 |
Thời
Sự Y Học số 166
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ TẠI SAO CÀNG NGÀY CÀNG
CÓ NHIỀU UNG THƯ ?
Giáo Sư Maurice Tubiana
Thầy thuốc chuyên khoa ung thư, Hội viên của Viện Hàn Lâm Y Học quốc gia
Từ năm mươi năm qua, số các trường hợp ung thư đã gia tăng ở Pháp, do
sự gia tăng dân số, từ 45 triệu năm 1950 lên 65 triệu hôm nay, và là do
sự kéo dài của tuổi thọ, từ 59 lên 81 tuổi. Thế mà ung thư, thường hiếm
trước 45 tuổi, sau đó gia tăng với tuổi tác. Ngoài ra, sự khám nghiệm
thăm dò (dépistage) phát hiện những ung thư nhỏ không tiến triển ; những
ung thư này đáng lý ra đã không bao giờ được phát hiện ; việc phát hiện
những vi ung thư (microcancer) hiền tính này là cái giá phải trả để chẩn
đoán sớm các ung thư tiến triển. Những sự kiện này giải thích rằng, mặc
dầu sự gia tăng số các trường hợp ung thư, tỷ lệ chết vì một ung thư mỗi
năm đã giảm nơi các phụ nữ khoảng 0,5% và ở Pháp đó là một trong những
tỷ lệ thấp nhất trên thế giới. Mặt khác, các người Pháp có một trong những
tuổi thọ dài nhất trên thế giới, điều này chứng tỏ rằng môi trường và
điều trị nằm trong số những nước tốt nhất.
Để đi xa hơn, phải xem xét tiến triển của những loại ung thư khác nhau.
Số các trường hợp ung thư vú đã gia tăng, vì nhiều lý do : trước hết có
một sự gia tăng tỷ lệ của các phụ nữ tăng thể trọng (surpoids), điều này
làm dễ tỷ lệ mắc phải những ung thư này sau thời kỳ mãn kinh. Sau đó,
một thai nghén trước 25 tuổi làm giảm nguy cơ của ung thư vú. Thế mà ngày
nay, hơn một nửa những thai nghén đầu tiên xảy ra sau 30 tuổi ; sau cùng,
có những điều trị bằng hormone thay thế của chứng mãn kinh, cần phải giới
hạn vào những trường hợp cần thiết về mặt y khoa. Tuy vậy, từ năm 1990,
tỷ lệ tử vong do ung thư vú giảm , nhờ những chẩn đoán sớm hơn và nhờ
những điều trị hiệu quả hơn. Tần số của những ung thư khác đã giảm : tỷ
lệ mắc phải ung thư dạ dày được chia 5 từ năm 1950, mặc dầu dạ dày là
tạng bị tiếp xúc nhất với các chất gây ung thư hiện diện trong thức ăn.
Sự giảm tỷ lệ ung thư dạ dày là do một chế độ ăn uống giàu các sản phẩm
tươi hơn và do sự điều trị chống lại các nhiễm trùng dạ dày.
Ung thư cổ tử cung vào năm 1939 là ung thư thường xảy ra nhất nơi phụ
nữ; loại ung thư này gần như đã biến mất nơi các phụ nữ thực hiện đều
đặn những frottis cổ tử cung-âm đạo; than ôi ! ¼ các phụ nữ không thực
hiện những xét nghiệm này, đôi khi vì những lý do văn hóa. Trong những
trường hợp này, cần phải nhờ đến sự tiêm chủng chống lại virus papillome
vào tuổi dậy thì. Cũng cần khẩn trương tiêm chủng một cách có hệ thống
các thiếu niên chống lại viêm gan B, là nguồn gốc của ung thư gan, những
loại ung thư này ở Pháp tương đối thường xảy ra.
Nơi các người đàn ông, nguy cơ chết vì một ung thư đã gia tăng từ năm
1950 đến 1990, rồi đã giảm khoảng 1% mỗi năm, nhưng tuy vậy nguy cơ chết
vì ung thư vẫn là một trong những nguy cơ cao nhất ở Châu Âu. Tiến triển
này theo tiến triển của sự tiêu thụ thuốc lá và rượu, là nguyên nhân của
½ của những ung thư nam giới (1/4 của các ung thư nữ giới). Ở Pháp, chỉ
có sự gia tăng giá cả, với điều kiện ít nhất là 10%, mới có thể làm hạ
chứng nghiện thuốc lá. Cần khẩn trương thực hiện điều đó và chống lại
chứng nghiện rượu.
Nhưng số các trường hợp ung thư mới đã gia tăng từ năm 1985. Môi trường
thường được quy trách nhiệm nhưng những công trình nghiên cứu được tiến
hành bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (CIRC) cho thấy rằng
ảnh hưởng của môi trường là thấp. Ngược lại, các ung thư tuyến tiền liệt
(cancer de la prostate) đã trở nên thường xảy ra hơn mặc dầu tỷ lệ tử
vong lại giảm. Sự gia tăng này là do việc đưa vào xét nghiệm định lượng
PSA, không những cho phép chẩn đoán sớm nhưng cũng cho phép phát hiện
những bệnh hiền tính của tuyến tiền liệt. Hơn một nửa các người đàn ông
trên 60 tuổi có những ung thư nhỏ không tiến triển, vẫn trong tình trạng
ngấm ngầm không triệu chứng. Vậy đúng là PSA dẫn đến một sự phát hiện
gia tăng số các trường hợp ung thư tiến triển.
Rốt cục chỉ có số các trường hợp lymphome non hodgkinien đã gia tăng mà
người ta không biết tại sao. Ngoài việc đấu tranh chống lại thuốc lá và
rượu, chỉ cần cho áp dụng những quy tắc vệ sinh là đủ : theo dõi thể trọng,
tập thể dục (5 giờ mỗi tuần), hạn chế sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời,
giới hạn việc cho hormone vào những trường hợp được biện minh về mặt y
khoa. Điều này đòi hỏi sự can đảm về phía các thầy thuốc và của Nhà nước,
nhưng cũng đòi hỏi một thông tin hợp lý. (LE FIGARO
15/3/2010)
2/ NGỦ TRƯA CÓ HẠI ?
Một công trình nghiên cứu mới đây đã quan sát thấy, trong dân chúng người
Hoa lớn tuổi, một sự liên kết hơi gây ngạc nhiên giữa các giấc ngủ trưa
(một thói quen rất thường thấy và được chấp nhận về mặt xã hội ở Trung
Quốc) và bệnh đái đường. Sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với nhiều
yếu tố có khả năng gây lẩn lộn, nhất là một tình trạng sức khỏe xấu có
thể biện minh cho một giấc ngủ gà vào ban ngày, các tác giả kết luận rằng
rất có thể có một mối liên hệ nhân quả (un lien de cause effet) giữa hai
hiện tượng này : ngủ trưa thường hơn và giấc ngủ dài hơn (>30 phút)
là nguyên nhân của một nguy cơ gia tăng bị bệnh đái đường. (LE
GENERALISTE 18/3/2010)
3/ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME) :
HƯỚNG DI TRUYỀN.
Thái độ xử trí đối với bệnh có nhiều dạng khác nhau này đã biến đổi một
cách cơ bản trong 10 năm qua.
NEUROLOGIE. Bệnh tự kỷ (autisme) là một bệnh có nhiều thể dạng, nhưng
có cùng những tính chất chung làm nền tảng cho chẩn đoán. Theo chiều hướng
này, bệnh tự kỷ là một tổng hợp các dấu hiệu, một “ hội chứng ” hơn là
một bệnh đơn độc và duy nhất. Ở Pháp, bệnh này ảnh hưởng lên 400.000 người
(theo OMS), với một nguy cơ 4 lần cao hơn đối với các thiếu niên trai.
Chính thầy thuốc thần kinh-tâm thần (neuropsychiatre) Hoa Kỳ Léo Kanner
lần đầu tiên vào năm 1943 đã dùng thuật ngữ này để mô tả những trẻ em
nhỏ tuổi bị một rối loạn sớm và toàn bộ của sự phát triển của các tương
tác xã hội và tình cảm (interactions sociales et affectives). Chữ tự kỷ,
khởi thủy được mượn từ tâm thần học (psychiatrie) của người lớn, để chỉ
sự thu mình lại (repli sur soi) rất rõ rệt của các trẻ em bị bệnh này.
“ Đôi khi bố mẹ, ngay năm đầu tiên, cảm nhận được hành vi đặc biệt của
em bé, được đánh dấu bởi một thái độ hững hờ, sự vắng bóng của những tiếp
xúc thị giác, của những nụ cười, của những lời nói líu lo... Tất cả những
dấu hiệu mà qua đó em bé thường chứng tỏ mối quan tâm đặc biệt của nó
đối với thế giới chung quanh ”, GS Catherine Berthélémy, thầy thuốc tâm
thần trẻ em (pédopsychiatre) của CRHU Bretonneau de Tours đã giải thích
như vậy. Nhưng ngay cả khi sự thăm dò phát hiện của những em bé có nguy
cơ phải càng ngày càng sớm để có thể đề nghị một thái độ điều trị thích
ứng càng sớm càng tốt, mặc dầu vậy chẩn đoán vẫn khó xác nhận trước 3
tuổi. “ Thật vậy, chẩn đoán chỉ dựa vào những dấu hiệu hành vi. Ngày nay
không có một phương tiện sinh học hay di truyền nào để chẩn đoán căn bệnh
này ”, người thầy thuốc đã nhấn mạnh như vậy.
Chẩn đoán sớm dựa vào sự hiện diện đồng thời của ba loại rối loạn hành
vi : rối loạn của quá trình xã hội hóa (trouble de socialisation) (đứa
bé, với vẻ mặt không diễn cảm, dường như cô đơn, chỉ chơi một mình, ít
có tiếp xúc tình cảm và cư xử với người ta như thể đó là những đồ vật)
; rối loạn trao đổi (trouble de communication) (nó không nói, hay nói
nhưng không tìm kiếm sự đối thoại); rối loạn thích nghi (trouble de l’adaptation)
(một sự thay đổi nhỏ trong môi trường quanh nó có thể gây nên những cơn
lo âu hay hung dữ, những hoạt động của nó ít đa dạng, lặp đi lặp lại,
với những cử động khuôn sáo như vỗ tay, đu đưa...). “ Chính bộ ba này,
được thể hiện bởi những mức độ khác nhau, xác định bệnh tự kỷ. Do đó trong
cùng một ngày có khi tôi thực hiện chẩn đoán này nơi một đứa trẻ rất thông
minh và một đứa trẻ khác rất thiểu năng ”, Catherine Barthélémy đã nhấn
mạnh như vậy.
Thật vậy những biểu hiện này được tìm thấy trong những thể nặng, được
đánh dấu bởi một sự chậm phát triển trí tuệ tột bực và sự vắng mặt của
ngôn ngữ, cũng như trong bệnh Asperger, thể của người bị bệnh tự kỷ với
những khả năng thông minh đôi khi ngoại hạng, được minh họa bởi Dustin
Hoffman trong phim Rain Man. “Nơi những người bị bệnh tự kỷ có trình độ
cao này, một chẩn đoán đầu tiên vào năm 50 tuổi, sau một một cuộc sống
lang thang điều trị, không phải là ngoại lệ, GS Marion Leboyer, thầy thuốc
tâm thần phụ trách cụm bệnh viện Chenevier-Mondor de Créteil đã xác nhận
như vậy.
Nguồn gốc của bệnh tự kỷ vẫn là một bí ẩn. Nơi 10% đến 20% các em bé,
bệnh tự kỷ được gọi là “ hội chứng ” ( “ syndromique ”), bởi vì được liên
kết với một bệnh di truyền hay bệnh chuyển hóa làm dễ (X fragile, sclérose
tubéreuse, trisomie 21...). Nhưng trong 80% các trường hợp, người ta không
biết được nguyên nhân. Tuy nhiên, những tiến bộ được thực hiện trong những
năm qua từ nay cho phép loại bỏ cái quan niệm từ lâu đã ngự trị, quan
niệm cho rằng căn bệnh do sự thu mình sớm của đứa bé này được gây nên
bởi một mối quan hệ được cảm nhận như là âm tính với bà mẹ. Ngay vào những
năm 1970, những tiến bộ của thần kinh học đã dẫn đến giả thuyết về một
loạn năng não bộ (dysgonctionnement cérébral) và đã cho phép sự phát triển
của các liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapies cognitives et comportementales)
mới “mặc dầu chưa có một điều trị nào trong những thái độ xử trí đa dạng
này đã thực sự được chuẩn nhận về mặt khoa học cả”, GS Barthélémy đã xác
nhận như vậy. Người ta thường liên kết các liệu pháp nêu trên với rispéridone,
một thuốc làm giảm sự lo âu và sự hung dữ liên kết với bệnh tự kỷ nhưng
thuốc này không tác dụng trực tiếp lên căn bệnh.
SỰ CỘNG TÁC ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG.
Từ năm 2003, các công trình nghiên cứu đã nhận diện, nơi động vật hay
trong những gia đình có nhiều người bị bệnh này, những biến dị trên các
gène có liên hệ trong sự giao tiếp của các tế bào thần kinh. Chẳng còn
nghi ngờ gì nữa rằng bệnh tự kỷ có ít nhất một thành phần di truyền. Chẩn
đoán một ngày nào đó có thể bị đảo lộn, và có lẽ về lâu dài cả các điều
trị cũng vậy. Các hormone như mélatonine, thậm chí ocytoxine, dường như
cũng can thiệp vào. Những tiến bộ của phép chụp hình ảnh não bộ gợi ý
rằng một vùng đặc biệt của não bộ được liên kết với bệnh tự kỷ. Sự chuyển
đổi từ một quan niệm phân tâm học (conception psychoanalytique) qua một
cái nhìn thần kinh-sinh học (une vision neurobiologique) hơn về bệnh tự
kỷ không phải luôn luôn được diễn ra mà không có sự va chạm giữa các người
chuyên nghiệp, nhưng dần dần dẫn đến một sự công tác được tăng cường của
các thầy thuốc tâm thần, các chuyên gia di truyền học và các thầy thuốc
thần kinh. Không còn mặc cảm tội lỗi, các gia đình có con bị bệnh tự kỷ
cũng càng ngày càng tham gia vào cuộc cách mạng đang diễn biến này. (LE
FIGARO 8/2/2010)
4/ DRACULA : MỘT NGƯỜI SỢ ÁNH SÁNH
(PHOTOPHOBIQUE) NỒI TIẾNG.
Dracula, tên thật là Vlad III, là một nhân vật lịch sử trở nên huyền thoại.
Hoàng tử của thế kỷ XV chứ không phải là bá tước, ông ưa thích xem máu
chảy hơn là uống nó. Vậy đó hoàn toàn không phải là một quỷ hút máu (vampire)!
Trên thực tế, có lẽ ông bị bệnh porphyrie, một bệnh di truyền hiếm autosomique
tính trội, gây bệnh cho khoảng một trên 10 đến 50 ngàn người. Những người
bị bệnh porphyrie không chịu được ánh sáng mặt trời, do sợ ánh sáng (photophobie)
nhưng cũng do nhạy cảm với ánh sáng (photosensibilité) làm bỏng rát da
… và các lợi răng của họ, đến độ làm biến dạng mặt và làm cho các chiếc
răng nổi dô ra. Ngoài ra, chứng rậm lông (hypertrichose) và sự thiếu máu
của các bệnh nhân này khiến họ có một vẻ mặt nhợt nhạt và đáng lo ngại.
Sự hấp thụ tỏi có thể làm trầm trọng bệnh porphyrie và gây nên những cơn
dữ dội qua diallyl disulfide mà nó chứa. Người ta kể rằng hàng ngàn các
trường hợp porphyrie được liệt kê ở Nam Phi được truyền bởi những hậu
duệ của cùng một tổ tiên duy nhất, di cư đến Cap vào thế kỷ XII. Porphyrie
cũng có thể được phát khởi do sự hấp thụ vài sản phẩm hóa học, dầu đó
là tự nhiên hay tổng hợp. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, việc tiêu thụ lúa mì được xử lý
bởi một chất diệt nấm (hexachlorobenzène), vào những năm 60, đã gây nên
một dịch bệnh porphyrie thật sự. Dracula phải chăng đã trở thành cái điều
mà ông đã là, do sự hấp thụ vài loại cây mọc trong vùng Carpates? Dầu
sao đi nữa, vào thời đó khi sự hiện hữu của “dịch bệnh” này được cáo giác
với báo chí Hoa Kỳ, 5000 người mắc bệnh porphyrie đã bị đặt cách ly. Huyền
thoại về ma cà rồng (vampire: quỷ hút máu) có ảnh hưởng lên các đám đông
nhiều hơn là ý kiến của các thầy thuốc. (LE GENERALISTE
18/3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr63.htm
(TSYH số 63, bài số 6)
5/ SUY THẬN : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA
GHÉP THẬN VƯỢT QUÁ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THẨM TÁCH THẬN.
NEPHROLOGIE. Các phẫu thuật ghép thận thường làm các bệnh nhân bị suy
thận sợ hãi, nhưng xét về mặt chất lượng sống và tỷ lệ sinh tồn, cũng
như về mặt kinh tế, thì ghép thận rõ rệt ưu việt hơn nhiều so với thẩm
tách thận (dialyse rénale). Đó là điều mà các nhà chuyên gia muốn nhắc
lại, hai ngày trước Ngày thế giới về thận, được tổ chức hôm 1/3. Trên
bình diện thuần tài chánh, năm đầu tiên sau khi ghép thận tổn phí khoảng
46.000 euros. Sau đó hóa đơn hàng năm là 7600 euro, trong khi hóa đơn
của một thẩm tách thận (dialyse rénale) lên đến 70.000 euro. Vào năm 2007,
Quỹ Bảo hiểm-bệnh tật quốc gia đã chi phí 4 tỷ euro cho suy thận, 82%
dành cho các thẩm tách và 18% dành cho ghép thận. Tuy nhiên chúng ta phải
biết rằng không phải tất cả những người bị suy thận đều có thể là ứng
viên của ghép thận, ví dụ trường hợp những bệnh nhân đái đường bị biến
chứng suy thận. Nhưng hai công cuộc điều tra chưa từng có, được công bố
hôm nay trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire, làm sáng rõ tính
chất ưu việt của các ghép thận về mặt chất lượng sống.
Nhóm nghiên cứu của Serge Briançon (Trường Y Tế Cộng Đồng, Nancy) đã quan
tâm đến 832 bệnh nhân được thẩm tách thận và 1061 người được ghép thận.
Dầu cho các tham số được đo là gì (trạng thái vật lý, đau đớn, sức khỏe
tâm thần, sức sống...), chất lượng sống của những người được ghép (greffés)
cao hơn chất lượng sống của những người được thẩm tách (dialysés), mặc
dầu vẫn dưới chất lượng sống của dân chúng nói chung. Nhìn toàn bộ, chất
lượng sống tốt hơn trong nam giới. “Tất cả những biện pháp khả dĩ để cải
thiện khả năng được ghép và làm giảm thời gian lúc thực hiện thẩm tách
sẽ phải được thực hiện. Hiệu quả có lợi này được quan sát ngay cả nơi
người già”, các tác giả đã kết luận như vậy. Tuổi tác ngày nay sẽ không
còn là một yếu tố hạn chế nữa, GS Briançon đã nói thêm như vậy. Ngày nay,
ở Pháp, khoảng 37.000 người được điều trị bằng thẩm tách và 31.000 đã
được ghép thận. Tuy nhiên tần số của điều trị bằng thẩm tách hay ghép
thận thay đổi theo vùng lãnh thổ.
Hiện nay, ở Pháp, hơn 90% các trường hợp thận được ghép phát xuất từ những
người cho đã chết (donneurs décédés). “Từ năm 1958, Pháp là nước tiền
phong về việc lấy thận trên xác chết, Denis Glotz, trưởng khoa thận và
ghép thuộc bệnh viện Saint Louis, Paris đã giải thích như vậy. Mặt khác,
một vài thầy thuốc có thái độ rất ngập ngừng khi lấy thận nơi những người
cho còn sống (donneur vivant).” Tuy vậy, từ năm 1958, Pháp chỉ có một
trường hợp tử vong trong số những người cho này mà thôi. (LE
FIGARO 9/3/2010)
6/ NGĂN NGỪA CÁC HUYẾT KHỐI
TRÊN STENT : ĐIỀU TRỊ MỚI.
GS Michel Desnos, trưởng khoa tim bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou,
giải thích tiến bộ quan trọng với sự thương mãi hóa mới đây ở Pháp thuốc
prasugrel.
Hỏi : Trong những trường hợp nào khiến ta
phải thực hiện một angioplastie đồng thời đặt stent và protocol là gì
?
GS Michel Desnos : Angioplastie là thủ thuật nhằm đưa một quả bóng nhỏ
(baloonet) vào trong các động mạch của tim (các động mạch vành), để mở
lỗ bị hẹp. Trong đại đa số các trường hợp, để tránh sự hẹp tái phát, người
ta thiết đặt một loại lưới sắt nhỏ, được gọi là stent. Có hai chỉ định
chính đối với thủ thuật này. 1. Nhồi máu cơ tim khi động mạch vành bị
bít bởi một cục máu đông. 2. Những cơn đau ngực không kiểm soát được bằng
điều trị nội khoa, bởi vì cơn đau xảy ra do động mạch bị hẹp. Ở Pháp,
người ta thực hiện khoảng 120.000 angioplastie với đặt stent mỗi năm.
Và con số này không ngừng gia tăng.
Hỏi : Những kết quả thu được là gì ? Những
biến chứng là những biến chứng nào ?
GS Michel Desnos : Về nhồi máu cơ tim, từ 10 năm qua, kỹ thuật này đã
cho phép một sự thu giảm một nửa tỷ lệ tử vong. Nhưng cũng như mọi sự
can thiệp, có những nguy cơ có thể xảy ra trong khi làm thủ thuật hay
xuất hiện thứ phát. Người ta quan sát thấy 2 biến chứng muộn. 1. Một sự
hẹp trở lại (resténose) : sau 3 đến 6 tháng động mạch lại bị hẹp lại ở
cùng vị trí trước đây. 2. Một sự tắc (occlusion) : động mạch bị trít lại
hoàn toàn với huyết khối (thrombose) trên stent (2 đến 3%), một tai biến
trầm trọng có thể dẫn đến tử vong (trong 40% các trường hợp).
Hỏi : Mãi đến nay, làm sao ta có thể ngăn
ngừa những biến chứng này ?
GS Michel Desnos : Khi sự hẹp trở lại xuất hiện ở cùng một chỗ, ta có
thể thực hiện một sự nong giãn mới. Để ngăn ngừa sự xuất hiện một huyết
khối (thrombose), ta kê đơn một điều trị chống kết tụ tiểu cầu (traitement
antiagrégant plaquettaire), sẽ ngăn cản sự tạo thành một cục máu đông
(caillot) trong máu. Trong ít nhất năm đầu sau khi đặt stent, ta kê đơn
hai thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant) là aspirine kết hợp
với clopidogrel (Plavix) và sau đó nói chung chỉ còn một thứ thuốc.
Hỏi : Những thất bại nơi các bệnh nhân được
điều trị phòng ngừa này là do đâu ?
GS Michel Desnos : Chủ yếu do 3 nguyên nhân. 1. Một sự tuân thủ điều trị
kém của các bệnh nhân, quên uống thuốc hay ngừng điều trị không được biện
minh (ví dụ để chữa răng hay nội soi tiêu hóa). 2. Sự hiện hữu của vài
loại bệnh liên kết, đặc biệt là bệnh đái đường. 3. Một sự đề kháng đối
với clopidogrel do những bất thường di truyền được biểu hiện nơi gan :
nơi 25% các bệnh nhân, chất chống ngưng kết này tỏ ra không có hiệu quả.
Hỏi : Liệu pháp mới nhất dành cho các trường
hợp đề kháng với điều trị cổ điển là gì ?
GS Michel Desnos : Đó là prasugrel, một chất chống ngưng kết tiểu cầu
mới được thương mãi hóa ở Pháp. Đối với những bệnh nhân đề kháng này,
thuốc prasugrel có hiệu quả hơn và tác dụng của nó ít được liên kết với
chuyển hóa gan hơn và do đó ít nhạy cảm hơn với những bất thường di truyền.
Người ta kê đơn thuốc này với liều lượng 10 milligramme mỗi ngày, liên
kết với 75 đến 325 mg aspirine.
Hỏi : Những thử nghiệm nào đã chứng tỏ hiệu
quả của prasugrel ?
GS Michel Desnos : Công trình nghiên cứu lớn “Triton” (được công bố trong
“New England Journal of Medicine”) đã được thực hiện trên hơn 13.000 bệnh
nhân đã bị một nhồi máu cơ tim và mang stent (trong 700 bệnh viện của
30 nước). Các nhà nghiên cứu đã so sánh trong vòng một năm những bệnh
nhân được điều trị cổ điển (aspirine +clopidogrel) với những bệnh nhân
được điều trị bởi aspirine và prasugrel. Kết quả : thuốc mới đã tỏ ra
có hiệu quả hơn do làm giảm 52% các huyết khối trên stent.
Hỏi : Điều trị mới này có gây nên những phản
ứng phụ hay không ?
GS Michel Desnos : Điều trị với prasugrel có một nguy cơ gây xuất huyết,
nhất là nơi não bộ, ít xảy ra hơn (2,4% các xuất huyết với clopidogrel
so với 1,8% với prasugrel).
Hỏi : Người ta có thể giảm mối nguy hiểm
này không ?
GS Michel Desnos : Có, bằng cách không cho thuốc này nơi các bệnh nhân
có nguy cơ cao hơn : những người trên 75 tuổi, những người đã bị một tai
biến mạch máu não, những người cân nặng dưới 60kg. (PARIS
MATCH 1/3-17/3/2010)
7/ HEN PHẾ QUẢN : MỘT VACCIN ?
Tỷ lệ lao phổi tăng cao ở Nhật Bản, do đó cần tiêm chủng tích cực. Nơi
các trẻ em được tiêm chủng, các thầy thuốc Nhật đã chứng thực tỷ lệ hen
phế quản 2 đến 3 lần ít hơn. Theo nhóm nghiên cứu của GS Gilles Marchal
thuộc Viện Pasteur, BCG có một tác dụng chống hen phế quản. Những nhà
nghiên cứu của Viện Pasteur đã sử dụng một giống gốc của trực khuẩn lao
được làm bất hoạt bằng cách làm mất nước (déshydratation). Giống gốc này
khác với vaccin sống được làm giảm độc lực (vaccin vivant atténué) ở chỗ
nó không gây nên một sự cảm ứng (sensibilisation) chống lại bệnh lao.
Lợi ích của giống gốc này là ở khả năng kích thích các tế bào miễn dịch
hiệu quả nhất chống lại phản ứng viêm loại hen phế quản. Nơi các động
vật gậm nhấm, sau khi hít các dị ứng nguyên, đã phát triển một hen phế
quản thể nặng tương tự với dạng hen phế quản nơi người, các nhà nghiên
cứu đã quan sát thấy rằng những động vật gậm nhấm được điều trị bởi BCG
được làm mất nước này, bảo tồn một chức năng hô hấp bình thường. Khả năng
bảo vệ có được độc lập với dị ứng nguyên và tồn tại từ 3 đến 4 tháng.
Sau đó, phải tiêm nhắc lại BCG.
Hy vọng không phải là chữa lành bệnh hen phế quản với liệu pháp được dung
nạp tốt này, mà làm ổn định nó đồng thời giảm việc phải nhờ đến các thuốc
giãn phế quản hay các corticoides. (PARIS MATCH 18-24/3/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr163.htm
(TSYH số 163, bài số 7)
8 /BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG : 3
GENES LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH
Tiến bộ lớn và mới nhất trong bệnh thoái hóa điểm vàng liên quan với tuổi
tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge) là khám phá 3 gène
có liên quan trong sự xuất hiện của bệnh này. “ Bây giờ chúng ta biết
được vai trò quan trọng của tố bẩm di truyền (prédisposition génétique),
GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Từ nay đến vài năm nữa, bằng
một xét nghiệm máu ta sẽ có thể xác định một nguy cơ gia tăng, thiết đặt
một sự theo dõi sớm và một biện pháp phòng ngừa bằng những quy tắc chế
độ ăn uống. Nhất là, sự giáo dục bệnh nhân có nguy cơ sẽ tạo khả năng
điều trị rất sớm!”. Bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) khởi đầu
bằng một sự tích tụ các mảnh và những tế bào chết trong các cơ quan nhận
cảm ánh sáng (photorécepteurs) của võng mạc và các mô nâng đỡ. Vào một
giai đoạn tiến triển, sự đổi mới của những cơ quan cảm thụ ánh sáng không
còn thực hiện được nữa và bệnh nhân mất thị giác trung ương (vision centrale).
Ở Pháp, đó là một vấn đề y tế công cộng thật sự : 1,5 triệu người bị bệnh
này và hơn 200.000 người bị tật nguyền nặng. Điều đáng sợ nhất của các
bệnh nhân là tình trạng phụ thuộc (dépendance), bởi vì DMLA có thể xảy
ra cả hai bên mắt. “ Chúng tôi trấn an các bệnh nhân của chúng tôi bằng
cách nói với họ rằng họ sẽ luôn luôn vẫn còn thị giác ngoại biên (vision
périphérique), mặc dầu trung tâm của võng mạc bị thương tổn, và rằng họ
sẽ phải học sử dụng thị giác ngoại biên này để bù trừ phần nào phế tật
”, GS José-Alain Sahel đã giải thích như thế. Có hai dạng tiến triển :
dạng ướt (forme humide), có thể xảy ra rất đột ngột, được đặc trưng bởi
sự tạo thành những mạch máu mới (néovaisseaux), và dạng khô (forme sèche),
trong đó những cơ quan nhận cảm ánh sáng bị teo di và biến mất dần dần.
“ Tần số mắc bệnh trung bình là 1% vào lúc 55 tuổi, 10% vào lúc 65 tuổi,
25% vào lúc 75 tuổi và 60% vào lúc 90 tuổi, GS José-Alain Sahel đã xác
nhận như vậy. Với sự kéo dài tuổi thọ, người ta dự kiến tăng gấp đôi những
con số này vào năm 2050. ” Những triệu chứng đầu tiên được biểu hiện bởi
những vấn đề thích nghi đối với sự thay đổi ánh sáng. Hai dấu hiệu phải
khiến đi thăm khám càng sớm càng tốt : một vết cố định (une tache fixe),
ổn định trong thị trường, hay một sự biến dạng các hình ảnh.
MỘT THĂM KHÁM VÕNG MẠC, TỪNG TẾ BAO MỘT
Ở Quize-Vingts, nhóm của GS Sahel thuộc một trong những nhóm có hiệu năng
nhất trong lãnh vực chẩn đoán DMLA: “Từ tháng giêng năm 2009, chúng tôi
sử dụng một kỹ thuật thiên văn (technique d’astronomie) cho phép nhìn
thấy từng tế bào nhận cảm ánh sáng (cellule photoréceptrice) của võng
mạc.Nhờ kỹ thuật này và nhờ những tiến bộ của các hệ thống như chụp lớp
quang học (tomographie optique), các chuyên gia chẳng bao lâu nữa sẽ có
thể quyết định điều trị theo các tiêu chuẩn khách quan và rất là chính
xác. Những tiêu chuẩn này cũng sẽ cho phép họ đánh giá tính hiệu quả của
điều trị với một chất lượng chưa từng có. Hãy tưởng tượng xem các thầy
thuốc ngoại thần kinh sẽ hạnh phúc biết bao nếu họ có thể quan sát từng
tế bào thần kinh một!”. Trước giai đoạn đặc biệt này, các kỹ thuật chẩn
đoán đã hưởng rộng rãi các tiến bộ công nghệ học. Thí dụ từ 3 năm qua,
các bệnh nhân có thể được phát hiện nhờ các hình chụp đơn giản của đáy
mắt.
ĐIỀU TRỊ DẠNG ƯỚT (FORME HUMIDE): MỘT SỰ CẢI THIỆN
NGOẠN MỤC
Một giai đoạn quan trọng đã được vượt qua trong những năm qua với sự xuất
hiện của các anti-VEGF, các tác nhân chống sinh mạch (antiangiogénique),
ngăn cản sự tạo thành các huyết quản mới trong võng mạc và giới hạn sự
phù nề. Các loại thuốc này (mà đầu đàn là ranibizumab) là rất có hiệu
quả khi chúng được tiêm sớm vào trong mắt mỗi tháng. “Trong 90% các trường
hợp, ta quan sát thấy một sự ổn định của căn bệnh, và trong hơn 10%, một
sự cải thiện nhỏ, GS Sahel đã xác nhận như vậy. Kỹ thuật này đã là có
tính cách mạng bởi vì, trước đây, với các kỹ thuật bằng laser và quang
động (techniques au laser et photodynamiques), chỉ dưới 20% các bệnh nhân
được ổn định mà thôi. Những bệnh nhân khác đánh mất thị giác trung ương.
Không còn có thể đọc cũng như nhận diện các gương mặt nữa, bị cản trở
không thể đi ra đường, họ chịu một phế tật khủng khiếp ! Sự thay đổi tiên
lượng này tuyệt vời.” Những nghiên cứu đang được tiến hành để cải thiện
thêm nữa chất lượng của các bệnh nhân : người ta đang nghiên cứu chế tạo
các loại thuốc giọt có tác dụng kéo dài (được sử dụng mỗi 6 tháng).
NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐÁNG PHẤN KHỞI ĐỐI VỚI DẠNG KHÔ.
“Tiến bộ lớn, GS Sahel đã giải thích như vậy, có liên quan đến các giai
đoạn sớm mà ta có thể làm chậm tiến triển của bệnh lại nhờ một cocktail
các chất chống oxy hóa (oxydants), làm tăng cường sự hóa sắc tố của võng
mạc. Nhưng các nghiên cứu đang tiến triển : các nhóm nghiên cứu, trong
đó có nhóm của chúng tôi, đang trắc nghiệm hai loại thuốc mới. Một vài
loại thuốc nhằm giới hạn sự tích tụ của các chất đọng (dépôts) trong võng
mạc (kháng vitamine A), những chất khác phong bế phản ứng viêm (các chất
điều biến của các complément). Những thử nghiệm này, ở giai đoạn 2, là
đáng phấn khởi. Sẽ còn phải chờ đợi những kết quả của giai đoạn 3 rồi
mới phát biểu được.”
Đối với những người mà bệnh ở một giai đoạn tiến triển và rất bị trở ngại
do mất thị giác trung ương, chúng tôi phát triển société Essilor des lunettes
mang các caméra nhỏ xíu cho phép lúc nhìn chiếu các hình ảnh được phóng
đại trong những vùng ngoại biên mà bệnh nhân còn thấy được. Những prototype
đầu tiên đã gần như sẵn sàng. Các trung tâm cải tạo đã được thành lập
để dạy cho những bệnh nhân phế tật sử dụng tốt hơn đôi mắt của họ. Ở Viện
thị giác, chúng tôi đang hiệu chính đủ loại công nghệ học nhằm cải thiện
chất lượng sống, ví dụ một GPS sẽ chỉ rõ rất chính xác cho người sử dụng
vị trí, môi trường của mình. (PARIS MATCH 5/1-1/1/2009).
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr130.htm
(TSYH số 130 bài số 10)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr82.htm
(TSYH số 82, bài số 6)
9/ SỰ LÃO HÓA TẾ BÀO : THỂ THAO
CÓ LỢI ?
Nhóm nghiên cứu của GS Ulrich Laufs (đại học Saarland, Hamburg) vừa cho
thấy rằng hoạt động vật lý tác động trực tiếp lên các tế bào bằng cách
hoạt hóa télomérase, một enzyme chủ chốt của các quá trình lão hóa (processsus
de sénescence). Vai trò của télomérase là sản xuất các télomère, những
mảnh nhỏ của ADN nằm ở đầu mút của các nhiễm sắc thể, cần thiết cho sự
truyền của các gène từ một tế bào mẹ đến các tế bào của nó khi nó phân
chia. Nhưng, vào mỗi phân chia tế bào, các télomère bị rút ngắn đến độ,
vì đã quá ngắn, nên không còn có sự phân chia nào có thể thực hiện được
nữa : tế bào bị chết. Người ta có thể đo lường hoạt tính của télomérase
và độ dài của các télomère trong các bạch cầu và như thế đánh giá sự lão
hóa tế bào. Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu hai biến số này nơi động
vật (chuột chạy trên một bánh xe được so sánh với chuột nhàn rổi) và nơi
người (những người lành mạnh ít thể thao so với những vận động viên nghề
nghiệp và các vận động viên marathon). Hoạt động thể thao tác động thuận
lợi lên télomérase và làm giảm sự co ngắn của các télomère của chúng.
Vậy hoạt động vật lý làm dễ tuổi thọ của các tế bào của chúng ta. (PARIS
MATCH 28/1-3/2/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr63.htm
(TSYH số 63, bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr152.htm
(TSYH số 152, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr156.htm
(TSYH số 156, bài số 3)
10/ NHIỀU TÁI PHÁT UNG THƯ VÚ HƠN
NẾU PHÓNG XẠ LIỆU PHÁP CHẬM TRỄ.
Các phụ nữ càng chờ đợi trước khi thực hiện một phóng xạ liệu pháp (radiothérapie)
sau ngoại khoa bảo tồn (chirurgie conservatrice) vú, nguy cơ bị tái phát
tại chỗ sẽ càng lớn.
“Hãy bắt đầu phóng xạ liệu pháp càng nhanh càng tốt, đó là thông điệp
của một nhóm nghiên cứu quy tụ những người Mỹ, Nhật và Canada. Nói chung,
người ta xem một khoảng thời gian 4 đến 6 tuần (giữa lúc phẫu thuật ngoại
khoa và lúc bắt đầu phóng xạ liệu pháp) là hợp lý trong điều trị ung thư
vú. Nhóm nghiên cứu quốc tế đã khảo sát mối liên hệ giữa độ dài của khoảng
thời gian này và nguy cơ tái phát. Để thực hiện điều đó, nhóm nghiên cứu
đã tập hợp các dữ kiện liên quan đến 18.050 phụ nữ Mỹ được chẩn đoán ung
thư vú vào một giai đoạn sớm giữa năm 1991 và 2002. Các phụ nữ này đã
được phẫu thuật bảo tồn vú và chịu một phóng xạ liệu pháp nhưng hóa học
liệu pháp (chimiothérapie) thì không. Thời gian theo dõi kéo dài 5 năm.
Những kết quả cho thấy rằng sự thực hiện phóng xạ liệu pháp sau một thời
hạn 6 tuần sau điều trị ngoại khoa được liên kết với một sự gia tăng đáng
kể của nguy cơ tái phát tại chỗ. Một phụ nữ trên 4 (30%) đã tham gia công
trình nghiên cứu này chỉ bắt đầu phóng xạ liệu pháp sau 6 tuần và 734
phụ nữ (4%) đã bị một tái phát tại chỗ trong một thời gian 5 năm. Một
phân tích đã phát hiện mối liên hệ liên tục giữa thời gian chờ đợi trước
khi làm phóng xạ liệu pháp và nguy cơ tái phát.
Các tác giả của công trình nghiên cứu này, được công bố trong BMJ, kết
luận rằng việc thực hiện càng nhanh càng tốt phóng xạ liệu pháp có thể
làm giảm nguy cơ tái phát tại chỗ. Trong một bài báo, Ruth Jack và Lars
Holmberg (King’s College London) khẩn khoản để người ta áp dụng những
biện pháp cần thiết nhằm làm giảm chừng nào có thể được khoảng thời gian
giữa ngoại khoa và phóng xạ liệu pháp. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 12/3/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/3/2010)
TAGS: Ngủ trưa, Bệnh tự kỷ (autism), suy thận (kidney failure), angioplastie,
hen phế quản, nguyên nhân thoái hoá điểm vàng, lão hoá tế bào, ung thư
vú phụ nữ và điều trị phóng xạ, Nguyen van Thinh
>>>back>>>
|
 |