuột đã bị chết vào ngày thứ tư sau khi tiêm. Nơi những con chuột này, những kháng thể đúng là làm dễ sự bội nhiễm những tế bào đặc hiệu của gan, gây nên những xuất huyết trầm trọng. Nếu những kết quả này được xác nhận, thông tin sẽ là quan trọng cho sự chế tạo một vaccin sau cùng có hiệu quả. Vaccin sẽ phải chứa nhiều họ kháng thể, nếu không sẽ có nguy cơ nguy hiểm hơn là có lợi. (SCIENCE ET VIE 4/2010) 6/ LÀM SAO TÌM LẠI GIẤC NGỦ KHI TA MẤT NGỦ ? Cứ 5 người Pháp thì có một than phiền về rối loạn này. Tuy nhiên hiện hữu những chiến lược mới. MEDECINE. Trung bình chúng ta trải qua 1/3 cuộc đời của chúng ta để ngủ. Tuy vậy, một vài người ngủ ít hơn: “20% những người trưởng thành kêu mất ngủ theo ý nghĩa y học, nghĩa là từ một tháng hay hơn, họ khó thiu thiu ngủ hay vẫn thiu thiu ít nhất 3 đêm mỗi tuần, và rằng điều đó có ảnh hưởng đến ngày hôm sau. Trong số họ, một nửa phải nhờ đến các thuốc ngủ”, GS Damien Léger, chuyên gia về giấc ngủ, bệnh viện Hotel-Dieu, đã chỉ rõ như vậy. Sự tiêu thụ của những thứ thuốc này đã giảm nhưng chúng vẫn còn quá thường được sử dụng như là giải pháp duy nhất cho vấn để mất ngủ, mặc dầu không phải là không có những tác dụng phụ : phụ thuộc, mất ngủ trở lại khi ngừng thuốc, các rối loạn trí nhớ... Trong số những nguyên nhân chính của sự mất ngủ mãn tính có chứng trầm cảm (dépression) và lo âu (anxiété). “ Từ lâu người ta đã xem sự mất ngủ, hiện diện trong 80% các trường hợp trầm cảm, như là một dấu hiệu của chứng bệnh này. Thế mà chứng mất ngủ thường đi trước và có thể là một yếu tố nguy cơ của chứng trầm cảm ”, BS Carmen Schroder, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần của CHU de Strasbourg đã giải thích như vậy. “Ngược lại, những người mất ngủ được điều trị có một nguy cơ bị bệnh trầm cảm 30 đên 40% thấp hơn so với những người khác ”, GS Léger đã chỉ rõ như vậy. Việc điều trị chứng trầm cảm hay lo âu cải thiện và đôi khi hủy bỏ chứng mất ngủ. Nếu không, hiện nay các thầy thuốc đặt ưu tiên các liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapies cognitives et comportementales). Sự hạn chế thời gian ngủ là rất hiệu quả nơi những người bị bệnh trầm cảm, bởi vì nó làm gia tăng áp lực phải ngủ. Các người bị trầm cảm cũng phải tập lại, chỉ ngủ khi nào họ thật sự buồn ngủ và đứng dậy ngay khi thức dậy. Nếu cần, ta huấn luyện cho họ sự thư giãn (relaxation), bằng cách liên kết một trị liệu nhận thức (traitement cognitif) để chống lại chứng lo âu mất ngủ (angoisse de l’insommnie)”, BS Schroder đã chỉ rõ như vậy. Vệ sinh của giấc ngủ cũng là quan trọng: “Hãy tôn trọng biểu thời gian đều đặn của giấc ngủ; ngủ trên bộ đồ giường tốt, trong một gian phòng không có ordinateur lẫn máy truyền hình, chỉ dành để nghỉ ngơi, trong bóng đêm và trong im lặng, có nhiệt độ vừa phải; tránh những giấc ngủ trưa, nhất và vào cuối ngày, và buổi chiều tránh caféine, rượu, nicotine, thể thao và những bữa ăn tối thịnh soạn hay giàu chất gluxit (bột, đường..); uống vào buổi sáng những thuốc làm rối loạn giấc ngủ như các bêtabloquant; hãy tiếp xúc tốt với ảnh sáng của ban ngày; hãy có một hoạt động vật lý đều đặn.” Chứng trầm cảm được thể hiện bởi những lần thức giấc sớm (réveils précoces), trong khi các rối loạn lo âu (troubles anxieux) được biểu lộ bởi những khó khăn đi vào giấc ngủ (difficulté d’endormissement). Những sai biệt này, do một sự tiết quá sớm hay quá muộn của mélatonine, kích thích tố gây ngủ của não bộ, có thể được điều trị bằng những loại đèn đặc biệt. “Khi mélatonine được tiết ra quá sớm, người ta cho các bệnh nhân tiếp xúc với một ánh sáng mạnh vào khoảng 21 giờ để làm chậm dần lại sự tiết này. Ngược lại, một liệu pháp ánh sáng vào ban mai (luminothérapie matinale matinale), vào khoảng 7 hay 8 giờ, sẽ cho phép làm cho sự tiết mélatonine xảy ra sớm hơn, BS Isabelle Arnulf, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh của CHU Pitié-Salpêtrière, Paris đã giải thích như vậy. Kỹ thuật này rất được sử dụng trong những chứng mất ngủ mãn tính do giai đoạn giấc ngủ xảy ra sớm hay chậm, do một sự chênh lệch của đồng hồ nội tại. Liệu pháp điều nhịp (chronothérapie) dành cho những tình trạng chênh lệch quan trọng, càng ngày càng thường thấy nơi các thiếu niên, buổi tối cắm đầu vào máy vi tính và không ngủ trước 3 giờ sáng. Một nguyên nhân thực thể (đau đớn, tuyến tiền liệt, bệnh đái đường, hen phế quản, tuyến giáp trạng), mà trước hết phải nhận diện và điều trị, là nguyên nhân mất ngủ trong 30 đến 40% các trường hợp mất ngủ mãn tính. Thường xảy ra nơi người béo phì, các đợt ngừng thở (apnées) làm phân đoạn giấc ngủ và phải được điều trị, nhất là vì những biến chứng tim-mạch. Hội chứng cẳng chân không yên (syndrome des jambes sans repos), chủ yếu nơi phụ nữ, được thể hiện bởi những bồn chồn không chịu nổi, chỉ xảy ra vào buổi chiều hay ban đêm và chỉ dịu đi khi bước. Từ nay hội chứng này được điều trị tốt hơn với sắt cho bổ sung và những liều lượng nhỏ dopamine. Ngoài những nguyên nhân này, tiếng ồn, ánh sáng và những gò bó xã hội là những nguồn lớn của các rối loạn giấc ngủ. “6 triệu người hoặc một người ăn lương trên bốn, có một công việc trực gác, chống lại các nhịp sinh lý”, GS Léger đã nhắc lại như vậy. (LE FIGARO 22/2/2010) 7/ KHUẨN CHÍ RUỘT (FLORE INTESTINALE) ĐƯỢC GIẢI MÃ. Mỗi người trong chúng ta trung bình mang 170 loài vi khuẩn, mà chức năng phần lớn không được biết đến. Chương trình Trung Hoa-Châu Âu Metahit vừa tiến hành séquençage đầu tiên lên toàn bộ các gène của nghìn loài vi khuẩn sống trong ruột người. Thiết yếu cho sự sinh tồn của chúng ta, trong cơ thể của chúng ta những ký chủ vô hình này cân nặng 1,5 kg. Chúng có một di sản 3,3 triệu gène, trong khi con người chỉ có 23.000. Khó khăn chính : những vi khuẩn này sống trong một môi trường là ruột và không thể tái tạo được trong phòng thí nghiệm. Do đó các nhà nghiên cứu đã phải trích lấy chúng trong phân của 124 người châu Âu, đại biểu cho các dân vùng Bắc Âu và Địa Trung Hải. Nhờ các kỹ thuật séquençage nhanh, đã chỉ cần 2 năm để mô tả métagénome này. Kết quả : một trong chúng ta trung bình mang 170 loài, một vi khuẩn có một di sản 3.400 gène.“Nhưng chỉ 1/3 trong số các loài này là được biết mà thôi, như Escherichia Coli, Dusko Ehrlich, giám đốc nghiên cứu ở Inra de Jouy-en-Josas (Yvelines) và là người điều hành chương trình Metahit, đã giải thích như vậy. Vậy còn nhiều công tác mô tả.” Mặt khác, gần như toàn bộ 19 .000 chức năng của métagénome này đã được xác nhận, trong đó 6000 chung cho 124 cá thể : sự tổng hợp của các vitamine và của các acide aminé, sự hủy hoại của các đường phức hợp… Nhưng nhiều trong các chức năng này vẫn không được biết. Người ta đã tưởng tượng ra những hậu quả của công trình này (đã được đăng trong trang đầu của Nature ngày 4/3) trên nông nghiệp và y khoa. Thật vậy giai đoạn thứ hai sẽ nhằm xác định các mất cân bằng và các thiếu hụt của khuẩn chí vi khuẩn (flore bactérienne) của những bệnh nhân bị bệnh béo phì, bệnh loét, các bệnh viêm ruột hay cả những bệnh tim mạch. Như vậy ta có thể sẽ điều trị bằng cách cấp cho các vi khuẩn những thức ăn mà chúng cần. Chẳng phải ngạc nhiên khi công ty nông thực phẩm Danone đã tài trợ chương trình Metahit. (SCIENCE ET AVENIR 4/2010) 8/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT CÓ NGUY CƠ CAO : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA MỘT PHÁC ĐỒ MỚI GS Karim Fizazi, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của Viện Gustave-Roussy de Villejuif, bình luận bước tiến này ở hội nghị của Asco-GU, ở San Francisco. Hỏi : Hiện nay mức độ mắc bệnh của ung thư tuyến tiền liệt là gì ? GS Karim Fizazi : Ở Pháp, người ta liệt kê khoảng 60.000 đến 70.000 trường hợp mới mỗi năm, trong đó 10.000 tử vong. Đó là ung thư thường xảy ra nhất (trước ung thư vú, gây bệnh hàng năm 40.000 phụ nữ). Hỏi : Những giai đoạn khác nhau của ung thư tuyến tiền liệt là gì ? GS Karim Fizazi : Vào lúc chẩn đoán, 90% các ung thư tuyến tiền liệt này khu trú tại chỗ và 10% đã di căn. Các khối u khu trú được xếp loại thành các giai đoạn khác nhau. 1. Các ung thư có tiên lượng tốt. 2. Các ung thư có tiên lượng trung gian. 3. Các ung thư có nguy cơ cao. Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ trầm trọng là sự lan rộng của khối u (khối u đã vượt qua bao nang của tuyến tiền liệt hay không), mức độ hung dữ của các tế bào ung thư, được đánh giá dưới kính hiển vi bằng điểm số Gleason, 8 hoặc hơn, và nồng độ PSA (trên 20ng/ml), một chất chỉ dấu đặc hiệu (một protéine trong máu, tăng cao trong trường hợp tuyến bất thường). Một khối u được xếp là có nguy cơ cao nếu có ít nhất một trong 3 tiêu chuẩn này. Hỏi : Có những người tố bẩm với ung thư tiền liệt tuyến hay không ? GS Karim Fizazi : Có : những người đàn ông có những thành viên trong gia đình đã bị ung thư tiền liệt tuyến và những người da đen. Hỏi : Đối với những ung thư khu trú được xếp loại nguy cơ cao, đến nay, điều trị quy ước là gì ? GS Karim Fizazi : Điều trị chuẩn bao gồm phóng xạ liệu pháp ngoài (radiothérapie externe), phối hợp với kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie). Trong vài trường hợp, nếu có ít các yếu tố của nguy cơ cao, có thể dự kiến ngoại khoa. Hỏi : Hiện nay, với điều trị cổ điển này, các kết quả như thế nào ? GS Karim Fizazi : 30 đến 50% các bệnh nhân được điều trị bị tái phát. Thông thường nhất, một sự tăng cao nồng độ PSA có thể đi trước sự xuất hiện của các di căn. Hỏi : Do vậy mà có sự nghiên cứu của một phương pháp điều trị mới... Phép điều trị của công trình nghiên cứu được trình bày ở hội nghị mới đây của Asco-GU là gì ? GS Karim Fizazi : Đó là một công trình nghiên cứu của Pháp, được chỉ đạo bởi các chuyên gia về ung thư của nhóm Getug (Groupe d’étude des tumeurs uro-génitales), đã tuyển mộ 413 bệnh nhân từ năm 2002 đến 2006. Thử nghiệm này đã đánh giá một hóa học liệu pháp phối hợp hai loại thuốc : docétaxel (bằng tiêm truyền tĩnh mạch) và estramustine (bằng đường miệng), một điều trị đã được sử dụng và có hiệu quả nơi những bệnh nhân bị di căn. Đó là một công trình nghiên cứu so sánh, trong đó tất cả những người đàn ông đã nhận điều trị chuẩn và một nửa trong số những người này đã nhận, trong vòng 3 tháng, hóa học liệu pháp này. Hỏi : Những kết quả dương tính của công trình nghiên cứu này là gì ? GS Karim Fizazi : Hiện nay, kết quả chính nhắm vào sự đáp ứng chống ung thư : sự đáp ứng này đã được tăng gấp đôi nơi những bệnh nhân đã nhận phác đồ điều trị mới. Hỏi : Hóa học liệu pháp này có gây nên những tác dụng phụ hay không ? GS Karim Fizazi : Thường không có rụng tóc cũng như những vấn đề tiêu hóa quan trọng. Sự hạ các bạch cầu, gây nên một biến chứng nhiễm trùng, và những vấn để mạch máu đã là hiếm hoi. Người ta đã quan sát thấy rằng những bệnh nhân chịu liệu pháp hóa học này ít bị phừng mặt hơn, điều xảy ra với kích thích tố liệu pháp chuẩn. Hỏi : Những công trình nghiên cứu khác hiện nay có được tiến hành với phác đồ điều trị mới này hay không ? GS Karim Fizazi : Sau công trình nghiên cứu của chúng tôi (đã là công trình đầu tiên trắc nghiệm điều trị đổi mới này), khoảng một chục công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành trên thế giới. Hỏi : Sự phối hợp của một hóa học liệu pháp với điều trị chuẩn có sẽ cải thiện tỷ lệ sinh tồn hay không ? GS Karim Fizazi : Các bệnh nhân trong công trình nghiên cứu của chúng tôi luôn luôn được quan sát và tiếp tục được theo dõi. Còn cần khoảng một năm nữa mới có thể phân tích một cách đáng tin cậy số các trường hợp tái phát. Những kết quả đầu tiên đã là rất là đáng phấn khởi. (PARIS MATCH 1/4 -7/4/2010) 9) NHỮNG CON CHÍ LÀ NGUỒN GỐC CỦA CÁC CON RẬN. Các con rận (poux de vêtements), chịu trách nhiệm các trận dịch rất giết người (sốt các chiến hào, typhus, borréliose récurrente) khởi đầu là những con chí (poux de tête). Thật vậy, về phương diện di truyền chúng giống hệt nhau. Chính đó là điều mà một nhóm nghiên cứu Pháp-Mỹ vừa mới phát hiện (Đại học Địa trung hải, CNRS, Marseille và các đại học của Floride và Illinois, Hoa Kỳ). Các con chí (Pediculus humanus capitis), nuôi sống nhờ da đầu và đẻ trứng trong các sợi tóc, và các con rận (Pediculus humanus humanus), dinh dưỡng trên phần còn lại của cơ thể và sống trong những nếp gấp của các quần áo bẩn, mãi đến nay được xem như những loài khác nhau. Bằng phân tích di truyền các chuỗi rất biến thiên của bộ gène (génome) của các con chí rận, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng không có thể phân biệt được con chí với con rận trên bình diện di truyền (ADN ty lạp thể và nhân). Wenjun Li và các đồng nghiệp đưa ra giả thuyết cho rằng những khác nhau về sinh lý và kiểu hình (phenotype) giữa hai loại chí rận được kiểm soát bởi một số biến dị rất giới hạn. Trong những điều kiện vệ sinh kém, con chí có thể lan tràn nhanh chóng và vài trong số những con chí này có thể định cư trên quần áo và sinh ra một loại rận có khả năng làm nảy sinh một dịch bệnh nhiễm khuẩn. Nếu giả thuyết này được kiểm chứng, nó sẽ cho phép giải thích tại sao khi những điều kiện vệ sinh suy thoái nhanh chóng, điều đó trùng hợp với những đợt dịch bệnh rận. “Hơn nữa, nếu các con chí là những nơi tàng trữ cho các con rận và nếu mọi sự suy thoái của những điều kiện y tế và xã hội của các dân cư gây nên sự tạo thành những quần thể rận mới, khi đó các quần thể chí quả là một mối đe dọa tiềm tàng đối với con người, lớn hơn điều mà tưởng hiện nay”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy. Những kết quả này cho thấy rằng vậy các con chí ở trong một tình trạng thường trực gây dịch tại chỗ và rằng cần phải trừ khử chúng. Đáng tiếc thay, người ta biết rằng trong các nước phát triễn, các con chí càng ngày càng trở nên đề kháng với các thuốc diệt côn trùng.. (LE JOURNAL DU MEDECIN 2/4/2010) 10/ CÓ HAY KHÔNG CÓ AURA, CHỨNG THIÊN ĐẦU THỐNG LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ NHỒI MÁU CƠ TIM. Cho mãi đến nay, sự gia tăng của nguy cơ nhồi máu cơ tim chỉ được liên kết với các cơn đau đầu thống với tiền triệu (aura) (các ánh chói sáng). Thế mà, theo Richard Lipton và các cộng sự viên của ông ở đại học Nữu Ước, những người bị bệnh thiên đầu thống mãn tính không có aura cũng thấy nguy cơ này bị gia tăng so với những người không có bệnh thiên đầu thống mãn tính. Một kết quả có được nhờ hỏi khoảng 1.000 người, trong đó một nửa bị bệnh thiên đầu thống mãn tính, có hay không có aura. 4,1% những người bị thiên đầu thống đã có một nhồi máu cơ tim so với 1,9% những người lành mạnh. Và nguy cơ được tăng gấp ba trong trường hợp thiên đầu thống với tiền triệu (aura). Những bệnh nhân bị thiên đầu thống cũng có nhiều nguy cơ hơn phát triển một sự tăng cao huyết áp, bệnh đái đường, và một sự tăng cao nồng độ cholestérol. Khoảng 10 triệu người Pháp bị bệnh thiên đầu thống. (SCIENCE ET VIE 4/2010) Đọc thêm : http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr96.htm (TSYH số 96, bài số 9) BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/4/2010) TAGS: Thấp khớp viêm (Rhumatisme inflammatoire), thống phong (crise de goutte), Oxytoxine, Bệnh tự kỷ (Autisme), Nghiện rượu, Cai rượu (Sevrage), Sốt xuất huyết (Dengue), Mất ngủ (Insomnie), Khuẩn chí ruột (Flore intestinale), Ung thư tuyến tiền liệt (Prostate cancer), Con rận (poux de v êtements), Thiên đầu thống (Migraine headaches), Nguyen van Thinh >>>back>>> |
|
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
![]() |
||