Thời Sự Y Học số 157
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG, TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
                               
          2030   435 triệu
                                   2009  250 triệu
                           2000  177 triệu
                    1995  135 triệu
       1985 35 triệu bệnh nhân trên thế giới   

Đứng trước sự bùng nổ của bệnh đái đường, ảnh hưởng càng ngày càng nhiều các người trẻ tuổi, việc phát hiện bệnh trở thành một điều không thể tránh được. Với mục tiêu, ngăn ngừa chứng béo phì.
Trên thế giới cứ mỗi 10 giây đồng hồ có một người chết vì những biến chứng của bệnh đái đường và có hai trường hợp mới được chẩn đoán. Trong vòng 20 năm, số các người bệnh đã bùng nổ, chuyển từ 35 triệu năm 1985 lên hơn 250 triệu ngày hôm nay, đưa bệnh đái đường do một sự hiện diện đường quá cao trong máu, lên thành nguyên nhân thứ tư gây tử vong trong các nước phát triển. Và các viễn ảnh càng làm lạnh xương sống : gần 435 triệu người vào năm 2030, trong đó 80% trong các nước đang phát triển. Một tình hình càng đáng hãi hùng khi sự lạm phát này sẽ kèm theo một sự gia tăng số các biến chứng nghiêm trọng gắn liền với căn bệnh : các tai biến mạch máu não, sự mù lòa, cắt cụt các chi, suy thận... Bệnh đái đường đã là nguyên nhân đầu tiên gây mù lòa trong các nước phát triển. Điều tệ hại hơn : căn bệnh, dầu đó là loại 1 hay loại 2, gây bệnh cho những người ngày càng trẻ tuổi. Tại sao có một đại dịch toàn cầu như thế và làm sao ngăn chặn nó? Câu hỏi gây bàn cãi cộng đồng các chuyên gia bệnh đái đường, và họ một lần nữa đã rung chuông báo động nhân Ngày thế giới của người bệnh đái đường, 14/11/2009.
Đối với bệnh đái đường loại 2, chiếm 90% những bệnh nhân đái đường, thì nguyên nhân không có gì là bí ẩn. Chế độ ăn uống xấu, tình trạng không hoạt động vật lý, ăn uống ê hề, các thủ phạm đã được nhận diện. “Chứng béo phì lót đường cho bệnh đái đường”, GS Michel Krempf, thầy thuốc chuyên khoa bệnh đái đường ở Nantes, đã tóm tắt như vậy.
Kết quả: 90% những người béo phì là người bệnh đái đường và 80% những người bị bệnh đái đường loại 2 ở trong tình trạng gia tăng thể trọng (surpoids) hay béo phì (obésité). Mặt khác, danh từ “diabésité” đã đi vào trong ngôn ngữ thông thường của các thầy thuốc thực hành. “Đó là một bệnh mới phát khởi (pathologie émergente) trong nhi khoa”, cách nay hai năm, ta đã có thể đọc như thế trong một báo cáo của Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire). Ngày nay, chẩn đoán bệnh đái đường ngay ở tuổi thiếu niên là chuyện thông thường. Vì vậy, đối với các chuyên gia, sự khẩn cấp của một phòng ngừa có tính cách tấn công hơn đối với nhóm người này, nhưng cũng khẩn trương điều tra phát hiện rộng rãi hơn trong toàn dân. Ở Pháp, 500.000 người không biết mình là những người đang bị bệnh đái đường.
Bởi vì, ta có thể hành động đứng trước căn bệnh này. “Thường nhất, trước một sự gia tăng thể trọng vừa phải, chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn uống đồng thời thực hiện một hoạt động vật lý đều đặn cũng đủ cho phép một sự trở lại bình thường của đường huyết ”, BS Said Bekka, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết và đái đường ở Chartres, đã đảm bảo như vậy. Ông chủ trương phổ biến các chương trình giáo dục điều trị. “Trong 2/3 các trường hợp, có thể biến đổi lâu dài những thói quen ăn uống”, ông đã giải thích như vậy. Nhưng điều quan trọng nhất là phải hành động sớm, trước khi mỡ được tích trữ. “Từ nay, người ta biết rằng mỡ chứa các hormone hoạt tính thường độc hại cho cơ thể, BS Bekka nói tiếp. Trong trường hợp tăng thể trọng (surpoids), các tế bào mỡ bị vượt quá bởi sự tích trữ mỡ. Khi đó, chúng là nguồn gốc của một cơ chế được gọi là tình trạng đề kháng insuline (insulino-résistance) : các chất mỡ được ứ đọng trong sâu cuối cùng gởi một tín hiệu hóa học nhằm ức chế các thụ thể (récepteurs) đối với insuline hiện diện trong gan và các cơ, những mô này tiêu thụ glucose. Hậu quả, đường ít được đồng hóa và do đó tăng cao trong máu.
“May mắn thay, chúng ta có một chỉ dấu lâm sàng đơn giản của tình trạng đề kháng insuline (insulino-résistance): đo chu vi bụng (périmètre abdominal), BS Bekka đã nhắc lại như vậy. Vậy những người có nguy cơ phát triển một bệnh đái đường đều có thể dễ nhận diện, vì tình trạng đề kháng insuline xuất hiện vài năm trước khi đường huyết tăng cao.
Nhưng trên thực tế, chỉ 1/3 các bệnh nhân là đạt được sự cân bằng với sự cải thiện vệ sinh đời sống của họ. Đối những kẻ khác, buộc phải nhờ đến các loại thuốc. May mắn thay, sự nghiên cứu đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong thời gian gần đây. “Từ lâu, chúng ta đã chỉ có hai loại thuốc để đề nghị ”, Michel Krempf đã xác nhận như thế. Từ vài năm nay, khoảng một chục họ điều trị (familles thérapeutiques) đã xuất hiện. Sau cùng hết là các gliptines, với sự xuất hiện vào tháng 10 vừa qua saxagliptine (Onglyza), một loại thuốc đổ bộ lên một thị trường vốn đã được chiếm lĩnh bởi sitagliptine (Januvia) và vidagliptine (Galvus). Chất kháng hormone này tác dụng chống lại enzyme đe dọa GLP1, được tiết tự nhiên bởi ống tiêu hóa. Bình thường, GLP1 kích thích tiết insuline, như thế làm giảm nồng độ đường trong máu. Nhưng thời gian sống của GLP1 rất ngắn bởi vì nó bị phá hủy bởi một enzyme, DPP-4 (dipeptyl-peptidase). Các nhà hóa học đã hiệu chính được một chất ức chế của DPP-4, điều này tái lập sự tiết insuline bình thường. “Đây là lần đầu tiên mà chúng ta có các loại thuốc làm giảm đồng thời đường trong máu và làm mất cân mà không gây nên hạ đường huyết”, BS Bekka đã phát biểu như vậy.
Loại bệnh đái đường kia, được gọi là loại 1, là một bệnh tự miễn dịch. Lại nữa, những bệnh nhân ngày càng nhiều và ở lứa tuổi ngày càng trẻ. Vào mùa xuân vừa qua, một công trình nghiên cứu xuất hiện trong The Lancet loan báo rằng số trẻ em bị bệnh đái đường loại 1 sẽ gia tăng 70% từ nay đến 2020, chuyển từ 94.000 lên 160.000 trường hợp trên thế giới. Và điều này, nhất là trong nhóm các trẻ em rất nhỏ tuổi, tỷ lệ gia tăng được dự kiến là 5,4% nơi những trẻ dưới 4 tuổi! Các nguyên nhân? “Chúng tôi phải thành thật thú nhận rằng chúng tôi không biết gì hết”, BS Lucienne Chatenoud, chuyên gia miễn dịch học và nhà nghiên cứu nữ của bệnh viện Necker Paris, đã tỏ ra lo lắng như vậy. Cũng như đối với những bệnh tự miễn dịch khác như bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques), người ta chỉ biết rằng bệnh đái đường loại 1 được phân bố trên hành tinh theo một gradient Bắc-Nam và rằng một đứa trẻ ở Phần Lan có nguy cơ 350 lần lớn hơn so với một em bé Trung Hoa phát triển một bệnh đái đường. Khuynh hướng tăng cao là quá nhanh nên không thể chỉ quy cho là do yếu tố di truyền, Lucienne Chatenoud đã nhấn mạnh như vậy. Nguồn gốc vậy thì nằm ở nơi nào khác, liên kết với những yếu tố môi trường.”
Nhưng là những yếu tố nào? Việc đưa vào quá sớm các sản phẩm sữa hay ngũ cốc trong chế độ ăn uống? Độc tính của một virus hay của một tác nhân hóa học? Hay giả thuyết vệ sinh (hypothèse hygiéniste), cho rằng một thời kỳ thơ ấu trải qua trong một môi trường quá được khử trùng, dẫn đến một sự kích thích quá mức của hệ miễn dịch và hệ này quay trở lại chống chính những tế bào của cơ thể mình”, BS Chatenoud đã bình luận như thế. Câu trả lời có lẽ sẽ đến từ công trình nghiên cứu rộng rãi nhất từng được thực hiện về đề tài này năm 2006 ở Phần Lan, ở Hoa Kỳ, ở Đức và ở Thụy Điển. Được mệnh danh là Teddy (The Environmental Determinants of Diabetes in the Young) công trình theo dõi 7000 trẻ sơ sinh, một vài trẻ có nguy cơ cao hơn phát triển căn bệnh do các tiền sử gia đình của chúng, những trẻ khác phát xuất từ dân chúng nói chung. Các kết quả được dự kiến vào năm 2022 !
Trong lúc chờ đợi, bị bệnh đái đường loại 1, đó là bị bệnh đái đường suốt đời. “Điều trị” độc nhất là mang lại insuline bị thiếu hụt bằng những mũi tiêm hàng ngày. Céline đã sống như vậy từ gần 40 năm nay : “tôi đã trải qua tất cả : các ống tiêm bằng thủy tinh cần phải được đun sôi và sau đó bị trít lại vì bị đóng vôi”, bà ta đã nói như vậy. Ngày nay, được trang bị bởi một bơm insuline, một hộp nhiều ngăn (boitier) được mang ở đai quần, phát ra một liều lượng hằng định insuline, tuy vậy Céline vẫn không thoát khỏi phải tiêm dưới da 3 mũi tiêm khác mỗi ngày. Bà hưởng được những thành quả của viễn y (télémédecine), một trong những tiến bộ trong việc theo dõi bệnh đái đường. Song song, lần này những tiến bộ đã được thực hiện trong sự hiểu biết về căn bệnh, với sự khám phá, vào tháng 9 vừa qua bởi một nhóm nghiên cứu quốc tế, của một gène đề kháng với insuline (IRS), hiện diện trên nhiễm sắc thế 2. Điều này làm hé mở những đường hướng điều trị mới.
Cũng vậy, nếu viễn ảnh của một tụy tạng nhân tạo (pancréas artificiel) còn lắm xa xăm, phẫu thuật ghép các đảo nhỏ Langerhans (greffes d’ilôts de Langerhans), những tế bào bêta của tụy tạng sản xuất insuline, đã bắt đầu chứng tỏ hiệu quả của chúng. Ở Lille, nhóm của GS François Pattou, phụ trách đơn vị Inserm liệu pháp tế bào của bệnh đái đường, đã thành công chữa lành 8 bệnh nhân trên 14, sau khi được ghép 5 năm. Những liệu pháp dựa trên miễn dịch liệu pháp (immunothérapie) cũng xuất hiện. Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu đã cấp các kháng thể kháng CD3 (anticorps anti-CD3), đặc hiệu chống lại các tế bào lympho T, những tế bào phá hủy các tế bào bêta của tụy tạng. Vào năm 2005, và lần đầu tiên trên thế giới, một nhóm nghiên cứu quốc tế được điều hành bởi BS Lucienne Chatenoud, đã đạt được một sự thuyên giảm nơi các bệnh nhân đái đường sau chỉ 6 ngày điều trị. 4 năm sau, những kết quả ngoạn mục này đã vẫn được duy trì. “ Điều này đã cho phép các bệnh nhân giảm một cách đáng kể những liều lượng insuline ”, nhà khoa học nữ đã xác nhận như vậy. Từ đó, những phòng thí nghiệm lớn quan tâm rất sát đến các kháng thể kháng CD3. Nhưng cần phải hành động nhanh để đuổi kịp với dịch bệnh. Đồng thời giới hạn những chi phí y tế đã tăng cao. Ở Pháp, mỗi năm 9 tỷ euro được bồi hoàn đối với bệnh đái đường. Hoặc một hóa đơn khoảng 600 euro mỗi năm cho mỗi bệnh nhân. Để có thể hạn chế sự bùng nổ của các phí tổn, Assurance-maladie đang trắc nghiệm một coaching téléphonique cá thể hóa để theo dõi tốt hơn các bệnh nhân trong khoảng một chục tỉnh của nước Pháp.

BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LÀ GÌ ?                            

               ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1

         ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2

Cũng được gọi là gầy (diabète maigre) hay phụ thuộc insuline (diabète insulinodépendant)

Được gọi là béo (diabète gras) hay không phụ thuộc insuline (diabète non insulinodépendant).

10% các trường hợp

90% các trường hợp

Triệu chứng : sự thích ăn gia tăng, người gầy đi, khát nước, mệt mỏi.

Triệu chứng : không có trước giai đoạn của các biến chứng, lên cân chậm

Ai bị mắc bệnh : thường khởi đầu nơi những người trưởng thành trẻ tuổi và các trẻ em.

Ai bị mắc bệnh : thường là những người trên 40 tuổi, nhưng ngày càng thường thấy những người trẻ tuổi và các trẻ em.

Những nguyên nhân : bệnh tự miễn dịch gây nên một sự phá hủy các tế bào của tụy tạng tiết insuline (các đảo nhỏ Langerhans), bởi các kháng thể.

Những nguyên nhân : các yếu tố di truyền và môi trường (các thói quen ăn uống, chứng nghiện thuốc lá, nhàn rỗi không hoạt động, chứng béo phì)

Những đặc điểm : vắng mặt hoàn toàn insuline.

Những đặc điểm : khuyết tật tiết insuline và sự đề kháng của cơ thể (tình trạng đề kháng insuline, insulino-résistance). Các mô không hấp thu đường nữa vì thặng dư mỡ ở các cơ và mô mỡ bao quanh các tạng

Điều trị : insuline tiêm dưới da nhiều lần mỗi ngày, bơm insuline.

Điều trị : chế độ ăn uống và thể dục. Rồi điều trị bằng thuốc uống. Nếu thất bại, buộc phải chuyển qua điều trị bằng insuline.

Dầu là loại 1 hay loại 2, bệnh đái đường luôn luôn được định nghĩa bởi một nồng độ đường gia tăng trong máu, do một sự loạn năng của tụy tạng khiến cơ quan này không phóng thích khá đủ insuline trong cơ thể. Mặc dầu các cơ chế dẫn đến hiện tượng này khác nhau, nhưng các hậu quả đều giống nhau : các biến chứng nghiêm trọng tim-mạch, thận và mắt do các ứ đọng của đường và mỡ nơi các huyết quản của cơ thể. (SCIENCE ET AVENIR 1/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr129.htm (TSYH so 129, bài số 5)
2/ TUỔI THỌ CỦA CÁC PHỤ NỮ : MỘT NGUỒN GỐC DI TRUYỀN ?
Thời gian hy vọng sống (espérance de vie) của các phụ nữ trên thế giới nhìn toàn bộ dài hơn so với đàn ông. Các gène đóng một vài trò chủ chốt. Để kiểm chứng điều đó, các giáo sư Tomohiro Kono và Manabu Kawahara, các nhà nghiên cứu Nhật Bản (biosciences của đại học Tokyo), đã thực hiện một thí nghiệm độc đáo : họ đã tạo ra, bằng thao tác di truyền (manipulation génétique) và sự thụ tinh trong ống nghiệm (fécondation in vitro), một dòng các chuột cái, có một nửa các gène của chuột mẹ và một nửa kia các gène của một con chuột cái khác. Noãn bào sau cùng, được cấu tạo bởi một bộ gène (génome) hoàn toàn cái, tỏ ra có thể sống được và đã có thể ghép vào tử cung của một con chuột “mẹ mang thai” (mère porteuse), trong đó noãn bào đã phát triển một cách bình thường. Những con chuột được sinh ra như thế, được gọi là “hai mẹ” (bimaternelle), sau đó đã được so sánh với các con chuột chứng bình thường có bộ gène hỗn hợp (génome mixte). Kết quả : Những con chuột “hai mẹ” trung bình đã sống 841 ngày (với một kỷ lục 1045 ngày đối với một trong số những con chuột này), so với 655 đối với những con chuột sinh lý. Hoặc thêm gần 1/3 thời gian sống! Theo các tác giả, vài gène của các tinh trùng có một tác dụng độc hại lên thời gian sống của các động vật có vú. (PARIS MATCH 14/1- 20/1/2010)
3/ CỨ MƯỜI THIẾU NIÊN THÌ CÓ MỘT BẮT ĐẦU BỊ CHỨNG ĐIẾC.
Đó là một cấp cứu nội khoa rất thường không được hay biết. Sau khi xem xong một buổi hòa nhạc hay đi ra từ một hộp đêm, cảm giác như một lỗ tai “bị bít lại”, ù tai hay chóng mặt có thể là những biểu hiện cùa một chấn thương âm thanh cấp tính (TSA : traumatisme sonore aigu), đe dọa chức năng thính giác. “Nhiều trong số những bệnh nhân này, nói chung là trẻ tuổi, không thăm khám hay thăm khám muộn khi những thương tổn đã trở thành vĩnh viễn, BS Jean-Michel Klein, tổng thư ký của Công đoàn quốc gia của các thầy thuốc chuyên khoa Tai Mũi họng, đã lấy làm tiếc như vậy. Tuy nhiên, theo ông một điều trị rất sớm bằng corticoides, sau một bilan với thính lực đồ (audiogramme), có thể giới hạn sự mất thính giác.
Trên bình diện cơ thể học, sự mất thích giác này được thể hiện bởi một sự biến đổi của những tế bào tiêm mao (cellules ciliées) của tai trong (oreille interne). 15.000 tế bào này, rất quan trong đối với chức năng thính giác nhưng lại mỏng manh có thể bị “nổ tung” dưới tác dụng của áp suất gây nên trong ốc tai (cochlée) do một sự tiếp xúc âm thanh ở những mức độ rất cao. Ngưỡng đau đớn (seuil douloureux) nằm ở 120 décibel, nhưng những chấn thương âm thanh (traumatisme sonore) cấp tính xuất hiện ở mức cao hơn nhiều so với ngưỡng này.
CÁC BALADEURS MP3 ĐƯỢC CHO LÀ THỦ PHẠM.
(Chú thích: Baladeur là máy điện tử nhỏ xíu tái tạo âm thanh và hình ảnh, được trang bị bởi các tai nghe (écouteurs), nhằm sử dụng cá nhân và thường người sử dụng di động. Các baladeur này rất được ưa thích bởi các thiếu niên).
Trong thực tiễn, các triệu chứng có thể hồi phục được trong vài giờ nhưng những bệnh cảnh “mệt thính giác” (fatigue auditive) này hẳn phải được xem như là một báo động, Jean-Michel Klein đã nhấn mạnh như thế. Trong vài trường hợp, các tế bào tiêm mao (cellules ciliées) bị phá hủy một cách không vãn hồi được, gây nên những rối loạn thường trực của thính giác, kèm theo tiếng ù tai hay không. Theo một điều tra cách nay vài năm, những chấn thương âm thanh cấp tính này không phải là ngoại lệ : chúng ảnh hưởng lên 1400 người mỗi năm ở Pháp. Các âm nhạc khuếch đại (hòa nhạc, discothèque..) là nguyên nhân đầu tiên, đứng trước tiếng súng bắn, tiếng nổ, pháo, còi báo động và ngay cả điện thoại cầm tay. Mặt khác, những tiếng động quá mạnh có thể gây nên thủng màng nhĩ hay sai khớp chuỗi các xương nhỏ do một hiện tượng sóng va chạm (onde de choc). Những thương tổn này của tai giữa (oreille moyenne), cổ điển trong những vụ nổ do khủng bố, có thể xảy ra nhưng hiếm, trong các buổi hòa nhạc
Nhưng ngoài những tai nạn cấp tính này, các thầy thuốc và giới hữu trách đặc biệt quan tâm đến các baladeur MP3, làm gia tốc quá trình lão hóa của tai trong. Theo một báo cáo châu Âu, 50 đến 100 triệu công dân của Liên Hiệp Châu Âu sử dụng hàng ngày những chiếc máy số (appareils numériques) này, và 10 triệu có nguy cơ trở nên điếc vì nghe chúng quá mạnh và quá thường xuyên. Mức âm thanh của các baladeur chẳng bao lâu sẽ được giới hạn bởi Uỷ Ban châu Âu.
MỘT PHẾ TẬT NẶNG.
Patrick Arthaud, chủ tịch công đoàn của các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (audioprothésiste) Pháp cũng ghi nhận rằng các môn đồ của MP3 đã trở thành quen (accoutoumance) với những cường độ âm thanh mạnh (qua trung gian của các chất dẫn truyền thần kinh), tạo nên một dạng phụ thuộc (dépendance). “Thật là lệch lạc, ta đã thành công làm giảm các chứng điếc do nghề nghiệp bằng cách cải thiện biện pháp phòng ngừa, và rồi ta lại sẽ quan sát thấy một sự gia tăng của các chứng điếc, hậu quả của việc nghe nhạc giải trí”, Patrick Arthaud nói tiếp như vậy, đồng thời nhấn mạnh đến sự phế tật nặng gây nên bởi chứng điếc trong cuộc sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp.
Những môn đồ đầu tiên của các baladeurs (các walkmans của những năm 1980) phải chăng đã trở thành điếc? Khó mà biết được nếu không có gần như hoàn toàn những nghiên cứu dịch tễ học về vấn đề này. Các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (prothèse auditive) (audioprothésiste) có cảm giác đang đặt máy (appareiller) cho những người trẻ tuổi hơn, nhưng tiến triển này có thể do chiến dịch thông tin tốt hơn. Tuy nhiên, một điều tra trong giới học đường đã cho thấy rằng trước 17 tuổi, cứ 10 thiếu niên thì có 1 bị khởi đầu của chứng điếc với một sự mất thính lực hơn 20 dB. Trong những năm qua nhiều chiến dịch phòng ngừa đã được thực hiện nơi giới trẻ. (LE FIGARO 11/1/2010)
4/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG (MIGRAINE) : OXY CHỐNG CÁC CƠN ĐAU.
Vài đợt cấp phát thiên đầu thống được biểu hiện bởi các cơn rất đau đớn ở mặt. Chúng là kết quả của những rối loạn huyết quản xuất hiện khá đột ngột. Những cơn này kéo dài một hay hai giờ, có thể xảy ra nhiều lần mỗi ngày và gây trở ngại cho hơn 1 triệu người ở châu Âu! Điều trị thông thường dựa trên sự sử dụng các thuốc giảm đau. Nhưng những dược phẩm này không luôn luôn được dung nạp tốt và không thể được cho một cách liên tiếp. Việc cho hít oxy (inhalation d’oxygène) đã được đề nghị cách nay 25 năm, nhưng khi đó không được coi trọng. Một công trình nghiên cứu, được tiến hành bởi BS Cohen của bệnh viện quốc gia thần kinh học ở Londres, trên 109 bệnh nhân, vừa chứng tỏ hiệu quả của phép điều trị này. Các bệnh nhân có ở nhà bình oxy và phải hít với một mặt nạ ngay lúc bắt đầu cơn. Lần lượt và không được hay biết, cứ hai bệnh nhân thì có một hít khí trời (placebo). Kết quả: các cơn đau biến mất hay được giảm nhẹ sau 15 phút nơi gần 80% các cơn được điều trị với oxy. (PARIS MATCH 7/1-1/1/2010)
5/ CÁC VAN ĐỀ SỬA CHỮA TIM.
Khi van tim, có nhiệm vụ chuyển máu từ tâm thất trái qua động mạch chủ bị nghẽn, từ nay ta có thể thay thế nó bằng cách đi qua bên trong hệ tuần hoàn mà không cần phải gây mê tổng quát. Vậy không còn cần phải mổ tim mở (opération à coeur ouvert) với các nguy cơ liên kết với phẫu thuật này. Phương pháp thay thế, mặc dầu còn trong vòng thí nghiệm, nhưng đã chứng tỏ có khả năng. Hiện nay, phương pháp này còn được dành cho những bệnh nhân có sức khỏe kém nhất, không chịu nỗi một phẫu thuật nặng nề. “Ngày nay, trên thế giới có từ 8000 đến 9000 van được đặt”, Alec Vahanian, trưởng khoa tim của bệnh viện Bichat, một trong ba trung tâm tiền phong của Pháp đã chỉ rõ như vậy. “Kỹ thuật này theo dự kiến sẽ được phát triển một cách quan trọng ở Pháp vào năm 2010.” Phẫu thuật đầu tiên thuộc loại này đã được thực hiện, cách nay 8 năm, bởi nhóm của Alain Cribier ở CHU de Rouen. Hai van được sử dụng ngày nay (Edwards Sapien và Corevalve) cho những kết quả tốt. Sự thiết đặt các van này được thực hiện hoặc qua động mạch đùi (artère fémorale) từ một đường xẻ ở cẳng chân, hoặc bằng một đường xẻ nhỏ trong tâm thất trái của tim. Đường xẻ này được ưa thích hơn trong trường hợp có nguy cơ bị các biến chứng nơi các động mạch. Không cần một điều trị nặng nề nào cả, ngoại trừ một loại thuốc chống sự tạo thành của các cục máu đông và aspirine để làm loãng máu. Đối với các bệnh nhân, “lợi ích là không thể chối cãi được”, theo Gilles Rioufol, bệnh viện Louis-Bron ở Lyon. Ưu điểm khác : không còn cần nữa một tuần hoàn ngoài cơ thể (circulation sanguine extracorporelle) như đối với một phẫu thuật tim mở (opération à coeur ouvert).
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG BỆNH NHÂN TRẺ.
Chứng hẹp van động mạch chủ (sténose de la valve aortique) gây bệnh cho khoảng 2 đến 3% những bệnh nhân trên 80 tuổi. “Nhưng hiện nay, sự thiết đặt van chỉ được thực hiện nơi những bệnh nhân có nguy cơ rất cao nếu thực hiện một can thiệp ngoại khoa cổ điển, Alec Vahanian đã nhắc lại như vậy. Một nhóm hoàn chỉnh các thầy thuốc khoa tim họp lại để quyết định xem, tùy theo tình trạng của bệnh nhân, liệu kỹ thuật này có thể dự kiến được hay không. Những kết quả đầu tiên dường như rất dương tính, nhưng “chúng tôi thiếu 3 đến 4 năm để được an lòng về những diễn biến về lâu về dài của các van này, vốn là đối tượng của các nghiên cứu ở Hoa Kỳ và ở Pháp, Gilles Rioufol đã xác nhận như vậy. Hiện nay, chúng tôi mổ những người với lứa tuổi trung bình 82, nhưng những triển vọng chẳng bao lâu hẳn phải được mở rộng ra.” Các bệnh nhân trẻ tuổi hơn nhiều có thể hưởng phẫu thuật này, do đó tầm quan trọng phải đảm bảo khả năng đề kháng của các van với thời gian. Tuy nhiên, trong khi đường hướng phẫu thuật này chỉ chiếm 1% các trường hợp thay van, việc phát triển nó lại đặt ra vấn đề tài chánh : các van này phí tổn từ 15.000 đến 20.000 euro và không được đảm nhận bởi bảo hiểm y tế. (SCIENCE ET VIE 1/2010)
6/ RƯỢU : SỰ TÁI PHÁT CỦA UNG THƯ VÚ.
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng rượu làm dễ sự xuất hiện của ung thư vú. Nhưng tác dụng thật sự của nó lên các phụ nữ đã được điều trị vẫn không được rõ ràng. Một nhóm nghiên cứu California (của Kaiser Permanente, Auckland) đã trình bày nhân hội nghị mới đây ở San Antonio, những kết quả của một công trình nghiên cứu: hơn 3 hay 4 ly nước uống có chất cồn mỗi tuần làm gia tăng 30% nguy cơ tái phát khối u! Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một theo dõi đều đặn các bệnh nhân theo thời gian, ngay khi họ được đưa vào công trình nghiên cứu (1997) trong 8 năm. Tổng cộng, 1900 phụ nữ được chia thành hai nhóm, một nhóm tập hợp những phụ nữ uống rượu, nhóm kia gồm các phụ nữ không uống hay chỉ uống đôi khi. Sau 8 năm, 349 phụ nữ đã có một tái phát ung thư vú. Những tái phát này đã xảy ra thường hơn nơi các phụ nữ mãn kinh uống rượu đều đều. Rượu vang (vin) là thức nước uống được tiêu thụ thường hơn hết (bởi 90% các phụ nữ). Theo Marilyn Kwan, rượu gây nên một sự gia tăng nồng độ œstrogène, thế mà phần lớn các ung thư vú đều phụ thuộc hormone này (oestrogénodépendant). (PARIS MATCH 23/12-30/12/2009)
7/ BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOME) : NHỮNG THUỐC MỚI VÀ NHỮNG CÔNG NGHỆ HỌC CAO CẤP BẰNG LASER.
Nguy cơ hư hại của dây thần kinh thị giác (nerf optique).
“Nếu bệnh tăng nhãn áp (glaucome) mang lại sự lo âu, đó là bởi vì khi nó làm hư hại dây thần kinh thị giác, thì căn bệnh đe dọa đến thị lực, GS Christophe Baudouin đã giải thích như vậy. Không điều trị, bệnh tăng nhãn áp sẽ làm bệnh nhân mù lòa. Mặc dầu có những phương tiện để làm ngưng sự tiến triển của căn bệnh, nhưng ta không thể nào đi ngược trở lại. Hiện nay, 60 triệu người trên thế giới mắc phải bệnh lý này. Có hai dạng: bệnh tăng nhãn áp góc đóng (glaucome à angle fermé) và bệnh tăng nhãn áp góc mở (glaucome à angle ouvert). Trong dạng đầu tiên, áp lực bên trong nhãn cầu tăng lên đột ngột (nhất là ban đêm), gây nên những cơn đau dữ dội. Mống mắt (iris) dính vào giác mạc (cornée) và ngăn cản các chất dịch của nhãn cầu đến ống bài xuất (canal d’évacuation), được gọi là trabéculum. Những triệu chứng được thể hiện bởi một sương mù thị giác (brouillard visuel) và sự xuất hiện những quầng có màu sắc (halos colorés) chung quanh một ánh sáng, như một ngọn đèn. Trong dạng thứ hai, chính trabéculum bị hỏng. Các chất dịch bài xuất kém tốt hơn và nhãn áp (tension oculaire) tăng lên dần dần. Trong trường hợp này, bệnh nhân không cảm thấy một đau đớn nào nhưng thị giác ngoại biên giảm dần, rồi sự mất thị giác này tiến dần về phía trung tâm của mắt, làm thu hẹp thị trường lại. “Ngày nay, GS Christophe Baudouin nói rõ như vậy, nhờ một bước tiến quan trọng, kỹ thuật hình ảnh nhờ quét tia laser (technique d’imagerie par balayage laser), người ta có thể phát hiện những biến đổi sớm của dây thần kính thị giác. Những máy công nghiệp học cao cấp cực kỳ hiệu năng, từ trước đến nay chỉ dành cho nghiên cứu, từ này được sử dụng trong các trung tâm nhãn khoa.”
MỘT KHÁM PHÁ : SỰ BIẾN ĐỔI THẦN KINH NÃO BỘ ĐI TRƯỚC SỰ XUẤT HIỆN BỆNH TĂNG NHÃN ÁP
Hai dây thần kinh thị giác (nerf optique) dẫn các thông tin thị giác lên não bộ, chéo nhau ở giao thị (chiasme). Và bên trong dây thần kính thị giác, chính nhiều trăm ngàn sợi dẫn truyền đảm bảo sự truyền của các thông tin này. “ Mãi đến nay, BS Marie-Thérèse Iba-Zizen đã giải thích như vậy, người ta nghĩ rằng bệnh glaucome là do một sự tăng áp lực trong nhãn cầu, nhưng từ một khám phá gần đây, người ta cho rằng sự tăng nhãn áp này có lẽ không phải là hiện tượng chính, mà đúng hơn là một hậu quả. Nhờ một thăm khám IRM cực kỳ hiệu năng (ít nhất với một công suất 1,5 tesla), được tập trung một cách đặc biệt vào lộ trình của các đường thị giác, ta có thể quan sát thấy rằng một sự thu giảm kích thước của dây thần kinh thị giác sau nhãn cầu, nơi giao thị nằm trong não bộ, đã xảy ra trước khi bệnh tăng nhãn áp xuất hiện. Lợi ích chủ yếu của khám phá này có thể là để điều trị rất sớm các bệnh nhân với vài loại thuốc bảo vệ thần kinh nhằm ngăn chặn căn bệnh. Ta nên khuyên thăm khám IRM ngay tuổi 30 nơi những người có một di truyền gia đình, Điều đó thật sự bỏ công! Xét nghiệm chụp hình ảnh này đã có thể được thực hiện nơi bệnh viện công và nơi trung tâm quang tuyến.” Đối với GS Christophe Baudouin, sự tiến bộ trong lãnh vực chẩn đoán này, nếu được xác nhận, sẽ có ưu điểm cho phép nhận diện những bệnh nhân có nguy cơ 10 hay 20 năm trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của một bệnh bệnh tăng nhãn áp, và theo dõi họ rất sát. “Hiện nay, ông đã nhấn mạnh như thế, ta chỉ có thể điều trị họ bằng cách làm hạ áp lực trong nhãn cầu, như thế có hai giải pháp được dự kiến: 1. Đối với những bệnh nhân có một áp suất nội nhãn giới hạn, hãy điều trị bằng thuốc nhỏ mắt có chất căn bản, ví dụ, prostaglandines. 2. Đối với những bệnh nhân có một áp suất bình thường, chỉ cần theo dõi sát là đủ.”
NHỮNG THUỐC NHỎ MẮT MỚI VÀ LASER ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG NHÃN ÁP GÓC MỞ (GLAUCOME A ANGLE OUVERT).
“Tiến bộ thật sự đối với các bệnh bệnh tăng nhãn áp này là kết quả của một sự nhận thức, GS Baudouin đã công nhân như vậy. Mặc dầu ta có những thuốc có hiệu quả mà 80% được cho dưới dạng thuốc nhỏ (như là prostaglandines), nhưng một nửa các bệnh nhân dung nạp rất kém. Những tác dụng phụ (khô mắt, chảy nước mắt, đỏ mắt, ngứa ngáy) làm ảnh hưởng đáng kể chất lượng của đời sống. Người ta đã suy nghĩ và nhận thức rằng điều bất tiện quan trọng này thường nhất là do chất bảo quản (produit conservateur) liên kết với thuốc. Do đó, mới đây, các phòng bào chế đã chế tạo những thuốc nhỏ mắt mới không có chất bổ trợ có hại này, vừa làm hạ áp suất nhãn cầu, vừa làm dễ sự bài xuất của các chất dịch.”
TIẾN BỘ KHÁC ĐỐI VỚI NHỮNG BỆNH NHÂN ĐỀ KHÁNG ĐỐI VỚI NHỮNG ĐIỀU TRỊ NÀY : HIỆU CHÍNH MỘT KỸ THUẬT BẰNG LASER (LASER SLT)
Kỹ thuật này nhằm vào cơ quan lọc bị hư hỏng, cho phép một sự bài xuất tốt hơn. “Nhìn toàn bộ, với tất cả những phương pháp không xâm nhập này, trung bình ta thu được 90% những kết quả tốt, GS Christophe Baudouin đã xác nhận như vậy.” Còn 10 % những bệnh nhân còn lại? Họ sẽ được hướng về phẫu thuật ngoại khoa, được thực hiện với gây mê tại chỗ bằng các kính hiển vi ngày nay có công suất rất mạnh. Một phương thức giải phẫu mới đây cho phép thầy thuốc nhãn khoa “quét sạch” ống bài xuất (canal évacuateur) một cách hết sức an toàn và với một mức độ hiệu quả lớn hơn. Với phẫu thuật này, trong 90% các trường hợp, bệnh bệnh tăng nhãn áp được chữa lành.
LASER YAG HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG NHÃN ÁP GÓC ĐÓNG (GLAUCOME A ANGLE FERME)
Để điều trị loại bệnh bệnh tăng nhãn áp này, “laser YAG là một tiến bộ lớn”, GS Christophe Baudouin đã nhấn mạnh như vậy. Những kỹ thuật chụp hình ảnh bằng quét laser (techniques d’imagerie par balayage laser) ngày nay cho phép phát hiện một cách rất sớm các bệnh tăng nhãn áp góc đóng và điều trị chúng sớm nhất có thể được để tránh một cơn đau đớn và một sự tổn hại của dây thần kinh thị giác. Điều trị thực hiện bằng một laser YAG. Với laser loại này, người ta trổ một lỗ rất bé xíu ở mống mắt (iridectomie), nhằm ngăn cản góc mà mống mắt tạo với giác mạc khỏi bị đóng lại, vì tình huống này làm cho sự lọc của các chất dịch bị phong bế không bài xuất được, làm áp lực nội nhãn tăng cao đột ngột. Sự xuất hiện của laser YAG đã cho phép tránh rất nhiều phẫu thuật ! Những kết quả rất là ngoạn mục : thành công 90%. Nhưng, GS Christophe Baudouin xác nhận, điều trị phải được thực hiện sớm bởi vì loại bệnh tăng nhãn áp góc đóng này có thể dẫn đến nhanh hơn là bệnh tăng nhãn áp góc mở, những thương tổn không hồi phục được. (PARIS-MATCH 5/11-11/11/2009)
8/ CHỨNG LOẠN THỊ : THẤU KÍNH HÌNH XUYẾN (LENTILLE TORIQUE) CÓ THỂ BÙ TRỪ NHỮNG KHUYẾT TẬT CÂN ĐỐI CỦA GIÁC MẠC.
Bệnh loạn thị (astigmatisme) : dạng cong (courbure) của giác mạc hay của nhãn cầu bị biến dạng.
Bất thường : sự biến dạng của dạng cong của giác mạc, và đôi khi của thủy tinh thể hay của nhãn cầu, thường đi đối với chứng cận thị (myopie) hay viễn thị (hypermétropie).
Tần số : 15% dân Pháp bị mắt phải chứng bệnh này.
Triệu chứng : Tri giác các đường thẳng đứng, nghiêng hay ngang bị méo mó (sự lẩn lộn giữa các chữ nằm gần nhau như B và D hay F và E là một triệu chứng cổ điển của chứng loạn thị).
Điều trị : Chứng loạn thị nhẹ nói chung không cần điều chỉnh, những trường hợp trung bình có thể dùng kính đeo mắt (lunettes) hay thấu kính (lentille). Phẫu thuật được dành cho các loạn thị nghiêm trọng nhất và nhằm bình thường hóa dạng cong của giác mạc.
“Ta cứ để sự biến dạng của dạng cong giác mạc như vậy, nhưng ta đặt kính điều chỉnh (verre correcteur) trực tiếp vào trong nhãn cầu”. Hervé Robin, thầy thuốc nhãn khoa ở Bayonne, đã tóm tắt như thế một trong những tiến bộ ngoạn mục nhất đối với điều trị của chứng loạn thị. Cũng như đối với phẫu thuật đục thủy tinh thể, đó là thay thế thủy tinh thể bằng một implant nội nhãn. Implant này có một đặc điểm : hình dáng đặc biệt của nó, được gọi là torique, với những chỗ không đều của dạng cong, nghịch lại với dạng cong của giác mạc của mắt được điều trị, cũng như các kính đeo mắt hay các thấu kính (lentille) nhằm bù trừ các biến dạng của giác mạc. Từ một năm nay, các implant này đã có một sự phát triển đáng kể. Vì cần phải lấy đi thủy tinh thể, sự đặt một implant torique nói chung được thực hiện nhân một phẫu thuật đục thủy tinh thể, là khi nhất thiết phải lấy đi thủy tinh thể. Tốt hơn : từ nay có những implant nhiều tiêu cự (multifocal), cho phép thấy gần cũng như thấy xa và điều chỉnh đồng thời chứng loạn thị ! Trong ngoại khoa, laser femtoseconde cho phép tạo dạng tốt nhất (modelage optimum) giác mạc nhằm điều chỉnh dạng cong. Thật vậy, ta có thể liên kết phẫu thuật với một aberromètre, đo trước các lệch lạc của hình ảnh được tạo thành. Như thế profil cắt bỏ thích ứng tốt nhất được xác lập và dùng làm hướng dẫn cho laser. (SCIENCE ET VIE 1/2010)
9/ ĐAU DẠ DÀY : TỰ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC MỚI.
GS Robert Benamouzig, trưởng khoa tiêu hóa của bệnh viện Avicenne, giải thích những lợi ích của loại thuốc mới được bán tự do này.
Hỏi : Nguyên nhân thông thường nhất của các cơn đau dạ dày là gì ?
GS Robert Benamouzig : Đó là một cơn đau được gọi là “thượng vị”, được cảm nhận nơi hõm dạ dày (creux de l’estomac) như một cảm giác rát bỏng (brulure). Đau thường được liên kết với hiện tượng trào ngược : sự đi ngược lên của chất axít gây kích thích phần dưới của thực quản. Những rối loạn dạ dày này thường xảy ra nơi khoảng 10% dân chúng và từng giai đoạn nơi 30%.
Hỏi : Những triệu chứng khác đặc trưng của những cơn đau do trào ngược này là gì ?
GS Robert Benamouzig : Đau đi lên sau xương ức, thường kèm theo ho khan hay kích thích nơi họng.
Hỏi : Có những yếu tố làm dễ cho sự xuất hiện những rối loạn này không ?
GS Robert Benamouzig : Có, sự gia tăng thể trọng (surpoids), béo phì (obésité). Một vài lối sống cũng có thể có liên hệ, như lạm dụng rượu, bữa ăn quá nhiều mỡ, sử dụng đều đặn benzodiazépines..
Hỏi : Làm sao xác lập một cách chính xác chẩn đoán ?
GS Robert Benamouzig : Thường nhất, một vấn chẩn chính xác cho phép xác định được tính chất đặc trưng của rối loạn. Trong trường hợp không chắc chắn, ta nhờ đến một thăm khám nội soi nhằm loại bỏ mối nghi ngờ về loét hay ung thư.
Hỏi : Mãi đến ngày nay, những điều trị cổ điển là gì ?
GS Robert Benamouzig : Những thuốc kiểm soát tốt độ axít của dạ dày rất được sử dụng. Chúng không có ảnh hưởng lên những đợt trào ngược lên của axít nhưng làm giảm khả năng tấn công của chúng trong một thời gian dài. Những thuốc này hiện giờ ở Pháp chỉ có thể có được ở hiệu thuốc và phải có toa bác sĩ. Ngoài lớp thuốc kháng axít (antiacide) này, có những dược phẩm có chất cơ bản là “thạch cao” (plâtre) với hiệu quả ngắn hạn, nhưng có ưu điểm là được bán tự do.
Hỏi : Các kết quả thu được với hai lớp thuốc này là gì ?
GS Robert Benamouzig : Dầu đó là những thuốc được bán theo toa hay những thuốc khác được bán tự do nhưng có tác dụng tạm thời, độ dung đạp (tolérance) đều rất tốt (trừ những trường hợp rất đặc biệt). 9 bệnh nhân trên 10 được thuyên giảm.
Hỏi : Phương pháp xử trí mới nhất là gì ?
GS Robert Benamouzig : Trong số một họ các thuốc kháng axít được gọi là “inhibiteurs de la pompe à protons”, một trong số các thuốc này, pantoprazole (Pantozol, Zurcale) (thuốc cho đến nay chỉ được cấp phát theo toa bác sĩ), chẳng bao lâu nữa sẽ có thể mua không cần toa ở các hiệu thuốc để tự điều trị lấy. Vậy thuốc sẽ được bán tự do. Để có được một an toàn tối đa, sự cấp thuốc này đã được kèm theo một thủ tục đặc biệt (đặc biệt được quy định bởi Société nationale française de gastroentérologie). Để tránh đến mức tối đa cấp thuốc này trong những trường hợp không được thích ứng, trước khi bán, dược sĩ sẽ phải vấn chẩn khách hàng.
Hỏi : Trong trường hợp nào, dược sĩ có thể cản bệnh nhân đừng sử dụng pantoprazole ?
GS Robert Benamouzig : Khi các triệu chứng không xảy ra khá thường xuyên hoặc khi có những dấu hiệu báo động, như sụt cân không giải thích được, nôn hay mửa, mất ăn ngon quan trọng. Trong những trường hợp này, dược sĩ sẽ hướng khách hàng đi thăm khám y khoa. Tất cả các dược sĩ, có loại thuốc mới được cho đem bán tự do, sẽ được đào tạo để hướng định các người mua nhằm đảm bảo một sự an toàn nghiêm túc lúc sử dụng
Hỏi : Những hạn chế nào sẽ chi phối việc bán tự do mới này ?
GS Robert Benamouzig : Thuốc này (được dùng dưới dạng viên) không có thể được sử dụng hơn 15 ngày liên tiếp. Sau kỳ hạn này, nếu các triệu chứng vẫn tồn tại, bệnh nhân phải thăm khám thầy thuốc của mình.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với việc sử dụng thuốc kháng axit này hay không ?
GS Robert Benamouzig : Người ta khuyên những người nghiện nặng thuốc lá và rượu trên 60 tuổi không nên dùng loại thuốc này nếu không hỏi ý kiến thầy thuốc. Mặt khác, thuốc này bị chống chỉ định nơi các phụ nữ có thai bởi vì đã không có những công trình nghiên cứu nơi các thai phụ cho phép đảm bảo một sự vô hại tuyệt đối. (PARIS MATCH 23/12-30/12/2009)
10/ CHỈ VÌ NGÀY LÀNH THÁNG TỐT, CÁC PHỤ NỮ TRUNG HOA ƯA MỒ DẠ CON (CESARIENNE) HƠN.
Các bà mẹ người Hoa không muốn điều gì xảy ra do tình cờ cả, nhất đó lại là ngày sinh của con cháu họ. Sau khi tham khảo âm lịch, sau khi nghiên cứu tỷ mỹ các dấu hiệu thiên văn của hoàng đạo, của bà mẹ cũng như của đứa bé sắp sinh ra đời, một số ngày càng nhiều các sản phụ chọn lên chương trình mổ vào ngày giờ sinh tốt số của đứa con sắp chào đời. Đó là điều đã được ghi nhận bởi các chuyên gia của Tổ chức y tế thế giới. OMS đang lo ngại về sự bùng nổ trong những năm qua của con số sinh bằng đường dạ con (accouchement par césarienne). Theo tổ chức y tế thế giới, đó là một “dịch bệnh” thật sự. Ở Trung Hoa, gần như cứ hai trẻ thì có một được sinh ra đời nhờ con dao mổ, hoặc 10 lần nhiều hơn trong những năm 1970. Và ít nhất ¼ trong số những phẫu thuật này là không cần thiết trên quan điểm y học, OMS đã đánh giá như vậy. Tổ chức y tế thế giới chủ trương một tỷ lệ sinh bằng mổ dạ con là 15%. Thêm vào các bà mẹ muốn đảm bảo con mình được sinh ra dưới một vì sao tốt, còn có những bà mẹ chỉ muốn thoát khỏi những đau đớn của cuộc sinh đẻ. Và trong một đất nước, mà trong đó y khoa đôi khi đã trở thành một việc buôn bán (business) thật sự, các thầy thuốc không do dự làm vừa lòng bệnh nhân, chỉ vì họ sẵn sàng trả gấp đôi giá biểu của một cuộc sinh đẻ bằng mổ dạ con. Ít được thông tin, các phụ nữ này đánh giá thấp, thậm chí phớt lờ những nguy cơ mà phẫu thuật này mang lại, cho chính họ cũng như cho đứa bé sẽ được sinh ra đời(LE FIGARO 15/1/2010). Đọc thêm:
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr143.htm (TSYH 143 bài số 4)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (18/1/2010)

>>>back>>>

 

 

Tin Mới Y Học