 |
Thời
Sự Y Học số 160
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ MỘT TRẮC NGHIỆM DI TRUYỀN
TRONG NƯỚC MIẾNG DÀNH CHO CÁC BỐ MẸ TƯƠNG LAI
Một trắc nghiệm nước miếng của các bố mẹ tương lai sẽ cho phép phát hiện
nguy cơ mắc phải trăm thứ bệnh trước khi thụ thai.
GENETIQUE. “Hãy bảo vệ em bé khỏi bị hơn 100 loại bệnh với một xét nghiệm
đơn giản nước miếng, ngay trước khi có thai.” Đó là điều hứa hẹn bởi một
công ty còn non trẻ ở Californie, Counsyl, với “trắc nghiệm di truyền
vạn ứng” (test génétique universel). Với 349 dollars, hay ngay cả miễn
phí trong khung cảnh của vài cơ quan bảo hiểm y tế, công ty đề nghị phân
tích ADN nước miếng của các bố mẹ tương lai trong mục đích nói trước nguy
cơ của vài bệnh di truyền xảy ra cho hậu duệ. Đã được thực hiện trong
khoảng 100 nhà hộ sinh Hoa Kỳ từ vài tháng nay, trắc nghiệm cũng có thể
được yêu cầu trên Internet. “Các kết quả được gởi trong hai đến ba tuần,
một thời hạn mà chúng tôi có thể giảm xuống còn dưới một tuần khi khẩn
cấp, ví dụ trong khung cảnh của một chu kỳ thụ thai in vitro”, một phát
ngôn viên của công ty Counsyl đã chỉ rõ như vậy. Hiện nay, trắc nghiệm
di truyền vạn ứng (test génétique universel) đã có thể phát hiện những
biến dạng di truyền (variants génétiques) tương ứng với hơn 100 bệnh di
truyền, trong đó có mucoviscidose, drépanocytose (một bất thường của hémoglobine
của các hồng cầu) hay bệnh Tay-Sachs (được đặc trưng bởi những rối loạn
nhãn khoa và thần kinh).
MỘT DỊCH VỤ LÀM ĂN CÓ LỢI CỦA Y KHOA BÁO TRƯỚC
(MEDECINE PREDICTIVE)
Mặc dầu hiếm nhưng nghiêm trọng, những bệnh lý này có mẫu số chung là
đơn gène (monogénique) (do bất thường của một gène duy nhất) và được truyền
theo tính lặn (de façon récessive) : chúng chỉ được thể hiện nơi một cá
thể nếu hai allèle của gène đều mang bệnh : allèle được thừa hưởng của
mẹ và allèle phát xuất từ cha. Nếu chỉ một trong hai allèle này bị biến
dị, cá thể không bị một triệu chứng nào, được gọi là dị hợp tử (hétérozygote)
hay người lành mang bệnh (porteur sain). Những vấn đề có thể xảy ra nếu
người chồng cũng mang biến dạng di truyền (variant génétique). Trong trường
hợp này, nguy cơ của cặp vợ chồng có một đứa con mắc bệnh là một trên
bốn. Nói chung, những người lành mang bệnh chỉ hay biết những đặc điểm
di truyền của họ sau trường hợp bệnh đầu tiên trong gia đình. Trái lại,
mục đích của trắc nghiệm Counsyl là phát hiện họ trước, nhằm đề nghị một
lời khuyên di truyền (conseil génétique). Lời khuyên này có thể dẫn đến
một chấn đoán trước thụ thai (diagnostic préimplantatoire), nếu thai nhi
được thụ thai trong khung cảnh một thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro),
hay những trắc nghiệm tiền sinh (test prénatal) trong trường hợp một thụ
thai tự nhiên.
“Khoảng 35 đến 40% những người được trắc nghiệm là những người mang ít
nhất một bất thường di truyền. Và cả vợ lẫn chồng bị liên hệ trong 0,6
đến 0,8%”, một bài báo vừa mới được đăng tải trong Technology Review đã
chỉ rõ như vậy. Công ty Counsyl nhấn mạnh rằng trắc nghiệm di truyền của
hãng đã được hiệu chính bởi những nhà nghiên cứu của những đại học có
uy tín (Havard, Stanford, Yale) và xác nhận rằng một bài báo khoa học
đang sắp được công bố. Đối với Ramji Srinivasan, giám đốc của công ty,
tham vọng là tạo một trắc nghiệm tương đương với những trắc nghiệm thai
nghén được thực hiện ở nhà”.
Khả năng thực hiện các trắc nghiệm di truyền trên Internet không phải
là hoàn toàn mới. Trong những năm qua, tiếp theo sau sự giải mã của bộ
gène người (génome humain), nhiều hãng đã lao vào trong dịch vụ làm ăn
sinh lợi của y khoa báo trước (médecine prédictive). Chỉ với vài trăm
euro, các công ty này hứa hẹn với các khách hàng sẽ báo trước tính nhạy
cảm của họ đối với những bệnh thông thường : ung thư, các bệnh tim mạch
...Ở Pháp, phần lớn các chuyên gia rất chỉ trích tính thích đáng của các
check-up di truyền này. (LE FIGARO 3/2/2010)
2/ MỘT LOẠI THUỐC CHO PHÉP THẮNG
ĐƯỢC BỆNH LAO.
Những thuốc kháng sinh mới vô cùng có hiệu quả có thể diệt được trực khuẩn
Koch, nguyên nhân của bệnh lao. Các nhóm nghiên cứu của Inserm và của
Viện Pasteur vừa khám phá ra những loại thuốc, lần đầu tiên, có khả năng
loại bỏ vi khuẩn bên trong các tế bào miễn dịch (các đại thực bào), trong
đó nó ẩn mình sau khi gây nhiễm. Ngoài ra các thuốc này có hiệu quả chống
lại các giống gốc cực kỳ đề kháng (souches ultrarésistantes) với các kháng
sinh được sử dụng hiện nay. Để đạt được kết quả này, các tác giả đã tạo
nên một mô hình giả gây nhiễm (modèle de simulation d’infection) các đại
thực bào bởi vi khuẩn và đã cho mô hình này chịu tác dụng của 53.000 hợp
chất khả dĩ có một hoạt tính kháng khuẩn. Trong số 135 chất được giữ lại,
nhiều chất, thuộc một họ dẫn xuất từ benzamide, có tác dụng trừ tiệt hoàn
toàn vi khuẩn trong 10 ngày. “ Chúng tôi bắt đầu trắc nghiệm những thuốc
ứng viên này trên các mô hình động vật. Nếu tính hiệu quả của chúng được
xác nhận in vivo, sẽ còn cần phải tấn công giai đoạn phát triển để tạo
nên những thuốc thật sự, Priscille Brodin, người phụ trách các công trình
ở Viện Pasteur de Corée đã đánh giá như vậy. Nhưng để thực hiện giai đoạn
này sẽ cần thời gian khoảng một chục năm.” (SCIENCES
ET VIE 2/2010)
3/ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA CÁC FLAVONOIDE
CỦA RƯỢU VANG, TRÀ, CACAO.
Viện hàn lâm dược học quốc gia hôm qua đã thảo luận về những đóng góp
có lợi lên tim và não bộ của những chất được chứa trong vài loại thức
ăn.
PREVENTION. Rượu vang, trà, chocolat, là chủ yếu, và những thực phẩm khác
chứa những chất flavonoides, có những tác dụng chống oxy hóa (antioxydant)
và chống viêm, với một hiệu quả bảo vệ lên tim và não bộ. Từ 15 năm nay,
các nghiên cứu gia tăng về những chất được chứa trong thực phẩm này. Hôm
qua, Viện dược học quốc gia đã dành một trong những buổi họp để bàn về
những tác dụng lên sức khỏe của những chất flavonoides đầy hứa hẹn này.
Tuy nhiên, trong khi nhiều xí nghiệp dược phẩm đề nghị các viên thuốc
mà chất căn bản là flavonoides, thì viện hàn lâm lại đánh giá rằng những
dữ kiện hiện nay không cho phép khuyến khích các “ điều khẳng định sức
khỏe ” (“ assertions santé ”) của các chất bổ trợ dinh dưỡng (adjuvants
alimentaires).
Lịch sử của các flavonoides bắt đầu trong những năm 1990, với sự phát
hiện của nghịch lý Pháp (paradoxe français) : các người Pháp, đặc biệt
trong vùng Tây Nam, có một tỷ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những
nơi khác, mặc dầu một sự tiêu thụ cao các chất mỡ bảo hòa (một yếu tố
nguy cơ tim mạch quan trọng). Ngoại lệ này được quy cho sự tiêu thụ rượu
vang đỏ, đặc biệt cao ở Pháp. Các flavonoides (các hợp chất polyphénol)
của rượu đã được nhận diện như là các chất trung gian của tác dụng có
lợi này. Và nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học đã cố gắng phân tích
mối liên hệ giữa chế độ ăn uống giàu flavonoides và các bệnh tim mạch
(đột qụy, nhồi máu) hay thoái hóa thần kinh (bệnh Alzheimer, Parkinson).
“Toàn bộ các thông tin có được như thế cho thấy một khuynh hướng chung
tán trợ cho việc liên kết giữa sự tiêu thụ rượu vang đỏ có mức độ (một
hay hai ly mỗi ngày), trên mức này, những tác dụng có hại của rượu làm
đảo ngược khuynh hướng), của sự tiêu thụ trà xanh hay trà đen và cacao
và tỷ lệ tử vong nguồn gốc tim mạch hay thoái hóa thần kinh, GS Jean-Claude
Stoclet, ủy viên của Hội hàn lâm dược học (đại học Strasbourg) đã giải
thích như vậy
Vậy có vẻ hợp lý khi đưa ra giả thuyết, theo đó sự tiêu thụ đều đặn của
vài loại trái cây giàu flavonoides hay những chế phẩm phát xuất từ đó,
rượu vang đỏ, một vài nước nho vắt, trà xanh và đen (trong một chừng mực
ít hơn), cacao, được liên kết với một sự giảm tỷ lệ tử vong… ”
SỰ ỨC CHẾ CỦA MỘT VÀI GENE.
Bằng cớ chính thức chỉ có thể được mang lại, sau những thử nghiệm lâm
sàng so sánh một chế độ ăn uống giàu flavonoides với một chế độ ăn uống
nghèo flavonoides. Chúng ta hãy ghi nhận rằng hầu hết các công trình nghiên
cứu không phát hiện mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu flavonoide
và ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu thí nghiệm, trên cấy tế bào hay
mô hình động vật, đã phát hiện một tác dụng của các flavonoides lên thành
trong của các huyết quản, với một sự gia tăng của các yếu tố giãn mạch
và chống tăng sinh (facteurs vasodilatateurs en antiprolifératifs). Những
chất này cũng tác dụng bằng sự ức chế của vài loại gène, để dẫn đến một
tác dụng kháng viêm.
Người ta tìm thấy ở đâu các flavonoides này? Nhiều trăm flavonoides khác
nhau đã được nhận diện. Mặc dầu có nhiều điều không chắc chắn nhưng có
vẻ như rằng các flavonoides có một tác dụng bảo vệ, thuộc về các lớp của
các flavonols (rượu vang đỏ, trà, cacao) và của các chất anthocyanines
(các trái cây đỏ, quả anh đào, cassis). “Khi tính đến các dữ kiện mới
đây về các hiệu quả và các cơ chế tác dụng của vài flavonoides, ta có
thể dễ bị cám dỗ khi chủ trương ngay từ bây giờ một sự tăng cường flavonoides
trong chế độ ăn uống, GS Stoplet đã đánh giá như vậy. Cần phải cưỡng lại
sự cám dỗ này : ngoài những điều không chắc chắn về bản chất của các hợp
chất hữu ích, về những lượng cần phải cho, không hoàn toàn loại bỏ sự
hiện diện của những tác dụng phụ.” Đối với GS François Chast, chủ tịch
của Viện hàn lâm dược khoa, “trên cơ sở của các dữ kiện hiện nay, một
sự tăng cường các cố gắng nghiên cứu có vẻ được biện minh và khẩn cấp”.
(LE FIGARO 28/1/2010).
4/ ARN CÓ THỂ PHONG BẾ VIRUS
CỦA VIÊM GAN C.
Một phép điều trị di truyền (traitement génétique) mới chống lại virus
của viêm gan C, đã được trắc nghiệm nơi khỉ. Thuốc mới này có hai ưu điểm
so với những thuốc cổ điển : nó hiệu quả ngay cả nhiều tháng sau khi đã
cho thuốc và không gây nên đề kháng với virus. Giải thích : để tăng sinh,
virus của viêm gan C cần gắn vào một phân tử nhỏ ARN, miR-122, hiện diện
rất nhiều trong gan. Do đó, Robert Lanford (tổ chức nghiên cứu sinh y
học San Antonio, Hoa Kỳ) và Henrik Orum (Santaris Pharma, Đan Mạch) đã
có ý nghĩ phong bế ARN này bằng cách sử dụng một ARN khác, bổ sung, gắn
vào đúng nơi bám của virus của viêm gan C. Điều trị như thế đã cho phép
làm giảm số virus trong máu của các con khỉ được dùng để nghiên cứu. Điều
trị này đã là đối tượng của một thử nghiệm lâm sàng được gọi là giai đoạn
I, nhằm trắc nghiệm tính vô hại của nó nơi một số nhỏ những người tình
nguyện mạnh khỏe. Theo những đánh giá của OMS, viêm gan C gây bệnh cho
gần 3% dân số thế giới. (SCIENCES ET VIE 2/2010)
5/ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ (DEMENCE)
LIÊN KẾT VỚI CÁC TIỀN SỬ CAO HUYẾT ÁP.
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nghiên cứu mối liên hệ giữa huyết áp của
các phụ nữ lúc họ được đưa vào trong công trình nghiên cứu Women’s Health
initiative (WHI), điều trị cao huyết áp và những bất thường của chất trắng
(substanche blanche) não bộ. Công trình nghiên cứu này là một phần của
WHI Memory Study (WHIMS), bao gồm 1.424 phụ nữ, 65 tuổi hoặc hơn, chịu
một sự kiểm tra hàng năm huyết áp cũng như một IRM não bộ của họ.
Lewis Kuller và các cộng sự viên đã quan sát thấy rằng những người tham
dự vốn cao huyết áp (14/9 hoặc hơn) vào lúc đầu công trình nghiên cứu,
cho thấy những thương tổn của chất trắng trên scan IRM, được thực hiện
8 năm sau, nhiều hơn một cách đáng kể so với những người huyết áp bình
thường. Các thương tổn thường xảy ra hơn trong thùy trán (lobe frontal),
trung tâm kiểm soát cảm xúc và nhân cách của não bộ, hơn là trong các
thùy chẩm (occipital), đỉnh (pariétal) và thái dương (temporal). Huyết
áp vào lúc đầu công trình nghiên cứu rất có liên quan với các thể tích
của các thương tổn của chất trắng.
Những kết quả này xác nhận mối liên hệ giữa cao huyết áp/điều trị kiểm
soát cao huyết áp và những bất thường của chất trắng não bộ. Các dữ kiện
cũng biện minh cho sự kiểm tra chặt chẽ và chính xác của huyết áp, ở giai
đoạn sớm trong cuộc đời, như là phương cách khả dĩ, và có lẽ duy nhất,
để phòng ngừa chứng sa sút trí tuệ (démence).
“ Các phụ nữ phải được khuyến khích kiểm soát huyết áp của họ khi họ còn
trẻ tuổi hay ở lứa tuổi trung niên, nhằm ngăn ngừa những vấn đề quan trọng
về sức khỏe về sau này trong cuộc đời. Sự phòng ngừa và sự điều trị kiểm
soát cao huyết áp và những rối loạn mạch máu não có thể là liệu pháp phòng
ngừa tốt nhất hiện nay của chứng sa sút trí tuệ ”, BS Kuller đã kết luận
như vậy. (LE JOURNAL DU MEDECIN 19/1/2010)
6/ BỆNH ALZHEIMER: HƯỚNG ĐIỀU TRỊ
CỦA CÁC THUỐC CHỐNG CAO ÁP.
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ gợi ý rằng các chất đối kháng của
các thụ thể angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine)
không những làm hạ huyết áp, mà đồng thời còn bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer
và những dạng sa sút trí tuệ khác.
Chứng sa sút trí tuệ (démence), cũng như bệnh Alzheimer, là một trong
những mối đe dọa lớn nhất đối với y tế cộng đồng, nhất là dân số người
già không ngừng gia tăng. Loại bệnh lý này gây nên những phí tổn quan
trọng vì lẽ bệnh nhân thường lưu trú dài lâu trong một nhà dưỡng lão (maison
de repos) hay trong một cơ sở điều trị khác.
Các nguyên nhân của chứng sa sút trí tuệ, và đặc biệt là bệnh Alzheimer,
là phức tạp. Tuy nhiên dường như ngày càng rõ ràng rằng 3 yếu tố nguy
cơ đóng một vai trò thiết yếu : tuổi tác cao, sự tích tụ của bêta-amyloide
trong não bộ, và tình trạng hư hỏng của hệ tim mạch. Thật vậy các công
trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ
tim mạch ở tuổi trung niên (tăng cholestérol-huyết, cao huyết áp và bệnh
đái đường) góp phần vào sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ. Điều này
giải thích sự quan tâm đối với các thuốc tác dụng chống lại những yếu
tố nguy cơ này. Hy vọng rằng những loại thuốc này cũng làm giảm tỷ lệ
mắc phải chứng sa sút trí tuệ.
SỰ GIẢM ĐÁNG KỂ.
Nhà thống kê Nien-Chen Li và các cộng sự viên (Boston University School
of Public Health, USA) đã tiến hành một công trình nghiên cứu để kiểm
tra xem một lớp đặc biệt của các thuốc cao huyết áp, các chất đối kháng
của các thụ thể của angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine),
có thật bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer hay không. Công trình nghiên cứu
bao gồm 819.491 người trên 65 tuổi (98% là đàn ông) bị một bệnh tim mạch.
Các nhà nghiên cứu đã đánh giá trong nhóm người tham gia này tỷ lệ mắc
phải sa sút trí tuệ từ năm 2002 đến 2006. Họ đã so sánh 3 loại : một nhóm
nhận các chất đối kháng của các thụ thể của angiotensine, một nhóm sử
dụng inhibiteur ACE và một nhóm thứ ba đã nhờ đến các loại thuốc khác
để chống lại các bệnh tim mạch (ngoại trừ các statines).
Phân tích cho thấy rằng, trong nhóm người chủ yếu là nam giới, các chất
đối kháng của các thụ thể của angiotensine được liên kết với một sự giảm
đáng kể của tỷ lệ và của sự tiến triển của bệnh Alzheimer và những dạng
khác của chứng sa sút trí tuệ, so sánh với những inhibiteur ACE và những
loại thuốc khác được sử dụng. Người ta cũng đã chứng thực rằng các chất
đối kháng của các thụ thể angiotensine có một tác dụng bổ sung nếu chúng
được phối hợp với một inhibiteur ACE. Những người đã nhận phối hợp này
phát triển bệnh sa sút trí tuệ ít hơn và ít bị đưa nhanh đến một cơ sở
điều trị hơn, so với nhóm chỉ nhận các inhibiteur ACE.
“ Nếu chúng ta khám phá một phương cách hiệu quả đề phòng ngừa chứng sa
sút trí tuệ, điều đó sẽ có một tác động to lớn lên y tế cộng đồng ”, các
giáo sư của đại học Calgary đã viết như vậy trong một bài xã luận của
tạp chí BMJ.
“Sự theo đuổi các nghiên cứu cho phép xác nhận tính hữu ích của các thuốc
chống cao áp, đặc biệt là các thuốc chống cao áp của lớp các chất đối
kháng của các thụ thể angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine),
đối với chỉ định này”. (LE JOURNAL DU MEDECIN 19/1/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr51.htm
(TSYH 51, bài số 3).
7/ MẠCH, TỶ LỆ TỬ VONG TIM MẠCH
VÀ THỂ DỤC : CÁC PHỤ NỮ ĐƯỢC ƯU ĐÃI.
Một mạch tim tăng cao lúc nghỉ ngơi được liên kết với một nguy cơ tử vong
do suy động mạch vành lớn hơn. Các phụ nữ tập thể dục thấy nguy cơ này
giảm đi rất nhiều.
Javaid Nauman và các cộng sự viện (đại học Trondheim, Na Uy) đã khảo sát
mối liên hệ giữa các nhịp đập của tim lúc nghỉ ngơi và nguy cơ tử vong
do suy động mạch vành. Họ cũng đã tự hỏi không biết mối liên hệ này có
bị ảnh hưởng bởi sự tập thể dục hay không. Các dữ kiện của họ được căn
cứ trên một nhóm khoảng 50.000 người trưởng thành khỏe mạnh (24.999 đàn
ông, 25.089 phụ nữ). Vào lúc thực hiện công trình (1984-1986), người ta
đã thu góp các dữ kiện về lối sống (trong đó có sự luyện tập thể dục).
Các yếu tố ảnh hưởng lên nguy cơ tim mạch, trong đó có mạch tim lúc nghỉ
ngơi, cũng đã được đo.
Suốt trong thời gian theo dõi (trung bình 18 năm), 6033 người đàn ông
và 4.442 người đàn bà bị chết do hậu quả của một bệnh tim mạch.
Phân tích cho thấy rằng khi mạch tim gia tăng lúc nghỉ ngơi, tỷ lệ tử
vong do tim mạch cũng tăng cao, đặc biệt là tỷ lệ tử vong do bất túc động
mạch vành và cơn đau thắt ngực (angor). Đối với mỗi gia tăng mạch tim
10 đập mỗi phút, nguy cơ tử vong do suy động mạch vành gia tăng nơi các
phụ nữ 18%. Dầu sao đó là điều xảy ra nơi các phụ nữ dưới 70 tuổi. Trên
lứa tuổi này, hiệu quả biến mất. Nơi những người đàn ông mà mạch tim gia
tăng theo cùng tỷ lệ, thì nguy cơ tử vong gia tăng 10% trong nhóm những
người trẻ tuổi nhất và 11% trong nhóm những người lớn tuổi hơn.
Điều đáng ngạc nhiên là vai trò của tập thể dục : Việc tập thể dục dường
như bù lại nguy cơ liên kết với mạch tim nhanh lúc nghỉ ngơi. Nhưng điều
chứng thực này chỉ áp dụng đối với các phụ nữ : những phụ nữ thực hiện
nhiều hoạt động vật lý có một nguy cơ chết vì bất túc động mạch vành thấp
hơn, dầu cho mạch của họ lúc nghỉ ngơi như thế nào. Một sự bù trừ như
thế không được thấy nơi các người đàn ông. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 19/1/2010)
8/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 THỂ NẶNG
: SỰ THÀNH CÔNG CỦA CÁC PHẪU THUẬT GHÉP NHỮNG TẾ BÀO TỤY TẠNG.
GS François Pattou là trưởng khoa ngoại tổng quát và nội tiết của CHRU
de Lille, giám đốc của đơn vị INSERM 859. Tạp chí khoa học “ Diabetes
Care ” xác nhận những kết quả dài lâu của bước tiến bộ mà GS François
Pattou bình luận.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những
đặc điểm của bệnh đái đường loại 1 ?
GS François Pattou : Bệnh đái đường loại 1 tương ứng với một trường hợp
trên 10 trường hợp bệnh đái đường, khi có sự phá hủy hoàn toàn và không
đảo ngược của những tế bào của tụy tạng tiết insuline, được gọi là “ các
đảo nhỏ Langerhans ”. Sự vắng mặt insuline ngăn cản việc sử dụng đường
(nhiên liệu cần thiết cho tất cả các chức năng của chúng ta) bởi toàn
thể các tổ chức mô của cơ thể, do đó tạo nên sự nghiêm trọng của bệnh
này ! Những triệu chứng đầu tiên được thể hiện bởi một sự gầy ốm, khát
nước mãnh liệt và một sự gia tăng nước tiểu. Khi đó người ta đo nồng độ
đường trong máu, nếu cao một cách bất thường, thì đó là dấu hiệu của bệnh
đái đường.
Hỏi : Điều trị thông thường của bệnh đái
đường loại 1 là gì ?
GS François Pattou : Điều trị gồm có :
1. Mỗi ngày chích nhiều mũi tiêm insuline (mà bệnh nhân tự quản lý lấy
nhờ một bút tiêm (stylo injecteur) hay một bơm tiêm mang theo người (pompe
portable).
2. Một sự kiểm tra nghiêm ngặt chế độ ăn uống (cung cấp đường và mỡ phải
được hạn chế).
3. Một hoạt động vật lý đều đặn nhằm làm giảm nồng độ đường-huyết.
Tất cả các bệnh nhân đái đường này kiểm tra đường huyết của họ nhiều lần
mỗi ngày (bằng cách sử dụng một máy đọc đường huyết (lecteur de glycémie)
sau khi đã tự chích vào đầu ngón tay). Trong trường hợp quá liều insuline,
họ có nguy cơ bị hạ dưỡng huyết (hypoglycémie), có thể là nguồn gốc của
các biến chứng thần kinh.
Hỏi : Những kết quả thu được với điều trị
này là gì ?
GS François Pattou : Trong phần lớn các trường hợp, các bệnh nhân đái
đường loại 1 đã học cách kiểm soát bệnh của mình và sống một cách bình
thường. Một vài người trong số những bệnh nhân này, với thời gian, không
còn có thể đạt quân bình nồng độ đường trong máu của họ và ngày càng bị
các giảm đường huyết, mà họ không cảm thấy, đó mới là nguy hiểm ! Khi
đó họ có nguy cơ bị hôn mê đái đường (coma diabétique), đôi khi có thể
đe dọa tiên lượng sinh tồn. Với năm tháng trôi qua, sự gia tăng của nồng
độ đường trong máu có thể dẫn đến những biến chứng, như bệnh võng mạc
(rétinopathie), bệnh tim mạch, hay một suy thận cần phải ghép thận.
Hỏi : Vậy chính những bệnh nhân gặp khó khăn
này là đối tượng của phẫu thuật ghép những tế bào tụy tạng. Protocole
của phẫu thuật ghép là gì ?
GS François Pattou : Đó là một phương pháp sinh học còn đang được thí
nghiệm, chỉ liên hệ đến những bệnh nhân trưởng thành bị một thể rất nặng.
Mục đích là cung cấp cho cơ thể những tế bào sản xuất insuline và điều
hòa sự tiết của chúng. Protocole gồm trước hết trích các đảo nhỏ Langerhans
từ một tụy tạng được lấy nơi một người cho đã chết. Rồi, giai đoạn hai,
bằng tiêm truyền, đưa những đảo nhỏ Langerhans này vào trong tĩnh mạch
của gan người bệnh. Sau đó, những tế bào tụy tạng này sẽ đo thường trực
nồng độ đường trong máu và phóng thích liều insuline cần thiết cho cơ
thể.
Hỏi : Vậy có một nguy cơ bị thải bỏ (rejet)
hay không ?
GS François Pattou : Có. Do đó cần liên kết với thủ thuật ghép này một
điều trị chống thải bỏ (traitement anti-rejet) để cho các tế bào được
ghép không bị tiêu hủy bởi hệ miễn dịch.
Hỏi : Những bất tiện của điều trị chống thải
bỏ này là gi ?
GS François Pattou : Do làm giảm các phòng vệ miễn dịch, điều trị chống
thải bỏ gây nên những nguy cơ nhiễm trùng hay sự xuất hiện vài loại ung
thư. Những bệnh nhân được ghép này phải được theo dõi.
Hỏi : Đến nay, những kết quả thu được từ
những thủ thuật ghép này là gì ?
GS François Pattou : Cùng với bà đồng nghiệp chuyên về bệnh đái đường
của tôi, BS Vantyghem, chúng tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu
đầu tiên vào năm 2003 trên 14 bệnh nhân. Hiện nay, 8 trong số những người
được ghép này vẫn lành mạnh, sống bình thường và không còn phải nhận một
mũi tiêm insuline nào nữa. Trong số 6 bệnh nhân khác, thì ba bệnh nhân,
mặc dầu được ghép, phải tiếp tục lại những liều insuline tối thiểu nhưng
không còn bị một hiện tượng hạ đường huyết nào nữa. 3 bệnh nhân sau cùng,
5 năm sau khi được ghép, đã đánh mất các vật ghép (greffon) và trở lại
tình trạng trước đây. Kết luận : hơn một nửa các bệnh nhân được ghép hôm
nay không cần đến insuline, đây là một đầu tiên trên thế giới trong điều
trị những bệnh nhân đái đường vô cùng nặng này ! (PARIS
MATCH 21/1-27/1/2010)
9/ ĂN ÍT NHANH HƠN ĐỂ ÍT BÉO PHÌ
HƠN.
ALIMENTATION. Ăn ít nhanh hơn cho phép chống lại một cách hiệu quả bệnh
béo phì. Đó là điều được chứng tỏ bởi mandomètre, một chiếc máy lạ kỳ
được hiệu chính bởi Per Sodersten, thuộc Viện Karolinsa, Stockholm (Thụy
Điển) và tuần này được trình bày trên site Internet của British Medical
Journal. Chiếc cân trò bé nhỏ này được đặt dưới đĩa ăn và được nối với
một máy vi tính, tác dụng như một tên “ mật thám ” nằm vùng để đo tốc
độ khi người ta ăn.
Suốt trong bữa ăn, một biểu đồ hiện lên trên màn ảnh, tùy theo trọng lượng
thức ăn được lấy trong đĩa và tùy thuộc vào thời gian cần thiết để hấp
thụ nó. Người sử dụng sau đó có thể so sánh đường cong được phát sinh
như vậy với đường cong lý tưởng được xác định trước đây bởi nhà dinh dưỡng.
Một khi đã ăn xong, máy vi tính chỉ rõ là bữa ăn đã được ăn quá nhanh
hay không hoặc là quá chậm. Nhờ những chỉ dẫn được cung cấp bởi bệnh nhân,
mandomètre cũng tính mức độ no nê (taux de satiété) và so sánh, luôn luôn
theo cùng nguyên tắc, với một đường cong “ bình thường ”.
Một nhóm nghiên cứu của clinique de l’obésité của bệnh viện nhi đồng Bristol
(Anh), được điều khiển bởi giáo sư Julian Hamilton-Shield, đã nghiên cứu
ảnh hưởng của sự sử dụng mandomètre trên 106 thiếu niên bị tăng thể trọng,
tuổi từ 9 đến 17, được so sánh với một nhóm chứng.Tất cả được khuyến khích
luyện tập thể thao trong ít nhất một giờ mỗi ngày và theo một chế độ ăn
uống cân bằng, được xác định bởi Food Standards Agency Anh.
Các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng các thiếu niên tham gia công trình
nghiên cứu của họ đã có thói quen ăn quá nhanh. Nhưng sau một năm họ đã
chứng thực rằng những người sử dụng mandomètre đã ăn vào những khẩu phần
thực phẩm với lượng ít quan trọng hơn và với một tốc độ ăn giảm 1%. Nhất
là chỉ số khối lượng cơ thể (IMC > 25: tăng thể trọng và > 30: bệnh
béo phì) đã hạ trung bình 2,1 điểm. Sự cải thiện đáng kể này được duy
trì trong 6 tháng sau khi ngưng sử dụng máy. Điều này gợi ý một sự cải
thiện dài lâu của hành vi ăn uống. Kết quả đáng lưu ý khác : nồng độ cholestérol
tốt trong máu (HL) đã tăng cao hơn một cách đáng kể. Để so sánh, nơi các
trẻ thuộc nhóm chứng (không sử dụng mandomètre nên ăn nhiều và nhanh),
chỉ số khối lượng cơ thể (IMC) đã 3 lần thấp hơn, với một sự gia tốc 4%
thời gian cần để ăn.
“ Bằng cách tập trung vào tốc độ hấp thụ và khối lượng thức ăn được ăn
vào của bữa ăn và bằng cách tăng cường cảm giác no nê, máy mandomètre
bổ sung một cách hữu ích cho những phương pháp hiện đang có sử dụng (còn
hiếm hoi) để chống lại chứng béo phì của các thiếu niên, mà không cần
phải nhờ đến thuốc men ”, các tác giả của công trình nghiên cứu trong
BMJ đã ghi nhận như vậy. (LE FIGARO 18/1/2010)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr104.htm
(TSYH 104, bài số 2).
10/ TRÀ XANH HIỆU QUẢ TRONG
SỰ NGĂN NGỪA UNG THƯ PHỔI.
Nguyên nhân đầu tiên của tử vong ở Đài Loan là ung thư phổi.
Rất nhạy cảm với tai ương này, nhóm nghiên cứu của BS I-Hson Lin (Chung
Shan Medical University) đã tiến hành một cuộc điều tra về những thói
quen sinh sống của 170 bệnh nhân bị ung thư phổi và của 340 người chứng
lành mạnh. Những kết luận của công trình nghiên cứu mới đây đã được trình
bày tại hội nghị về những cơ chế phần tử, nguồn gốc của ung thư phổi,
ở Colorado (Californie). Các kết quả gây ngạc nhiên : nơi những người
hút thuốc không uống trà xanh, nguy cơ được nhân lên 12,7 lần so với những
người hút thuốc nhưng uống trà xanh (ngay cả chỉ uống một tách mỗi ngày).
Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ sự hiện diện của những profil di truyền
được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ mắc phải ung thư này. Nơi những
người có mức độ nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique) thuận lợi,
trà xanh làm gia tăng tác dụng bảo vệ. Các chất có lợi, được chứa trong
trà xanh, có một tác dụng lên tính ổn định của các tế bào và các gène
của chúng. Đó là các polyphénol, các chất chống oxy hóa (antioxydant)
được biết rõ, thí dụ như épigallocatéchine, có tác dụng 200 lần mạnh hơn
vitamine E. (PARIS MATCH 4/2-10/2/2010)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/2/2010)
TAGS: tuberculosis, hepatitis C, dementia, Alzheimer, diabetes 1, green
tea, Thinh van Nguyen
>>>back>>>
|
 |