 |
Thời
Sự Y Học số 161
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CHO BỐ SUNG VITAMINE D : AI
? TẠI SAO VÀ NHƯ THỂ NÀO ?
Ngày nay nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng một bộ phận quan
trọng trong dân chúng thiếu vitamine D. Nơi người già, một sự cho bổ sung
vitamine này cải thiện sức mạnh cơ, gia tăng mật độ khoáng xương và làm
giảm nguy cơ gãy xương, đó là chưa nói đến những tác dụng nhiều hướng
(effets pléiotrophes) khác. Điểm lại tình hình với GS Steven Boonen (Leuven
University, Division of Geriatric Medicine).
Vitamine D là một vitamine tan trong mỡ, được xem như là một hormone stéroide
do cấu trúc và những chức năng của nó. 1,25-dihydroxyvitamine D (1,25
(OH)-D) hay calcitriol, là chất chuyển hóa hoạt động (métabolite actif)
của hai dạng khác nhau : vitamine D2 hay ergocalciférol và vitamine D3
hay cholécalciférol. Chức năng chính của vitamine D, hormone calciotrope,
là duy trì nội hằng định calcium (homéostasie calcique) để khoáng hóa
(minéralisation) tối ưu xương. Nồng độ huyết thanh bình thường biến thiên
từ 75 đến 200 nmol/L ; người ta nói bất túc (insuffisance) khi trị số
giữa 50 và 75 nmol/L, thiếu hụt vừa phải (carence modérée) giữa 30 và
50 nmol/L, và thiếu hụt nghiêm trọng (carence sévère) khi trị số dưới
30 nmol/L. Một sự thiếu hụt vitamine D làm giảm sự hấp thụ calcium ở ruột
và giảm sự khoáng hóa (minéralisation) xương. Những thiếu hụt vitamine
D là nguyên nhân của ostéopénie, chứng loãng xương (ostéoporose), chứng
nhuyễn xương (ostéomalacie), cường phó giáp trạng thứ phát (hyperparathyroidie
secondaire) và gia tăng nguy cơ té ngã và gãy xương. Một điều tra được
tiến hành nơi các phụ nữ bị bệnh loãng xương, được nhập viện vì gãy xương
háng, cho thấy rằng 50% trong số các phụ nữ này vốn đã có một sự thiếu
hụt vitamine D. Đối với GS Boonen, “ chúng ta nhận thức rằng hiện nay
nhiều người trên thế giới và ở Bỉ có những trị số dưới tối ưu (valeur
suboptimale) vitamine D. Nói chung sự thiếu hụt này bị đánh giá thấp và
không được phát hiện, đặc biệt là nơi người già, trong y khoa tổng quát
cũng như trong môi trường bệnh viện trong các khoa bệnh người già.”
TRƯỚC HẾT HÃY BỒ SUNG VITAMINE D.
Sự điều chỉnh của sự thiếu hụt này được thực hiện bằng cách cho bổ sung
vitamine D. “Sự cấp bổ sung này được đề nghị cho mọi người bị thiếu hụt,
GS Boonen đã giải thích như vậy, nhưng nơi người trên 75 tuổi, đó còn
hơn là một lời khuyến nghị, đó gần như là một sự bắt buộc, khi xét đến
sự thiếu hụt tổng hợp do tuổi tác nhưng cũng do một sự cung cấp không
đầy đủ bởi thức ăn.” Liều lượng tối ưu được công nhận có hiệu quả là 800
đơn vị/ngày, mà không gây nên vấn đề dung nạp hay an toàn lúc sử dụng.
Nguy cơ quá liều hay ngộ độc không được mô tả ngay cả với những liều lượng
khoảng 10.000 đơn vị mỗi ngày. Việc cho bổ sung vitamine D tỏ ra có lợi
: nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng một sự cung cấp vitamine D làm
giảm 23-53% tỷ lệ té ngã nơi những người già trong các nhà dưỡng lão.
Một phân tích méta, tập hợp 5 công trình nghiên cứu và 1.237 lão niên
(80% phụ nữ, tuổi trung bình 70), được cấp 400-800 đơn vị vitamine D/ngày,
có bổ sung calcium hay không, đi đến cùng kết luận, với một sự thu giảm
22% nguy cơ té ngã nơi những bệnh nhân được cho bổ sung vitamine D3. “
Hiệu quả độc lập với sự cho bổ sung calcium và việc kê đơn calcium phải
được đánh giá tùy trường hợp, GS Boonen đã xác nhận như vậy. Trước hết,
một sự điều chỉnh dinh dưỡng có thể là đủ, điều này tránh những vấn đề
tuân thủ điều trị hay không dung nạp tiêu hóa đối với calcium.”
NHỮNG HIỆU QUẢ TRỰC TIẾP VÀ GIÁN TIẾP.
Vitamine D có những tác dụng gián tiếp lên khả năng sinh sản, sự biệt
hóa tế bào, hệ miễn dịch và nguy cơ bị ung thư. Đặc biệt trong ung thư
đại tràng, nguy cơ sẽ được nhân lên gấp đôi khi nồng độ trong huyết thanh
của 25(0H)D3 dưới 20mcg/L. Cũng vậy một mối liên hệ dịch tễ học đã được
xác lập giữa nồng độ vitamine D và các bệnh lý mạch máu, với một sự gia
tăng nguy cơ tai biến mạch máu não nơi những người bị thiếu hụt. “ Những
hiệu quả gián tiếp này đòi hỏi sự xác nhận, GS Boonen đã nói rõ như thế,
nhưng ngược lại hiệu quả trực tiếp lên sức mạnh của cơ và mật độ khoáng
xương đã được chứng minh một cách rõ ràng và biện minh cho việc cho bổ
sung vitamine D nơi người già. Chúng ta thu được những hiệu quá lớn với
phí tổn thấp,” GS Boonen đã kết luận như vậy. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 8/1/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr149.htm
(TSYH 149, bài số 9).
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr132.htm
(TSYH 132, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr57.htm
(TSYH 57, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr60.htm
(TSYH 60, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr61.htm
(TSYH 61, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr83.htm
(TSYH 83, bài số 9).
2/ BISPHENOL A TẤN CÔNG RUỘT.
Người ta đã nghi ngờ những tác dụng của bisphénol lên sự sinh sản, sự
phát triển của não bộ và hệ tim mạch. Bisphénol A (BPA), hợp chất hóa
học hiện diện trong các plastiques và đặc biệt là trong các bình sữa (biberons),
cũng tác dụng lên ruột, theo các nhà nghiên cứu của INRA (Toulouse). “
Ruột là cơ bia (organe cible) đầu tiên của BPA ngay khi chất này được
nuốt vào ”, Eric Houdeau, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã chỉ
rõ như vậy. Các con chuột cái trưởng thành đã nhận BPA với những liều
lượng 10 lần thấp hơn so với liều lượng hàng ngày dược cấp cho người.
“ BPA khi đó có những tính chất của một hormone, oestrogène, bằng cách
hoạt hóa các thụ thể của thành ruột. Do đó BPA được nuốt vào mỗi ngày
làm gia tăng các tác dụng hormone. Hậu quả : tính thẩm thấu (perméabilité)
của thành ruột, đường trao đổi cho phép sự lưu thông của nước và muối
khoáng cần thiết cho cơ thể, bị giảm sút. Nơi động vật gặm nhấm, một sự
tiếp xúc với BPA trong tử cung và trong thời kỳ cho bú cũng làm gia tăng
nguy cơ phát triển một viêm ruột nặng. “ Ta không thể suy kết quả này,
thu được trên ruột động vật, lên ruột người ”, Eric Houdeau phát biểu
như vậy. Giới hữu trách y tế Pháp đang xem xét tất cả các dữ kiện hiện
có để quyết định một sự cấm chỉ khả dĩ. (SCIENCE ET
VIE 2/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr96.htm
(TSYH 96, bài số 6)
3/ THUỐC LÁ VÀ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG,
NHỮNG MỐI LIÊN KẾT NGUY HIỂM.
Sự lên cân, thường xảy ra khi ngừng thuốc lá, có thể, nếu sự lên cân này
vượt quá 4 kg, làm gia tăng nguy cơ xuất hiện bệnh đái đường loại 2, theo
một công trình nghiên cứu được công bố trong Annals of Internal Medicine.
Sự gia tăng nguy cơ có thể đạt đến 70% đối với những người đã hút hơn
10 năm và đã lên cân hơn 10kg sau khi ngừng hút.
“Sự cai thuốc lá (sevrage tabagique) dẫn đến một sự thay đổi profil chuyển
hóa và một nguy cơ gia tăng bị bệnh đái đường, đạt cao điểm trong 3 năm
tiếp theo sau đó. Nguy cơ này vẫn có thể quan sát 6 năm sau khi bỏ thuốc
lá để rồi giảm dần dần và biến mất sau 12 năm”, GS Hsin-Chieh Yeh, chuyên
gia dịch tễ học của đại học Johns Hopkins, Baltimore (Hoa Kỳ) đã kể lại
như vậy; ông đã theo dõi hơn 10.000 người trong 9 năm. Nguy cơ này tương
quan với số cân được tăng thêm và đặc biệt đáng kể nơi những người nghiện
thuốc lá nặng. Nhưng như GS Bertrand Dautzenberg, chủ tịch của Sở phòng
ngừa nghiện thuốc lá Pháp, đã nhấn mạnh, “thuốc lá tự nó gây nên một nguy
cơ gia tăng bị bệnh đái đường loại 2, có lẽ được gây nên bởi một phản
ứng viêm toàn thể của các mô. Ngoài ra, người ta đã chứng tỏ rằng các
biến chứng tim mạch của bệnh đái đường và của chứng nghiện thuốc lá cộng
lại với nhau để tạo nơi người bệnh đái đường hút thuốc một bệnh lý trầm
trọng hơn ”.
Hai chuyên gia nhấn mạnh rằng lợi ích của ngừng thuốc lá vẫn là điều không
thể tranh cãi được, nhưng xác nhận rằng tốt hơn là đừng bao giờ bắt đầu
hút thuốc. Còn về những người muốn ngừng hút, “ Họ phải được theo dõi
về mặt y khoa, các thầy thuốc phải nhận thức về mối nguy cơ cao này và
phải cho các bệnh nhân những lời khuyên về dinh dưỡng để họ có thể kiểm
soát hay làm giảm thể trọng. Sự theo dõi đường huyết cũng phải được thực
hiện đều đặn để phát hiện sớm sự xuất hiện khả dĩ của bệnh đái đường”,
Hsin-Chieh Yeh đã nói thêm như vậy (SCIENCE ET AVENIR
2/2010)
4/ BỆNH TRẦM
CẢM CÓ THỂ DẪN ĐẾN CHỨNG SÓN TIỂU
Người ta đã biết rằng những rối loạn tiểu tiện và chứng són đái (incontinence
urinaire), thường xảy ra nơi các phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh, có thể
gây nên một sự khó ở (mal-être), nhưng không gây nên một chứng trầm cảm
thật sự. Một cuộc điều tra, được tiến hành nơi 600 phụ nữ khoảng 60 tuổi,
cho thấy rằng, ngược lại, một chứng trầm cảm với mức độ quan trọng (une
dépression majeure) có thể là nguyên nhân của những triệu chứng này. Trong
6 năm, 11% những người được hỏi đã nói rằng họ đã đi thăm khám vì chứng
trầm cảm, và 21% vì chứng són đái. Thế mà, nếu tính đến diễn biến thời
gian của các biến cố và những yếu tố chính làm dễ những rối loạn này,
người ta chứng thực rằng nguy cơ bị són đái gia tăng gần 50% trong trường
hợp đã bị chứng trầm cảm với mức độ quan trọng. Ngược lại, nguy cơ mắc
phải trầm cảm với mức độ quan trọng không gia tăng trong trường hợp són
đái nơi một người trước đây không bị rối loạn này. Sự thiếu hụt sérotonine,
có liên hệ trong chứng trầm cảm, cũng chịu trách nhiệm trong những rối
loạn tiểu tiện. (SCIENCES ET AVENIR 1/2010)
5/ BỆNH HƯNG TRẦM CẢM : MỘT CHIẾN
LƯỢC MỚI.
GS Chantal Henry, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, giải thích những lợi
ích của các trung tâm chuyện khoa được thành lập ở Pháp để điều trị tốt
hơn bệnh hưng-trầm cảm.
Hỏi : Những đặc điểm của rối loạn tâm thần
được gọi là bệnh hưng- trầm cảm (maladie maniaco-dépressive) hay rối loạn
lưỡng cực (trouble bipolaire) là gi ?
GS Chantal Henry : Bệnh lý này (gây bệnh cho 1% dân số) là một rối loạn
của khí huyết (humeur), được biểu hiện bởi một sự luân phiên của những
đợt trầm cảm (épisode dépressif), những giai đoạn hưng phấn (phase d’exaltation)
(cũng được gọi là épisode maniaque) và những thời kỳ ổn định. Những đợt
trầm cảm có thể kéo dài nhiều tháng ; những đợt hưng phấn (épisodes maniaques)
kéo dài nhiều tuần. Những người có một người bà con gần bị bệnh có một
nguy cơ được nhân lên 10 lần phát triển bệnh này.
Hỏi : Tại sao những rối loạn lưỡng cực này
thường gây tàn phế ?
GS Chantal Henry : Nơi những bệnh nhân này, những triệu chứng trầm cảm
là những triệu chứng của một bệnh trầm cảm nặng : buồn bã, mất lạc thú,
rối loạn giấc ngủ, các tư tưởng âm tính, trì chậm, mệt mỏi và, thường
là những ý nghĩ tự tử (idées suicidaires). Những thời kỳ hưng cảm (périodes
maniaques) được biểu hiện bởi một trạng thái hứng khởi (état d’exaltation),
thường liên kết với một tính dễ bị kích thích mạnh (đôi khi có thể dẫn
đến những hành động hung bạo), một sự kích động quan trọng, những ý nghĩ
vĩ đại (idées de grandeur), một khuynh hướng quá mức (trong những tiêu
xài, sự tiêu thụ rượu, và những hành vi có nguy cơ). Những hậu quả thường
là bi thảm : người ta nêu lên 15% tử vong do tự tử và nhiều bệnh nhân
hưng-trầm cảm làm sạt nghiệp gia đình và tiêu tan nghề nghiệp.
Hỏi : Để tránh sự tiến triển của những rối
loạn này, đâu là vấn đề chủ yếu ?
GS Chantal Henry : Vấn đề chủ yếu là ở chỗ xác lập chẩn đoán sớm. Trong
60% các trường hợp, bệnh bắt đầu bằng một chứng trầm cảm, các đợt hưng
phấn xảy ra về sau này (nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau). Do đó bị
chậm trễ trong việc điều trị thích đáng. Mặt khác, các thuốc chống trầm
cảm, thường được cho ưu tiên một, có nguy cơ làm trầm trọng tiến triển
của bệnh.
Hỏi : Để phát hiện sớm hơn những rối loạn
này và xử trí tốt hơn, chiến lược mới là gì ?
GS Chantal Henry : Hiện nay, trong các khoa tâm thần, người ta điều trị
toàn bộ các bệnh tâm thần. Không có đơn vị chuyên biệt đối với một bệnh
lý nào đó. Phải công nhận rằng, trong xã hội của chúng ta, bệnh tâm thần
vẫn còn là một chủ đề cấm kỵ và những nơi người ta điều trị bệnh này thường
có tính cách vạch mặt chỉ tên. Các bệnh nhân hoãn lại trước khi đến khám
bệnh, hay đến trong tình huống cơn bộc phát. Ngay cả các thầy thuốc gia
đình đôi khi khó đề nghị một thăm khám nơi thầy thuốc chuyên khoa tâm
thần. Thế mà, đối với những người bị rối loạn lưỡng cực, điều trị sớm
có một lợi ích chủ yếu để tránh các tái phát. Nhờ tổ chức FondaMental,
những trung tâm chuyên môn điều trị và nghiên cứu, nối liền với các khoa
bệnh viện, đã được thành lập để tiếp đón, cùng với những thầy thuốc chuyên
khoa tâm thần chuyên về bệnh này, những bệnh nhân hưng-trầm cảm.
Hỏi : Làm sao ta có thể chẩn đoán sớm hơn
một bệnh hưng-trầm cảm ?
GS Chantal Henry : Trong tám trung tâm được thành lập này, các bệnh nhân
được cho thực hiện một bilan tổng quát về sức khỏe vật lý và tâm thần.
Suốt trong hai ngày, những bệnh nhân này chịu một bilan lâm sàng rất hoàn
chỉnh và những đánh giá khác nhau bởi một nhóm nhiều chuyên khoa (với
xét nghiệm máu, điện tầm đồ, các trắc nghiệm nhận thức..). Các thầy thuốc
có đủ thời gian để thực hiện một thăm khám lâm sàng rất sâu và đề nghị
một điều trị thích hợp. Trong khi trước đây chúng tôi chỉ có lithium và
các thuốc an thần kinh (neuroleptiques), thì từ nay chúng tôi sẽ kê toa,
tùy theo các trường hợp, những loại thuốc điều hòa tính khí (régulateurs
de l’humeur): vài loại thuốc chống động kinh (anticonvulsants) và chống
loạn tâm thần không điển hình (antipsychotiques atypiques). Tiến bộ khác
: những liệu pháp tâm lý đặc hiệu (psychothérapie spécifique). Với những
thái độ xử trí này, chúng tôi làm giảm được 50% các tái phát và những
trường hợp nhập viện. (PARIS MATCH 4/2-10/2/2010)
6/ BỆNH THẤP KHỚP (RHUMATISMES)
: HƯỚNG VI KHUẨN.
Người ta biết rõ hơn vai trò của vài tác nhân nhiễm khuẩn trong sự xuất
hiện của các bệnh thấp khớp hay trong sự chuyển biến của những bệnh này
sang tình trạng mãn tính. Thí dụ người ta đã tìm thấy trong máu của những
người bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) những nồng
độ tăng cao của các kháng thể chống lại virus của bệnh sởi. Cũng vậy,
các người lành mang virus của viêm gan B có những anticorps antipeptides
cycliques citrullinés (anti-CCP), những chất chỉ dấu chẩn đoán (marqueurs
diagnostiques) của bệnh viêm đa khớp dạng thấp. (SCIENCE
ET AVENIR 2/2010)
7/ QUÁ NHIỀU OREXINE GÂY NÊN HOẢNG
SỢ (PANIQUE).
Thình lình tim đập loạn xạ, người ta ngộp thở và muốn bỏ chạy trốn các
tiếp xúc do sự xuất hiện của một cơn lo âu không thể tả được : những triệu
chứng này của cơn hoảng sợ (crise de panique) có lẽ là do một sự thặng
dư orexine, một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Indiana đã loan báo
như vậy. Chất messager hóa học này được sử dụng bởi những neurone có liên
hệ trong sự cảnh giác (vigilance). Chúng ta đã biết rằng sự vắng mặt bệnh
lý của những neurone này gây nên cơn ngủ thoáng qua (narcolepsie). Nhưng
các nhà nghiên cứu vừa cho thấy rằng, hoạt động quá mức, các neurone này
gây nên cơn hoảng sợ (crise de panique). Bởi vì trong vùng dưới đồi, chúng
cũng chịu trách nhiệm những biểu hiện sinh lý của hành vi được gọi là
trốn chạy hay chiến đấu (comportement de fuite ou de combat) trong trường
hợp stress. Bằng cách làm giảm hoạt tính của orexine nơi chuột bị những
cơn hoảng sợ, các nhà nghiên cứu đã thành công giữ chúng yên tĩnh, vừa
bảo tồn tính hoạt động xã hội (activité sociale) và hành vi thăm dò (comportement
d’exploration) của chúng. Theo bài báo của Nature Medicine, người ta nghi
orexine đồng một vài trò tương tự nơi người. Thật vậy, những người bị
rối loạn này (cơn hoảng sợ) có một nồng độ tăng cao của chất này trong
nao bộ . Nồng độ này giảm đi sau khi được điều trị. Bấy nhiêu lý lẽ khiến
cho các nhà nghiên cứu nghĩ rằng họ đã tìm ra một tác nhân quan trọng
của cơn lo âu (crise d’angoisse) và do đó là một mục tiêu được lựa chọn
để điều trị những tác dụng, mặc dầu không biết được nguyên nhân, của rối
loạn tâm lý này (SCIENCE ET AVENIR 2/2010)
8/ MỘT LOẠI THUỐC BẢO VỆ CÁC NEURONE
SỰ TẠI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Denis Vivien điều khiển một đơn vị Inserm chuyên về những bệnh lý mạch-thần
kinh (pathologies neurovasculaire), ở Caen.
Hỏi : Sau một tai biến mạch máu não, các
tế bào thần kinh chết với số lượng lớn. Các nhà nghiên cứu Canada và Đài
Loan đã thành công làm giảm sự mất của các tế bào thần kinh này nơi chuột.
Như thế nào ?
Davis Vivien. Nhóm nghiên cứu đã hiệu chính một peptide (một đoạn của
protéine) có khả năng ngăn cản những phân tử độc hại, được tổng hợp trong
lòng các neurone khi bị một tai biến mạch máu não. Thật vật, tai biến
mạch máu não gây nên một sự bội tăng hoạt hóa (suractivation) của vài
thụ thể nơi bề mặt của các neurone, điều này gây nên độc tính, chịu trách
nhiệm phần lớn sự chết của tế bào thần kinh. Được cho nơi các con chuột
hai giờ sau khi người ta đã tạo cho chúng một tai biến mạch máu não, peptide
này đã làm giảm khoảng 50% thể tích của các thương tổn não bộ và những
rối loạn hành vi được liên kết.
Hỏi : Peptide này can thiệp theo cơ chế nào
?
Denis Vivien : Các nhà nghiên cứu đã nhận diện một protéine mà sự hoạt
hóa nó là cần thiết cho sự thiết lập của quá trình độc hại. Được mệnh
danh là SREBO-1, protéine này được tổng hợp trong các neurone và điều
hòa sự biểu hiện của các gène. Peptide được hiệu chính phong bế sự hoạt
hóa này một cách gián tiếp bằng cách tác dụng lên một protéine khác.
Hỏi : Những ưu điểm của peptide này đối với
các phân tử khác hiện có hay đang được nghiên cứu là gì ?
Denis Vivien : Peptide này không nhằm trực tiếp vào các thụ thể ở bề mặt
của các neurone, nhưng nhằm vào những tín hiệu trong tế bào phát xuất
từ sự bội tăng hoạt hóa chúng. Đó là một điểm quan trọng bởi vì sự vận
hành chức năng bình thường của các thụ thể này không được làm rối loạn
trong các neurone lành mạnh. Ngoài ra, hiện tượng độc tính này có thể
kéo dài nhiều giờ sau những triệu chứng đầu tiên của tai biến mạch máu
não. Vậy peptide này tiềm năng có thể được sử dụng nơi những bệnh nhân
được điều trị muộn. Hiện nay, thuốc điều trị duy nhất để điều trị giai
đoạn cấp tính của tai biến mạch máu não phải được cho trong 4 giờ rưỡi
sau những triệu chứng đầu tiên. Bởi vì sau thời hạn này, nguy cơ mà thuốc
gây ra xuất huyết là rất quan trọng. Điều này hạn chế số bệnh nhận được
điều trị, trong khi bệnh lý này là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trong
thế giới công nghiệp.
Hỏi : Những bệnh khác có viên hệ hay không
?
Denis Vivien : Các cơ chế độc hại của tai biến mạch máu não có nhiều điểm
chung với những cơ chế được khám phá trong bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson,
sclérose latérale amyotrophique hay bệnh động kinh. Như thế, peptide này
cũng có thể có một tiềm năng điều trị đối với những bệnh này. Nhưng một
thách thức kỹ thuật quan trọng cần được nêu ra : đưa một cách hiệu quả
peptide này vào được trong các neurone đang bị thương tổn. (LA
RECHERCHE 2/2010)
9/ CÁC TẾ BÀO LYMPHO TIÊN ĐOÁN
SỰ TÁI PHÁT CỦA UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG
Một nồng độ cao của vài loại tế bào miễn dịch nằm kế cận một khối u đại
trực tràng, tương ứng với một nguy cơ tái phát thấp. Để thiết lập mối
liên hệ này, một nhóm nghiên cứu của Inserm và của bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou
đã định lượng các tế bào lympho T cytotoxique và mémoire, hiện diện trên
vị trí của 602 khối u. Được đặt tương quan với các tỷ lệ sống còn và tái
phát của các bệnh nhân, các kết quả không chút mập mờ : trong số những
bệnh nhân có một nồng độ cao các tế bào lympho T, chỉ có 4,8 % các bệnh
nhân đã bị một tái phát sau 5 năm, trong khi những bệnh nhân với một nồng
độ thấp đã bị tái phát với tỷ lệ 75%. Cũng vậy, 86,2% các bệnh nhân có
phản ứng miễn dịch mạnh đã sống sót sau cùng thời kỳ này trong khi tỷ
lệ này chỉ là 27,5% nơi những bệnh nhân có mật độ các tế bào lympho T
thấp. Những điều quan sát này bổ sung thêm những nghiên cứu đã có trước
đây (điều trị bằng oestrogènes, trắc nghiệm di truyền nhằm phát hiện)
và dùng làm trắc nghiệm tính hiệu quả của một liệu pháp nhắm đích (thérapie
ciblée). (SCIENCE ET VIE 1/2010)
10/ BỆNH CROHN : HƯỚNG CỦA ĐẠI
THỰC BÀO.
Bệnh Crohn (60.000 người bị bệnh ở Pháp) là một viêm mãn tính của ruột,
có thể dẫn đến những biến chứng trầm trọng. Mặc dầu nguyên nhân của bệnh
này vẫn không được biết đến, nhưng bệnh được cho là “ bệnh tự miễn dịch.”
Theo nhóm nghiên cứu của GS Anthony Segal (đại học Luân Đôn) thì đó là
một sai lầm ! Những công trình của ông và những kết luận của các công
trình này, được cho chỉ là một sự khiêu khích đối với những người này,
là sự khám phá quan trọng đối với những người khác. Segal và nhóm nghiên
cứu của ông đã tiêm các vi khuẩn được làm vô hại vào những bệnh nhân lành
mạnh và vào những bệnh nhân bị bệnh Crohn, rồi đã so sánh sự đáp ứng miễn
dịch của chúng : nơi những bệnh nhân bị bệnh Crohn, vài tế bào miễn dịch,
được gọi là “ đại thực bào ” (macrophage), trong tình trạng giảm hoạt.
Hậu quả : chúng sản xuất rất ít cytokine, protéine làm biến đổi hệ miễn
dịch để chống lại kẻ thù. Sự suy diễn những kết quả này lên hệ tiêu hóa
gợi ý rằng nơi những người có các đại thực bào ít hoạt động, hệ miễn dịch
được huy động một cách không đầy đủ cho phép các vi khuẩn trở nên rất
hung dữ. Đối với Segal, các vi khuẩn trực tiếp là căn nguyên của của những
thương tổn đường tiêu hóa. (PARIS MATCH 21/1-27/1/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/2/2010)
TAGS: Vitamin D, Bisphenol A, Cigarette smoking
and diabetes, Depression and urine incontinence, Rhumatismes, Orexine,
Panique, Lympho T cytotoxique, Rectal cancer, Crohn’s disease, Nguyen
Van Thinh
>>>back>>>
|
 |