Thời Sự Y Học số 158
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/LOẠN NĂNG CƯƠNG (DYSFONCTION ERECTILE) KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ VẤN ĐỂ TÌNH DỤC
Loạn năng cương (dysfonction érectile) không chỉ là vấn đề tình dục. Ngày nay chúng ta có nhiều lý lẽ để xác nhận rằng loạn năng cương là một triệu chứng lính canh (symptome sentinelle) của bệnh tim-mạch, biện minh cho một thái độ điều trị tích cực hơn. BS Eric Wespes (CHU Charleroi- Hopital Erasme) trình bày vấn đề này nhân hội nghị chuyên đề về niệu khoa, được tổ chức vào cuối năm 2009.
Trong toàn dân, tỷ lệ mắc phải loạn năng cương (dysfonction érectile) biến thiên từ 19% đến 52% và tăng dần theo tuổi tác. Gần 150 triệu người trên thế giới bị bệnh lý này, trong đó 30 triệu ở Hoa Kỳ. Cuối những năm 90, phần lớn các loạn năng cương đều được quy cho các nguyên nhân tâm thần. Ngày nay, các nghiên cứu dịch tễ học đã xác nhận một mối liên hệ giữa loạn năng cương và các bệnh tim mạch. Loạn năng cương liên quan chặt chẽ với tuổi tác, với bệnh cao huyết áp, với bệnh đái đường, với chứng nghiện thuốc lá, với tăng cholestérol-huyết và với một nồng độ HDL-cholestérol trong máu hạ. Đây là tất cả những yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch. Nguy cơ của chứng loạn năng cương gia tăng 1,5 lần nơi những người cao huyết áp, tăng gấp đôi khi có tăng cholestérol-huyết hay chứng nghiện thuốc lá và tăng gấp 3 nơi những bệnh nhân đái đường. Nơi các bệnh nhân với bệnh động mạch vành triệu chứng, tỷ lệ mắc bệnh loạn năng cương biến thiên giữa 44% và 65%. Trong giai đoạn tiến triển của quá trình vữa xơ động mạch (athérosclérose), loạn năng cương ảnh hưởng đến 86% các bệnh nhân động mạch vành và lên đến 87% những bệnh nhân bị bất túc động mạch ngoại biên (insuffisance artérielle périphérique), với một tương quan dương tính giữa số các động mạch vành bị bệnh và mức độ nghiêm trọng của loạn năng cương.
SINH LÝ BỆNH LÝ.
Mối liên hệ nguyên nhân giữa loạn năng cương và các bệnh tim mạch là loạn năng nội mô (dysfonction endothéliale). Nội mô (endothelium) điều hòa nhiều chức năng sinh lý, như trương lực huyết quản (tonus vasculaire), khả năng kết dính tiểu cầu (adhésivité plaquettaire), sự đông máu, phản ứng viêm, cũng như tính thẩm thấu tế bào (perméabilité cellulaire). Sự tiết các chất trung gian tại chỗ (médiateurs locaux) bởi nội mô cho phép điều hòa thích đáng sự tưới máu mô.
Oxyde nitrique (NO) là một trong những chất trung gian huyết quản (médiateur vasculaire) quan trọng nhất có một vai trò chống vữa xơ động mạch (antiathérogène) ; nó là một chất giãn mạch mạnh và cũng có tác dụng ức chế sự dính kết tiểu cầu (agrégation plaquettaire). NO có một vai trò sinh lý quan trọng trong sự thư giãn mạch máu (vasorelaxation) của tuần hoàn dương vật và trong sự phát sinh sự cương cứng (érection). Một sự sản xuất không đầy đủ NO và/hoặc một hoạt tính bị giảm là cơ sở bệnh sinh của chứng loạn năng cương và là điểm chung giữa loạn năng cương và những dạng khác của bệnh tim mạch, nhất là với sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ tim mạch.
Chức năng nội mô (fonction endothéliale) có thể được nghiên cứu bằng cách đo sự giãn của các động mạch cánh tay sau khi đè ép nó với một manchette của máy đo huyết áp. Sự đáp ứng động mạch đối với sự thiếu máu tạm thời gây nên một sự giãn mạch thứ phát. Vậy có thể đo sự biến thiên của đường kính của các động mạch cánh tay trước và sau khi thực hiện sự đè ép này. Những bệnh nhân bất lực (impuissant), không có yếu tố nguy cơ tim mạch cũng như các triệu chứng tim mạch, phần lớn đều có một thiếu sót trong sự giãn của những động mạch cánh tay. Cũng vậy, sự định lượng của các chất chỉ dấu (marqueurs) của thương tổn nội mô cho thấy rằng những chất chỉ dấu này tăng cao nơi những bệnh nhân bất lực mà không có những biểu hiện tim-mạch khác. Vì lẽ sự loạn năng nội mô (dysfonction endothéliale) đóng một vai trò sinh bệnh chủ yếu trong sự phát triển của chứng vữa xơ động mạch, do đó loạn năng cương (dysfonction érectile) là một biểu hiện sớm của bệnh mạch máu toàn thể thầm lặng không triệu chứng và những bệnh nhân có một loạn năng cương mạch máu có nguy cơ cao phát triển một bệnh tim mạch triệu chứng.
Một công trình nghiên cứu đã so sánh những nồng độ CRP, chức năng nội mô của động mạch cánh tay bằng siêu âm và sự hiện diện của những vôi hóa động mạch vành được phát hiện bởi CT scan, nơi 70 bệnh nhân với loạn năng cương riêng rẻ, không có tiền sử về các bệnh tim mạch và 73 người lành mạnh.
Các đặc điểm của hai nhóm y hệt nhau đối với tuổi tác và các yếu tố nguy cơ tim mạch. Các kết quả cho thấy một sự tăng cao đáng kể của nồng độ CRP, một sự giảm giãn mạch của động mạch cánh tay và sự hiện diện của những vôi hóa động mạch vành nhiều hơn nơi những bệnh nhân với loạn năng cương, đưa đến kết luận rằng chứng loạn năng cương báo trước bệnh tim mạch chưa được biểu hiện bằng những triệu chứng lâm sàng, độc lập đối với sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ tim mạch và rằng bệnh lý tim mạch trầm trọng hơn trước sự hiện diện của loạn năng cương.
Trong một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện trên 300 bệnh nhân có các bệnh tim mạch được xác nhận bởi chụp mạch máu (angiographie), phần lớn những bệnh nhân này có một rối loạn cương đã trở nên có triệu chứng 3 năm trước khi xuất hiện những triệu chứng lâm sàng đầu tiên của một bệnh lý tim mạch. Ngoài ra, chứng rối loạn cương càng nghiêm trọng khi số các động mạch vành bị hẹp, được chứng tỏ sau khi chụp mạch máu, nhiều hơn.
Sự biểu hiện sớm hơn của chứng rối loạn cương có thể được giải thích bởi lý thuyết “ cỡ động mạch ” (calibre arétriel) hay sự khác nhau đường kính của các động mạch của các cơ quan liên hệ. Các động mạch dương vật (artère pénienne) có đường kinh nhỏ hơn (1-2mm) các động mạch vành (3-4mm) hay động mạch cảnh (artère carotidienne) (5-7mm). Một mảng vữa xơ động mạch (plaque d’athérosclérose) cùng kích thước gây nên một mức độ tắc khác nhau tùy theo đường kính của động mạch bị thương tổn.
Như thế, sự giảm luồng máu trong một động mạch nhỏ về phương diện lâm sàng sẽ quan trọng hơn trong một động mạch có kích thước lớn hơn (sẽ còn im lặng trên phương diện lâm sàng). Nếu người ta ước tính rằng phải cần giảm khoảng 40% đường kính động mạch thì các triệu chứng mới được thể hiện, thì sự bất lực tình dục (impuissance sexuelle) sẽ được biểu hiện trước một nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não.
PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ.
Những người đàn ông đến phòng mạch thăm khám vì bị chứng loạn năng cương phải được thăm dò một cách hệ thống để tìm kiếm những yếu tố nguy cơ tim mạch (nhất là bệnh đái đường) và những dấu hiệu và/hay triệu chứng của những bệnh tim mạch được liên kết. Các thầy thuốc đa khoa cũng như các thầy thuốc niệu khoa đóng một vai trò quan trọng về vấn đề này. Có nên điều trị phòng ngừa để tránh cho những bệnh nhân này những tai biến mạch máu nghiêm trọng thường gây tàn phế thậm chí tử vong hay không? Những công trình nghiên cứu trên động vật đã cho thấy rằng sự sử dụng hàng ngày các inhibiteur de phosphodiestérase type 5, có thể phục hồi chức năng nội mô (fonction endothéliale). Nơi người chỉ định này không hẳn được ủng hộ nhưng những dữ kiện sơ khởi cho thấy rằng các bệnh nhân được điều trị bởi các inhibiteur de PDE5 để cái thiện chức năng cương ít bị nhồi máu cơ tim hơn so với nhóm placebo. (LE JOURNAL DU MEDECIN 15/1/2010). Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr145.htm (TSYH 145 bài số 10).
2/ VITAMINE D LÀM GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG.
Những nồng độ tăng cao của vitamine D trong máu được liên kết với một sự giảm nguy cơ bị ung thư đại tràng, theo một công trình nghiên cứu trên hơn nửa triệu người châu Âu, được công bố bởi British Medical Journal. Những người có những nồng độ vitmine D trong máu cao nhất có một tỷ lệ nguy cơ mắc phải ung thư đại tràng gần 40% thấp hơn so với những người có những nồng độ vitamine D thấp nhất trong máu. Vitamine D, được chế tạo bởi cơ thể khi được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nhưng cũng có thể phát xuất từ thực phẩm, đóng một vai trò quyết định đối với sự vững chắc của xương bằng cách làm dễ sự gắn calcium vào mô xương. Vấn đề còn phải làm sáng tỏ, là liệu việc gây nên một nồng độ vitamine D tăng cao trong máu nhờ các chất bổ sung thực phẩm (compléments alimentaires) có phải là một giải pháp tốt hơn, để có được kết quả này, chỉ cần một chế độ ăn uống cân bằng và một sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ở mức độ vừa phải. (LE SOIR 23/1-24/1/2010)
3/ CẦN BIẾT TẤT CẢ VỀ PHẪU THUẬT CHỮA BỆNH BÉO PHÌ TRƯỚC KHI MỒ.
SANTE. Ở Pháp, mỗi năm, khoảng 11.000 người chịu một can thiệp ngoại khoa được gọi là “bariatique” để chống lại bệnh béo phì bằng cách làm thu hẹp dạ dày lại. Mặc dầu từ 10 năm nay kỹ thuật ngoại khoa này đã rất được hâm mộ, do việc xuất hiện của các vòng dạ dày (anneaux gastriques) tương đối dễ sử dụng hơn, nhưng Haute Autorité de Santé vừa cho công bố những tài liệu nhằm thông tin các bệnh nhân và các thầy thuốc về những nguy cơ, những lợi ích và những bó buộc, mà ta có quyền chờ đợi từ những kỹ thuật này. Có nhiều người tưởng rằng có thể làm mất vài ki lô nhờ phẫu thuật “bariatique”, trong khi trên thực tế can thiệp ngoại khoa lại được dành cho vài loại bệnh béo phì, đặc biệt là vì các nguy cơ bị những biến chứng. Tuy nhiên, được thực hiện bởi các tay chuyên khoa, ngoại khoa bariatique nơi những người béo phì đáp ứng với vài tiêu chuẩn chính xác, có thể cho phép, theo những công trình nghiên cứu, làm mất một phần lớn trọng lượng bị thặng dư của họ, và cải thiện, nơi 60 đến 80% các bệnh nhân, những chức năng tim, hô hấp cũng như vận động.
Chứng béo phì (obésité) là một bệnh mãn tính có thể đe dọa sức khỏe, bằng cách gây nên những bệnh như đái đường, cao huyết áp, ngừng thở lúc ngủ (apnée du sommeil). “Ngoại khoa điều trị chứng béo phì (chirurgie de l’obésité) giúp làm mất trọng lượng và kiểm soát các bệnh này, nhưng trước hết cần phải tìm hiểu rõ, dấn thân với ý thức đầy đủ về sự việc, chuẩn bị tốt và chấp nhận sự cần thiết của một quá trình theo dõi đều đặn suốt đời, Haute Autorité de santé đã giải thích như vậy.
Nhưng ngoại khoa chỉ một mình nó không cho phép làm mất trọng lượng. Nó chỉ có hiệu quả với điều kiện phải biến đổi những thói quen ăn uống, gia tăng hoạt động vật lý, và được theo dõi. Cũng phải biết rằng can thiệp có thể gây nên những biến chứng và những khó khăn (thí dụ như một vòng bị sút ra), những tình trạng thiếu dinh dưỡng, những khó khăn do sự biến đổi hình ảnh của cơ thể. Sau cùng, “tỷ lệ tử vong gây nên bởi ngoại khoa béo phì không phải là số không. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn dưới hoặc bằng 1%. Thí dụ để so sánh, tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật bắt cầu động mạch vành (pontage coronarien) là 2%”, ta có thể đọc như thế trong tài liệu của HAS.
DƯỚI GÂY MÊ TỔNG QUÁT.
Mặt khác, loại phẫu thuật này chỉ dành cho những người thật sự béo phì, nghĩa là có một chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) (nghĩa là trọng lượng tính bằng ki lô được chia bởi tầm vóc tính bằng mét vuông) trên 40, hoặc trên 35 trong trường hợp có các biến chứng liên kết (đái đường, cao huyết áp) và ngoài ra đã thử làm mất cân bằng một điều trị thích ứng, nhưng không thành công. Chính thầy thuốc đa khoa sẽ gởi bệnh nhân muốn được phẫu thuật, đến nhóm ngoại khoa chuyên môn để quyết định xem một can thiệp ngoại khoa có thích hợp hay không. Phẫu thuật này biến đổi cơ thể học của hệ tiêu hóa và, nói chung, chính bằng một hành động cơ học, nhưng đôi khi cả chuyển hóa, mà kỹ thuật ngoại khoa này làm giảm được lượng thức ăn được tiêu thụ. Phẫu thuật nhằm, hoặc là đặt một vòng dạ dày (anneau gastrique), hoặc làm giảm kích thước của dạ dày, hoặc tạo nên một đường vòng đi tắt qua dạ dày (un court circuit gastrique). Can thiệp được thực hiện dưới gây mê tổng quát, phần lớn bằng nội soi (coelioscopie). “Kỹ thuật này được khuyến nghị bởi vì nó hạn chế sự đau đớn và cho phép tìm lại được một hoạt động bình thường nhanh chóng hơn. Trong một vài trường hợp, trong lúc phẫu thuật, vì những lý do an toàn, đôi khi cần phải mở bụng”, HAS đã xác nhận như thế. Thời gian nhập viện thay đổi từ 2 đến 10 ngày, nó có thể kéo dài trong trường hợp có những biến chứng. Phải dự kiến 2 tuần nghỉ việc. Nơi phần lớn các bệnh nhân được mổ, sự mất cân xảy ra nhanh chóng trong những tháng đầu tiên rồi thì chậm lại. Nói chung, sự mất cân tối đa sau 12 đến 18 tháng. Sau thời hạn này, có thể bệnh nhân lên cân nhưng một cách có mức độ. Mặt khác, những bệnh liên kết với béo phì thoái triển hay được cải thiện như bệnh đái đường và cao huyết áp. Tuy nhiên suốt đời phải tuân theo những thói quen ăn uống mới cũng như sự luyện tập vật lý. (LE FIGARO 22/10/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr34.htm (TSYH 34, bài số 6).
4/ CHỐNG BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2 : TRÀ HAY CÀ PHÊ ?
Một nhóm nghiên cứu Úc Đại Lợi đã phân tích 18 công trình nghiên cứu có chất lượng (trên 458.000 bệnh nhân) để đánh giá, từ năm 1966 đến 2000, những tương quan giữa việc tiêu thụ trà, cà phê và sự xuất hiện bệnh đái đường loại 2. Những loại nước uống này có một tác dụng bảo vệ quan trọng : 3 hay 4 tách cà phê hay trà mỗi ngày làm giảm nguy cơ bị bệnh đái đường lần lượt 20% và 30% so sánh với những người không uống hoặc cà phê hoặc trà. Lợi ích này là do sự hiện diện của các chất chống oxy hóa (oxydant) và của magnésium (PARIS MATCH 14/1-20/1/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr44.htm (TSYH 44, bài số 3).
5/ BỆNH ALZHEIMER : CHẲNG BAO LÂU NỮA ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ ?
Năm 2010 có thể đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh Alzheimer, bởi vì khoảng 15 thử nghiệm lâm sàng hiện đang được tiến hành trên thế giới. Hướng tiên tiến nhất là hướng của bapineuzumab, một kháng thể được hướng chống lại protéine bêta-amyloide, mà sự tích tụ tạo nên những mảng lão hóa (plaques séniles), nguyên nhân của sự chết của các tế bào thần kinh.
VACCIN HAY THUỐC.
Được phát triển bởi Công Ty Elan, một dạng thuốc tiêm tĩnh mạch của dược phẩm này (bapineuzumab) hiện đang được trắc nghiệm ở giai đoạn III (tính hiệu quả) lên 4000 bệnh nhân trên thế giới, sau khi đã cho thấy ít các tác dụng phụ ở giai đoạn II (liều lượng). Những kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi, đến độ hãng dược phẩm khổng lồ Jonhson & Johnson sẽ đầu tư 885 triệu dollars để thương mãi hóa thuốc càng nhanh càng tốt.
Một hướng khác đầy hứa hẹn : hướng của kháng nguyên “Cad 106” của hãng Novartis. Đó là một thuốc chủng chữa trị (vaccin curatif), cấu tạo bởi một peptide, được sáng chế để gây nên một phản ứng miễn dịch chống lại protéine bêta-amyloide. Được trắc nghiệm cho đến tận năm 2001 trên khoảng 30 bệnh nhân ở châu Âu, vaccin này đã tỏ ra vô hại trong những trắc nghiệm đầu tiên, nhưng còn phải chứng tỏ tính hiệu quả của nó.
Một chiến lược độc đáo hơn nhằm tấn công vào protéine Tau, mà sự tích tụ cũng độc hại cho các neurone. Một loại thuốc phát xuất từ đó, Rember, làm chậm lại sự tiến triển của bệnh. Sau 18 tháng, các bệnh nhân đầu tiên được điều trị vẫn ổn định trên phương diện thần kinh. Thuốc sẽ có thể được đưa ra thị trường vào năm 2012. Nhưng ngay năm 2010, lợi ích của đường hướng điều trị này sẽ được xác nhận hay là không.
“ Qua sự xem xét số các công trình đang được tiến hành, ta có thể xác nhận rằng trong 3 đến 5 năm nữa, ta sẽ thành công phát triển những liệu pháp hiệu quả và không có nguy cơ”, Jean-Marc Orgogozo, trưởng pole Neurosciences cliniques của bệnh viện Pellegrin, Bordeaux, đã đánh giá như vậy. Có cái gì đó để giữ niềm hy vọng. (SCIENCE ET VIE 1/2010)
6/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : MỘT KHÁNG THỀ ĐẦY HỨA HẸN.
Những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Pennsylvanie đã hiệu chính một kháng thể dường như có hiệu năng để phá hủy trực tiếp những tế bào ung thư của tuyến tiền liệt (ngay cả những tế bào đề kháng với điều trị chống hormone). Nơi chuột, kháng thể gắn một cách đặc hiệu trên 97% mô ung thư mà nó phá hủy. (PARIS MATCH 21/1-27/1/2010)
7/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : NGOẠI KHOA ĐƯỢC HỖ TRỢ BỞI ROBOT.
BS Hervé Baumert, trưởng khoa Niệu của nhóm bệnh viện Paris Saint-Joseph, giải thích những ưu điểm của kỹ thuật mới này
Hỏi : Trong những trường hợp nào, một can thiệp ngoại khoa được chỉ định để lấy đi một khối u của tuyến tiền liệt và những kỹ thuật thông thường được sử dụng là gì ?
BS Hervé Baumert : Người ta đề nghị một phẫu thuật trong những trường hợp ung thư khu trú ở tuyến tiền liệt (trong bao nang), nơi những bệnh nhân dưới 75 tuổi và có sức khỏe tổng quát tốt. Thường thường, hai kỹ thuật có thể được dự kiến : một kỹ thuật bằng ngoại khoa truyền thống, còn kỹ thuật kia bằng ngoại khoa soi ổ bụng (chirurgie coelioscopie).
Hỏi : Những protocole của hai kỹ thuật này là gì ?
BS Hervé Baumert : 1. Trong ngoại khoa cổ điển, phẫu thuật viên trước hết thực hiện một đường xẻ dọc dài 10 đến 15 cm dưới núm vú, rồi động tác phẫu thuật nhằm lấy đi toàn bộ tuyến tiền liệt và các túi tinh (vésicules séminales). Có thể cần phải lấy đi các hạch bạch huyết vùng lân cận để xét nghiệm chúng. Khi khối u đã đạt đến một kích thước nào đó, ta có thể cũng phải lấy ra một trong các dây thần kinh cương (nerfs érecteurs), thậm chí cả hai. 2. Trong ngoại khoa nội soi (chirurgie coelioscopie), ta không còn thực hiện nữa những đường xẻ rộng nhưng tạo những lỗ (ouverture) rất nhỏ 5-10 mm để đưa vào đó một minicamera và những vi dụng cụ ngoại khoa (microinstruments chirurgicaux). Nhà phẫu thuật mổ với cùng những động tác như được thực hiện trong ngoại khoa cổ điển. Phương pháp vi xâm nhập (méthode micro-invasive) này mang lại ít đau đớn hơn trong thời kỳ hậu phẫu, một thời gian nhập viện ngắn hơn và ít di chứng sẹo hơn.
Hỏi : Những kết quả của những phương pháp khác nhau này là gì ?
BS Hervé Baumert : Trên bình diện chữa lành bệnh, chúng đều giống nhau : 90% lành bệnh nếu ung thư rất được khu trú. Nhưng những kỹ thuật này có những điều bất tiện : cả hai có thể có những nguy cơ gây són tiểu (incontinence) và bất lực (impuissance) nếu phẫu thuật viên đã không có thể gìn giữ được các dây thần kinh cương. Các di chứng chủ yếu tùy thuộc vào kinh nghiệm của đội phẫu thuật và khả năng có thể bảo tồn những dây thần kinh này hay không.
Hỏi : Do đó phải tìm kiếm một kỹ thuật rất chính xác hạn chế các nguy cơ... Phương pháp mới ngoại khoa với sự hỗ trợ bởi robot (chirurgie par robot) là gì ?
BS Hervé Baumert : Phẫu thuật viên mổ từ một bàn chân qùy(console) được đặt bên cạnh bệnh nhân. Bàn chân qùy này được trang bị bởi một màn ảnh (sẽ tái tạo nơi cần phẫu thuật theo 3 chiều không gian) và những bộ phận điều khiển bằng tay (commande manuelle), cho phép người mổ hướng rất chính xác các bàn tay của robot. Người máy (robot) này, được đặt giữa hai cẳng chân của bệnh nhân, được trang bị bởi hai hay 4 cánh tay (có ở đầu mỗi cánh tay những dụng cụ ngoại khoa nhỏ xíu và có khớp). Những động tác mổ y hệt với những động tác được thực hiện với kỹ thuật nội soi nhưng với một mức độ chính xác tốt hơn, có được là nhờ sự nối khớp của các dụng cụ (articulation des instruments), mà phẫu thuật viên có thể biến đổi góc trong lúc phẫu tích khối u. Những vi dụng cụ có khớp này (mini-instruments articulés), với mức độ cực kỳ khéo léo, có thể thích ứng hơn nhiều với cơ thể học của bệnh nhân. Mức độ chính xác được cải thiện cũng là nhờ nhìn được, theo 3 chiều không gian, phẫu trường được phóng đại : người mổ có thể phóng đại hay thu nhỏ (zoomer) theo ý muốn.
Hỏi : Những kết quả thu được với ngoại khoa với robot hỗ trợ là gì ?
BS Hervé Baumert : Cũng như đối với những kỹ thuật khác, những kết quả tùy thuộc vào trình độ khéo léo và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Ở Hoa Kỳ, kỹ thuật mới này đối với các ung thư tiền liệt tuyến đã trở thành ngoại khoa mẫu mực (chirurgie de référence) : 70% những cuộc mổ đã được thực hiện như thế. Kết quả : 90% được chữa lành và, với những nhóm phẫu thuật viên có kinh nghiệm nhất, 80% những bệnh nhân còn trẻ đã lấy lại được một khả năng sinh dục bình thường, vì các dây thần kinh cương đã được bảo tồn. 95% những người được mổ cũng đã có thể bảo tồn một khả năng tiểu tiện bình thường không bị són đái. Sự cải thiện này là do một mức độ chấn thương ít hơn, nhờ những dụng cụ được nối khớp của robot. Tuy nhiên, trong ngoại khoa cổ điển, một phẫu thuật viên rất có kinh nghiệm cũng có thể thu được những kết quả tốt như thế. (PARIS MATCH 19/1-25/11/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr83.htm (TSYH 83, bài số 4)
8/ NHƯNG TẾ BÀO TỤY TẠNG ALPHA MỞ HƯỚNG ĐIỀU TRỊ CHỐNG BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1
Bệnh đái đường loại 1 là một bệnh được đặc trưng bởi sự sản xuất không đủ insuline bởi các tế bào bêta của tụy tạng. Để chữa điều đó, nhóm nghiên cứu của Patrick Collombatt (đại học Nice) đã tìm ra một cách : sử dụng những tế bào tụy tạng khác và biến đổi chúng thành những tế bào bêta. Các nhà nghiên cứu đã hoạt hóa sự biểu hiện của gène Pax 4 (có liên hệ trong sự tạo thành các tế bào bêta) trong các tế bào alpha. Sự hoạt hóa này gây nên một sự biến đổi các tế bào alpha thành các tế bào bêta và sự tái sinh của chúng, như thế làm gia tăng khối các tế bào bêta chức năng. Những kết quả này mở ra một triễn vọng mới để điều trị bệnh đái đường. (SCIENCE ET VIE 10/2009)
9/ 5 VŨ KHÍ MỚI CHỐNG BỆNH BÉO PHÌ
Từ hai chục năm nay, chứng béo phì (obésité) đã trở thành một vấn đề y tế công cộng quan trọng, ảnh hưởng lên 500 triệu người trên thế giới. Mặc dầu nhiều công trình đã được thực hiện để phát hiện nhiều nguyên nhân của bệnh, nhưng các điều trị bằng thuốc đã làm thất vọng và chỉ có ngoại khoa mới có thể chứng tỏ hiệu quả. Thế mà, nhiều đường hướng nghiên cứu mới đang được khảo sát trong các phòng thí nghiệm. Những đường hướng đầy hứa hẹn.
Theo Tổ chức y tế thế giới, vào năm 2015, hành tinh theo dự kiến có 2,3 tỷ những người trưởng thành tăng thể trọng (surpoids) và hơn 700 triệu người béo phì (obèse). Được nâng lên hàng dịch bệnh, bệnh béo phì cũng không tha miễn nước Pháp (vào năm 2006-2007, Pháp có gần 17% những người trưởng thành bị béo phì, theo INVS (Institut national de veille sanitaire) và INCa (institut national du cancer). Đứng trước tai ương thế giới này, các chế độ ăn uống và sự biến đổi cách ăn uống không đủ. Thế mà các điều trị bằng thuốc thì lại thiếu sót bởi vì ít hiệu quả, thậm chí nguy hiểm.
“Vào năm 2009 chỉ có một điều trị duy nhất có hiệu quả, đó là ngoại khoa”, Philippe Froguel giám đốc của Laboratoire CNRS de génomique et physiologie moléculaire des maladies métaboliques ở Lille đã xác nhận như vậy. Nhằm ngăn cản các thức ăn được đưa vào hay làm giảm sự hấp thụ chúng, ngoại khoa của chứng béo phì (chirurgie de l’obésité), hay chirurgie bariatique, được thực hiện nhằm làm thu nhỏ thể tích của dạ dày, nhờ sự thiết đặt một vòng dạ dày (anneau gastrique) hay nhằm đi vòng (court-circuiter) ống tiếu hóa, làm cho một phần của ruột non không còn tiếp cận nữa với thức ăn : đó là nguyên tắc “bắt cầu” (bypass). Phẫu thuật này có được một thành công thật sự : 40.000 cuộc mổ đã được thực hiện trên thế giới năm 1998, gần 345.000 đã được thực hiện năm 2008, hoặc một sự gia tăng 761%, theo một công trình nghiên cứu của Henri Buchwald của đại học Minnesota. Hiệu quả của chirurgie bariatique ngày nay đã được chứng tỏ : Swedish Obesity Study (SOS), một công trình nghiên cứu Thụy Điển, được tiến hành từ năm 1987 trên 4000 người trưởng thành béo phì, chỉ rõ rằng ngoại khoa mang lại một sự mất thể trọng dài lâu (giữa 14% và 25% sau 10 năm) và nhất là một sự thu giảm 29 đến 40% tỷ lệ tử vong. Nhưng bị hạn chế đối với những trường hợp quá mức (IMC trên 40), phẫu thuật này không chữa lành bệnh béo phì nơi một người cân nặng 160 kg bằng cách làm bệnh nhân mất 25% đi thể trọng.
Vì không có một ngoại khoa nhiệm màu và những thuốc thích đáng, nên các công trình về những liệu pháp của bệnh béo phì đang phát triển. Đã phát sinh những chiến lược điều trị. Sau đây là một toàn cảnh những mục tiêu tương lai chống béo phì.
Bệnh béo phì (obésité) : được định nghĩa bởi một “chỉ số khối lượng cơ thể” (IMC : index de masse corporel) bằng hoặc trên 30. Chỉ số khối lượng cơ thể (IMC) = trọng lượng (kg) chia cho bình phương của tầm vóc (taille) (m). Một béo phì trung bình (IMC từ 30 đến 35) làm giảm tuổi thọ 3 năm, một béo phì nghiêm trọng (IMC từ 40 đến 50) trung bình làm giảm tuổi thọ 10 năm, theo một phân tích méta mới đây được tiến hành bởi đại học Oxford trên gần 1 triệu người trên thế giới.
1/ KÍCH THÍCH DÂY THẦN KINH PHẾ VỊ.
Mặc dầu tương lai của ngoại khoa dường như rạng rỡ, nhưng những nghiên cứu trong lãnh vực này lại hướng về những kỹ thuật “càng ngày càng ít xâm nhập hơn, ít hung hãn hơn”, thầy thuốc ngoại khoa Jérome Dargent (Rillieux-la-Pape, Rhone) đã giải thích như vậy. Kích thích điện của dây thần kinh phế vị hay VBLOC (Vagal Blocking for Obesity Control) là một thí dụ đẹp. Mặc dầu còn trong giai đoạn thí nghiệm, thiết bị này hoạt động theo cùng nguyên tắc của máy tạo nhịp tim (pacemaker cardiaque), qua sự gởi đi các xung động điện. Nhưng ở đây, chính dây thần kinh phế vị được nhắm vào, chứ không phải là tim. Dây thần kinh này, nối liền ruột với não bộ, chỉ huy chủ yếu cảm giác đói (sensation de faim), vì thế người ta nảy ra ý tưởng phong bế dây thần kinh phế vị từng lúc, bằng những xung động điện tần số cao, để làm giảm sự ăn vào. Trái với phẫu thuật bắt cầu (bypass), cơ thể học của hệ tiêu hóa trong phương pháp này vẫn được duy trì. Trong một công trình nghiên cứu đầu tiên, được báo cáo vào tháng giêng bởi Công ty Hoa Kỳ EnteroMedics (phát triển kỹ thuật này), 38 người béo phì đã được cắm một máy kích thích (stimulateur). Sau 6 tháng, sự mất cân trung bình là 17,9%. Sau 1 năm, tỷ lệ này đạt 28,1% nơi 17 người tham gia. Và vào 18 tháng sau khi thiết đặt, tỷ lệ lên đến 37,6% đối với 9 người. Một công trình nghiên cứu lớn hơn đang được tiến hành để xác nhận tính hiệu quả của phương pháp và những hiệu quả lâu dài của nó.
2/ NHẰM VÀO NÃO BỘ.
“Vấn đề đối với não bộ, đó là phải có khả năng hướng tác dụng của các loại thuốc một cách chính xác vào mục tiêu trong não bộ, điều mà chúng ta thật sự không biết làm bằng cách nào”. Pascal Ferré, người phụ trách nhóm nghiên cứu “các bệnh lý dinh dưỡng và chuyển hóa : béo phì và đái đường” ở trung tâm nghiên cứu Cordelier (Paris), đã tóm tắt đúng các khó khăn mà các phòng bào chế dược phẩm đang gặp phải. Có phải vì vậy mà phải từ bỏ mọi chiến lược điều trị nhắm vào cơ quan này, trưởng dàn nhạc (chef d’orchestre) thật sự của việc ăn uống? Chắc chắn là không. Vì lẽ một đường hướng nghiên cứu mới tỏ ra rất đầy hứa hẹn, phát xuất từ những điều quan sát được của chirurgie bariatique. “Sau một phẫu thuật “bắt cầu” (bypass), bệnh nhân nhận thấy tình trạng của họ được cải thiện nhanh hơn nhiều so với điều mà phẫu thuật đoán trước”, François Pattou, giám đốc đơn vị nghiên cứu Inserm “biothérapies du diabète” ở Lille, đã giải thích như vậy.
Thật ra, phẫu thuật bypass không những làm xáo trộn lộ trình của các thức ăn trong ống tiêu hóa, mà còn cả sinh lý của ruột, và nhất là sự tương tác ruột /não bộ. Bình thường khi ăn, ruột tiết các peptide như PYY và GLP1, chủ yếu có nhiệm vụ hoạt hóa các trung tâm no nê (centres de satiété) của não bộ.Vì thế, ta biết được khi nào cần phải ngừng ăn. Nơi người béo phì, những peptide này được sản xuất với lượng không đầy đủ. Bệnh nhân ít cảm thấy cảm giác no nê hơn. Thế mà ngoại khoa có mục đích tái lập một sự tiết bình thường của PYY và GLP1. Từ đó nảy ra ý tưởng của các nhà sinh học: tại sao không thử bắt chước về phương diện hóa học những tác dụng của ngoại khoa? Chỉ cần cấp các peptides này một cách ngọai tại (tiêm dưới da, xịt mũi).
“Đó là những chất có trong tự nhiên, ít có nguy cơ gây nên những tác dụng phụ”, Sandra Guilmeau, thuộc trung tâm nghiên cứu sinh y học Bichat-Beaujon (Paris) đã xác nhận như vậy. Trong nhiều công trình nghiên cứu từ năm 2002, nhóm nghiên cứu của Rachel Batterham, giáo sư của Centre pour les diabètes et l’endocrinologie (Luân Đôn), đã cho thấy rằng, việc cấp PYY và, tốt hơn, một phối hợp của PYY và GLP1, làm giảm sự ăn uống nơi động vật gặm nhấm và những người bị chứng béo phì. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành. Công ty dược phẩm MDRNA Inc. đã phát triển, cùng với Merck, một thuốc xịt mũi (spray nasal) mà chất căn bản là PYY. 37 người béo phì được điều trị 3 lần mỗi ngày, đã thấy trọng lượng của họ giảm 0,6kg trong 6 ngày. Nhưng những thử nghiệm này đã bị đình chỉ vào tháng 8 năm 2008 bởi vì thuốc xịt không có tính hiệu quả hơn các điều trị bằng thuốc.Về phía mình, Emisphere Technologies đặt cuộc vào một sự cung cấp đồng thời PYY và GLP1 : công trình nghiên cứu lâm sàng đầu tiên đã tỏ ra đầy hứa hẹn trong việc làm giảm cảm giác ăn ngon.
3/ BIẾN ĐỔI KHUẨN CHÍ RUỘT.
Chứng béo phì không chỉ là kết quả của một chế độ ăn uống quá dồi dào, của một sự thiếu hoạt động vật lý hay của một tố bẩm di truyền: “Ngày nay người ta đã chứng tỏ rằng khuẩn chí ruột (flore intestinale) (microbiote) cũng có một vai trò chức năng trong sự phát triển của nó, Rémy Burcelin, giám đốc nghiên cứu Inserm thuộc Viện y học phân tử (Toulouse) đã xác nhận như vậy. Microbiote, đó là hàng tỷ vi khuẩn cộng sinh trong ruột của chúng ta, qua tương tác với môi trường của chúng ta và tham gia vào tình trạng sức khoẻ tốt của chúng ta. Thế mà, sự can dự của microbiote vào trong sự phát sinh chứng béo phì, đã được phát hiện cách nay 5 năm bởi Jeffrey Gordon, giáo sư của Centre des sciences du génom thuộc đại học Washington (Hoa Kỳ). Bằng cách cho định cư trong ruột của một con chuột không có khuẩn chí vi khuẩn (được duy trì trong một môi trường vô trùng) với khuẩn chí của một con chuột béo phì, nhà sinh học đã chứng thực rằng chú chuột lúc đầu mảnh dẻ, đến lượt đã trở nên béo phì. “Trên thực tế, điều này cho phép xem bệnh béo phì như là một bệnh truyền nhiễm, Rémy Burcelin cả gan phát biểu như vậy. Rất có khả năng rằng, cùng cách như thế nơi người, loại vi khuẩn định cư nơi ruột lúc sinh ảnh hưởng lên mức độ béo phì về sau này”. Có lẽ cá thể được sinh ra trong một gia đình béo phì rất nhanh bị lây nhiễm bởi khuẩn chí ruột của bố mẹ, anh chị em bị béo phì.
Từ đó ta tưởng tượng có thể tác động lên khuẩn chí ruột để điều hoà sự lên cân... “Các vi khuẩn thay đổi tùy theo chế độ ăn uống. Trước hết bạn hãy cho các vi khuẩn của bạn ăn trước khi chính các bạn ăn“. Do đó, việc biến đổi khuẩn chí ruột nhờ chế độ ăn uống trở nên có thể dự kiến được. Nhưng cần phải nhiều năm trước khi có thể hiểu rõ hơn sinh thái vi khuẩn hoạt động như thế nào (những tương tác giữa các vi khuẩn với nhau, với thức ăn nuôi dưỡng,vv..) và hiệu chính các chất bổ sung dinh dưỡng thích đáng. Dự án châu Âu Meta HIT (Metagenomics of the Human Intestinal Tract) được phát động vào tháng 4 năm 2008, nhằm séquencer toàn bộ các bộ gène (génome) của các vi khuẩn đang sống trong cơ thể chúng ta, là một giai đoạn đầu tiên.
4/ BIẾN HÓA MÔ MỠ
Con người bảo tồn vào tuổi trưởng thành một lượng không phải là nhỏ mô mỡ nâu (TAB : tissu adipeux brun). Đó là kết luận vang lừng của 3 công trình nghiên cứu mới đây, Hoa Kỳ, Thụy Điển và Hòa lan. Thế mà, mô mỡ nâu đốt cháy mỡ, trái với mô mỡ trắng tích trữ chúng. Thế mà người ta đã hằng nghĩ rằng chỉ có những động vật nghỉ đông (animaux hibernants), những động vật gặm nhấm nhỏ và những động vật có vú sơ sinh (trong đó có người) mới có mô mỡ nâu để sưởi ấm. Thế mà những công trình nghiên cứu này chứng minh sự hiện diện của mô mỡ nâu này nơi người trưởng thành. Mô mỡ nâu luôn luôn hoạt động, nó được hoạt hóa mạnh khi chúng ta được đặt ở một nhiệt độ mát. Do đó nảy ra ý nghĩ tái hoạt hóa nó nơi những người béo, để giúp họ làm tiêu tan mỡ của họ dưới dạng nhiệt. Nếu mô mỡ nâu (TAB) hoạt động thường trực, nó có thể đốt cháy đến 4,1 kg mỡ mỗi năm. “Tất cả chúng ta mơ tưởng có thể hoạt hóa các tế bào mỡ nâu (adipocytes bruns) để đốt cháy mỡ thay vì tích trữ chúng!”, Daniel Ricquier, giáo sư đại học y khoa Paris-V đã kêu lên như vậy. Vâng, nhưng bằng cách nào ? Đó là điều mà các nhà sinh học sẽ phải xác định trong những năm đến.
Từ nay đến lúc đó, một hướng tương tự có thể nảy sinh : hãy cho các tế bào mỡ trắng (adipocytes blancs) những đặc điểm của các tế bào mỡ nâu (adipocytes bruns), nhất là khả năng biểu hiện, trong các ty lạp thể (mitichondries) của chúng (có nhiệm vụ đảm bảo sự hô hấp tế bào) một protéine tách cặp (découplant) được gọi là UCP1. Khi UCP1 được hoạt hóa, các ty lạp thể bắt đầu hô hấp rất nhanh và oxy hóa các axit béo để chúng đốt các chất mỡ. Từ đó nảy ra ý tưởng làm các tế bào mỡ trắng sản xuất ra protéine này…một chiến lược đã có hiệu quả trong phòng thí nghiệm, khi người ta đưa vào một gène (PGC-1 alpha) có khả năng gây cảm ứng UCP1. Vấn đề là còn phải tìm cách làm như thế in vivo.
5/ THÍCH ỨNG CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG THEO PROFIL DI TRUYỀN.
Tại sao, khi ăn cùng một loại thức ăn, vài người béo phì còn những người khác thì không ? Đó là điều mà nhà dinh dưỡng di truyền (nutrigénétique) muốn biết. “Ý tưởng là xác định, tùy theo di sản di truyền (patrimoine génétique) của mỗi cá thể, sự đáp ứng đối với một chế độ ăn uống nhất định. Và có thể cá thể hóa chế độ ăn uống”, Dominique Langin, thuộc đại học y khoa Toulouse-Purpan, đã giải thích như vậy. Nhóm của Patrick Borel, thuộc phòng thí nghiệm “các chất dinh dưỡng lipide và sự phòng ngừa các bệnh chuyển hóa” ở Marseille đã cho thấy rằng, cùng sự cung cấp ăn uống như nhau, nhưng những nồng độ của hai chất kháng oxy hóa, vitamine E và các caroténoides, thay đổi tùy theo các cá thể mang một dạng này hay dạng kia của những gène có can dự trong chuyển hóa của lipide. Chương trình châu Âu Diogenes (Diet, obesity và genes), được thành lập vào tháng giêng 2005, hẳn sẽ cho phép thấy rõ hơn.
“Một giai đoạn đầu, được tiến hành trên 800 người, đã nghiên cứu những tương tác giữa thể địa di truyền và những đáp ứng với một sự thay đổi dinh dưỡng”, Karine Clément, người phụ trách nhóm nghiên cứu Onserm “dinh dưỡng và chứng béo phì”, Paris, đã giải thích như vậy. Đó là nhìn các gène đáp ứng với một cách dinh dưỡng nào đó. Giai đoạn thứ hai căn cứ trên sự kiện là với chế độ ăn uống y hệt nhau, nhưng chúng ta không mất cân theo cùng một cách như nhau. “Chúng tôi tìm cách để biết xem có những profil di truyền đặc biệt cho phép tiên đoán cá thể nào đó thuộc về những người đáp ứng tốt hay xấu. Mục tiêu tối hậu? Biết được, bắt đầu từ một xét nghiệm máu đơn giản, profil di truyền của một cá thể và thích ứng chế độ ăn uống của người này. Những nghiên cứu khác quan tâm đến các gène…của sự mảnh khảnh. “Khoảng 1/3 bộ gène (génome) của chúng ta có liên hệ trong bệnh béo phì, hay chính xác hơn trong chuyển hóa năng lượng”, Itzik Haroshda nhận xét như thế. Trong những điều kiện này, khó mà tìm được gène đặc hiệu nào nhắm đích để phát triển một điều trị. Thế tại sao không lưu ý đến những gène, ít hơn nhiều, có can dự trong hình thái mảnh khảnh, mà sự biến dị làm phong bế sự hấp thụ của vài chất dưỡng? Chính bằng phương pháp này mà nhóm nghiên cứu của Itzik Harosh đã theo đuổi, với một gène có can dự đồng thời trong sự hấp thụ của các protéine và các chất mỡ mã hóa cho một enzyme, enteropeptidase, có nhiệm vụ hoạt hóa những enzyme khác của sự tiêu hóa. Mục tiêu là tìm ra một thứ thuốc có khả năng phong bế một phần enteropeptidase, để làm giảm sự hấp thụ thức ăn. Đó là điều đã được làm. Thuốc có hiệu quả và từ nay phải qua giai đoạn thử nghiệm tiền lâm sàng đúng quy định. (SCIENCE ET VIE 12/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr26.htm (TSYH 26, bài số 6).
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr30.htm (TSYH 30, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr39.htm (TSYH 39, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr40.htm (TSYH 40, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr42.htm (TSYH 42, bài số 9).
10/ 3 GENE MỚI LIÊN KẾT VỚI BỆNH ALZHEIMER.
Sự khám phả các yếu tố nguy cơ di truyền mới trong bệnh Alzheimer mở hướng cho các nhà khoa học.
3 gène mới có liên hệ trọng bệnh Alzheimer đã được nhận diện bởi hai nhóm nghiên cứu châu Âu. Sự khám phá này xảy ra trong bối cảnh của một sự tiến triển đáng lo ngại của căn bệnh liên kết với sự lão hóa của dân số: hiện nay ở Pháp có 850.000 người bị bệnh Alzheimer; theo dự kiến con số này là 2 triệu vào năm 2040, theo Hội Pháp-Alzheimer. Sự khám phá này mang một tính chất đặc biệt, bởi vì một yếu tố nguy cơ duy nhất (gène mã hóa apolipoprotéine E, POE) đã được nhận diện đến nay cách 16 năm. Sau hết, vì di sản di truyền (patrimoine génétique) chiếm 60% trong nguy cơ phát triển bệnh, nên khám phá này mang lại hy vọng hiểu được tốt hơn cơ chế gây bệnh. Nhận diện các gène trong một bệnh phức tạp như thế là một việc kỳ dị khó tin. Trên thực tế, đó là những nghiên cứu liên kết, xác định vị trí, trên khoảng 25.000 đến 30.000 gène của chúng ta, những biến dị thường xảy ra hơn nơi những người bị bệnh so với những người chứng. Nhưng hai điều kiện cần thiết để tránh phát hiện những dương tính giả : khảo sát rất nhiều trường hợp và répliquer các nghiên cứu. Và đó là chuyện phi thường mà hai nhóm nghiên cứu đã thành công. Nhóm đầu tiên, được chỉ đạo bởi Philippe Amouyel của đại học Lille-II, đã tập hợp trong thời gian đầu 2000 bệnh nhân người Pháp và 5000 người chứng; nhóm kia được điều khiển bởi Julie Williams của đại học Cardiff, đã tập hợp 3000 bệnh nhân và 7800 người chứng. Rồi hai nhóm đã đáp lại các công trình nghiên cứu của họ, như thế mỗi nhóm có tổng cộng 6000 bệnh nhân và hơn 10.000 người chứng.
SÀNG LỌC LƯU LƯỢNG CAO (CRIBLAGE A HAUT DEBIT).
Để có thể khảo sát một số lượng lớn các trường hợp như thế, các nhà nghiên cứu đã phải nhờ đến sự sàng lọc với lưu lượng cao (criblage à haut débit), cho phép quét, trong chỉ một lần, toàn bộ bộ gène của một cá thể. Công nghệ học này đã cách mạng hóa cách tìm kiếm các gène. “Trước đây, người ta khảo sát một gène đặc biệt bởi vì người ta cho rằng nó có thể có một mối liên hệ với căn bệnh. Và người ta tìm cách xác nhận giả thuyết này. Với lưu lượng cao, ta tìm cách, một cách dò dẫm, phát hiện một gène và chỉ sau đó mới thử hiểu vai trò của nó”, Philippe Arnouyel đã giải thích như thế.
Hiện tại 3 gène ,được nhận diện vào mùa hè năm nay, đặt nhiều câu hỏi hơn là mang lại các câu trả lời. Một gène mã hóa protéine Picalm sẽ can dự vào trong sự tạo thành của các khớp thần kinh (synapses). Hai gène kia lần lượt mã hóa clustérine (hay apolipoprotéine) và protéine CR1. Các protéine này đóng một vai trò trong sự thải bỏ kém của một chất tích tụ trong não bộ, peptide bêta-amyloide. Sau hết, điều được quan sát sau cùng, clustérine và protéine CR1 có một liên hệ với những hiện tượng viêm. Vì thế có một sự quan tâm trở lại về một ý tưởng đã được đưa ra : thử nghiệm các thuốc kháng viêm để chống lại bệnh Alzheimer. (LA RECHERCHE 1/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr144.htm (TSYH 144 bài số 5)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (25/1/2010)

>>>back>>>

 

 

Tin Mới Y Học