 |
Thời
Sự Y Học số 163
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : CUỘC
CÁCH MẠNG CỦA CÁC SINH LIỆU PHÁP
NHỮNG NGUYÊN NHÂN
MỘT SỰ HĂNG TIẾT LÊN CỦA HỆ MIỄN DỊCH
Người ta gợi ra một viêm khớp (arthrite) khi khớp bị thương tổn, bị sưng
tấy và đau đớn, có tất cả các dạng vẻ của một bệnh viêm. Màng hoạt dịch
tiết một cách bất thường một chất dịch, khi tích tụ lại, đã tạo nên một
tràn dịch (épanchement). Viêm khớp gọi là dạng thấp (arthrite rhumatoide)
được đặc trưng bởi một bất thường bổ sung : các tế bào của màng hoạt dịch
tăng thêm và tăng sinh một cách vô tổ chức. Khi nhiều khớp bị thương tổn,
lúc đó ta gọi là bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide),
bệnh viêm tự miễn dịch có thể rất gây tật nguyền và hiện nay gây bệnh
cho hơn 100.000 người ở Pháp. Thường thường, một hiện tượng viêm tương
ứng với phản ứng của hệ miễn dịch đối với sự xâm lấn từ bên ngoài của
một virus, của một vi khuẩn... “Cơ thể của chúng ta, GS Maxime Dougados
đã giải thích như vậy, được tổ chức theo cung cách như xã hội của chúng
ta. Trong trường hợp kẻ lạ xâm nhập, cơ thể gọi đến các gián điệp : các
“tế bào công an” (cellules flics). Những tế bào này sẽ xác định vị trí,
“chụp hình” cá nhân không được mong muốn. Những “tế bào công an” này sau
đó tiến về “sở công an trung ương (commissariat central) (tuyến hung,
thymus) để xem kẻ lạ có nằm trong hộp phiếu (fichier) hay không. Nếu không
nằm trong danh sách, khi đó người ta gọi đến các hiến binh (các tế bào
lympho) để bắt kẻ lạ mặt. Trong trường hợp xâm lược quy mô nhỏ, kẻ thù
nhanh chóng được chế ngự, mà không gây hiện tượng viêm. Nhưng thường là
vi trùng tấn công các hiến binh... Khi đó cả một sư đoàn “CRS” (các kháng
thể) đến tăng cường và ở đó gây nên những tổn hại bên (dégats collatéraux),
lần này, với một phản ứng viêm mạnh mẽ, như một angine, nhằm loại bỏ kẻ
xâm nhập. Trong trường hợp viêm đa khớp dạng thấp, người ta quan sát thấy
một quá trình viêm với một sự tăng hoạt tính của các tế bào của hệ miễn
dịch nhưng...không có kẻ xâm lược ! Từ lâu người ta đã tìm kiếm nó mà
không tìm ra được. Chính vì vậy người ta mới gọi là bệnh tự miễn dịch
(maladie auto-immune). Người ta nghĩ rằng một chất của cơ thể không có
trong hộp phiếu trung ương (fichier central) đã không được nhận biết và
do đó bị chống lại như sự hiện diện quân thù.”
MAY MẮN THAY TẤT CẢ CÁC DẠNG CỦA BỆNH LÝ
NÀY KHÔNG CÓ CÙNG MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG
Thể trầm trọng nhất (20% các trường hợp) gây thương tổn những yếu tố nằm
kế cận khớp, gây nên một sự phá hủy sụn, xương, với những thương tổn của
các dây chằng hay các dây gân. Thể ít nghiêm trọng nhất (20% các trường
hợp) được điều trị sớm, sẽ tiến triển về hướng lành bệnh mà không gây
nên sự biến dạng. Thể thường xảy ra nhất ngày nay là thể mà trong đó mặc
dầu phản ứng viêm vẫn dai dẳng, nhưng những yếu tố lân cận vẫn được gìn
giữ nhờ những trị liệu duy trì mới cho phép kiểm soát bệnh và hủy bỏ những
đau đớn. “ Cái điều rất khó trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp, GS Maxime
Dougados đã nhấn mạnh như vậy, đó là các triệu chứng của nó : lúc đầu
chúng được biểu hiện bởi cứng khớp vào buổi sáng, ở các bàn tay và các
bàn chân (trong vòng 30 phút) và bởi những đau đớn làm phải thức dậy vào
ban đêm. Thật rất là khó chịu! ”
NHỮNG ĐIỀU TRỊ
... GIẢM ĐAU
Nếu nguyên nhân là một sụn bị phá hủy, ta cho một thuốc giảm đau (paracétamol
hay dẫn xuất morphine). Nếu đau đớn là do một phản ứng viêm, ta cho một
thuốc chống viêm. “Nhưng, GS Maxime Dougaloudos đã xác nhận như vậy, các
thuốc kháng viêm với cortisone (cac stéroidiens) về lâu về dài gây nên
các nguy cơ bệnh đái đường, đục thủy tinh thể, cao huyết áp. Những thuốc
kháng viêm không có cortisone (AINS) gây nên những rối loạn tiêu hóa.
Sự hiệu chính các thuốc kháng viêm, các coxibs, ít độc tính hơn nhiều
đối với dạ dày, là một bước tiến lớn. ”
--- LÀM YÊN NGHỈ HỆ MIỄN DỊCH
Các thuốc cổ điển được sử dụng từ nhiều thập niên, như méthotrexate, luôn
luôn có vị trí của nó trong điều trị. Nhưng những thuốc này, mặc dầu làm
giảm viêm, không luôn được dung nạp tốt và không thể ngăn chận hoàn toàn
tiến triển của bệnh. Chúng có thể gây nên đau bụng và đôi khi vài biến
chứng phổi, thận, máu. Do đó, cách nay vài năm, các nghiên cứu tích cực
để hiệu chính các thuốc hiệu quả hơn và được dung nạp tốt hơn.
VŨ KHÍ SINH HỌC
MỘT TIẾN BỘ NGOẠN MỤC
Các nhà khoa học đã biết rằng một trong những yếu tố chủ chốt của quá
trình viêm là một đội quân các phân tử (các cytokine), được chế tạo bởi
các tế bào của hệ miễn dịch khi chúng được tăng kích thích. Trong số những
cytokine (những loại messager có hại) này, những loại độc hại nhất (những
“bêtes noires”), đó là những TNF (Tumor Necrosis Factor). Những nhà nghiên
cứu lỗi lạc, trong đó có Giáo Sư Ravinder Maini (Giải Lasker 2003), đã
thành công hiệu chính một vũ khí sinh học, loại phi đạn có đầu tìm (missile
à tête chercheuse), có khả năng phong bế tác dụng của các TNF này, do
đó những thuốc này có tên là những kháng-TNF trong đó có étanercept (Enbrel),
adalimumab (Humira) và infliximab (Remicade) ... Những điều trị nhắm đích
này, được gọi là sinh liệu pháp (biothérapie) đã tạo nên một giai đoạn
quan trọng ! Ngày nay, với những năm tháng nhìn lại, người ta quan sát
thấy những kết quả ly kỳ với sự biến mất đôi khi hoàn toàn của phản ứng
viêm, của các đau đớn và của sự sưng tấy khớp. Bên cạnh các chất kháng
TNF này, những sinh liệu pháp khác nhằm vào các bia khác nhau đã chào
đời trong những năm gần đây, như rituximab (Mabthera) và abatacept. “Năm
nay, GS Maxime Dougalos đã loan báo như vậy, chúng ta sẽ được hưởng một
thuốc mới của sinh liệu pháp, tolicizumab, và khoảng 20 loại thuốc khác
đang được phát triển. Sự thay đổi trong chiến lược điều trị của chúng
ta là từ nay chúng ta sẽ điều trị ở thượng nguồn để ngăn ngừa những thiệt
hại. Can thiệp càng sớm, các thuốc càng có hiệu quả hơn.”
(PARIS MATCH 11/2-1/2/2010).
2/ BỆNH BÉO PHÌ CÀNH MẠNH, NGUY
CƠ UNG THƯ THẬN CÀNG GIA TĂNG
Theo một công trình nghiên cứu mới đây của Hoa Kỳ, béo phì làm gia tăng
nguy cơ phát triển một ung thư thận có các tế bào màu nhạt (cancer du
rein à cellules claires). Các nhà nghiên cứu của Memorial Sloan-Kettering
Cancer Center ở Nữu Ước đã khảo sát 1640 bệnh nhân bị những khối u thận,
trong đó 88% là ác tính. Trong lúc xem xét trọng lượng của những bệnh
nhân này, họ đã khám phá một mối tương quan đáng kể giữa sự việc bị béo
phì và sự hiện diện của các tế bào màu nhạt (cellules claires). Các kết
quả của họ tiết lộ rằng những người béo phì có 48% nguy cơ bổ sung phát
triển một ung thư thận có các tế bào màu nhạt (cancer du rein à cellules
claires), so với những người có một chỉ số khối lượng cơ thể (indice de
masse corporelle) dưới 30. Và các nguy cơ gia tăng 4% đối với mỗi điểm
bổ sung của chỉ số khối lượng cơ thể. Như thế chỉ số khối lượng cơ thể
là một yếu tố tiên đoán (facteur prédictif) độc lập của dạng ung thư này.
Tuy nhiên cơ chế sinh bệnh lý vẫn không được biết và như William Lowrance
đã đảm bảo điều đó, “ những nghiên cứu trong tương lai sẽ phải xác định
lý do của sự liên kết này ” (SCIENCE ET VIE 3/2010)
3/ CAO HUYẾT ÁP : “ MỘT ĐIỀU
TRỊ NGOẠI KHOA ”
CARDIOLOGIE. Một ngày nào đó, phải chăng ta sẽ có
thể chữa lành bệnh cao huyết áp bằng một động tác “nhỏ” quang tuyến can
thiệp (radiologie interventionnelle), và tránh phải uống thuốc suốt đời?
Tháng qua, các thầy thuốc của bệnh viện châu Âu Georges Pompidou (Paris),
lần đầu tiên đã thành công điều trị một bệnh nhân bằng “cắt thần kinh
thận” (dénervation rénale), mở đường cho những điều trị đổi mới. Gần 25%
những người bị bệnh cao huyết áp, mặc dầu một điều trị đúng đắn, vẫn có
một trị số huyết áp rất cao khiến họ dễ bị các nguy cơ nhồi máu hay tai
biến mạch máu não …Sau một bilan tìm kiếm một nguyên nhân hiếm của bệnh
cao huyết áp hay một sự tuân thủ điều trị kém, các thầy thuốc lao mình
vào trong sự kê đơn các loại thuốc, không nhất thiết có hiệu quả và không
phải là không có những tác dụng phụ. Trong bối cảnh này, một kỹ thuật
mới nhằm làm giảm hoạt tính của dây thần kinh giao cảm thận đã được phát
triển. Phương thức này đang được đánh giá trong một thử nghiệm quốc tế
ở Pháp, Đức, Úc, Bỉ, Ba Lan và Hoa Kỳ. “ Hiện nay, điều trị ngoại khoa
này chỉ được chỉ định đối với những bệnh nhân bị cao huyết áp đề kháng
(hypertension résistante), nghĩa là với một trị số huyết áp trên 14/9,
mặc dầu một phối hợp điều trị gồm 3 thứ thuốc, trong đó có một chất lợi
tiểu, GS Michel Azizi, thuộc bệnh viện Pompidou (đã thực hiện can thiệp
với GS Marc Sapoval) đã giải thích như vậy. Qua một cathéter, một ông
thông tần số phòng xạ (sonde de radiofréquence) được đưa vào trong các
động mạch thận để phá hủy dây thần kinh giao cảm thận (nerf sympathique
rénal) bằng những sóng tần số thấp (ondes de basses fréquences). Thủ thuật,
được thực hiện với gây mê tại chỗ, kéo dài 1 giờ. Bệnh nhân đầu tiên được
điều trị ở Pháp có diễn biến tốt và đã cải thiện trị số huyết áp của mình.
Những kết quả khẳng định sẽ được đánh giá sau 6 tháng. Trên thế giới,
50 bệnh nhân đã hưởng điều trị ngoại khoa này, với một sự giảm huyết áp
nhưng không gây tác dụng phụ quan trọng. (LE FIGARO
8/2/2010)
4/ MỘT HUYẾT ÁP TĂNG CAO
ĐÔI KHI LÀ MỘT ĐIỀU TỐT
Đôi khi tốt hơn là đừng điều trị huyết áp tăng cao của những người trên
85 tuổi. Thật vậy, điều trị cao huyết áp có thể làm bệnh nhân sớm tử vong.
Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu của Thomas van Bemmel (Leyde).
Thomas Van Bemmel của Universitair Medisch Centrum de Leyde (Hòa Lan)
đã theo dõi 571 người trên 85 tuổi, trong đó 223 lão ông có những tiền
căn cao huyết áp. Trong một thời kỳ theo dõi 4 năm, ông ta đã ghi nhận
290 trường hợp tử vong, Điều gây ngạc nhiên, đó là những bệnh nhân cao
huyết áp có sức khỏe tốt mặc dầu huyết áp của họ vẫn tăng cao. Nếu người
ta cấp cho họ các thuốc cao huyết áp, nguy cơ tử vong của họ gia tăng.
“Những người đã luôn luôn có một huyết áp tăng cao và đã không bao giờ
được điều trị, không được sử dụng các thuốc cao huyết áp một cách hệ thống
vào một lứa tuổi cao”, Thomas van Bemmel đã kết luận như vậy. Nếu ta cố
làm giảm huyết áp, có thể rằng điều đó có hại cho tuần hoàn máu và do
đó cho toàn cơ quan. Tuy nhiên nên điều trị những người đã luôn luôn có
một huyết áp bình thường và khi tuổi cao, đột ngột có một huyết áp bằng
hoặc cao hơn 160, nhà nghiên cứu đã chấp nhận như vậy.
ĐI NGƯỢC DÒNG
Thomas van Bemmel như thế chống lại những lời khuyến nghị chung theo đó
huyết áp phải luôn luôn được điều hòa nơi những người cao tuổi. Tuy nhiên,
dường như có những lý lẽ vững chắc. Nhất là bởi vì ông chứng minh rằng
nơi những người trên 85 tuổi có một trị số huyết áp tăng cao thường xuyên,
các quả thận hoạt động tốt hơn và rằng trí nhớ và tư duy của họ lanh lẹ
hơn. “Do đó cần phải biết các tiền sử y khoa của các bệnh nhân, nhưng
thường là thiếu, Thomas van Bemmel đã xác nhận như vậy. Đó là lý do tại
sao nên hiệu chính một phương pháp cho phép phân biệt giữa những người
có tiến triển ổn định hay hướng hạ và những người có tiến triển hướng
thượng, để như vậy thích nghi điều trị. Do đó chúng ta cũng phải đánh
giá trị số thích đáng mà ta cần đạt được.” Ông hy vọng có thể tiến hành
một công trình nghiên cứu về chủ đề này trong các bệnh viện.
LEIDEN 85-PLUS STUDIE
Công trình nghiên cứu của Thomas van Bemmel nằm trong bối cảnh của Leiden
85-phus Studie. Đó là một công trình nghiên cứu dọc được thực hiện từ
năm 1997 đến 1999 nơi tất cả các người dân 85 tuổi của thành phố Leyde.
Tổng cộng, 599 người đã tham gia vào công trình nghiên cứu. Mỗi năm, tất
cả các lão niên này đã phải chịu một đánh giá kỹ về phương diện vật lý,
chức năng, tâm thần và xã hội. Mục tiêu của công trình nghiên cứu này
là nhận diện những yếu tố quyết định của một đời sống không có vấn đề
về sức khỏe nơi những người thuộc lứa tuổi thứ 3 và 4. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 23/2/2010)
5/CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM CHỈ
HỮU ÍCH TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP RẤT NẶNG
Các bạn mất hết tinh thần ? Các bạn bị mất một người thân ? Các bạn ít
tin tưởng hơn vào chính mình ? Thế nhưng, các thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs)
không được chế tạo ra cho các bạn! Đó là, về căn bản, những điều mà các
tác giả của một công trình nghiên cứu mới của Hoa Kỳ đã trả lời như vậy
về tính hiệu quả của những thứ thuốc này. Họ vừa cho thấy rằng những thuốc
chống trầm cảm, được kê toa một cách rộng rãi, thật ra chỉ hữu ích nơi
những người bị chứng trầm cảm rất nặng, được biểu hiện bởi những ý nghĩ
tự tử, thậm chí những toan tính tự tử, một sự buông xuôi hoàn toàn từ
nhiều tuần hay những cơn hoang tưởng ... Để đi đến những kết luận này,
các nhà nghiên cứu đã phân tích 6 công trình, so sánh sự sử dụng của hai
thuốc chống trầm cảm với một placebo nơi 718 người. Đó là paroxétine,
thuộc lớp Prozac, và imipramine, một thuốc xưa hơn. Sau 6 tuần điều trị
chỉ những bệnh nhân bị chứng trầm cảm nặng nhất đã thấy các triệu chứng
của họ được cải thiện, hoặc 1/3 trong số những bệnh nhân được nghiên cứu.
Mặt khác, dường như sự đề kháng đối với các điều trị của bệnh trầm cảm
có thể được giải thích ít nhất một phần bởi sự thặng dư của các thụ thể
với sérotonine trong não bộ của vài người bị bệnh trầm cảm, như BS René
Hen, nhà nghiên cứu của đại học Columbia (Nữu Ước) mới đây đã khám phá.
(SCIENCE ET VIE 3/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr61.htm
(TSYH 61, bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr150.htm
(TSYH 150, bài số 9)
6/ “ MỘT TOA THUỐC NGỦ TỐT KHÔNG
ĐƯỢC QUÁ VÀI NGÀY ”
Một toa thuốc tốt kê đơn các thuốc ngủ không được quá vài ngày, BS Didier
Benhamou (thầy thuốc đa khoa của một nhà dưỡng lão) đã giải thích như
vậy. Các thuốc này phải được uống đúng giờ, để đối phó với những khó khăn
tạm thời. Không phải được sử dụng một cách hệ thống, nhưng chỉ khi cần
thiết. Bởi vì nếu không, sẽ xuất hiện rất nhanh một nguy cơ quen thuốc
(accoutoumance) và những tác dụng phụ có tiềm năng nghiêm trọng, nhất
là nơi những người già. ” Mặc dầu những lời khuyên này, các thuốc để ngủ,
các hypnotique và các thuốc an thần, còn được cấp phát rất rộng rãi ở
Pháp. Sự tiêu thụ thuốc ngủ ở Pháp là 8 đến 10 lần cao hơn so với sự sử
dụng của vài nước láng giềng Châu Âu. Những người già đặc biệt bị ảnh
hưởng bởi những thái quá này. Haute Autorité de santé, trong những năm
qua, đã công bố một loạt các hướng dẫn trong mục đích hạn chế việc sử
dụng của các loại thuốc này mà không thành công. Trong các nhà dưỡng lão,
30% - 60% những người hưu trí, theo những công trình nghiên cứu, đã uống
vào mỗi buổi tối loại thuốc này.
NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ
Điều trị mất ngủ bằng thuốc dựa trên hai lớp thuốc chính, các thuốc ngủ
(hypnotiques hay somnifères) có thời gian tác dụng ngắn, loại zopiclone
(Imovane) hay zolpidem (stilnoct) và các thuốc an thần (các benzodiazépines).
Hai lớp này có những cơ chế tác dụng và những chỉ định khác nhau, nhưng
có điểm chung là gây nên, đặc biệt lúc dùng lâu dài, những tác dụng phụ.
“Người ta đã chứng tỏ rằng các thuốc ngủ chỉ có hiệu quả trong một thời
gian ngắn và có những tác dụng có hại, đặc biệt nơi các người già, ta
có thể đọc như vậy trong một báo cáo mới đây của Haute Autorité de santé
về chủ đề này. Vậy chỉ định của các thuốc ngủ hoàn toàn bị hạn chế trong
các rối loạn giấc ngủ.” Những benzodiazépine (Valium, Tranxène ...) mà
tác dụng lên giấc ngủ chủ yếu là do một tác dụng an thần, về lâu về dài
sẽ gây nên những triệu chứng chóng mặt, các rối loạn trí nhớ, các tai
nạn lưu thông, các té ngã với nguy cơ gãy xương. Các loại thuốc ngủ thuần
túy (zopiclone, zolpidem), có thời gian tác dụng ngắn hơn, đóng vai trò
chất gây cảm ứng (inducteur) của giấc ngủ, không làm rối loạn trí nhớ,
nhưng cũng làm gia tăng nguy cơ gây té ngã, nhất là vào ban đêm. Hai loại
thuốc này gây nên một sự quen thuốc (accoutoumance). Dĩ nhiên để chống
những hậu quả này, đạo luật bắt buộc không được cấp toa thuốc với thời
hạn trên 4 tuần trong những trường hợp mất ngủ, và 12 tuần trong các trường
hợp rối loạn lo âu. Nhưng những khuyến nghị này phần lớn bị phớt lờ.
“Nơi các người già, cấu trúc của giấc ngủ bị biến đổi, BS Benhamou nói
thêm như vậy. Thêm vào đó thường là sự thiếu công việc, sự buồn chán,
một tình trạng trầm cảm, sự cô đơn, tất cả làm gia tăng chứng mất ngủ.
Phải tìm ra những hoạt động, phải chống lại sự cô đơn hiu quạnh, phải
điều trị chứng trầm cảm. Nhưng rất thường giải pháp dễ dàng là kê toa
các thuốc ngủ, loại thuốc trở thành một loại lễ nghi cần thiết vào mỗi
buổi tối.” (LE FIGARO 22/2/2010)
7/ BCG CÓ THỂ TRỞ NÊN MỘT ĐIỀU
TRỊ CỦA BỆNH HEN PHẾ QUẢN
Các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur đã hiệu chính một điều trị mới của
bệnh hen phế quản nhờ vaccin chống bệnh lao. “ Ở Nhật Bản, là nơi bệnh
lao thường xảy ra, bệnh hen phế quản nơi những trẻ em được tiêm chủng
bởi BCG xảy ra 3 lần ít hơn, Gilles Marchal đã kể lại như vậy, từ đó nảy
ra ý tưởng tiêm chủng BCG để điều trị bệnh hen phế quản. Với điều kiện
có thể làm bất hoạt được BCG ”. Bởi vì BCG chứa các trực khuẩn Koch sống
nhưng được làm giảm độc lực, nên có nguy cơ gây nên những phản ứng miễn
dịch và các áp-xe trong trường hợp tiêm lập lại. Thu được bằng quá trình
làm mất nước toàn bộ, giống gốc mới, vô hại và được đặt tên là BCG EFD
(Extended Freeze-Dying), vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó trên chuột.
“ Đúng là có một phản ứng viêm, nhưng BCG EFD kích thích hệ miễn dịch
để kềm chế phản ứng viêm này ”, Gilles Marchal đã giải thích như vậy.
Điều trị này có thể xuất hiện trên thị trường từ nay đến 5 năm. Điều trị
cần bốn mũi tiêm mỗi năm và sẽ không có những tác dụng phụ. (SCIENCE
ET VIE 3/2010)
8/ CHỐNG BÉO PHÌ BẰNG CÁCH ĂN VÀO
GIỜ TỐT
SANTE. Những thí nghiệm nơi chuột gợi ý rằng sự việc ăn uống vào ban đêm
góp phần gây bệnh béo phì.
Ăn như một ông vua vào buổi sáng, như một ông hoàng vào giữa trưa và như
một dân nghèo vào buổi tối? Câu ngạn ngữ dân gian đang được xác nhận một
cách khoa học. Để ngăn ngừa chứng béo phì, phải ăn một cách lành mạnh,
nhưng cũng phải đúng lúc, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, mà những công trình
đã được công bố trong tạp chí Obesity, đã xác nhận như vậy. Như thế, ăn
tối lúc 18 giờ tốt hơn là vào nửa đêm. Theo những thí nghiệm mà họ đã
thực hiện nơi chuột, ăn muộn vào lúc đáng lý ra phải ngủ, có thể góp phần
vào sự lên cân, dầu cho thành phần của bữa ăn là thế nào.
Tác giả chính của bài báo, Fred Turek (neurobiologiste ở đại học Chicago,
Illinois), là một trong những chuyên gia lớn nhất về những nghiên cứu
sinh học và di truyền của những chu kỳ thức/ngủ (cycles veille/sommeil).
Cách nay 4 năm, ông đã chứng minh rằng các con chuột bị rối loạn nhịp
đồng hồ sinh học (do sự biến dị của một gène được gọi là clock) có khuynh
hướng ăn vào những giờ không đều và phát phì hơn những động vật chịu cùng
chế độ ăn uống nhưng không có bất thường di truyền.
Lần này, nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ tập trung công tác vào những mối tương
tác giữa các giờ giấc ăn uống và trọng lượng. “Những người làm việc trực
gác, có khuynh hướng tăng thể trọng và béo phì, là một trong những tâm
điểm chú ý của chúng tôi, Deanna Arble, một trong những đồng tác giả của
bài báo của tạp chí Obesity đã giải thích như vậy. Thời biểu làm việc
của họ đã buộc họ ăn uống vào những giờ xung khắc với nhịp tự nhiên của
cơ thể họ. Đó là điều đã khiến chúng tôi nghĩ rằng ăn vào một giờ xấu
có thể góp phần làm phát phì. ”
Để kiểm tra điều đó, các nhà nghiên cứu đã so sánh hai nhóm chuột chịu
cùng một chế độ ăn uống (khá giàu mỡ) nhưng vào những giờ giấc khác nhau.
Những con chuột này được cho ăn trong một thời kỳ 12 giờ, tương ứng với
chu kỳ thức tự nhiên của họ (ban đêm, vì lẽ đó là những động vật sống
về đêm), những con chuột kia trong thời kỳ giấc ngủ bình thường. Sau 6
tuần theo chế độ này, những con chuột thuộc nhóm thứ nhất đã gia tăng
20% trọng lượng và các con chuột nhóm thứ hai gia tăng 48%. Trên bình
diện thống kê, sự khác nhau này là rất có ý nghĩa mặc dầu sự cung cấp
calo và những tiêu xài năng lượng giống nhau trong hai nhóm
“Một sự hiểu biết tốt hơn về vai trò của nhịp ngày đêm (rythme circadien)
trên sự điều hòa trọng lượng cơ thể có những hàm ý quan trọng trong cuộc
đấu tranh chống lại dịch bệnh béo phì hiện nay ”, các nhà nghiên cứu Hoa
Kỳ đã đánh giá như vậy. Ngay từ bây giờ phải chăng ta có thể loại suy
những kết quả này lên loài người, và làm tối ưu nhịp điệu ăn uống để có
thể làm chủ trọng lượng của mình ? BS Alain Delabos, nhà dinh dưỡng học
(Rouen) đã tin tưởng như vậy ...từ hai mươi năm nay. “ Điều quan trọng
trong dinh dưỡng, đó là biết ăn đúng loại thức ăn, với đúng số lượng,
và điều thiết yếu nhất là vào đúng lúc ”, người thầy thuốc này, tác giả
của nhiều tác phẩm chrono-nutrition (thuật ngữ mà ông đã phát minh) đã
đảm bảo như vậy. Theo ông, khẩu phần mỡ (và nhất là mỡ bảo hòa) phải được
giảm trong ngày. Nhưng đối với các chuyên gia dinh dưỡng và những nhà
nghiên cứu khác, các cơ sở khoa học về chủ đề này chưa khá vững chắc để
có thể áp dụng lên dinh dưỡng người.
“Thật vậy, tác phẩm quan trọng này là công trình đầu tiên chứng tỏ mối
liên hệ giữa lúc ăn uống và một sự biến đổi của chuyển hóa, nhưng không
thể khai thác áp dụng tức thời được”, Claude Gronfier, chronobiologiste
của Inserm (Lyon), người đã chỉ ra những khuyết điểm của công trình nghiên
cứu, đã đánh giá như vậy. Thật vậy, những người làm việc ban đêm, chiếm
20% những người làm việc trong các nước kỹ nghệ, thường bị những vấn đề
về tăng thể trọng, nhà nghiên cứu nói thêm vào như vậy. Đồng hồ sinh học
của họ có thể nói không bao giờ đúng giờ giấc. (LE
FIGARO 4/9/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr81.htm
(TSYH 81, bài số 7).
9/ CÁC BỆNH THUỘC LOẠI ALZHEIMER:
TÍNH HIỆU QUẢ CỦA NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA
Sau hội nghị AMPA, GS Andrieu, chuyên gia dịch tễ học, và GS Vella, thay
thuốc chuyên khoa lão khoa, bình luận những lợi ích của 3 quy tắc vệ sinh.
Hỏi : Những đặc điểm của bệnh Alzheimer là
gì ?
GS Bruno Vellas : Bệnh này có lẽ là do các ứ đọng bất thường của các protéine
amyloide xuất hiện một cách tỏa lan trong não bộ. Các ứ đọng này tập hợp
lại với nhau, và gây nên một sự phá hủy của các vùng bị xâm chiếm.
Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên là gì ?
GS Bruno Vellas : Những triệu chứng đầu tiên trước hết được thể hiện bởi
những rối loạn của trí nhớ mới xảy ra (mémoire récente), rồi trầm trọng
dần, đến độ được cảm thấy bởi những người xung quanh. Vào một giai đoạn
tiến triển hơn, người ta quan sát thấy một sự mất định hướng trong thời
gian và không gian với những khó khăn thực hiện những hoạt động hàng ngày.
Hỏi : Nhũng công trình nghiên cứu nào chứng
tỏ tính hiệu quả của những biện pháp phòng ngừa ?
GS Bruno Vellas : 3 công trình nhiên cứu dịch tễ học đã hứa hẹn đo lường
ảnh hưởng lợi ích của hoạt động vật lý, của một chế độ ăn uống thuộc loại
địa trung hải và của những bài tập luyện trí nhớ. Công trình nghiên cứu
đầu tiên, vào năm 2006, được tiến hành trên 170 người trên 50 tuổi, bị
những rối loạn về trí nhớ, đã so sánh hai nhóm người. Nhóm thứ nhất đã
hưởng một hoạt động vật lý, nhất là bước, theo nhịp độ 50 phút, 3 lần
mỗi tuần trong 6 tháng. Nhóm kia không được hưởng một tập luyện đặc biệt
nào. Sau 18 tháng, người ta đã quan sát thấy một sự cải thiện đáng kể
của trí nhớ trong nhóm đã hưởng hoạt động thể dục !
Hỏi : Làm sao giải thích những lợi ích này
?
GS Bruno Vellas : Thể dục tác động, hoặc là một cách trực tiếp bằng cách
làm gia tăng sự tiết của các facteurs de croissance neutrophiques, kích
thích sức sống của các tế bào thần kinh, hoặc một cách gián tiếp bằng
cách làm giảm những yếu tố chuyển hóa và huyết quản, rất có thể gây tổn
hại đối với não bộ. Tác dụng có lợi của hoạt động vật lý sẽ là mạnh hơn
tác dụng có lợi của nhiều loại thuốc !
Hỏi : Còn công trình nghiên cứu thứ hai của
Hoa Kỳ ?
GS Bruno Vellas : Các người tham gia được chia thành 4 nhóm : một nhóm
chứng, và 3 nhóm khác chịu những buổi luyện tập não khác nhau, trong nhiều
tháng. Sau 5 năm theo dõi, những người được hưởng những buổi tập luyện
này đã báo cáo, để thực hiện những hoạt động hàng ngày, ít gặp phải các
khó khăn hơn.
Hỏi : Những buổi tập luyện này có một ảnh
hưởng bằng cách nào ?
GS Bruno Vellas : Những buổi luyện tập này tác động chủ yếu lên tính dẻo
của não bộ (plasticité cérébrale), nghĩa là sự tái hoạt động của các tế
bào thần kinh. Những neurone này tiết ra nhiều hơn các chất trung gian
thần kinh (neuromédiateur). Những chất này sẽ kích thích trí nhớ và, do
đó làm dễ khả năng thực hiện những động tác hàng ngày.
Hỏi : Protocole của công trình nghiên cứu
khảo sát thứ ba là gì ?
GS Bruno Vellas : Công trình nghiên cứu này được thực hiện trên 1880 người
với tuổi trung bình 77 và sống ở Nữu Ước. Các thói quen ăn uống và mức
độ hoạt động vật lý của họ đã được thu thập vào đầu công trình nghiên
cứu và trí nhớ của họ đã được đánh giá, mỗi 18 tháng, trong 5 năm. Những
người dân Nữu Ước, theo một chế độ ăn uống loại Địa Trung Hải (giàu trái
cây, rau xanh, cá và ngũ cốc), và thực hiện đều đặn một hoat động vật
lý, ít bị phát triển bệnh Alzheimer hơn so với những người dân khác, ít
hoạt động hơn, có một chế độ ăn uống nhiều mỡ bảo hòa hơn.
Hỏi : Phải chăng hoạt động vật lý và chế
độ ăn uống Địa Trung Hải tác dụng cộng lực với nhau ?
GS Bruno Vellas : Một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau xanh hạn chế
stress oxy hóa gây nên sự sản xuất quá thừa các gốc tự do (mà những gốc
tự do này tham gia vào sự phá hủy của các tế bào thần kinh). 3 yếu tố
: hoạt động vật lý, sự kích thích nhận thức (stimulation cognitive), sự
dinh dưỡng thích hợp, do tác dụng cộng lực với nhau, có thể làm chậm sự
xuất hiện của các mảng amyloide. (PARIS MATCH 18/2-25/2/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr33.htm
(TSYH 33, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr60.htm
(TSYH 60, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr75.htm
(TSYH 75, bài số 3)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr112.htm
(TSYH 112, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr118.htm
(TSYH 118, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr123.htm
(TSYH 123, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr133.htm
(TSYH 133, bài số 6)
10/ NGỘ ĐỘC OXYDE DE CARBONE (CO)
ĐỂ LẠI NHỮNG DẤU VẾT.
Phần lớn mùa đông có lẽ sẽ lùi lại phía sau chúng ta vào lúc các bạn đọc
những dòng chữ này, nhưng tháng hai vẫn là một tháng nổi tiếng lạnh lẽo
trong vùng của chúng ta. Vậy đó là một lý do để ta phải đến gần lò sưởi
(poêle), và chắc chắn điều đó không phải là không nguy hiểm. Nước Bỉ mỗi
năm có hơn 1000 trường hợp ngộ độc CO.
Từ lâu ta biết rằng monoxyde de carbone (CO) gây nên giảm oxy mô (hypoxie)
do sự liên kết của nó với hémoglobine (Hb) và do sự chuyển về phía trái
của đường cong phân ly của oxyhémoglobine (courbe de dissociation de l’oxyhémoglobine).
CO cũng gây nên một tình trạng viêm, bởi những cơ chế không trực tiếp
liên quan với hémoglobine. Điều đó giải thích tại sao ngộ độc CO có thể
gây nên, không những một cơn đau thắt ngực (crise angoreuse) nơi những
bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, mà còn gây nên những thương tổn tim
nơi những người không hề có một thương tổn mạch vành nào cả, đó là lý
do tại sao những người bị ngộ độc CO phải được làm điện tâm đồ và phân
tích máu để xác định nồng độ của các men tim (enzymes cardiaques).
Cũng có một dạng ngộ độc CO bán cấp đã được mô tả nơi những người đã bị
tiếp xúc CO trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Điều đó có thể gây
nên cả một loạt các triệu chứng mơ hồ, nhưng mệt mỏi kéo dài, các rối
loạn tập trung và của trí nhớ, một giấc ngủ bị rối loạn, chóng mặt, cảm
giác kiến bò và cả đau thần kinh (neuropathie).
NHỮNG RỐI LOẠN NHẬN THỨC (TROUBLES COGNITIFS).
Một sự ngộ độc cấp tính CO để lại các dấu vết một cách lâu dài. Một công
trình nghiên cứu, được thực hiện về sự điều trị ngộ độc CO bằng liệu pháp
oxy bình áp (oxygénothérapie normobare), đã cho thấy rằng 46% các bệnh
nhân vẫn còn có những rối loạn nhận thức (troubles để là cognition) 6
tuần sau đó. Đau đầu, các rối loạn vận động, các bệnh thần kinh (neuropathies),
và các rối loạn trí nhớ hay cân bằng cũng đã được báo cáo. Ta có thể tưởng
tượng rằng các cơ chế khó có thể kiểm soát được đóng vai trò trong vài
trường hợp, tương tự như điều được quan sát đối với fibromyalgie hay các
triệu chứng thần kinh tiến triển chậm, lần lượt xảy ra sau một whiplash
hay một chấn động não (commotion cérébrale).
Nhiều năm sau khi điều trị một ngộ độc CO, các thương tổn của các hạch
nền (ganglions basaux) và một sự teo lại của thùy hải mã (hippocampe)
đã được quan sát nơi vài bệnh nhân.Tuy nhiên đó là những thương tổn ít
đặc hiệu, và chúng ta còn thiếu các dữ kiện được kiểm tra. Ngộ độc CO
được biết là làm gia tăng nguy cơ thoái hóa sớm nhận thức (dégénérescence
cognitive précoce). Không có gì là rõ ràng về chứng sa sút trí tuệ hay
những di chứng có thể xảy ra của ngộ độc. Một công trình nghiên cứu đã
cho thấy một nguy cơ gia tăng khi tuổi trên 36 tuổi, khi ngộ độc đã kéo
dài hơn 24 giờ, không có liệu pháp oxy tăng áp (oxygénothérapie hyperbare),
hoặc trong trường hợp có những vấn đề thần kinh có trước. Vì CO gây nên
một trạng thái viêm, nên các chất chỉ dấu máu (marqueur sanguin) có thể
là một hướng nghiên cứu trong tương lai. Những hậu quả lâu dài của một
ngộ độc CO vẫn là một lãnh vực cần thăm dò một cách đúng đắn bởi nghiên
cứu y học.
LIỆU PHÁP OXY BÌNH ÁP.
Các khoa cấp cứu đều nhờ vào liệu pháp oxy bình áp (oxygénothérapie normobare)
khi họ gặp phải một bệnh nhân bị ngộ độc CO. Biện pháp này làm gia tăng
sự biến mất của carboxyhémoglobine), nhưng tính hiệu quả của nó trong
việc phòng ngừa của các di chứng thần kinh đã chưa bao giờ được chứng
minh. Dầu thế nào đi nữa, liệu pháp oxy bình áp là rẽ tiền, an toàn và
dễ sử dụng, và do đó biện pháp này không phải bị đặt lại vấn đề trong
cấp cứu. Các ý kiến khác nhau về mối liên hệ giữa oxy liệu pháp tăng áp
(oxygénothérapie hyperbare) và các di chứng thần kinh sau ngộ độc. Lindell
Weaver, mà New England Journal of Medicine mới đây đã công bố một duyệt
xét tư liệu y học về vấn đề này, đã chỉ tìm thấy một công trình nghiên
cứu nghiêm chỉnh duy nhất đã kết luận rằng oxy liệu pháp tăng áp là hiệu
quả chống lại sự xuất hiện của những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs)
sau 1 tháng. Đối với tác giả, sự hiện hữu của một công trình duy nhất
không phải là một lý lẽ để không sử dụng điều trị này. Nhà chuyên gia
của y học tăng áp (médecine hyperbare) này khuyến nghị áp dụng điều trị
này vào một số lượng đầy đủ các bệnh nhân bị ngộ độc CO, trong hy vọng
rút ra những điều chỉ dẫn xác định hơn. Còn đối với Hiệp hội y học tăng
áp Hoa Kỳ thì chủ trương giới hạn việc dùng đến oxy tăng áp vào những
trường hợp đáp ứng ít nhất với một trong những tiêu chuẩn sau đây : sự
hiện diện của các triệu chứng, tuổi trên 36, thời gian tiếp xúc ít nhất
24 giờ, nồng độ CO trên 25%. Oxy liệu pháp tăng áp có thể được xem như
là tương đối an toàn và ít gây nên những tác dụng phụ. Biến chứng thường
xảy ra nhất là chấn thương tai do áp suất (barotraumatisme), được ghi
nhận nơi 2% các bệnh nhân được điều trị.
(LE GENERALISTE 1/2/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/3-3NgVThinh_CCNgoDoc7_cacbon-oxit.htm
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (1/3/2010)
TAGS:
Bệnh tự miễn dịch (maladie autoimmune), đa khớp dạng thấp (Polyarthrite
rhumatoide), thuốc giảm đau (paracétamol hay dẫn xuất morphine), cortisone
(stéroidiens), béo phì (obesity), méthotrexate, cao huyết áp (hypertension),
“cắt zopiclone (Imovane) kinh thận” (dénervation rénale), thuốc chống
trầm cảm (antidépresseurs), thuốc ngủ (hypnotiques hay somnifères), zopiclone
(Imovane), zopiclone (Imovane), thuốc an thần (benzodiazépines), tiêm
chủng BCG, monoxyde de carbone (CO), liệu pháp oxy bình áp (oxygénothérapie
normobare), rối loạn nhận thức (troubles cognitifs), Nguyen van Thinh
>>>back>>>
|
 |