Thời Sự Y Học số 167
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ RƯỢU VANG CÓ ĐƯỢC CHỨNG MINH LÀ TỐT CHO SỨC KHỎE HAY KHÔNG ? 
Ngày nay chúng ta thường chấp nhận rằng một sự tiêu thụ có mức độ nhưng đều đặn rượu vang đỏ (vin rouge) (một hay hai ly mỗi ngày) bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch. Đó là “nghịch lý Pháp” (paradoxe français) nổi tiếng từ 40 năm nay. Các cổ nhân đã nói rằng “ruợu ngon làm vui trái tim của con người” (Le bon vin réjouit le cœur de l’homme).
Gần chúng ta hơn, Louis Pasteur đã không do dự khi xác nhận rằng “rượu vang là nước uống lành mạnh nhất và vệ sinh nhất mà ta có được. Tuy vậy những tác dụng có hại của rượu đúng là được xác lập. Rượu vang phải chăng là ngoại lệ trong số các nước uống được pha chế cồn (boissons alcoolisées) hay phải chăng chính cách uống “theo kiểu Pháp”, có chừng mực nhưng đều đặn mà ta phải quy kết ?
Nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học với những kết quả nói chung giống nhau ủng hộ cho giả thuyết về một tác dụng bảo vệ của rượu vang đỏ, (mà những nước uống có chất cồn khác không có được), được thể hiện chủ yếu bởi một sự giảm huyết áp và các nguy cơ bị tai biến mạch máu não và tim. Nhưng những thử nghiệm lâm sàng dài hạn, cho phép rút ra những kết luận về các hiệu quả của một sự tiêu thụ có mức độ rượu vang, trên thực tế không thể thực hiện được. Thật vậy, xét vì tiến triển rất chậm của các bệnh tim mạch, để cho những kết quả về mặt thống kê có giá trị, trong nhiều năm buộc cần phải có một chế độ kiểm soát nghiêm ngặt nơi một số rất lớn những người tình nguyện, được chia thành những người chứng và những người được điều trị,
NHỮNG THÍ NGHIỆM KHÔNG HOÀN TOÀN.
Ngoài cồn (alcool), rượu vang chứa các chất polyphénols, trong số đó có những hợp chất tạo nên sắc màu rượu vang đỏ, dường như có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại những tác dụng có hại của “stress oxy hóa”, một hiện tượng oxy hóa (oxydation) các hợp chất trong tế bào, gia tăng với tuổi tác và can thiệp trong các bệnh mãn tính có liên quan với sự lão hóa.
Polyphénols của rượu vang, hay sự liên kết của chúng với những nồng độ nhỏ cồn, có thể tham dự vào những tác dụng bảo vệ của rượu vang lên hệ tim mạch. Tuy nhiên những kết luận này được rút ra từ những thí nghiệm trên các tế bào hay động vật, hay những thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn. Nhiều nghi vấn khoa học tồn tại về sự hấp thụ bằng đường tiêu hóa và số phận của các chất polyphénols này trong cơ thể. Mặt khác, các polyphénols này được tìm thấy trong các loại thức ăn khác: chúng hiện diện với những lượng quan trọng trong vài nước vắt nho đỏ (raisin rouge) nhưng cũng có mặt trong các trái cây đỏ, trong vài loại rau xanh, trong trà và cacao, với cùng những tác dụng bảo vệ.
Nhưng người ta cũng chứng thực rằng tỷ lệ tử vong tim mạch thấp nhất được quan sát chủ yếu trong miền nam nước Pháp và trong những nước khác của vùng Địa trung hải ; thế mà, ở đó rượu vang cạnh tranh với những thành phần khác của món ăn cổ truyền của những vùng này, các trái cây và các rau xanh, không quên dầu olive.
Xét vì nhiều điều không chắc chắn về những tác dụng có thể có lợi của rượu vang (vin), ngược với những tác dụng có hại được xác lập của cồn (alcool), do đó khuyến nghị tiêu thụ đều đặn rượu vang, ngay cả với lượng vừa phải, vì một lý do không phải là sự lạc thú thưởng thức một cách khôn ngoan, là điều không thận trọng. (LE FIGARO 8/3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr106.htm (TSYH số 106 bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm (TSYH số 105, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr103.htm (TSYH số 103, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr97.htm (TSYH số 97 bài số 6 và 9)
2/ UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG : VẪN CÒN QUÁ NHIỀU NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỬ VONG CÓ THỂ TRÁNH ĐƯỢC.
Những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới xuất hiện, nhưng chẩn đoán sớm vẫn là cơ bản.
ONCOLOGIE. Ở Pháp ung thư đại-trực tràng (cancer colorectal) chịu trách nhiệm mỗi năm 17.000 trường hợp tử vong trên 37.000 trường hợp mới được phát hiện. Đó là ung thư đứng thứ ba về tần số mắc bệnh, đứng thứ hai đối với tỷ lệ tử vong. Hơn những loại ung thư khác, ung thư này, gây bệnh cho 3 người đàn ông đối với hai phụ nữ, được liên kết với sự lão hóa. “Cứ 100.000 người đàn ông, người ta đếm được 10 trường hợp ung thư đại-trực tràng mới mỗi năm nơi những người trên 50 tuổi, so với gần 400 trường hợp nơi những người 70 đến 80 tuổi”, GS Philippe Rougier, trưởng khoa dạ dày-ruột và ung thư tiêu hóa của bệnh viện Ambroise Paré, Boulogne, đã chỉ rõ như vậy.
Mặc dầu các điều trị đã tiến bộ nhiều, nhưng hiệu quả của chúng tùy thuộc phần lớn vào chẩn đoán sớm những khối u này. Thế mà, vẫn còn 40% các chẩn đoán ung thư đại-trực tràng được thực hiện trong khi đã có các di căn. Do đó có chiến dịch hiện nay của Inca và của bộ y tế nhằm khuyến nghị những người từ 50 đến 74 tuổi cần đi thăm khám phát hiện bệnh.
Nguồn gốc của ung đại-trực tràng là một polype được biến hóa một cách âm thầm thành ung thư ác tính. 1/3 những người trên 65 tuổi có những polype hiền tính, hay các u tuyến (adénome), trên niêm mạc của đại tràng hay trực tràng. Cứ 10 u tuyến thì có một sẽ đạt đường kính 1cm, và trong số các u tuyến này thì một trên bốn sẽ thoái hóa thành ung thư. Thật là may mắn, ung thư đại-trực tràng tiến triển một cách chậm chạp, trung bình trong khoảng thời gian 10 năm. Nhưng không có một triệu chứng nào cho phép nhận diện nó trong suốt thời kỳ này. Chỉ có xét nghiệm phát hiện (test de dépistage) mới có thể phát hiện một ít hémoglobine trong phân, dấu hiệu khả dĩ của một polype đang chảy máu. Chính vì vậy, việc thăm khám phát hiện được lập lại mỗi hai năm nơi những người từ 50 đến 74 tuổi là rất quan trọng.
VỆ SINH ĐỜI SỐNG
Thuốc lá, rượu, tăng thể trọng, nhàn rỗi không hoạt động và chế độ ăn uống tăng calo nhiều thịt làm dễ sự xuất hiện của ung thư này, có tần số sụt giảm trong những nước có chế độ ăn uống đặt ưu tiên vào các sợi. Chỉ 3% các trường hợp là do một bệnh di truyền, bệnh polip gia đình (polypose familiale) hay hội chứng Lynch, mà việc chẩn đoán là quan trọng để theo dõi các người thân thích. Trong 17% các trường hợp, một ung thư đại-trực tràng nơi một người bà con cấp độ 1 (parent au premier degré) biểu hiện một tố bẩm gia đình (prédisposition familiale) nhân nguy cơ lên hai lần. Nhưng 80% các trường hợp là những ung thư riêng rẻ. Quá 50 tuổi, những biến đổi của sự chuyển vận ruột, các cơn đau bụng, sự hiện diện máu trong phân khiến bệnh nhân phải đi thăm khám. Khi sự phát hiện dương tính (3% các trường hợp) và nơi những bệnh nhân có nguy cơ, một thủ thuật soi đại tràng cho phép xác định một polype khả nghi, khi đó được lấy đi và phân tích cơ thể bệnh lý.
Ngoại khoa vẫn là điều trị ưu tiên của ung thư đại-trực tràng. Một mình phẫu thuật cũng đủ để điều trị 70% đến 80% các ung thư nông (cancers superficiels) hay các ung thư được giới hạn nơi ruột. Nhưng những ung thư này chỉ chiếm 1/3 các trường hợp. Khi các hạch kế cận bị xâm nhập hay khi ung thư đã tạo nên các di căn trong những cơ quan khác, điều trị khi đó cũng phải cần đến hóa học liệu pháp (chimiothérapie). “ Khi ung thư vẫn được giới hạn ở ruột già và các hạch lân cận, hóa học liệu pháp làm giảm 50% nguy cơ tái phát sau mổ, và 30% đến 40% nguy cơ tử vong, GS Rougier đã giải thích như vậy. Khi có các di căn, hóa học liệu pháp trở nên điều trị chính. Liệu pháp này làm thoái biến các khối u trong 50% các trường hợp. Nơi 1% các bệnh nhân, sự thoái biến này đủ để cho phép phẫu thuật viên lấy đi các di căn ở gan và ở phổi, biến đổi một căn bệnh nan y (maladie incurable) thành bệnh có khả năng có thể chữa lành (maladie potentiellement curable).”
Bên cạnh liệu pháp hóa học cổ điển (chimiothérapie clasique), phối hợp 5-fluorouracile, irinotécan (Campto) và oxaliplatine (Eloxatin), mới đây đã xuất hiện những liệu pháp nhắm đích (thérapies ciblées), ức chế một cách đặc hiệu một giai đoạn của quá trình ung thư. “ Bevacizumab (Avastin) được hướng chống lại VEGF, một yếu tố tăng trưởng cần thiết cho sự tạo mạch (vascularisation), do đó cho sự phát triển của khối u. Cetuximab (Erbitux) và panitunumab (Vectibix) ức chế thụ thể đối với EGF, giai đoạn đầu tiên của một đường hướng về sự tăng sinh không kiểm soát được của các tế bào, GS Pierre Laurent-Puig, phụ trách đơn vị ung thư sinh học của bệnh viện Georges-Pompidou (Paris) đã giải thích như vậy. Nhưng hai loại thuốc sau không có hiệu quả nếu khối u có một biến dị của gène Kras, hoặc 1/3 các trường hợp. Vậy sự biến dị này được tìm kiếm một cách hệ thống. Y khoa cá thể hóa (médecine personnalisée) này sẽ được phát triển, được căn cứ đồng thời trên sự nghiên cứu các biến đổi di truyền của khối u, cho phép tiên đoán sự đáp ứng của nó, và về di truyền dược liệu (pharmacogénétique), cho phép thích ứng điều trị và độc tính của nó với các tham số của bệnh nhân.” Sự ức chế những đường tín hiệu tế bào (voies de signalisation cellulaire) khác (đặc biệt là MAP kinases, PI3kinases và IGF1) dường như cũng đáng quan tâm.
Ngày nay, khi bệnh được chẩn đoán vào giai đoạn đầu tiên hết, tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm đạt 94% : những con số tự chúng nói lên sự tán trợ cho công tác điều tra phát hiện. (LE FIGARO 15/3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr97.htm (TSYH số 97, bài số 8)
3/ NHÚC NHÍCH CỬ ĐỘNG LÀ TỐT CHO TIM, NHÚC NHÍCH CỬ ĐỘNG HƠN NỮA LẠI CÒN TỐT HƠN.
Tim và các mạch máu là những cơ quan đầu tiên được hưởng sự gia tăng của hoạt động vật lý. Lợi ích đã xuất hiện sau 2,5 giờ tập thể dục mỗi tuần. Những điều đạt được lại còn rõ rệt hơn nếu hoạt động vật lý tích cực hơn.
Đó là điều được tiết lộ bởi công trình nghiên cứu của Andrea Chromitek và các cộng sự viên (Havard Medical School, Boston, MA), được công bố trong Heartwire, và trình bày nhân hội nghị Dịch tễ học Bệnh Tim mạch và Phòng ngừa và Dinh dưỡng, Hoạt động vật lý, và Chuyển hóa 2210, ở San Francisco. Phân tích được căn cứ trên các dữ kiện liên quan đến 43.647 người đã tham gia vào Health Professionals Follow-Up Study. Các nhà nghiên cứu hướng sự chú ý vào hoạt động vật lý của những người tham dự, ngay lúc khởi đầu công trình nghiên cứu vào năm 1986, và sau đó mỗi 2 năm, cho đến năm 2004. Các dữ kiện đã xét đến số giờ hoạt động vật lý được thực hiện mỗi tuần và tương đương chuyển hóa (équivalent métabolique), là một thước đo sự tiêu thụ năng lượng (tiêu thụ năng lượng lúc gắng sức/tiêu thụ năng lượng lúc nghỉ ngơi). Đối với cùng một tương đương năng lượng, các nhà nghiên cứu đã có thể chứng thực một nguy cơ tim mạch thấp hơn nơi những người đã thực hiện những hoạt động vật lý mạnh hơn (chạy, đi xe đạp) so với nhóm chỉ thực hiện những hoạt động nhẹ (đi dạo). Ngoài ra, nguy cơ dường như giảm lúc số giờ tập luyện mỗi tuần gia tăng. Nguy cơ thấp nhất được quan sát nơi những người đàn ông đã thực hiện mỗi tuần 6 đến 7,9 giờ cố gắng vật lý cường độ mạnh.
Nguy cơ hơi cao hơn (nhưng không phải một cách đáng kể) nơi những người thực hiện những hoạt động mạnh trong hơn 8 giờ mỗi tuần.Vậy sự lo ngại những cố gắng mạnh mẽ có hại cho tim là không có căn cứ. (LE JOURNAL DU MEDECIN 12/3/2010)
4/ NHỮNG NGƯỜI CHA VÀ NGƯỜI MẸ CỦA VIÊN THUỐC NGỪA THAI.
Ludwig Haberlandt (1885-1932), nhà sinh lý học người Áo. Ông là người đầu tiên chứng minh rằng có thể làm cho một phụ nữ tạm thời vô sinh bằng cách cấp một hormone nữ. Vào năm 1919, ông ghép (implanter) các buồng trứng của thỏ cái thụ thai lên các thỏ cái không mang thai, làm cho chúng vô sinh trong nhiều tháng. Vào năm 1930, ông hiệu chính chế phẩm kích thích tố (préparation hormonale) infecunfin nhưng không nhận được trợ cấp để trắc nghiệm chế phẩm này. Ông tự tử.
Carl Djerassi (1923), nhà hóa học Áo-Mỹ. Vào năm 1951, Djerassi phát triển hormone tổng hợp nữ noréthindrone (hay noréthistérone), cộng tác với nhà hóa học Mễ tây cơ Luis E. Miramontes và nhà hóa học Hongrie George Rosenkraz. Tuy nhiên ông không phải là người đầu tiên thực hiện những nghiên cứu này. Thật vậy, chính nhà hóa học người Mỹ Russell Marker, năm 1940, phân lập progestérone từ củ từ (igname) Mễ tây cơ, một loại cây có củ ăn được. Noréthindrone là hormone tổng hợp nữ đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn sau khi chuyển vận qua hệ dạ dày-ruột. Djerassi không nhận thức rằng khám phá của ông cũng được sử dụng như thuốc ngừa thai uống (contraceptif oral).
Gregory Pincus (1903-1967), nhà sinh học Hoa Kỳ. Vào năm 1952, Pincus và thầy thuốc phụ khoa John Rock bắt đầu nghiên cứu về progestérone. Nhà sinh học Hóa-Mỹ Min Chueh Chang đã khám phá ra rằng chế phẩm của Djerassi có thể ngăn trở sự rụng trứng và như thế có thể dùng làm thuốc ngừa thai. Pincus thực hiện những trắc nghiệm trên các phụ nữ ở Porto Rico vào năm 1956. Mẫu nghiệm của ông được pha trộn với một hormone nữ khác, oestrogène, nhằm sản xuất một viên thuốc phối hợp (pilule combinée). Ông được sự ủng hộ của BS Edris Rice-Wray. Ông này kết luận rằng Enovid mang lai một sự bảo vệ đáng tin cậy 1100% nhưng có quá nhiều tác dụng phụ. Piccus và Rock tiếp tục thí nghiệm và Enovid được thương mãi hóa từ năm 1957 như là thuốc chống lại những hành kinh đau đớn. Vào năm 1960, chính phủ Hoa Kỳ bật đèn xanh để thương mãi hóa Enovid như là thuốc ức chế sự rụng trứng. Vào ngày 23 tháng 7 năm 1960, viên thuốc ngừa thai đầu tiên được chính thức tung ra thị trường.
Ferdinand Peeters (1918-1998), thầy thuốc phụ khoa Bỉ. Vào năm 1959, cùng với các cộng sự viên của ông Marcel Van Roy và H.Oeyen, ông bắt đầu những trắc nghiệm lâm sàng trên SH 513, một chế phẩm có chất cơ bản là acétate de noréthistérone, được phát triển bởi hãng bào chế Đức Schering. Năm 1960, ông đi Berlin để trình bày những kết quả của công trình nghiên cứu của ông. Viên thuốc của Peeters cũng hiệu quả như viên thuốc của Pincus nhưng có liều lượng thấp hơn và không có các tác dụng phụ. Sau một loạt trắc nghiệm, hãng Schering thương mãi hóa viên thuốc của Peeters, đặt tên là Anovlar, bắt đầu từ 1/2/1961. Viên thuốc mà hàng triệu phụ nữ sẽ sử dụng là viên thuốc của một người Bỉ.
Margaret Sanger (1879-1966), người theo chủ nghĩa nữ quyền Hoa Kỳ.
Katharine McCormick (1875-1967), phụ nữ đòi quyền bầu cử Hoa Kỳ và là nhà từ thiện.
Kinh nghiệm có được lúc sống với những phụ nữ sống trong cảnh bần cùng trong khu phố Lower East Side ở Nữu Ước làm Margaret Sanger ý thức được sự cần thiết phải tìm cho được một phương tiện ngừa thai có hiệu quả. Vào năm 1951, bà gặp Gregory Pincus nhân một bữa ăn tối. Nhờ ông ta bà có được một số tiền nơi Planned Parenthood Federation of American. Vào năm 1953, bà nhận được sự ủng hộ của Katharine McCormick, người phụ nữ giàu có và là nhà từ thiện, đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ. Bà đã cấp 2 triệu dollars mà Pincus và Rock cần đến để phát triển Enovid. (VIF EXPRESS 9/3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr154.htm (TSYH số 154, bài số 1)
5/ MỘT PHƯƠNG THUỐC TRUNG HOA CHỐNG LẠI NHỮNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM.
Được trắc nghiệm cách nay khoảng một chục năm ở Châu Á trên các nạn nhân bị tai biến mạch máu não, một hợp chất của dược điển Trung Hoa làm quan tâm giới nghiên cứu y học Phương Tây để điều trị những bệnh nhân đã bị bệnh này. Cocktail, có tên gọi Danqi Piantan Jiaonang, được bào chế từ 9 hợp chất có nguồn gốc thực vật và 5 có nguồn gốc động vật. Mặc dầu những kết quả đầy hứa hẹn ở Trung Hoa và ở Đông Nam Á, cocktail này phải được đánh giá trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn ở tầm cỡ quốc tế. Nhất là cơ chế phân tử của thuốc này vẫn cần phải được làm sáng tỏ. Đó là điều vừa được trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm dược lý của đại học Nice. Các chú chuột đã nhận dược phẩm này ba giờ sau một tai biến mạch máu não. 30 giờ sau, nhồi máu não đã thu giảm, và các con chuột đã phục hồi tốt hơn các chức năng não bộ của chúng. Trong não bộ của các con chuột này, các đường vòng tế bào thần kinh (circuits neuronaux) mới đã phát triển, hợp chất Trung Hoa hoạt hóa sự tổng hợp của một yếu tố tăng trưởng được biết là kích thích tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale). “ Đó là lần đầu tiên mà một hợp chất chống tai biến mạch máu não tác động lên sự phục hồi chức năng ”, Catherine Heurteaux, thuộc đại học Nice đã tuyên bố như vậy. Các công trình nghiên cứu dược lý được tiếp tục, và các thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành. (SCIENCE ET VIE 4/2010)
6/ CÁC BALADEUR LÀ NHỮNG MỐI NGUY THẬT SỰ CỦA THÍNH GIÁC.
Hôm qua, Ngày của thính giác (Journée de l’audition) điểm tình hình về những hành vi có nguy cơ của các thanh thiếu niên. Hơn 40% những người trẻ tuổi này đã bị chứng ù tai (acouphène).
SURDITE. Trong khi việc thăm khám các thầy thuốc nhãn khoa thường là một bộ phận của những thăm khám thường niên không tránh được đối với một đại đa số người Pháp, thì không phải vậy đối với việc thăm khám các thầy thuốc Tai Mũi Họng. “Nếu võng mạc có 120 triệu tế bào thì tai trong (oreille interne) chỉ đếm được 16.000 tế bào (13.000 khuếch đại các âm thanh và 3000 cho phép nghe chúng)”, BS Gérald Fain, chuyên gia Tai Mũi Họng ở Paris đã nêu lên như vậy. Thế mà, việc kiểm tra đều đặn thính giác của mình cho phép có những điểm quy chiếu (points de répère).
Hôm qua, nhân Ngày của Thính giác (Journée de l’audition), hiệp hội tổ chức sự tập hợp này đã công bỏ một cuộc điều tra về chủ đề. Các kết quả rất bổ ích. Sự vấn chẩn (interrogatoire) đã được thực hiện trên 1.001 những người trẻ từ 12 đến 25 tuổi. Kết quả là những thanh thiếu niên này sử dụng baladeur trung bình một giờ rưởi mỗi ngày với một thời gian nghe liên tục một giờ. Những người sử dụng nhiều nhất là các thiếu niên từ 15 đến 17 tuổi với thời gian nghe trung bình 2 giờ 5 phút. Mặt khác, 40% các thanh thiếu niên được hỏi tuyên bố đã cảm thấy các tiếng ù tai (acouphène) sau khi nghe baladeur và lúc ra khỏi discothèque.
Khi các thanh thiếu niên đi thăm khám, thường là quá muộn. Đó là trường hợp đối với chàng thanh niên 19 tuổi đã cảm thấy một tiếng rít trong tai sau một đêm dạ vũ ở discothèque. Anh ta chỉ đi khám một thầy thuốc 4 ngày sau và được chẩn đoán là bị chứng điếc vĩnh viễn (surdité définitive). Hiện nay, người thầy thuốc bất lực khi đứng trước sự phá hủy của những tế bào của tai trong này. Ngoài điều trị bằng corticoides thuốc uống dùng trong khoảng 8 ngày, các hướng điều trị là khả mong manh. Do đó cần phải tự bảo vệ. Một trong những giải pháp, dĩ nhiên, là mang các vật bảo vệ trong các lỗ tai của mình. “Nghỉ ngơi âm thanh (repos sonore) cũng là một cách tự gìn giữ, GS Frachet, trưởng khoa Tai Mũi Họng thuộc bệnh viện Avicenne, Bobigny, đã phát biểu như vậy. Khi ta thỉnh thoảng đi ra ngoài lúc ở trong một hộp đêm, không sử dụng một baladeur một cách liên tục hay tránh xa các baffles lúc nghe hòa nhạc : xa 2 m ta chia nguy cơ cho 4.”
Trái với các định kiến, tất cả chúng ta không bình đẳng trước tiếng ồn. “Nếu bạn ở trong một discothèque, và cường độ của tiếng nhạc quá mạnh, đừng an lòng khi người ở cạnh bạn nói với bạn rằng anh ta chịu được tốt cường độ đó, GS Bruno Frachet đã giải thích như vậy. Cũng vậy, vài người sẽ trở thành điếc ngay phát súng đầu tiên trong khi những kẻ khác lại sẽ chịu được nó rất tốt.”
Công trình nghiên cứu, được tiến hành nhân Ngày Thính Giác (Journée de l’audition) cũng nêu ra sự kiện là 75% trong số các thiếu niên 12-14 tuổi không biết decibels biểu hiện cái gì. Thế mà một iPod được mua ở Châu Âu được giới hạn ở mức 100dB, điều này tương đương với mức thính giác của một hộp đêm hay với một TGV phóng với vận tốc 300 km/giờ! Để so sánh, 75 dB tương ứng với một máy hút đang hoạt động và 15 dB tương ứng với một marteau-piqueur. “Nghe baladeur với âm độ 100 dB, thật là quá lớn ! Pascal Petitpas, giám đốc của laboratoire d’essai của Fnac đã kêu lên như vậy, nguy cơ đối với tai đã được xác nhận ở âm lượng 80 dB.” Một ý kiến được chia xẻ bởi BS Fain : “Nghe iPod với âm lượng 100 dB, đó là tự tử vậy ! ”
Dẫu sao đi nữa, một vài người không thỏa mãn với âm lượng này, và tháo cương máy để gia tăng cường độ âm thanh. Đó là chưa kể ở Hoa Kỳ, những máy này được bán với một giới hạn 115 dB, hoặc một âm lượng cao hơn rõ rệt so với điều được thực hiện ở Châu Âu. Mặc cho “trận dịch rối loạn đích giác” (épidémie de troubles auditifs), theo lời diễn đạt của BS Fain, các thông điệp với mục đích phòng ngừa khó có thể đến với quần chúng, huống hồ là các thanh thiếu niên. “Những lời khuyên thận trọng được đưa ra bởi những người đứng tuổi, lại không biết rằng âm nhạc phải được nghe với cường độ mạnh, GS Frachet đã phàn nàn như vậy. Thông điệp của họ được cảm nhận như là thiến hoạn (castrateur) trong khi giới trẻ không đánh giá tốt biên giới giữa lạc thú và sự nguy hiểm.” Cũng như đối với các bao thuốc lá, tại sao không viết trên các baladeur, “tiếng ồn làm điếc tai”, BS Fain đã yêu cầu như vậy?
(LE FIGARO 12/3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr157.htm (TSYH số 157, bài số 3)
7/ ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG....CA HÁT.
Cứ mỗi 4 phút, một tai biến mạch máu não xảy ra ở Pháp. Khi cơn đột qụy gây thương tổn bán cầu đại não trái, nơi định vị của trung tâm nói (centre de la parole), thì các nạn nhân bị mất đi khả năng diễn đạt (capacité d’élocution). Tuy vậy, vài bệnh nhân trong số những người bị á khẩu (aphasique : mất ngôn ngữ) này lại có thể ca hát. Vì vậy, một đường lối điều trị, liệu pháp âm điệu (MTP: thérapie d’intonation mélodique), đã được thực hiện bởi Gottfried Schlaug, thầy thuốc thần kinh thuộc đại học Havard, Boston. Trong hội nghị ở San Diego vào tháng hai vừa rồi, ông đã trình bày những trường hợp phục hồi lời... hát (parole chantée)! Các bệnh nhân, không có khả năng thốt ra những lời có thể hiểu được, đã thành công, sau những buổi luyện tập, hát “ happy birthday ” hay thể hiện một nhu cầu, như “ tôi khát ”. Theo nhà nghiên cứu, những tác dụng của liệu pháp này được tăng cường khi các bệnh nhân nhấn các nhịp bằng đôi bàn tay, một động tác được cho là kích thích phần bên phải của não bộ.
Thật vậy, các hiệu quả của liệu pháp âm điệu đã được nghiên cứu một cách song hành nhờ chụp hình ảnh não bộ (IRM chức năng). Gottfried Schlang và nhóm nghiên cứu của ông như thế đã cho thấy rằng âm nhạc kích thích các vùng của não bộ khác với những vùng phụ trách lời nói. Sự tuyền đạt bằng miệng (communication orale) dường như dùng hai đường thần kinh khác nhau : nếu để phát biểu một bài nói, chính bán cầu đại não bên trái bị kích thích ; nếu để diễn đạt bằng lời hát, chính bán cầu đại não bên phải, và đôi khi cả hai. Liệu pháp âm điệu (MTP) do đó dựa vào tính dẻo (plasticité) của não bộ và sự tạo thành những nối kết tế bào thần kinh (connexions neuronales) mới trong bán cầu não lành mạnh. Một thử nghiệm lâm sàng với 30 bệnh nhân á khẩu (aphasiques) đang được tiến hành. (SCIENCE ET AVENIR 4/2010)
8/ UNG THƯ : HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ LÀM GIẢM CÁC NGUY CƠ.
BS Thierry Bouillet, thầy thuốc chuyên khoa ung thư (CHU Avicenne de Bobigny), bình luận những công trình nghiên cứu chứng minh tác dụng có lợi của hoạt động vật lý đối với vài loại ung thư.
Hỏi : Đối với những ung thư nào, hoạt động vật lý được liên kết với một sự giảm nguy cơ ?
BS Thierry Bouillet : Theo những kết quả đồng quy của nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, có một sự giảm thật sự tỷ lệ của các ung thư của vú, đại tràng, nội mạc tử cung (cancer de l’endomètre) và tuyến tiền liệt với một hoạt động vật lý đều đặn và có cường độ trung bình.
Hỏi : Những hoạt động vật lý nào được khuyên thực hiện và theo nhịp độ nào ?
BS Thierry Bouillet : Những hoạt động gây nên một sự tiêu hao năng lượng đủ và được thực hiện ít nhất 3 giờ mỗi tuần. Những môn thể thao như tennis, bơi lội, karaté, golf…những bài tập gymnastique và ngay cả bước nhanh.
Hỏi : Làm sao giải thích cơ chế của sự bảo vệ này ?
BS Thierry Bouillet : Bắt đầu từ một mức tiêu hao năng lượng đủ, ta biến đổi các sự tiết của oestrogène, insuline và những hormone khác phát xuất từ các mô mỡ. Tất cả các hormone này tạo nên các yếu tố tăng trưởng, nghĩa là những chất kích thích của các tế bào ung thư đã hiện diện trong cơ thể. Thế mà, ngay cả lúc lành mạnh, tất cả chúng ta sản xuất các tế bào ung thư, nhưng chúng bị phá hủy một cách hệ thống bởi hệ miễn dịch (ngoại trừ trong vài trường hợp chúng có thể tăng sinh, đặc biệt dưới tác dụng của một sự tăng hoạt tính hormone có hại).
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào chứng minh những tác dụng phòng ngừa của hoạt động vật lý ?
BS Thierry Bouillet : Để đánh giá ảnh hưởng của hoạt động vật lý lên tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú, một công trình nghiên cứu rộng lớn của Pháp (E3N), đã thực hiện trong 12 năm, trên 90.509 phụ nữ (tuổi từ 30 đến 65), tất cả đều khỏe mạnh lúc ban đầu. Nơi những phụ nữ thực hiện tối thiểu 5 giờ hoạt động vật lý mỗi tuần, người ta ghi nhận một sự thu giảm 25% nguy cơ ! 5 công trình nghiên cứu quốc tế khác đã xác nhận những dữ kiện này. Về ung thư đại tràng, tôi có thể kể cho ông các kết quả của 2 công trình phân tích méta (tập hợp các quan sát trên nhiều trăm ngàn người). Nơi những người đã thực hiện đều đặn một hoạt động vật lý, người ta đã ghi nhận một sự thu giảm 25% ung thư đại tràng (các kết luận được công bố trong “ British Journal of Cancer ” và “ Colorectal Disease ”)
Hỏi : Mức độ đáng tin cậy của những kết quả này là gì ?
BS Thierry Bouillet : Mức độ đáng tin cậy là không chối cải được bởi vì tất cả các công trình nghiên cứu này được tiến hành với một phương pháp học rất nghiêm túc trên một số lượng người rất lớn...và trong những thời kỳ dài. Các kết luận luôn luôn giống nhau : 26 đến 30% ung thư ít hơn với một hoạt động vật lý đều đặn !
Hỏi : Những người có nguy cơ nào được khuyên phải tự tiêu hao năng lượng ?
BS Thierry Bouillet: Những người bị bệnh đái đường, những người tăng cao thế trọng, những người mà một thành phần trong gia đình (hay nhiều) đã bị một ung thư. Đối với những người sau cùng này, theo một cuộc điều tra Hoa Lan được thực hiện trên 725 bệnh nhân (được công bố vào nam 2010 trong “Breast Cancer Research Treatment”), sự giảm nguy cơ là ...40% !
Hỏi : Hoạt động vật lý cũng góp phần làm giảm các nguy cơ tái phát hay không ?
BS Thierry Bouillet : Sự giảm này đã được chứng minh đối với những truồng hợp ung thư vú và đại tràng. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế tìm thấy lại những kết quả y hệt, kết luận một sự thu giảm 50% nguy cơ tái phát nơi những người đã duy trì sự thực hiện một hoạt động vật lý đều đặn và đủ mạnh sau khi điều trị những ung thư này.
Hỏi : Những điều chứng thực này có khiến thiết lập một điều trị đặc hiệu hay không ?
BS Thierry Bouillet : Ở Pháp, 9 cơ sở hoạt động vật lý được thích nghi trong ung thư học mới đây đã được thiết lập trong nhiều bệnh viện khác nhau (trong đó có Viện Gustave-Roussy ở Villejuif và bệnh viện Avicenne ở Bobigny). Từ ít lâu nay, một văn bằng đại học (thể thao và ung thư) đã được thành lập ở đại học Paris-XIII ở Bobigny (dưới sự chỉ đạo của GS Laurent Zelek) để đào tạo các huấn luyện viên y khoa thể thao (éducateurs médicaux sportifs). (PARIS MATCH 18/3-24/3/2010)
9/ PHẢI CHĂNG ĐIỀU TRỊ CÁC THOÁT VỊ ĐĨA PHẢI LUÔN LUÔN LÀ NGOẠI KHOA ?
Người ta ước tính rằng 60% đến 80% dân chúng đau lưng ít nhất một lần trong cuộc đời của họ ? Trong phần lớn các trường hợp, cơn đau được định vị ở phần thấp của lưng, tương ứng với các đốt sống thắt lưng. Những rối loạn này đặc biệt thường xảy ra trong thăm khám khoa khớp nhưng cũng trong các phòng mạch của các thầy thuốc đa khoa. Phí tổn xã hội-kinh tế của chúng là quan trọng bởi vì những chứng đau lưng này chịu trách nhiệm 20% các trường hợp nghỉ việc và 7% các tai nạn lao động, với những hậu quả thường khó khăn.
Việc điều trị chứng đau lưng đòi hỏi thời gian để nghe những lời than vãn của bệnh nhân, đòi hỏi kinh nghiệm và một sự thăm khám chăm chú. Nguồn gốc của một đau đốt sống càng khó xác lập khi không có sự tương quan giữa cường độ của đau đón và hình ảnh X quang.
Đĩa liên đốt sống (disque intervertébral) là một loại sụn đặc biệt có vai trò giảm chấn (amortisseur) với một phần ngoại biên cứng hơn, annulus, và một phần trung ương ngấm nước (hydraté), nucleus. Các ứng lực (contraintes) và sự lặp đi lặp lại những gắng sức sẽ gây nên những vết rạn nứt với sự di chuyển của nucleus : đó là thoát vị đĩa (hernie discale).
Bắt đầu từ 40 tuổi, chứng thoát vị đĩa được liên kết với những thương tổn hư khớp (lésions d’arthrose) ít nhiều lan rộng và được đặc trưng bởi một sự phá hủy của sụn với các cấu tạo xương, các chòi xương (ostéophytes).Thoát vị đĩa không thấy được trên phim chụp X quang đơn giản. Những phim chụp này đặc biệt hữu ích để không bỏ sót một khối u, một ung thư, một viêm khớp đốt sống gây cứng liền khớp (spondylarthrite ankylosante) hay một nhiễm trùng đĩa-đốt sống (infection disco-vertébrale). Chụp hình ảnh hiện đại, scanner hay IRM, cho phép chứng tỏ sự hiện hữu cơ thể học của thoát vị đĩa, nhưng không cho phép một kết luận mặc nhiên nào về những hậu quả lâm sàng của nó.
CÁC CẦU TRÚC THẦN KINH.
Tùy theo định vị của thoát vị, đau lưng có thể lan tỏa ra sau đùi và cẳng chân, đó là chứng thần kinh tọa (sciatique), hay ra phía trước đùi, đó là chứng đau dây thần kinh đùi (névralgie du nerf crural). Phải biết rằng trong hơn 80% các trường hợp, đau đớn biến mất một cách ngẫu nhiên trong một thời hạn có thể lên đến 6 tháng.
Những trường hợp buộc phải can thiệp ngoại khoa tức thời là hiếm. Có thể đó là một cơn đau cực kỳ dữ dội, đề kháng với các thuốc giảm đau quan trọng, với liệt cơ năng hay nhất là với các biến chứng thần kinh tiến triển. Các biến chứng này liên kết ở những mức độ khác nhau với những rối loạn cơ vòng và những bại liệt của chi dưới, tùy thuộc vào vị trí của thoát vị đĩa. Các rối loạn tiến triển làm phải dự kiến ngay một can thiệp ngoại khoa. Những bại liệt ban đầu có thể được điều trị nội khoa trừ khi ta chứng thực một sự trầm trọng dần dần.
Dầu cho kỹ thuật được sử dụng là gì, can thiệp ngoại khoa có mục đích làm mất sự đè ép (décompression) của các cấu trúc thần kinh trong ống sống (canal rachidien). Nơi người trẻ, vài phẫu thuật viên đề nghị bổ sung sự nạo đĩa (curetage discal) bằng sự thiết đặt một đĩa liên đốt sống giả (prothèse discale intervertébrale). Lợi ích của kỹ thuật này vẫn còn là đối tượng của các cuộc tranh luận.
Ngoại khoa của thoát vị đĩa không phải là thuốc chữa bá bệnh. Giải phẫu có thể đưa đến biến chứng viêm đĩa đốt sống (spondyldiscite) do nhiễm trùng bệnh viện (infection nosocomiale). Sau phẫu thuật, chứng bại liệt không thoái lui nhanh hơn so với hồi phục chức năng (rééducation) đơn độc. Các cơn đau vẫn có thể tồn tại không thay đổi, thậm chí nặng thêm. Để giải thích, trước đây người ta nêu ra các hiện tượng sẹo hóa sợi (fibrose cicatricielle). Ngày nay người ta nghĩ đó là do các thương tổn của các rễ thần kinh, thường là vĩnh viễn, do huyết khối mạch máu (thrombose vasculaire). Đối với các thầy thuốc ngoại khoa, chính sách chờ đợi quá mức và thái độ ngẫm nghĩ của vài thầy thuốc khoa thấp khớp làm dễ những thương tổn của các rễ thần kinh này. (LE FIGARO 8/2/2010)
10/ MỘT LIỆU PHÁP GEN CẢI THIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH PARKINSON.
NEUROLOGIE. Bằng cách tiêm 3 loại gène vào trong não bộ của các động vật linh trưởng mô hình (primates modèles) của bệnh Parkinson, các nhà nghiên cứu người Pháp đã thành công điều trị chúng, mà không gây nên những tác dụng phụ gây phế tật.
Run rẩy, cứng các chi, giảm sự đi lại : những triệu chứng của bệnh Parkinson rất là gây phế tật. Bệnh lý này, mà khoảng 100.000 người Pháp mắc phải, được liên kết với sự thoái hóa của các tế bào sản xuất dopamine trong não bộ. Thuốc chuẩn để điều trị bệnh Parkinson ? L-dopa. Nhưng thuốc này gây nên những cử động không kiểm soát được, loạn vận động (dyskinésie). Do đó lợi ích của liệu pháp gène (thérapie génique) được hiệu chính bởi một nhóm các nhà nghiên cứu người Pháp ; liệu pháp này cho phép điều trị các con khỉ macaque mô hình của bệnh, mà không gây nên những tác dụng phụ.
VIRUS VÔ HẠI.
Tính độc đáo của điều trị này dựa trên sự sử dụng đồng thời của 3 loại gène thiết yếu cho sự tổng hợp dopamine. Các nhà nghiên cứu đã đưa 3 gène này vào trong một virus được làm vô hại. Virus này được lựa chọn vì khả năng của chúng vận chuyển một lượng quan trọng những thông tin di truyền. virus này sau khi đã được biến đổi như thế, được chích vào trong striatum của khỉ macaque, vùng của não bộ thiếu dopamine trong bệnh này. Virus truyền 3 gène này cho các tế bào thần kinh và các tế bào này đã bắt đầu chế tạo chất dẫn truyền thần kinh.
Các kết quả thu được rất là đáng khởi. Sự sản xuất dopamine, được đo in vivo, đã đạt một mức lên đến 50% mức bình thường. Tất cả các con khỉ macaque được điều trị đã có một sự cải thiện những rối loạn của chúng trong 12 tháng theo dõi. Khả năng cử động đặc biệt đã trở lại 80% của mức bình thường. Sau hết, nếu so sánh với việc uống thuốc L-dopa, liệu pháp gène này đã không gây nên loạn vận động (dyskinésie). Được áp dụng vào một nhóm các con khỉ macaque “ parkinsoniens ” mà khởi đầu được điều trị bằng L-dopa, liệu pháp gène đã gây nên giảm số các các con khỉ macaque parkinsonien.
SỰ SẢN XUẤT LIÊN TỤC.
“Giả thuyết của chúng tôi là : việc cho cách quản cần thiết của các liều thuốc uống L-dopa gây nên một sự kích thích từng hồi của não bộ, nguồn gốc của những biến chứng loạn vận động (dyskinésie) này, Béchir Jarraya, thầy thuốc ngoại thần kinh và nhà nghiên cứu CEA-Inserm đã giải thích như vậy. Sự sản xuất tại chỗ và liên tục của dopamine do liệu pháp gène của chúng tôi mang lại củng cố lý lẽ này.” Liệu pháp gène này có thể được sử dụng ngay khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện, được dùng riêng rẻ hay bổ sung L-dopa.
Được khích lệ bởi thành công này, các nhà khoa học đã phát động một thử nghiệm lâm sàng trên các người bệnh Parkinson ở bệnh viện Henri-Mondor (Créteil). “Tình trạng của 6 bệnh nhân đã được điều trị đã được cải thiện ở những mức độ khác nhau, phép điều trị tỏ ra được dung nạp tốt”, Stéfane Palfi, thầy thuốc ngoại thần kinh điều khiển thử nghiệm này, đã loan báo như vậy. “Những công trình này thể hiện một bước tiến quan trọng, Etienne Hirsch, chuyên viên về bệnh Parkinson ở CNRS, về phần mình đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, cũng như mọi can thiệp ngoại thần kinh, liệu pháp gène cũng có những nguy cơ xuất huyết.” (LA RECHERCHE 12/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr31.htm (TSYH 31, bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr32.htm (TSYH 32, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr37.htm (TSYH 37, bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm (TSYH 105, bài số 7)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (29/3/2010)

TAGS: Rượu vang, Vin rouge, Polyphenols, Thuốc ngừa thai, Baladeur, Thể dục giảm nguy cơ bệnh tim mạch, Thérapie d'intonation mélodique, Y khoa thể thao, Liệu pháp gen, Bệnh Parkỉnson, Nguyen van Thinh


>>>back>>>

Tin Mới Y Học