 |
Thời
Sự Y Học số 162
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CHỈ CẦN MỘT XÉT NGHIỆM
MÁU ĐỂ THEO DÕI UNG THƯ.
Sẽ có thể theo dõi tính hiệu quả của các điều trị và những tái phát bằng
các chất chỉ dấu được cá thể hóa trong máu (marqueurs sanguins personnalisés).
GENETIQUE. Sự theo dõi của các ung thư được điều trị cần đến một loạt
các xét nghiệm để thăm dò nhiều cơ quan, nhằm kiểm tra sự vắng mặt các
tái phát hay di căn trong các cơ quan này. Một xét nghiệm máu đơn giản
để nhận diện các tế bào ung thư đặc hiệu của bệnh nhân, phải chăng chẳng
bao lâu nữa sẽ có thể thay thế các xét nghiệm theo dõi nặng nề này ? Đó
là điều mà các công trình của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ cho phép hy vọng.
Những nhà nghiên cứu này đã hiệu chính một xét nghiệm di truyền (test
génétique) đầu tiên có khả năng nhận diện các chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur)
đặc hiệu của một khối u ung thư từ một phân tích máu. Một kỹ thuật như
thế sẽ cho phép kiểm tra tính hiệu quả của các điều trị, bằng cách theo
dõi tiến triển của các chất chỉ dấu (marqueur) trong một xét nghiệm máu
và cho phép phát hiện một tái phát có thể xảy ra. Những công trình nghiên
cứu này, sẽ được công bố trong tạp chí Science Translational Medicine
số ngày 24 tháng hai, đã được trình bày hôm thứ năm tại hội nghị thường
niên của American Association for the Advancement of Science, được tổ
chức ở San Diego. “Kỹ thuật này, đó là sự áp dụng các technologies de
séquençage của bộ gène người (génome humain) vào sự cá thể hóa các điều
trị chống ung thư (personnalisation des soins anticancéreux)”, BS Victor
Velculescu, giáo sư ung thư học thuộc phân khoa y khoa của đại học Johns
Hopkins (Maryland), tác giả chính của công trình nghiên cứu, đã giải thích
như vậy.
“ Séquence du génome ”
Các tế bào ung thư được đặc trưng bởi sự biến đổi một cách hệ thống và
quá mức của chất liệu di truyền (matériel génétique) của chúng. Trong
lúc khảo sát 6 trường hợp ung thư, 4 của đại tràng và 2 của vú, nhóm nghiên
cứu của BS Velculescu đã có thể nhận diện những chất chỉ dấu sinh học
(biomarqueurs) trên cơ sở các chuỗi di truyền (séquence génétique) đặc
thù cho mỗi trong số các khối u này. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã thành
công, chỉ bằng một phân tích trong máu của các bệnh nhân, nhận diện các
chất chỉ dấu sinh học đặc thù của khối u ung thư này, nhờ những kỹ thuật
khuếch đại di truyền (technique d’amplification génétique), mở ra khả
năng theo dõi tiến triển của bệnh. Hiện nay chiến lược này, mà tính khả
thi vừa được chứng minh, có vẻ hơi phức tạp và tốn kém. Nhưng “những technologies
de séquençage du génome sẽ càng ngày càng ít tốn kém hơn, BS Velculescu
đã nhấn mạnh như vậy. Đối với những bệnh nhân của công trình nghiên cứu,
phí tổn để thực hiện séquençage là 5000 dollar mỗi người. Hiện nay, một
xét nghiệm scanner phí tổn 1500 dollar và chỉ có thể phát hiện những ung
thư vi thể (cancers microscopiques) chứ không thể phát hiện chữ ký di
truyền (signature génétique) như xét nghiệm mới này.”
“Nếu khuynh hướng hiện nay trong việc thực hiện séquençage du génome vẫn
được tiếp tục, thì trắc nghiệm này, được gọi là Pare (Personalized Analysis
of Rearranged Ends), sẽ trở nên ít tốn kém hơn và tỏ ra hiệu quả hơn các
scanner ”, BS Kenneth Kinzler, giáo sư ung thư học của đại học Johns Hopkins,
đã nhấn mạnh như thế, “ kỹ thuật này sẽ cho phép phát hiện các ung thư
tái phát trước khi chúng được phát hiện bởi những phương pháp quy ước
như scanner ”. Mặc dầu tỏ ra lạc quan như thế trước sự kiện là một xét
nghiệm sẽ có để sử dụng cho một số lớn các bệnh nhân trong các năm đến,
nhưng BS Velculescu đã cho rằng còn cần phải biết “ làm sao thu giảm phí
tổn ” để làm cho xét nghiệm có thể phổ cập.
Đối với GS Dominique Maraninchi, tổng giám đốc của Viện ung thư quốc gia
(Paris), công trình này thể hiện một bước tiến đáng lưu ý, nằm trong trào
lưu hiện nay của các chiến lược mới càng ngày càng cá thể hóa trong chẩn
đoán và điều trị ung thư. “ Chúng ta tham gia vào một công trình thế giới
nhằm phân tích toàn thể bộ gène (génome) của 50 loại khối u ung thư khác
nhau để nhận diện những biến dị đặc hiệu và tìm ra những chất chỉ dấu
đặc hiệu, với mục đích hiệu chính những xét nghiệm chẩn đoán hay phát
hiện, và dĩ nhiên những chiến lược điều trị cá thể hóa (stratégies de
traitement personnalisés).” (LE FIGARO 20/2-21/2/2010)
2/ SCANNER CÓ GÂY UNG THƯ KHÔNG
?
Scanner với các tia X là thăm khám y khoa “ phát xạ nhất ” (irradiant),
nhưng không phải vì vậy mà ta có thể liên kết liều lượng phát xạ (dose
d’irradiation) với nguy cơ gây ung thư. Những bài báo mới đây, theo đó
các xét nghiệm X quang gây nên hàng trăm tử vong mỗi năm, rất may mắn
thay lại được căn cứ trên những tính toán lý thuyết nhưng không được biện
minh về mặt khoa học, bằng cách suy diễn những liều lượng mạnh của phát
xạ mà những người sống sót Hirosima-Nagasiki đã chịu đựng với những liều
lượng thấp của phát xạ mà dân chúng phải chịu mỗi năm, dầu đó là phát
xạ tự nhiên, y khoa hay nguồn gốc kỹ nghệ.
Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp giả thuyết tệ hại nhất, nguy cơ được
tính toán là rất thấp, khoảng một nguy cơ trên nghìn với scanner có phát
xạ cao nhất, nhưng trên thực tế trị số này được đánh giá quá cao.
Từ 15 năm nay, các công trình nghiên cứu dịch tễ học đã không bao giờ
nhận thấy nguy cơ có ý nghĩa đối với những liều lượng phát xạ thấp ở người
trưởng thành hay trẻ tuổi. Những quan sát duy nhất về sự gia tăng của
nguy cơ ung thư sau những thăm khám y khoa có liên hệ đến những phụ nữ
trẻ ngày xưa đã tích lũy nhiều lần rọi huỳnh quang.
THÁI ĐỘ HỢP LÝ.
Điều này được giải thích, bởi vì các đề kháng của cơ thể chống lại những
liều phát xạ thấp là khác và về mặt tỷ lệ, hiệu quả hơn so với những đề
kháng được thực hiện để chống lại những liều phát xạ cao. Một liều phát
xạ thấp chỉ làm tổn hại một số nhỏ các tế bào (có thể trở thành tế bào
ung thư nhưng được loại bỏ một cách đơn giản và do đó không thoái hóa
thành ung thư).
Một nguy cơ tiềm tàng chỉ hiện hữu khi một số lượng rất cao các xét nghiệm
scanner được thực hiện qua trong một thời gian giới hạn. Đối với những
liều phát xạ cao, số những tế bào bị thương tổn không còn cho phép loại
bỏ chúng nữa. Khi đó các tổn hại tuy được sửa chữa nhưng với một nguy
cơ mắc phải các sai lầm có thể dẫn đến một ung thư.
Vậy không phải chính scanner là mối nguy cơ, nhưng trái lại, nguy cơ không
thực hiện xét nghiệm này vì sợ sự phóng xạ. Một thái độ hợp lý phải đảm
bảo một sự bảo vệ chính xác, đồng thời tránh một sự đánh giá quá mức về
các nguy cơ có thể làm bệnh nhân từ chối những xét nghiệm y khoa đã có
một vai trò quan trọng trong sự cải thiện sức khỏe và kéo dài tuổi thọ
từ đầu thế kỷ XX và có thể dẫn đến những biện pháp bảo vệ phóng xạ không
cân xứng và rất tốn kém, mà không có lợi ích y tế được mong chờ.
Để kết luận, ta có thể nói rằng một scanner dẫn đến một nguy cơ gây ung
thư gần như số không, nhưng người ta có thể sẽ không bao giờ chứng tỏ
được điều đó. Điều này không đặt lại vấn đề sự kiện rằng scanner phải
được biện minh bởi một lợi ích được mong chờ đối với bệnh nhân. Liều phát
xạ phải thấp chừng nào có thể được, nhưng cho phép thu được những điều
muốn tìm kiếm và nếu có những kỹ thuật không phát xạ (IRM hay siêu âm),
thì ta phải ưa thích kỹ thuật này hơn. (LE FIGARO 5/2/2010)
3/“NÃO BỘ THAI NHI BỊ GÂY MÊ NGAY
TRƯỚC KHI SINH”
3 câu hỏi được đặt ra cho Yehezkel Ben Ari, Giám đốc của Institut de Neurobiologie
de la Méditerranée (Inmed).
Hỏi : Điều gì xảy ra trong não bộ của thai
nhi, ngay trước khi sinh ?
Đáp : Các nhà sinh học của đơn vị chúng tôi mới đây đã chứng minh rằng
oxytocine, một hormone được phóng thích bởi vùng dưới đồi (hypothalamus)
của người mẹ, báo động não bộ của thai nhi về sự sinh sắp sửa xảy ra.
Như thế dường như những tế bào thần kinh của thai nhi được gây mê để đương
đầu với một tình huống thiếu oxy có thể xảy ra.
Hỏi : Phải chăng khám phá này làm xét lại
vài thái độ thực hành ?
Đáp : Điều đó nêu lên các nghi vấn, đặc biệt là về các loại thuốc được
cho để làm chậm lại những co thắt của tử cung bằng cách phong bế các thụ
thế đối với oxytocine. Phải chăng những thứ thuốc này gây nguy cơ cho
não bộ thai nhi khi ngăn cản một sự bảo vệ thần kinh (neuroprotection)
tự nhiên? Cũng vậy, thực hiện một mổ dạ con (césarienne) không có các
co thắt, không có ocytocine, phải chăng không phải là không có nguy cơ?
Nếu mổ vì một vấn đề tiện nghi, ta có thể do dự. Tốt hơn là nên tìm những
loại thuốc mới khác thích hợp hơn
Hỏi : Tại sao ông khuyên đừng uống cà phê
trước khi sinh ?
Đáp : Trong trường hợp thiếu oxy, các thụ thể với adénosine, nằm ở cuối
các tận cùng thần kinh, bị phong bế để bảo vệ các neurone. Caféine gắn
vào những thụ thể này và ngăn cản không cho sự phong bế xảy ra. (SCIENCES
ET AVENIR 2/2010)
4/ UNG THƯ VÚ DI CĂN : HY VỌNG
CỦA NHỮNG ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH MỚI.
BS Fabrice André, thầy thuốc chuyên khoa ung thư học thuộc Viện Gustave-Roussy,
ở Villejuif, giám đốc của phòng nghiên cứu Inserm U-981, trình bày những
kết quả đầy hứa hẹn của một công trình nghiên cứu đang được tiến hành.
Hỏi : Để chống lại những ung thư vú di căn
(cancers du sein métastasiés), những vũ khí của chúng ta là gì ?
BS Fabrice André : Điều trị tùy thuộc vào tính chất hung dữ của các tế
bào ác tính, phạm vi của các di căn, vị trí của chúng và tính nhạy cảm
đối với liệu pháp. Tôi nêu cho ông 3 thí dụ. 1. Đối với
những bệnh nhân trong thời kỳ mãn kinh bị một ung thư ít hung dữ, với
một định vị di căn rất giới hạn và khối u đã tỏ ra đáp ứng với các chất
kháng hormone, thì liệu pháp hormone là rất có hiệu quả. 2.
Trong những trường hợp ung thư mang HER2 (protéine làm cho ung thư hung
dữ hơn), số các di căn ít quan trọng trong việc xác lập protocole, xét
vì tính hiệu quả quan trọng của điều trị nhắm đích bởi herceptine hay
lapatinib. 3. Đối với những phụ nữ không ở trong thời
kỳ mãn kinh, bị một ung thư rất hung dữ với nhiều di căn, người ta thực
hiện hóa học liệu pháp, ngày nay được kết hợp với một loại thuốc ngăn
cản sự tạo thành những huyết quản mới nuôi dưỡng khối u. Ngoại khoa được
dự kiến trong những trường hợp di căn nhỏ nằm trong một vùng có thể mổ
được, nơi những bệnh nhân nhạy cảm với điều trị nội khoa.
Hỏi : Protocole của công trình nghiên cứu
của ông với một điều trị mới “ à la carte ” là gì ?
BS Fabrice André : Trước hết, tôi phải giải thích tính chất phức tạp của
một khối u. Một tế bào ung thư tăng sinh một cách liên tục. Sự loạn năng
này là do các protéine được hoạt hóa một cách nguy hiểm, “được chế tạo”
(được mã hóa) bởi các gène, (các gène này khi bất thường, mã hóa các protéine
bệnh hoạn). Vậy ta phải tìm cách hiệu chính những loại thuốc nhắm đích
(drogues ciblées) tác dụng trực tiếp vào những protéine “bệnh hoạn” này.
Vấn đề là mỗi khối u khác nhau ; do đó ở mỗi bệnh nhân phải tìm kiếm,
bằng một phân tích di truyền, gène hay các gène chịu trach nhiệm.
Hỏi : Ông có những công cụ nào để phân tích
một khối u ?
BS Fabrice André : Để thu được cartographie của bộ gène, chúng tôi sử
dụng một technologie GGH và một technologie de séquençage phát hiện những
gène bất thường. Đó là một phương thức rất mới ở Gustave-Roussy, nhằm
trích lấy ADN của khối u và phân tích các gène của nó. Bước tiến lớn là
phân tích này, được gọi là “ pangénomique ”, đã chuyển từ lãnh vực thuần
nghiên cứu cơ bản sang lãnh vực nghiên cứu lâm sàng nơi phụ nữ. Như thế,
công trình nghiên cứu của chúng tôi, được tiến hành trên 400 bệnh nhân,
là một giai đoạn quan trọng trong ung thư học.
Hỏi : Một khi gène bất thường đã được nhận
diện, ông đề nghị gì với bệnh nhân ?
BS Fabrice André : Từ gène này, chúng tôi sẽ có thể nhận diện protéine
được hoạt hóa (mà gène mã hóa) và xác định một điều trị nhắm đích đặc
hiệu lên nó.
Hỏi : Vậy đã có những loại thuốc “sẵn sàng
để sử dụng” chống lại những protéine khác nhau đã trở nên bất thường chưa
?
BS Fabrice André : Chúng đang còn ở giai đoạn I và II của thử nghiệm điều
trị. Đó hoặc là những kháng thể, hoặc là những sản phẩm được hiệu chính
bằng informatique và được hướng chống lại các protéine đã được biết đến
bởi những công trình nghiên cứu cơ bản. Hơn một trăm loại thuốc chống
ung thư hiện đang được đánh giá.
Hỏi : Những kết quả đầu tiên của ông là gì
?
BS Fabrice André : Trong thử nghiệm lâm sàng này, gồm 400 bệnh nhân trong
tình huống tái phát và đề kháng với mọi điều trị, người ta đã có thể,
nơi 39 bệnh nhân, nhận diện bất thường di truyền. Trong số những phụ nữ
này, 15 bị những di căn gan hay phổi, đã nhận một điều trị nhắm đích bằng
đường miệng hay bằng tiêm truyền. Hôm nay, với thời gian nhìn lại từ 6
tháng đến 1 năm, người ta chứng thực, nơi một vài bệnh nhân, một sự thoái
giảm rõ rệt của khối u, đây là điều rất đáng phấn khởi ! Con đường mới
điều trị nhắm đích tùy theo các gène này dường như rất đầy hứa hẹn. Từ
nay đến 3 đến 5 năm nữa, những điều trị các ung thư di căn nhờ di truyền
này sẽ thay đổi hoàn toàn. (PARIS MATCH 7/1-13/1/2010)
5/ “LÝ TƯỞNG, ĐÓ LÀ ĐỌC SÁCH, XUẤT
GIA VA DU LỊCH”
3 câu hỏi được đặt cho Michel Isingrini, giáo sư tâm lý học nhận thức
(psychologie cognitive), đại học Tours. Trí nhớ được chia thành các module.
Sau 50-55 tuổi, các trí nhớ ngữ nghĩa (mémoire sématique) (vốn hiểu biết
văn hóa, bagage culturel), trí nhớ ngầm (mémoire implicite) (trí nhớ không
bằng miệng, mémoire non verbale) và trí nhớ thủ thuật (mémoire procédurale)
được duy trì khá tốt. Ngược lại, trí nhớ giai đoạn (mémoire épisodique)
(các kỹ niệm cá nhân) suy tàn. Người ta đã chứng tỏ rằng nơi những người
có một đời sống nghề nghiệp kích thích trí tuệ, hậu quả này được làm chậm
lại.
Hỏi : Sự khác nhau giữa sự lão hóa bình thường
và bệnh Alzheimer là gì ?
Đáp : Trong bệnh Alzheimer, trí nhớ giai đoạn (mémoire épisodique) bị
phá hủy một cách không cứu vãn được, bởi vì các neurone của thùy hải mã
(hippocampe) bị thoái hóa. Trong sự lão hóa bình thường (vieillissement
normal), chính những chiến lược nhắc lại các kỷ niệm hoạt động ít tốt
hơn. Những kỷ niệm vẫn luôn luôn hiện diện.
Hỏi : Làm sao giúp não bộ bù lại sự suy tàn
bình thường này ?
Đáp : Chính bản thân não bộ sẽ thực hiện sự bù trừ. Các công trình mới
đây cho thấy một sự sử dụng của hai bán cầu đại não nơi người già, trong
khi một người trẻ tuổi hơn chỉ sử dụng một bán cầu đại não cho cùng một
công việc. Vài công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng việc sử
dụng quan trọng hơn của hai bán cầu đại não này là đặc biệt rõ rệt hơn
nơi những người có một trí nhớ tốt hơn, điều này khiến nghĩ rằng đó là
một hiện tượng bù. Để duy trì sự bù trừ này, phải duy trì một mức độ nhận
thức tốt. Đọc sách, ra khỏi nhà, thảo luận. Lý tưởng là du lịch. Sự việc
hoạch định, tổ chức, quyết định, đương đầu với những tình huống mới, đáng
giá bằng tất các các kích thích. (SCIENCES ET AVENIR
2/2010)
6/ TUỔI CỦA NGƯỜI MẸ, MỘT YẾU TỐ
NGUY CƠ MẮC PHẢI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG ĐỐI VỚI CON MÌNH ?
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện một sự gia tăng theo đường thẳng có giới
hạn, nhưng đáng kể của nguy cơ mắc bệnh đái đường loại 1 nơi trẻ em sinh
ra bởi người mẹ lớn tuổi. Chris Caldwell và các đồng nghiệp (Centre for
Public Health, Queen’s University, Belfast) đã duyệt lại tư liệu y học
để kiểm tra xem các trẻ em sinh ra từ người mẹ lớn tuổi có một nguy cơ
lớn hơn phát triển bệnh đái đường loại 1 trong những năm đầu sau khi sinh
ra đời hay không. Để thực hiện điều này, họ đã thu thập các dữ kiện liên
quan đến 30 công trình nghiên cứu. Những dữ kiện này liên hệ 14.724 trường
hợp bệnh đái đường loại 1. Các tác giả đã có thể chứng thực rằng có một
sự gia tăng trung bình 5% tỷ lệ mắc bệnh đái đường loại 1 trong thời thơ
ấu đối với mỗi gia tăng 5 năm tuổi người mẹ lúc sinh.
Các tác giả kết luận rằng có một sự gia tăng nhẹ nhưng có ý nghĩa của
nguy cơ phát triển một bệnh đái đường loại 1 nơi các đứa trẻ khi tuổi
của người mẹ càng gia tăng vào lúc sinh. Ta có thể quy sự gia tăng những
trường hợp bệnh đái đường loại 1 nơi các trẻ em trong những năm qua là
do sự gia tăng tuổi của các phụ nữ lúc thụ thai. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 19/2/2010)
7/ MỘT MỐI LIÊN HỆ HÀI HÒA VỚI
NGƯỜI BẠN ĐỜI : SỰ CỨU TINH CỦA BỆNH VIÊM KHỚP ?
Các phụ nữ bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp sống rất thuận hòa với người
bạn đời của họ thường có ít hơn những dấu hiệu khách quan của viêm khớp.
Những tác dụng có lợi của sự hỗ trợ xã hội nói chung lên sức khỏe đã được
chứng minh nhiều lần. Trong nhiều công trình nghiên cứu, sự cô lập xã
hội đã được đặt ngang hàng với những yếu tố nguy cơ đã được biết như chứng
nghiện thuốc lá, chứng béo phì và cao huyết áp như là yếu tố tiên đoán
một tỷ lệ tử vong và bệnh tật gia tăng. Ví dụ như là những bệnh nhân bị
một ung thư vú có thể đưa vào một mạng lưới xã hội tốt, sẽ có những cơ
may sống sót tốt hơn. Và một cuộc sống vợ chồng thỏa mãn sẽ là yếu tố
tiên đoán một sự sống còn dài lâu hơn đối với những bệnh nhân bị suy tim.
NHỮNG CƠ CHẾ KHÁC NHAU.
Các nhà nghiên cứu quy các hiệu quả có lợi của sự hỗ trợ xã hội (soutien
social) lên sức khỏe vào những cơ chế khác nhau. Một mặt, những người
thân cận có thể ảnh hưởng một cách thuận lợi hành vi của một cá nhân và
khuyến khích người này theo một lối sống và cách ăn uống lành mạnh, theo
đuổi một cách đúng đắn điều trị đã được quy định. Mặt khác, những nghiên
cứu cũng gợi ý một cơ chế sinh học, trong đó sự hỗ trợ xã hội có thể ảnh
hưởng lên sự điều hòa của các chức năng thần kinh-nội tiết, miễn dịch
học và tim mạch.
Nơi những người bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp, dường như cơ chế sinh
học này đóng một vai trò rất rõ rệt. Thật vậy nhưng quan hệ xã hội có
một ảnh hưởng lên một số các yếu tố thần kinh-nội tiết thích đáng cho
hoạt động của bệnh trong viêm đa khớp dạng thấp. Những công trình nghiên
cứu trước đã cho thấy rằng nơi những phụ nữ bị bệnh viêm đa khớp dạng
thấp, sự hoạt động miễn dịch và lâm sàng của bệnh gia tăng dưới ảnh hưởng
của sự căng thẳng và tình trạng stress. Người ta cũng đã gợi ý rằng những
bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp sống cô đơn phát triển một phế
tật nhanh hơn những bệnh nhân có một người bạn đời. Thì ra rằng, điều
này không có gì là không logic, chất lượng của mối quan hệ cũng đóng một
vài trò. Người ta đã chứng minh rằng những phản ứng âm tính lập đi lập
lại và những lời chỉ trích của người bạn đời gây thêm sự trầm cảm, đau
đớn, lo âu và hoạt động của bệnh nơi những bệnh nhân viêm đa khớp dạng
thấp.
Shelley Kasle (University of Arizona, Tucson, Arizona, USA) và các đồng
nghiệp đã nghiên cứu những hiệu quả dương tính của một mối quan hệ hài
hòa với người bạn đời (“couple mutuality ”) lên phản ứng viêm, một chỉ
dấu sức khỏe trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Những điều nhận thấy của
họ được căn cứ trên những dữ kiện quan sát có được qua sự hỏi bệnh và
hồ sơ y khoa của 70 phụ nữ bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Các tác giả
đã thu thập các dữ kiện về chất lượng của quan hệ với người bạn đời, sự
xuất hiện của các cơn bộc phát của bệnh viêm đa khớp dạng thấp và tốc
độ trầm lắng, với tư cách là chỉ dấu , vào lúc bắt đầu công trình nghiên
cứu rồi sau 6 và 12 tháng.
CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG.
Các phụ nữ bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp, khi hỏi bệnh, báo cáo một quan
hệ hài hòa với người bạn đời của họ, thì trong những tháng sau đó, có
một tốc độ trầm lắng ít tăng cao hơn và do đó ít có dấu hiệu viêm hơn.
Trái lại mức độ viêm nhiễm không đoán trước tính chất của mối quan hệ
trong những tháng tiếp theo sau. “ Điều đó gợi ý rằng một mối quan hệ
hài hòa với người bạn đời có một tác dụng có lợi lên sự viêm khớp và do
đó lên tiên lượng lâm sàng của những phụ nữ này ”, các tác giả đã tuyên
bố như vậy.
Một công trình nghiên cứu sâu hơn về tác dụng có lợi của một mối quan
hệ tốt với người bạn đời lên sức khỏe trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp
có thể, theo Shelley Kasle, góp phần vào sự phát triển những can thiệp
mới nhằm vào thái độ quan hệ (comportement relationnel) nhằm cải thiện
tiên lượng của bệnh và và chất lượng đời sống của những bệnh nhân bị bệnh
viêm đa khớp dạng thấp. (LE JOURNAL DU MEDECIN 12/2/2010).
8/ CHỨNG LOÃNG XƯƠNG : MỘT DỊCH
BỆNH THẦM LẶNG ?
Trên thế giới, 250 triệu người bị bệnh loãng xương (ostéoporose), đại
đa số là phụ nữ. Con số sẽ tăng gấp đôi trong những năm đến ! Sau khi
đã đạt một cao điểm khối lượng xương (pic de masse osseuse) trong thời
kỳ thiếu niên, xương có khuynh hướng dễ vỡ dần. Bất hạnh thay, những biểu
hiện của bệnh này chỉ xuất hiện trong trường hợp gãy xương. Nhưng gãy
xương đốt sống (“gãy lún”) có thể được thể hiện bởi triệu chứng đau cột
sống và bởi sự giảm kích thước của thân mình. Không có một dấu hiệu báo
động nào, do đó mới có thuật ngữ bệnh dịch thầm lặng (épidémie silencieuse).
CÁC PHI ĐẠN CÓ ĐẦU TÌM (DES MISSILES A TETE CHERCHEUSE).
Mãi đến nay, các thuốc thuộc họ các biphosphonates như alendronate (Fosamax),
risédronate (Actonel)... đã tỏ ra hiệu quả với cả một tác dụng ngăn ngừa
các gãy cổ xương đùi. Raloxifène (Evista), thuốc thuộc các chất điều biến
của các thụ thể oestrogène (modulateurs des récepteurs d’oestrogènes)
cũng có một tác dụng có lợi chống lại chứng loãng xương. Một loại thuốc
khác, ranélate de strontium (có cơ chế tác dụng độc đáo và duy nhất),
kích thích các tế bào sản xuất xương và giảm những tác dụng của các tế
bào phá hủy. Nhưng các điều trị không ngừng tiến triển và lại còn có cái
tốt hơn : zolédronate (Aclasta, Zometa). Chỉ cần cho một lần mỗi năm bằng
cách tiêm truyền trong 15 phút, GS Philippe Orcel đã xác nhận như vậy.
Như thế ít bị gò bó hơn, tránh được những vấn đề về tiêu hóa và những
lãng quên. Theo một công trình nghiên cứu quốc tế kéo dài trong 3 năm
trên 8000 người, phép điều trị này ngăn ngừa 70% các gãy xương đốt sống
và 40% các gãy xuống đùi. Thật là tiến bộ biết bao ! ” Chẳng bao lâu nữa
chúng ta sẽ vượt qua một giai đoạn có tầm quan trọng chủ yếu với sự xuất
hiện sắp đến của các sinh liệu pháp nhắm đích (biothérapie ciblée), mà
tính hiệu quả vừa được chứng minh bởi những công trình nghiên cứu quốc
tế. “Cho mãi đến nay, GS Philippe Orcel đã giải thích như vậy, những điều
trị của bệnh loãng xương đều tác động vào những tế bào xương bị rối loạn.
Với liệu pháp sinh học (thérapie biologique) hay sinh liệu pháp (biothérapie),
người ta nhắm vào chính ngay các cơ chế là nguồn gốc của sự loạn năng
của chúng. Bước nhảy vọt thật là đáng kể ! Những phi đạn có đầu tìm (missiles
à tete chercheuse) này là gì ? Đó là một kháng thể, được chế tạo trong
phòng thí nghiệm bằng génie génétique, có tác dụng làm vô hiệu hóa protéine
chịu trách nhiệm sự phát sinh của những tế bào hủy xương, do đó phong
bế sự tạo thành chúng. Như thế kháng thể này ngăn cản sự biến đổi của
mô xương. Cách cho thuốc của sinh liệu pháp, dénosumab, sẽ ít bó buộc
hơn : một mũi tiêm dưới da mỗi 6 tháng. Tác dụng của thuốc sẽ ngưng ngay
khi ngừng điều trị, do đó thuốc này không có nguy cơ gây ngộ độc do tích
lũy. (PARIS MATCH 11/2-17/2/2010)
9/ MỘT VIRUS ĐƯỢC LIÊN KẾT VỚI
UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT.
Lluis Fajas là giám đốc nghiên cứu Inserm ở Viện nghiên cứu ung thư học
Montpellier và là chuyên gia về ung thư tuyến tiền liệt.
Hỏi: Một virus phải chăng có thể là nguyên
nhân của sự xuất hiện của ung thư tuyến tiền liệt?
Lluis Fajas : Đó là điều được gợi ý bởi những kết quả mới đây của một
nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ. Trong lúc phân tích 334 mẫu nghiệm mô của tuyến
tiền liệt người, các nhà khoa học này đã phát hiện những protéine của
một virus đã được biết, XMRV, trong 23% các mô ung thư so với 4% trong
các mô lành. Ngoài ra, sự hiện diện của những virus này tương quan với
những khối u hung dữ nhất. Sau hết, sự định vị của các protéine virus
này trong mạng tế bào của các khối u nhắc lại một quá trình sinh ung thư
cổ điển. Tóm lại, virus XMRV đúng là dường như liên kết với ung thư tuyến
tiền liệt. Nhưng mối liên hệ nhân quả thật sự còn cần phải được chứng
minh.
Hỏi : Người ta biết gì về virus này ?
Lluis Fajas : Mãi đến nay, người ta biết rằng virus XMRV thuộc giống các
gammarétrovirus, được biết gây nên các ung thư bạch cầu (leucémie) và
một vài loại ung thư ác tính nơi nhiều loài gặm nhấm, mèo và các động
vật linh trưởng. Nhưng công trình nghiên cứu này đã cho phép xác định
một cách chính xác hơn. Thật vậy các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng
virus này rất tương cận với virus của bệnh ung thư bạch cầu mà chuột mắc
phải. Tuy nhiên virus XMRV đã không bao giờ được nhận diện như là một
nguyên nhân của ung thư người.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu trong tương
lai về chủ đề này cần phải làm sáng tỏ những điểm nào ?
Lluis Fajas : Để xác định xem virus có thật sự liên hệ trong bệnh ung
thư tiền liệt tuyến hay không, các thí nghiệm in vitro và trên động vật
sẽ phải được tiến hành cũng như những nghiên cứu dịch tễ học. Rồi còn
phải hiểu cách tác dụng : phải chăng virus thúc đẫy những tế bào bị nhiễm
trùng biểu hiện các gène liên kết với ung thư ? các protéine virus phải
chăng có một tác dụng trực tiếp hơn, v...v..? Mặc dầu virus XMRV dường
như chỉ tăng sinh trong các dòng tế bào (lignées de cellules) phát xuất
từ các ung thư tiền liệt tuyến, nhưng sẽ thích thú biết xem là nó có liên
kết với các ung thư của các mô khác, đặc biệt là phụ khoa, hay không ?
Hỏi : Những áp dụng y khoa nào có thể phát
xuất từ khám phá này ?
Lluis Fajas: Nêu sự trách nhiệm của virus được xác nhận, sự khám phá này
có thể mở ra con đường dẫn đến sự phát triển các chỉ dấu sinh học (biomarqueur)
để nhận diện những người có nguy cơ, và phát triển những thuốc kháng virus
đặc hiệu để điều trị chúng một cách dự phòng. Những công trình cũng có
thể được thực hiện để hiệu chính một vaccin, nhưng đã có vaccin chống
lại vài loại papillomavirus có liên quan trọng ung thư cổ tử cung. Điểm
quan trọng cuối cùng : trái với điều mà một tài liệu trước đây đã chỉ
rõ, công trình nghiên cứu này tiết lộ rằng nhiễm trùng bởi XMRV không
liên kết với một profil di truyền đặc biệt của bệnh nhân. Như thế, tất
cả các đàn ông đều nhạy cảm với virus. (LA RECHERCHE
11/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr148.htm
(TSYH số 148 bài số 6).
10/ MỘT GIẤC NGỦ XẤU LÀM
TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ MẮC BỆNH HEN PHẾ QUẢN
Các nhà nghiên cứu (đại học Alberta, Edmonton) đã phát hiện rằng một giấc
ngủ có chất lượng kém trong 3 năm đầu sau khi sinh làm gia tăng nguy cơ
phát triển một bệnh hen phế quản không do dị ứng (asthme non allergique)
(được thể hiện lúc trời lạnh, lúc gắng sức hay khi bị nhiễm trùng bởi
virus). Trong số 2400 trẻ em được theo dõi từ lúc sinh đến tuổi thiếu
niên, những trẻ mà giấc ngủ bị ngắt quảng đã có một nguy cơ phát triển
một bệnh hen phế quan không do dị ứng lúc 6 tuổi, 1,87 lần cao hơn những
trẻ khác. Vào lúc 14 tuổi, nguy cơ tăng lên gấp 2,18 lần ! Theo BS Anita
Kozyrskyj, người phụ trách công trình nghiên cứu được công bố trong Journal
européen de pneumologie, điều này được giải thích bởi các cytokines proinflammatoires
: những chất trung gian hóa học trong đó một vài chất có liên quan đồng
thời trong sự kiểm soát giấc ngủ và sự tăng hoạt tính phế quản (hyperactivité
bronchique). (SCIENCES ET AVENIR 1/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/2/2010)
TAGS : Cá thể hóa trong máu (marqueurs
sanguins personnalisés), chuỗi di truyền (séquence génétique), ung thư
vú di căn (cancers du sein métastasiés), Alzheimer, trí nhớ giai đoạn
(mémoire épisodique), tiểu đường loại 1 (diabetes type 1), phong thấp
đa dạng (polyarthritis), loãng xương (osteosporose), virus XMRV, hen phế
quản không do dị ứng (asthme non allergique). Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |