 |
Thời
Sự Y Học số 165
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÓ NÊN DÙNG
VITAMINE D ĐỂ CHỐNG UNG THƯ ?
Ngày xưa chỉ được giới hạn trong việc ngăn ngừa bệnh còi xương (rachitisme)
nơi trẻ em hay để phòng ngừa sự mất canxi xương (décalcification osseuse)
nơi người lớn, vitamine D mới đây đã được công nhận có hiệu quả trong
việc ngăn ngừa các gãy xương liên kết với bệnh loãng xương (ostéoporose)
do tuổi tác. Thật vậy, viatmine D làm dễ sự hấp thụ ở ruột calcium và
phosphore trong thức ăn, điều này hạn chế nguy cơ mất chất khoáng xương
(déminéralisation osseuse).
Ngày nay, các thí nghiệm mới gợi ý rằng vitamine D có thể tác động ngăn
ngừa những bệnh tim mạch và cả ung thư nữa. Trong phòng thí nghiệm, người
ta thấy rằng vitamine D tác động hơn 200 gène có ảnh hưởng đặc biệt lên
sự tăng sinh và sự biệt hóa của các tế bào ung thư. Cũng vậy, vitamine
D kềm hãm sự tăng trưởng của vài loại tế bào ung thư trong canh cấy, điều
này có khả năng mở ra hướng của một điều trị. Trong trường hợp thiếu hụt
trầm trọng vitamine D, nguy cơ bị khối u ung thư sẽ gia tăng. Ngược lại,
một nồng độ vitamine D tăng cao trong máu sẽ được liên kết với một sự
giảm hơn 50% nguy cơ bị ung thư đầu và cổ, của thực quản, tụy tạng và
của ung thư bạch cầu cấp tính (leucémie aigue). Một công trình nghiên
cứu dịch tễ học kết luận rằng sau thời kỳ mãn kinh, vốn xương (capital
osseux) nguyên vẹn làm giảm nguy cơ bị ung thư đại-trực tràng. Một sự
cho bổ sung calcium và vitamine D có tính chất kềm hãm sự phát triển của
các thương tổn đại tràng.
Nồng độ trong máu của vitamine D phải chăng phải là đối tượng của một
sự theo dõi ? Nhưng làm sao biện minh điều đó trong khi ta có thể vẫn
khỏe mạnh với những nồng độ thấp đáng ngạc nhiên của vitamine D ? Những
công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chỉ có thể cung cấp các phương
hướng. Chúng ta đừng quên rằng các giả thuyết vào đầu những năm 2000 về
các chất chống oxy hóa (antioxydants) (bêtacarotène, vitamine A, C và
E và sélénium) được cho là ngăn ngừa ung thư. Nhưng vài năm sau, đã phải
thất vọng : những chất chống oxy-hoa này lại có hại và việc cho bổ sung
chúng làm gia tăng nguy cơ ung thư !
Hiện nay ta không có một công trình nghiên cứu nào cho phép xác nhận lợi
ích của vitamine D trong sự ngăn ngừa ung thư hoặc lợi ích của việc cho
bổ sung vitamine này nơi những bệnh nhân bị ung thư. Vào lúc này, người
ta không biết được các nồng độ cần thiết trong máu của vitamine D để có
được một hiệu quả phòng ngừa hay điều trị ; người ta không biết liệu các
liều lượng được đòi hỏi có giống hệt nhau, dầu cho ung thư thuộc loại
nào và người ta cũng không biết các nguy cơ của việc cho bổ sung vitamine
D là những nguy cơ nào. Cũng có thể rằng người ta lẩn lộn những hiện tượng
được quan sát một cách đồng thời và những hiện tượng nhân quả. Nếu ta
quan sát thấy một tỷ lệ bị ung thư ít hơn nơi những người hưởng một chế
độ ăn uống lành mạnh và cân bằng, thì logic ta tìm thấy những cung cấp
thích hợp vitamine D nơi nhóm người này.
Vậy có vẻ còn sớm khi khuyên sử dụng vitamine D một cách hệ thống chừng
nào không có nghiên cứu lâm sàng có tính thuyết phục, cho phép đánh giá
lợi ích và độc tính có thể xảy ra. Vitamine D vẫn quá nguy hiểm để có
thể được đề nghị như là chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire),
những liều lượng quá mức có thể dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng. Đơn
giản nhất là đi tìm kiếm vitamine D ở nơi mà nó hiện diện một cách tự
nhiên, trong thực phẩm (dầu gan cá morue, vài loại cá mỡ như saumon, maquereau,
cá ngừ và sardines, nhất là đồ hộp) và ở một mức độ ít hơn trong sữa,
trứng và ngũ cốc. Phơi nắng ít nhất vài phút mỗi ngày cũng đủ để đảm bảo
sự cung cấp cần thiết vitamine D. (LE FIGARO 8/3/2010)
2/ TÌNH TRẠNG THỰC VẬT : MỘT SỰ
GIAO TIẾP ĐƯỢC XÁC LẬP.
Bệnh nhân bị đắm chìm trong một tình trạng thực vật từ 5 năm nay và tuy
vậy, một thanh niên 29 tuổi đã có thể “ trả lời ” các câu hỏi của những
nhà nghiên cứu. Làm thế nào ? bằng cách làm hoạt động vài vùng của não
bộ anh ta, như các nhà khoa học đã có thể chứng thực điều đó nhờ một IRM
chức năng. Đó là khám phá của nhóm nghiên cứu Adrian Owen, thuộc đại học
Cambridge (Anh), và Steven Laureys, thuộc đại học Liège, (Bỉ), được công
bố trong New England Journal of Medicine. Những kết quả này xác nhận một
công trình nghiên cứu trước đây (2006), trong đó các nhà khoa học đã yêu
cầu một nữ bệnh nhân, cũng trong tình trạng thực vật, tưởng tượng một
trận đấu tennis rồi một cuộc đi dạo, cả hai sự tưởng tượng này làm hoạt
hóa hai vùng não bộ rất riêng biệt. Lần này, các nhà nghiên cứu đã trắc
nghiệm 54 bệnh nhân và 5 bệnh nhân đã điều biến hoạt động não bộ của họ.
Rồi Adrian Owen và Steven Laureys đã vượt qua một bước bổ sung bằng cách
thử đặt các câu hỏi cho một trong 5 người trả lời. “ Vì “ vâng ” hay “
không ” không có thể thấy được bằng IRM, Steven Laureys đã giải thích
như vậy, nên người ta đã đề nghị bệnh nhân hãy nghĩ đến tennis để nói
“ vâng ”, nghĩ đến đi dạo để nói “ không ”. ” “ Anh có một người chị hay
không ? Cha anh tên gọi là Thomas phải không ?...”. Chàng thanh niên đã
trả lời không sai lầm. “ Điều đó hàm ý rằng bệnh nhân nghe được câu hỏi,
hiểu được nó, nhớ điều ký thác để trả lời. Thật rất đáng ngạc nhiên, Stevens
Laureys đã bình luận như vậy. Mục đích của chúng tôi là xác nhận một phương
pháp mô tả một cách chính xác hơn tình trạng tri thức của các bệnh nhân.
” Một nhu cầu thật sự bởi vì, như nhóm nghiên cứu Liège đã chứng tỏ điều
đó vào năm 2009, 41% những tình trạng thực vật thật ra là những tình trạng
ý thức tối thiểu (état de conscience minimale) không được chẩn đoán đúng.
NGỮ VỰNG
CHẾT NÃO (MORT CEREBRALE) : một
hôn mê không thể đảo ngược, được đặc trưng bởi một điện não đồ bằng phẳng
(không có hoạt động điện). Người chết não không còn cử động nữa và chỉ
thở nhờ hô hấp nhân tạo. “ Không bao giờ có ai tỉnh lại cả ”.
HÔN MÊ (COMA) : tình trạng thức
tỉnh (état de vigilance) bị biến đổi, với những giai đoạn khác nhau. Tùy
theo độ sâu của hôn mê, bệnh nhân mở mắt hay không, thở tự nhiên hay cần
hỗ trợ thông khí, và phản ứng hay không với các kích thích.
TÌNH TRẠNG THỰC VẬT (ETAT VEGETATIF) hay
HÔN MÊ THỰC VẬT (COMA VEGETATIF) : thức tỉnh (mắt mở), không có
ý thức, bệnh nhân thường thở tự nhiên. Nói không có ý nghĩa.
TÌNH TRẠNG Ý THỨC TỐI THIẾU (ETAT DE CONSCIENCE
MINIMALE) : thức tỉnh, có ý thức tối thiểu,
thở tự nhiên, ngôn từ sơ đẳng.
Hôn mê thực vật (coma végétaif), tình trạng ý thức tối thiểu (conscience
minimale) hay tình trạng ít giao thiệp (état pauci-relationnel). “ Sự
khác nhau giữa các trạng thái khác nhau này và hôn mê nói riêng khó mà
xác định được.” Vài bệnh nhân trong số này có thể dùng mắt theo dõi một
người thân hay mỉm cười với người này, nhưng các bệnh nhân này không có
thể trao đổi được. Các nghiên cứu cho thấy rằng những tình trạng này có
thể thay đổi nhiều tùy theo mỗi cá thể và không hẳn là được nhận diện
một cách rõ ràng.
LOCKED-IN-SYNDROME : thức tỉnh,
có ý thức, không nói được, liệt 4 chi. (SCIENCES ET
AVENIR 3/20101)
3/ MAGNESIUM ĐỂ “KÍCH THÍCH
” CÁC TẾ BÀO THẦN KINH.
Chính một chất kích thích trí nhớ, ly kỳ, mà các nhà nghiên cứu của đại
học Tsinghua ở Bắc Kinh (Trung Hoa) và của Massachusetts Institute of
Technology ở Boston (Hoa Kỳ), loan báo đã khám khá trong tạp chí Neuron.
Một loại thuốc hoàn toàn mới ? Không, đó là magnésium, nhưng dưới dạng
hợp chất cho phép nó đi vào trong não bộ một cách dễ dàng hơn. Magnésium
cần thiết cho sự chuyển hóa của các tế bào và đặc biệt là cho sự vận hành
chức năng của các tế bào thần kinh. Mặc dầu rất hiện diện, thí dụ trong
chocolat, chuối hay vài loại nước uống, nhưng đôi khi magnésium bị thiếu
hụt trong chế độ ăn uống hiện đại. Bù lại, sự thặng dư của magnésium trong
máu được loại bỏ rất nhanh, điều này khiến nồng độ của nó trong máu ít
có khả năng tăng cao trong não bộ, mặc dầu có lợi. Nhóm nghiên cứu Trung
quốc-Hoa Kỳ đã khám phá ra rằng sự kết hợp của magnésium với một phân
tử nhỏ, acide L-thréonique, làm dễ sự hấp thụ của nó bởi não bộ. Một tháng
sử dụng thréonate de magnésium (MgT) cải thiện trí nhớ nơi chuột và dập
tắc sự suy đồi của trí nhớ không gian (mémoire spatiale) nơi các động
vật gậm nhấm lớn tuổi. Những hiệu năng tốt hơn này vẫn được duy trì chừng
nào MgT được thêm vào nước uống của chúng. Những hiệu năng này cũng được
thể hiện nơi chuột bởi một sự gia tăng số các nối kết thần kinh (connexions
nerveuses) và sự ổn định của chúng trong một vùng não bộ quan trọng đối
với trí nhớ và học tập, thùy hải mã (hippocampe). Được hấp thụ dễ dàng
bởi cơ thể, vô hại, MgT có thể nhanh chóng thay thế các công thức pha
chế Mg đang hiện diện trên thị trường. (SCIENCE ET
AVENIR 3/2010)
4/ ĐỘNG KINH : MỘT SỰ NGHIỆP HIỂN
HÁCH KHẢ DĨ NHƯ AGATHA CHRISTIE HAY MOLIERE
Con tôi bị động kinh không biết rồi sẽ ra sao ? Câu hỏi này, rất là chính
đáng, sớm hay muộn cũng được đặt ra. Agatha Christie đã bị bệnh động kinh
cũng như Molière, nhưng điều này đã không ngăn cản họ bắt các màng não
của hàng triệu độc giả phải làm việc. Như thế, người ta có thể bị bệnh
động kinh và vẫn có một đời sống bình thường. Bởi vì trong số 40 dạng
động kinh hiện có, phần lớn không đặt ra vấn đề quan trọng : 2/3 các động
kinh này là những động kinh riêng rẽ và có tiên lượng tốt, mặc dầu vài
dạng kèm theo một cách tạm thời những giai đoạn trầm trọng hóa. Vậy đúng
là lúc cần có cái nhìn thay đổi đối với những kẻ khác. Vâng, động kinh
là một bệnh thần kinh, thường có thể kiểm soát được. Không, khi ta có
phương tiện điều trị, bệnh này không phải là không thích hợp, trong đại
đa số các trường hợp, với một sự hội nhập tốt. Mặt khác, các cơn động
kinh biến mất (gần ½) trước tuổi trưởng thành.
Không phải tất cả các học sinh bị bệnh động kinh đều theo đuổi cấp một
trung học một cách bình thường mặc dầu trí thông minh toàn bộ không bị
ảnh hưởng đối với đại đa số những học sinh này. Nguyên nhân : vài rối
loạn của sự chú ý hay của ngôn ngữ, chưa kể đến đôi khi ảnh hưởng có hại
của điều trị chống động kinh. Lại càng đáng tiếc khi phần lớn những vấn
đề này đang lý ra có thể được cải thiện bằng sự theo dõi của một thầy
thuốc thần kinh-tâm lý (neuropsychologue) và bởi sự hiện diện của một
sự hỗ trợ đời sống học đường, ít nhất là trong những giai đoạn trầm trọng
tạm thời. Đó là một trong những con ngựa chiến của Viện của các bệnh động
kinh của trẻ em và của thiếu niên, mà trung tâm sẽ có thiên chức theo
sát gia đình... Đó là điều chủ yếu bởi vì chỉ sự việc tiếp xúc với giáo
viên giảng dạy của một em bé động kinh để giải thích với ông ta làm sao
giúp đỡ em bé cũng có thể đủ cứu vớt tình trạng học vấn của em này ”,
GS Arzimanoglou đã nhấn mạnh như vậy.
Thể thao cũng cần cho sự phát triển của đứa trẻ. Chỉ có những hoạt động
trong đó một sự bất tỉnh có thể làm nguy hiểm người bệnh (leo núi, lặn,
nhảy dù...) là bị cấm chỉ. Ngoài những ngoại lệ này, hoạt động vật lý
làm dễ sự hội nhập và có thể gợi lên nhiều thiên hướng : mặc dầu bị bệnh
động kinh, Marion Clignet đã giành được 6 danh hiệu thế giới và hai huy
chương bạc thế vận hội đua xe đạp : một thắng lợi vang dội.
Từ khi có nghị định 21/12/2005, những bệnh nhân động kinh nhận giấy chứng
nhận khả năng tạm thời lái xe trong một năm sau khi có ý kiến của một
thầy thuốc thần kinh. Không có một lý do nào khiến các người bị động kinh
bị tước mất việc thực hiện vài loại nghề nghiệp không có nguy cơ, như
trong lãnh vực dịch vụ. Những chuyến du lịch vui chơi giải trí hay công
tác cũng không phải là một vấn đề với điều kiện mang theo đủ thuốc men.
Ngay cả thai nghén đã trở thành khả dĩ. Vì không phải tất các các thuốc
chống động kinh đều có thể tương hợp, nên một sự thích ứng (trước khi
có thai) có thể cần thiết. Một sự theo dõi sát và sự sinh đẻ trong môi
trường bệnh viện là những bước còn lại. (LE FIGARO
1/3/2010)
5/ LIỆT MẶT : PHỤC HỒI SỰ NHÁY
MẮT ?
Những người bị liệt mắt vĩnh viễn không có khả năng nháy mắt về phía bị
bại liệt. Ngoài sự thiệt hại về mặt thẩm mỹ, việc không nháy mắt làm dễ
sự làm khô giác mạc và sự xuất hiện của các rối loạn dinh dưỡng (troubles
trophiques) (loét, viêm kết mạc...). Những thầy thuốc ngoại khoa Travis
Tollefson và Craig Senders, thuộc Davis Medical Center (Sacramento, Hoa
Kỳ), đã hiệu chính một vòng điện dưới da (circuit électrique sous-cutané),
được thiết đặt giữa cơ vòng mí mắt trên (l’ orbiculaire de la paupière
supérieure) không bị thương tổn bởi bại liệt mặt và những bộ phận được
cắm vào phía bên bại liệt. Cơ vòng lành mạnh được nối bằng một điện cực
với một động cơ điện nhỏ xíu, được đặt trong hố thái dương (fosse temporale)
nơi vùng bị bệnh và được nối với những cơ nhân tạo bằng silicone, được
nối với hai dải mảnh được đặt trong mí mắt bị bại liệt (trên và duoi).
Khi mí mắt lành nháy, nó sẽ gởi một tín hiệu đến động cơ điện làm biến
đổi tín hiệu này thành những xung động điện và làm hoạt động những mí
mắt bị bại liệt. Theo các nhà nghiên cứu, kỹ thuật này sẽ có thể được
sử dụng từ nay đến 4 hoặc 5 năm nữa. (PARIS MATCH 25/2-3/3/2010)
6/ DÙNG NHỮNG BỮA ĂN TRONG GIA
ĐÌNH LÀM GIẢM BỆNH BÉO PHÌ CỦA TRẺ EM.
Theo một điều tra Hoa Kỳ, ăn trong gia đình, có một giấc ngủ đầy đủ và
không xem quá nhiều TV làm giảm nguy cơ.
ALIMENTATION. Chứng béo phì của trẻ em là một hiện tượng đáng quan tâm,
không chỉ ở Hoa Kỳ, mà còn ở Pháp, là nơi những con số mới nhất chỉ rõ
rằng 18% các trẻ em bị tăng thể trọng (surpoids) và 4% bị béo phì. Với
nhiều hậu quả, đặc biệt là sự xuất hiện của một bệnh đái đường mỡ (diabète
gras) nơi các trẻ em, các thiếu niên, trong khi bệnh này nói chung dành
cho những người trên 50 tuổi. Một khi sự tăng thể trọng được thành hình,
thì khó mà làm mất được. Do đó tầm quan trọng của sự phòng ngừa. Nhưng
thực hiện như thế nào?
Hai thầy thuốc Hoa Kỳ, Robert Whitaker và Sarah Anderson (một là thầy
thuốc nhi khoa, và một là chuyên gia về y tế cộng đồng), đã xem xét các
dữ kiện liên quan đến 8550 trẻ em, được thu thập trong khung cảnh của
một công trình nghiên cứu rộng lớn, “ Early childhood longitudinal study
”, nhằm tìm hiểu những yếu tố quyết định của sức khỏe nhi đồng. Các kết
quả của công trình phân tích của họ, được công bố tuần này trong báo y
học Pediatrics hẳn sẽ chỉ dẫn cho các bà mẹ làm sao để phòng ngừa con
cái họ chống lại sự tăng thể trọng.
3 TIÊU CHUẨN CẦN ĐƯỢC TÔN TRỌNG.
Cuộc điều tra, được thực hiện trên những trẻ thuộc lứa tuổi trước học
đường (dưới 6 tuổi), tiết lộ rằng những trẻ dùng đều đặn bữa ăn trong
gia đình (ít nhất 5 lần mỗi tuần) hay có một thời gian ngủ thích nghi
với lứa tuổi của chúng (ít nhất 10 giờ rưỡi mỗi đêm), hay những trẻ chỉ
xem TV trong một thời gian có giới hạn (dưới 2 giờ mỗi ngày), bị chứng
béo phì ít hơn những trẻ khác. Khi hội đủ 3 tiêu chuẩn này, tỷ lệ bị béo
phì là dưới 40% so với những trẻ không đáp ứng với một tiêu chuẩn nào
trong 3 tiêu chuẩn này. Phân tích thống kê cũng cho phép biết được rằng,
trong số những trẻ có lối sống tôn trọng 3 tiêu chuẩn nêu trên, chỉ 14,3%
bị chứng béo phì trong khi 24,5% các trẻ không tôn trọng tiêu chuẩn nào
cả bị chứng bệnh này.
3 yếu tố này không được đánh giá một cách tình cờ. Người ta đã chứng tỏ
rằng sự việc dùng bữa ăn trong gia đình làm gia tăng sự tiêu thụ trái
cây và rau xanh, mang lại một chế độ ăn uống đa dạng hơn và làm giảm sự
ăn vặt, giữa các bữa ăn, những sản phẩm mỡ có muối và đường. Sự thiếu
ngủ nơi trẻ em và thiếu niên cũng được liên kết với một sự tăng thể trọng,
có lẽ là do sự gia tăng ăn uống trong thời kỳ thức và bởi vì giấc ngủ
là một yếu tố điều hòa quan trọng. Sau hết, việc xem TV dài lâu làm giảm
thời gian dành cho hoạt động vật lý và làm gia tăng các đợt ăn vặt.
“ Tiêu chuẩn nào trong ba tiêu chuẩn này là quan trọng nhất cần được tôn
trọng ”, các bố mẹ tự hỏi như vậy. Bữa ăn gia đình, thời gian ngủ, sự
hạn chế xem truyền hình ? Mỗi tiêu chuẩn có tầm quan trọng như nhau. Và
tốt nhất, đó là thực hiện 3 tiêu chuẩn đồng thời, GS Sarah Anderson (giáo
sư dịch tễ học của Đại học Ohio) đã trả lời như vậy.
Những công trình nghiên cứu trước đây đã phát hiện, như là yếu tố tiên
đoán (facteur prédictif) của chứng béo phì trẻ em, một sự tăng thể trọng
của người mẹ, một trình độ thấp về mặt xã hội-kinh tế và học vấn, sự kiện
được nuôi dạy trong một gia đình chỉ có cha hay mẹ. Tất cả những yếu tố
này đã được tìm thấy lại trong công trình nghiên cứu này. Tuy nhiên, ngay
cả trong những gia đình “ không được ưu đãi ” này, sự việc hội đủ cả ba
tiêu chuẩn nêu trên (các bữa ăn trong gia đình, giấc ngủ đầy đủ, giới
hạn việc xem truyền hình) cũng làm giảm nguy cơ bị bệnh béo phì. Những
dữ kiện này đáng được phổ biến để giúp đỡ các bố mẹ hạn chế dịch bệnh
béo phì đang đe dọa chúng ta. (LE FIGARO 10/2/2010)
7/ NHẤT CỬ LƯỠNG TIỆN CHỐNG
LẠI BỆNH ALZHEIMER.
Một đường hướng nghiên cứu mới chống lại bệnh Alzheimer đã được mở ra
? Có thể, nếu tin theo hai công trình nghiên cứu phát hiện những tính
chất của một protéine, FKBP52, hiện diện tự nhiên trọng não bộ. Bệnh Alzheimer
phát khởi khi hai quá trình lão hóa não bộ này tác dụng cộng lực với nhau.
Hiện tượng đầu tiên là loạn năng của một protéine được gọi là APP, phóng
thích ra ngoài neurone một peptide bất thường A-bêta. Hiện tượng thứ hai
là sự biến đổi của một protéine tau có nhiệm vụ làm ổn định cấu trúc của
sợi trục (axone). Dưới tác dụng của tau được biến đổi, sợi trục co rút
lại rồi thoái hóa. Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng A-bêta làm
dễ bệnh tau (taupathie) này. Tấn công trực diện cùng lúc hai hiện tượng
này là một điều trị lý tưởng.
Protéine FKBP52 đúng là có thể có tác dụng kép này. Một nhóm nghiên cứu
của đại học New Jersey (nghiên cứu các drosophile transgénique) đã cho
thấy rằng các con ruồi siêu biểu hiện FKBP52, thấy độc tính của A-bêta
giảm bớt và tuổi thọ của chúng được kéo dài ra. Cùng lúc, phòng thí nghiệm
Inserm 788 của Etienne-Emile Baulieu cho thấy rằng FKBP 52 có một ái lực
mạnh đối với tau, in vitro, và nhất là đối với tau bị biến đổi. Lúc cố
định vào tau, FKBP52 làm bất hoạt protéine có hại này. Vẫn còn phải biết
xem là một tác dụng như thế có sẽ được phát hiện in vivo hay không, và
người ta có thể chế tạo một chất kích thích của yếu tố bảo vệ này hay
không. Nhóm nghiên cứu Pháp phát động song hành một nghiên cứu chẩn đoán,
với bệnh viện Charles-Foix (Ivry-sur-Seine). Một sự thiếu hụt FKBP52 nơi
các bệnh nhân có phải là một chỉ dấu sớm của bệnh Alzheimer ? Câu trả
lời trong hai hoặc ba năm nữa. (SCIENCE ET AVENIR 3/2010)
8/ CAO HUYẾT ÁP : MỘT ĐIỀU TRỊ
MỚI BẰNG TẦN SỐ PHÓNG XẠ.
30% dân số thế giới bị bệnh cao huyết áp.
Rất thường xảy ra sau 50 tuổi, bệnh cao huyết áp là lý do của sự sử dụng
suốt đời của một hay nhiều loai thuốc giảm huyết áp, nhằm tránh sự xuất
hiện các biến chứng trầm trọng (như một tai biến mạch máu não). Thường
thường người ta không tìm thấy một nguyên nhân chính xác nào cho căn bệnh
này nhưng, dầu cho bệnh thuộc dạng nào, luôn luôn có một loạn năng của
hệ thần kinh giao cảm (dysfontionnement du système nerveux sympathique).
Những dây thần kinh giao cảm có liên hệ với bệnh cao huyết áp, đi theo
đường đi của của các động mạch thận và ngay cả nằm trong lớp vỏ bọc ngoài
của các động mạch này. G.S Henry Krum (đại học Monash, Melbourne, Úc)
đã hiệu chính một kỹ thuật nội huyết quản (technique endovasculaire) cho
phép cắt thần kinh (dénervation) các động mạch thận với gây mê tại chỗ.
Các siêu âm, áp vào thành của các động mạch, được phát ra nhờ một ống
thông được đưa vào bằng cathétérisme : nhiệt phát ra làm phá hủy các sợi
thần kinh mà không làm hư hỏng các động mạch. Kỹ thuật tần số phóng xạ
(technique de radiofréquence) này (một giờ) đã được trắc nghiệm thành
công nơi 45 bệnh nhân người Ức đề kháng với tất cả các điều trị nội khoa.
Một công trinh nghiên cứu quốc tế quy mô lớn đang được tiến hành. (PARIS
MATCH 4/3-10/3/2010)
9/ BỆNH SUY THẬN SẼ BÙNG
NỔ TRONG NHỮNG NĂM SẮP ĐẾN.
Ngày 1/3, Ngày quốc tế về thận (Journée mondiale du rein) sẽ nhấn mạnh
đến vai trò của bệnh đái đường mỡ (diabète gras) trong sự phát khởi của
các bệnh suy thận này.
NEPHROLOGIE. Vào năm 2010, cứ mười người trưởng thành thì có một bị một
bệnh thận, điều này thể hiện hơn 500 triệu bệnh nhân trên thế giới. Chính
để báo động công chúng, các thầy thuốc, và kể cả những người hữu trách
y tế về sự tiến triển đáng lo ngại của những bệnh lý trầm trọng này, thường
được chẩn đoán quá muộn, mà Liên Đoàn quốc tế của các tổ chức về thận
và Hiệp hội quốc tế khoa thận, tổ chức vào ngày 11/3, lần thứ năm liên
tiếp, Ngày quốc tế về thận (Journée mondiale du rein).
GS Eric Rondeau, tổng thư ký của Fondation française du rein đã giải thích
hôm qua trước báo chí “ những dữ kiện dịch tễ học cho thấy rằng tần số
của các bệnh thận sẽ gia tăng gấp 1,5 đến 2 lần từ nay đến 2025.” Bệnh
cao huyết áp và nhất là bệnh đái đường loại 2, đang gia tăng một cách
hằng định trong các năm qua, là những nguyên nhân chính của tiến triển
đáng lo ngại này. “ Ngày nay, GS Rondeau đã chứng thực như vậy, 30 đến
40% các bệnh nhân chịu thẩm tách mãn tính (dialysés chroniques) đều bị
bệnh đái đường loại 2 này, “ nguồn cung cấp lớn ” của bệnh suy thận. Do
đó các nhà tổ chức đã chọn bệnh đái đường làm đề tài trung tâm của Ngày
về thận (Journée du rein) năm 2010.
Người ta sẽ nhấn mạnh vào sự điều tra phát hiện (dépistage) của những
bệnh lý này (néphropathies : bệnh thận ; glomérulonéphrite : bệnh vi cầu
thận), đôi khi có nguồn gốc di truyền như bệnh đa nang thận (polykystode
rénale), nếu không được chẩn đoán đúng lúc, trở nên không đảo ngược được.
Một khi cả hai quả thận không còn hoạt động được nữa, bệnh nhân không
còn lựa chọn nào khác là phải ghép thận, với điều kiện tìm được một người
cho, hay thẩm tách (dialyse). “ Ngay khi ta phát hiện thấy một tí xíu
dấu vết albumine hay máu trong nước tiểu, bệnh nhân phải được gởi đến
một thầy thuốc chuyên khoa bệnh thận (néphrologue) ”, BS Brigitte Lanz
thuộc Fondation du rein đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, nếu được đảm nhận
khá sớm, những bệnh lý này có thể được điều trị. Tiếc thay, mỗi năm ở
Pháp, người ta vẫn còn đếm được 8000 trường hợp bệnh nhân thẩm tách mới.
Với những hậu quả to lớn về mặt y tế cộng đồng. “ Thẩm tách chiếm 2% ngân
sách của Bảo hiểm-bệnh tật cho khoảng 37.000 bệnh nhân. Nhưng ngân sách
này có nguy cơ bùng nổ trong những năm đến ”, BS Lantz nói tiếp như vậy.
Thách thức quan trọng khác là cải thiện những điều kiện sống của những
người suy thận mãn tính. Được thực hiện ngoại trú, thẩm tách phúc mạc
(dialyse péritonéale), sử dụng, như tên chỉ rõ đều đó, phúc mạc (péritoine)
để lọc máu thay thế cho những quả thận bị suy, cho phép bệnh nhân có một
cuộc sống gần như bình thường, trong khi chờ đợi một phẫu thuật ghép thận
nếu có (chỉ 2000 trường hợp mỗi năm ở Pháp). (LE FIGARO
5/3/2010)
10/ UNG THƯ THẬN VỚI CẮT BỎ LẠNH
(CRYOABLATION) : ĐIỀU TRỊ KHÔNG CẦN PHẢI MỒ.
GS François Desgrandchamps, trưởng khoa niệu Bệnh Viện Saint Louis và
Eric de Kerviler, thầy thuốc quang tuyến bệnh viện Saint Louis, giải thích
những lợi ích của kỹ thuật cắt bỏ lạnh (cryoablation), vừa mới xuất hiện
ở Pháp.
Hỏi : Đối với những ung thư nào của thận,
ta sẽ thực hiện điều trị bảo tồn (chirurgie conservatrice) ?
GS François Desgrandchamps : Hiện nay người ta thống kê được 8.000 trường
hợp ung thư thận mới mỗi năm ở Pháp. Tỷ lệ mắc bệnh ung thư thận đã gia
tăng 80% từ 15 năm qua. Thường thường người ta khám phá ra chúng một cách
rất tình cờ, trong khi chúng còn rất nhỏ (60% các trường hợp), vào lúc
một thăm khám nào đó. Cho mãi đến cách nay 10 năm, điều trị chuẩn (traitement
de référence) là lấy bỏ quả thận. Ngày nay, sự cắt bỏ hoàn toàn này chỉ
được thực hiện nơi những ung thư thận có kích thước trên 7 cm. Đối với
những ung thư khác và khi khối u nằm ở ngoại biên của quả thận, người
ta chỉ thực hiện cắt bỏ phần bị ung thư mà thôi. Những kết quả đều giống
hệt nhau.
Hỏi : Ngoại khoa bảo tồn này phải chăng là
một động tác nặng nề ?
GS François Desgrandchamps : Đó là một phẫu thuật cần phải gây mê toàn
thân, cần phải xẻ một xương sườn hay của cơ lân cận, điều này thường dẫn
đến một sự bại liệt tạm thời của các cơ thành bụng. Thời gian nhập viện
biến thiên từ 3 đến 7 ngày và thời gian nghỉ việc khoảng 1 tháng. Trong
10% các trường hợp, người ta nêu lên những biến chứng giải phẫu : áp xe,
viêm tĩnh mạch, xuất huyết. Nghịch lý lạ lùng : hậu phẫu thường nặng nề
so với sau khi cắt bỏ toàn bộ một quả thận ! Nhưng, khi người ta có thể,
thi tốt hơn là gìn giữ hai quả thận.
Hỏi : Do đó nảy sinh một kỹ thuật ít gây
thương tổn hơn. Kỹ thuật cắt bỏ lạnh (cryoablation) nhằm mục đích gì ?
GS Eric de Kerviler : Mục đích của cắt lạnh (cryoablation) là nhằm phá
hủy khối u bằng lạnh, đồng thời vẫn tôn trọng các mô chung quanh. Phương
thức nhằm đưa các cây kim rỗng, được hướng dẫn bởi scanner, vào trong
khối u để tạo ở đó một hòn nước đá (boule de glace). Trong thời gian điều
trị này (kéo dài 1 giờ rưỡi), các cây kim được làm lạnh ở mỗi đầu mút
nhờ một loại khí, argon. Khí argon này làm hạ một cách đáng kể nhiệt độ
của đầu kim xuống đến dưới 100 độ âm C. Khi khối u có thể tích to tướng,
dĩ nhiên người ta gia tăng số lượng của các cây kim.
Hỏi : Làm sao người ta chắc chắn là đã phá
hủy toàn bộ ung thư ?
GS Eric de Kerviler : Để có một giới hạn an toàn, vùng được đông lạnh
nhất thiết phải vượt quá định vị của khối u. Sự sử dụng scanner trong
lúc phẫu thuật cho phép thực hiện điều này. 24 giờ sau điều trị, bệnh
nhân chịu một kiểm tra đầu tiên bằng IRM. Thăm khám IRM sẽ được lập lại
nhiều lần mỗi năm, và nếu các kết quả được duy trì, mỗi năm một lần.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với kỹ
thuật cắt bỏ lạnh (cryoablation) hay không ?
GS Eric de Kerviler : Có hai chống chỉ định chính. 1. Khối u không được
vượt quá 4cm đường kính. 2. Sự tiếp cận với một cơ quan láng giềng, như
đại tràng, không được quá lớn, mặc dầu hiện nay, người ta thường tách
được cơ quan này bằng khí C02.
Hỏi : Hậu phẫu diễn biến như thế nào ?
GS Eric de Kerviler : Những đau đớn tối thiểu không cần đến những chất
morphinique. Vì người ta đã không mở thành bụng cũng như không đụng đến
các cơ và các dây thần kinh, nên nguy cơ bị biến chứng là thấp. Thời gian
nhập viện là 24 giờ, hoạt động nghề nghiệp được tái tục rất nhanh.
Hỏi : Còn những kết quả lâu dài thì như thế
nào ?
GS Eric de Kerviler : Những liệu pháp lạnh (cryothérapie) đầu tiên đã
được thực hiện ở Hoa Kỳ. Vào năm 2008, các kết quả thu được nơi hai nhóm
bệnh nhân (tổng cộng 500 người) đã được công bố. Một nhóm đã được điều
trị bằng ngoại khoa bảo tồn (chirurgie conservatrice), nhóm kia bằng cắt
bỏ lạnh (cryoablation). Năm năm sau, những người thuộc hai nhóm đều có
cùng những kết quả tốt : tỷ lệ chữa lành là 92-95%. Nhưng người ta nêu
lên ít biến chứng hơn nhiều trong nhóm được điều trị bằng cắt bỏ lạnh.
Hỏi : Ở Pháp, ở đâu ta có thể được điều trị
bằng cắt bỏ lạnh ?
GS Eric de Kerviler : Hiện nay hai trung tâm lớn đặc biệt có nhiều kinh
nghiệm : trung tâm của chúng tôi ở bệnh viện Saint-Louis, Paris và trung
tâm của CHU Strasbourg. Những nhóm giải phẫu khác cũng bắt đầu sử dụng
kỹ thuật này. (PARIS MATCH 25/2-3/3/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/3/2010)
TAGS: Sinh tố D và ung thư (Vitamin D and cancers),
Magnesium và tế bào thần kinh, Động kinh, Liệt mặt, Bệnh béo phì của trẻ
em, Bệnh Alzheimer, Cao huyết áp vơí kỹ thuật tần số phóng xạ (hypertension,
technique de radiofréquence), Ung thư thận, cắt bỏ bằng Cryoablation,
Nguyen van Thinh
>>>back>>>
|
 |