 |
Thời
Sự Y Học số 156
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY CÓ
LỢI CHỐNG LẠI BỆNH ALZHEIMER ?
Các kết quả ly kỳ đã thu được trên chuột nhưng cần phải được xác nhận.
NEUROLOGIE. Ngay đúng vào giữa cuộc luận chiến về tính độc hại khả dĩ
của các điện thoại cầm tay đối với sức khỏe, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ
lại tạo một mối bất ngờ. Thật vậy, các công trình nghiên cứu trên chuột
của họ, vừa được công bố trong tạp chí chuyên khoa Journal of Alzheimer’s
Disease, gợi ý rằng một sự tiếp xúc lâu dài với các sóng điện từ, được
phát ra bởi các điện thoại di động, có thể ngăn ngừa căn bệnh Alzheimer,
và ngay cả có thể làm thoái biến các thương tổn của nó. Mãi đến nay, đúng
hơn, các điện thoại cầm tay bị nghi ngờ gây nên những khối u não. Những
kết quả thu được bởi Gary Arendash, thuộc trung tâm nghiên cứu về bệnh
Alzheimer ở Florida, có vẻ ly kỳ ngoạn mục, nhưng rất còn sơ khởi và vẫn
cần được xác định, các chuyên gia người Pháp đã đánh giá như vậy.
Gary Arendash là nhà nghiên cứu được công nhận trong lãnh vực của bệnh
Alzheimer, là một trong những nhà tiền phong của hướng tiêm chủng đối
với bệnh này. Ông đã đi từ giả thuyết cho rằng một sự sử dụng mạnh và
lâu dài của điện thoại cầm tay có thể có hại đối với não bộ và đặc biệt
là trí nhớ. Để kiểm chứng điều đó, nhóm nghiên cứu của ông đã tiến hành
những thí nghiệm nơi 96 con chuột, trong đó nhiều con bị biến đổi về mặt
di truyền để làm phát khởi bệnh Alzheimer. Hai giờ mỗi ngày, trong 7 đến
9 tháng, những động vật này đã chịu tác dụng, không phải trực tiếp từ
những điện thoại cầm tay, mà từ một antenne phát ra những sóng điện từ
có tần số cao. Các nhà nghiên cứu đều ngạc nhiên bởi vì những tác dụng
của sự tiếp xúc này (tương ứng nơi người một điện thoại cầm tay được gắn
chặt vào tai nhiều giờ mỗi ngày trong nhiều năm) đã là có lợi.
“ MỘT HƯỚNG ĐÁNG LƯU Ý ”
Trước hết, các chú chuột có tố bẩm về mặt di truyền mắc bệnh Alzheimer
nhưng được tiếp xúc sớm và dài lâu với các sóng điện từ đã được bảo vệ
chống lại bệnh này. Hiệu năng của chúng đối với các trắc nghiệm trí nhớ
(định hướng trong một mê cung) đã tỏ ra giống với các hiệu năng của các
động vật lành mạnh. Còn đáng ngạc nhiên hơn, các chú chuột vốn đã bị bệnh,
cũng đã tìm lại được trí nhớ của mình. Và trong não bộ của chúng, các
mảng amyloide (một trong những chữ ký cơ thể học của bệnh Alzheimer) đã
thoái lui. Về những chú chuột không bị biến đổi về mặt di truyền, trí
nhớ của chúng cũng được gia tăng nhờ một sự tiếp xúc lâu dài với các sóng
điện từ. “ Bởi vì chúng tôi đã sử dụng các tham số điện từ y hệt với các
điện thoại cầm tay, và bởi vì trí nhớ của các con chuột của chúng tôi
đã được đánh giá với những phương pháp giống với những trắc nghiệm nơi
người, nên chúng tôi nghĩ rằng những kết quả của chúng tôi có thể rất
thích đáng nơi người ”, Garen Arendash đã nhấn mạnh như vậy. Theo ông,
những tác dụng bảo vệ của các sóng điện từ lên trí nhớ, một phần có thể
được giải thích bởi một sự gia tăng lưu lượng máu trong não bộ. Trong
những thời kỳ tiếp xúc với máy điện thoại cầm tay, các nhà nghiên cứu
đã ghi nhận một sự tăng nhẹ của nhiệt độ não bộ nơi các cobaye. Hiện tượng
này, có lẽ đóng một vai trò trong sự thoái lui của các mảng amyloide,
đã được ghi nhận duy nhất nơi các con chuột bị bệnh, sau nhiều tháng thí
nghiệm.
“ Các sóng điện từ có thể là một điều trị không dược lý và không xâm nhập
của bệnh Alzheimer ”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy, đồng thời
kêu gọi thận trọng khi suy diễn những khám phá của họ lên người. Đứng
trước các công trình chưa từng có này, các chuyên gia người Pháp vẫn tỏ
ra dè dặt. “ Đó là một hướng nghiên cứu đáng lưu ý, được đề nghị bởi một
nhóm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng những kết quả của họ cần được thực hiện
lại ”, GS Jean-Jacques Hauw, thầy thuốc bệnh lý thần kinh thuộc đại học
Pierre-et-Marie-Curie, Paris, đã bình luận như vậy. Ông nói rõ rằng mô
hình động vật được sử dụng bởi nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ là có giá trị, nhưng
vẫn còn xa với căn bệnh Alzheimer của người. GS Philippe Amouyel (Inserm),
nhà nghiên cứu bệnh Alzheimer, thẳng thừng phê phán về phương pháp thực
hiện. Trong các thí nghiệm này, chính toàn bộ cơ thể của động vật được
cho tiếp xúc với các sóng điện từ, chứ không chỉ có đầu mà thôi, ông đã
nhận xét như vậy. “ Nhất là số lượng các con chuột được dùng làm thí nghiệm
là khá thấp và được chia thành nhiều nhóm nhỏ chịu nhiều trắc nghiệm.
Ngoài ra, vài kết quả được quan sát có thể là do sự tình cờ ” (LE
FIGARO 8/1/2010)
2/ BƯỚC NHANH HƠN ĐỂ SỐNG LÂU HƠN.
Hai tin tốt lành đối với sức khỏe của trái tim chúng ta, bởi vì dễ áp
dụng. Tin vui đầu tiên là mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và
nguy cơ tim mạch. Một công trình nghiên cứu, đã theo dõi hơn 28.000 người
và mới đây được trình bày ở hội nghị thường niên của Hiệp Hội Tim Hoa
Kỳ, chứng minh rằng những bệnh nhân có những nồng độ vitamine D thấp,
dưới 30ng/ml, có nguy cơ hai lần nhiều hơn bị suy tim, tai biến mạch máu
não hay bệnh động mạch vành, hơn những bệnh nhân có những nồng độ bình
thường. Những kết quả khá đủ thuyết phục để bắt đầu tiến hành nhanh chóng
các thử nghiệm lâm sàng nhằm đánh giá lợi ích của việc cho bổ sung vitamine
D, đặc biệt có nhiều trong gan cá.
Tin tốt lành thứ hai liên quan đến nhịp bước của chúng ta. Về điểm này,
chính một nhóm nghiên cứu người Pháp của Inserm (đại học Paris-VI-Pierre-et-Marie
Curie UMRS 708) đã theo dõi 3200 người trong suốt 5 năm. Công trình đã
tiết lộ rằng chúng ta bước càng ít thì nguy cơ chết do tim càng gia tăng.
Như thế, tốc độ của các di chuyển có thể là một chỉ dấu (indicateur) đáng
tin cậy. Vậy bước nhanh là rất có lợi vì lẽ tỷ lệ tử vong 44 lần cao hơn
nơi những người di chuyển một cách chậm chạp. (SCIENCE
ET AVENIR 1/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr95.htm
(TSYH 95 bài số 4).
3/ LÀM SAO HOẠT ĐỘNG VẬT
LÝ NGĂN NGỪA SỰ LÃO HÓA Ở NGAY TRUNG TÂM CÁC TẾ BÀO
Một công trình nghiên cứu phát hiện các tác dụng bảo vệ của thể dục lên
các nhiễm sắc thể. Tin tốt lành đối với tất cả những ai đã quyết định
đặt thể dục trong danh sách các quyết định của họ cho năm 2010. Một công
trình nghiên cứu độc đáo, vừa mới được công bố trong tạp chí Circulation,
chứng minh rằng việc tập đều đặn một môn thể thao dai sức (sport d’endurance)
làm chậm lại sự lão hóa, và điều này xảy ra ở mức tế bào. Theo các công
trình của Ulrich Laufs (đại học Saarland, Hambourg), được tiến hành đồng
thời nơi chuột và các vận động viên, hoạt động vật lý tác động bằng cách
điều hòa sự biểu hiện của télomérase, một enzyme được biết là có vai trò
chủ chốt trong quá trình lão hóa và ung thư.
Là những mảnh ADN ở các đầu mút của các nhiễm sắc thể, các télomère ngắn
lại trong suốt cuộc đời, khi các tế bào càng phân chia. Khi các télomère
này đạt đến một kích thước tới hạn, tế bào không còn có thể tăng sinh
và chết. Vậy, sự xói mòn của các nhiễm sắc thể, được ức chế bởi télomérase,
là một thành phần trung tâm của sự lão hóa. Trái lại, sự hoạt hóa của
enzyme télomérase đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng sinh vài tế
bào ung thư. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, nguồn gốc của khám phá enzyme
có hai mặt này, đã được thưởng giải Y Học Nobel vào năm 2009.
Nhiều công trình nghiên cứu đã xác lập lợi ích của hoạt động vật lý trong
sự ngăn ngừa các bệnh tim mạch. Một sự luyện tập đều đặn cho phép một
sự kiểm soát tốt hơn huyết áp, cải thiện nồng độ cholestérol, triglycérides
và đường trong máu, điều hòa sự lên cân … Người ta cũng đã chứng tỏ rằng
những người hoạt động vật lý tích cực làm giảm các nguy cơ bị một vài
ung thư (nhất là ung thư đại tràng, vú và tử cung). Tuy nhiên, các cơ
chế phân tử để giải thích những hiệu quả này vẫn ít rõ ràng.
Để làm sáng tỏ những cơ chế này, Ulrich Laufs và các đồng nghiệp trong
thời kỳ đầu đã nghiên cứu các con chuột, trong đó một nhóm, trong 3 tuần
lễ, đã được huấn luyện cho chạy trong một chiếc bánh xe. So với những
động vật vẫn nhàn rỗi, các con chuột thể thao có một sự gia tăng hoạt
tính của télomérase ở động mạch chủ và trong các tế bào máu của chúng.
Những con chuột này cũng có một sự giảm các dấu hiệu của chết tế bào được
chương trình hóa (apoptose).
“ MỘT LOẠI ĐỔNG HỒ NỘI TẠI ”
Để xác nhận những dữ kiện này nơi người, các nhà nghiên cứu Đức sau đó
đã chọn lọc nhiều nhóm vận động viên thể thao : một mặt các vận động viên
điền kinh nhà nghề tuổi trung bình 20, và chạy 73 km mỗi tuần ; mặt khác,
các vận động viên marathon và các vận động viên cuộc đua ba môn (triathlète)
tuổi trung bình 51 tuổi. Họ đã được so sánh với hai nhóm chứng gồm những
người có sức khoẻ tốt, không hút thuốc. “ Một sự luyện tập vật lý dài
lâu làm hoạt hóa men télomérase và làm giảm sự rút ngắn của các télomère
trong các bạch cầu ”, các tác giả đã kết luận như vậy, đồng thời xác nhận
rằng sự ổn định của kích thước của các télomère là rõ rệt hơn nơi các
vận động viên tập luyện từ nhiều thập niên so với những vận động viên
trẻ nhất. “ Những công trình nghiên cứu của chúng tôi là một bằng cớ trực
tiếp về tác dụng chống già của hoạt động vật lý ”, họ đã đánh giá như
vậy. “ Đã từ lâu, các télomère đã được xem như là một loại đồng hồ nội
tại cho phép đo lường quá trình lão hóa. Ngày nay dường như chúng đóng
một vai trò lớn hơn nhiều trong việc kiểm soát sự vẹn toàn của tổ chức
mô ”, Eric Gilson, nhà nghiên cứu sinh học phân tử và giáo sư ở đại học
Y Khoa Nice, đã phản ứng như vậy.
Theo chuyên gia này, các công trình mới đây cho thấy rằng hệ các télomère
có liên quan trong sự tạo thành các mạch máu mới (néoangiogénèse), nhưng
cũng trong những quá trình viêm và những phản ứng miễn dịch. “ Trong tương
lai, về mặt kỹ thuật ta có thể dự kiến đo lường đều đặn kích thước của
các télomère của một cá thể cũng như ta thực hiện đo đường huyết hiện
nay ”, nhà nghiên cứu người Pháp nói tiếp như vậy. Một nồng độ bất thường
khi đo được lý giải như là một tín hiệu báo động, yêu cầu thực hiện một
bilan sức khỏe hoàn chỉnh hơn. Còn lại là vấn đề phí tổn. (LE
FIGARO 5/1/2010) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr147.htm
(TSYH 147, bài số 3)
4/ MỘT THUỐC KỀM HÃM BỆNH
PARKINSON
Sau cùng, phải chăng chúng ta có được loại thuốc đầu tiên có khả năng
làm chậm lại bệnh Parkinson ? Đó là điều được gợi ý bởi nhóm nghiên cứu
của Olivier Rascol (Inserm/CHU Toulouse), cộng tác với các nhóm nghiên
cứu của Warren Olanow (Hoa Kỳ) và của phòng thí nghiệm Teva (Israel).
Rasagiline (Azilect) được kê toa để làm giảm các triệu chứng của bệnh
Parkinson (run, cứng đờ) khi chúng trở nên gây cản trở quan trọng. Thế
mà những công trình nghiên cứu mới đây dường như chứng tỏ rằng rasagiline
cũng có một tác dụng bảo vệ các neurone mà căn bệnh nhắm vào. “Chúng tôi
đã muốn xem thuốc này cũng có thể làm chậm sự tiến triển của sự thoái
hóa hay không”, Warren Olanow đã trình bày như vậy. 1176 bệnh nhân đã
được chia thành hai nhóm : một nhóm đã nhận một placebo trong 9 tháng,
rồi rasagiline 9 tháng tiếp theo. Nhóm kia đã được điều trị trong 18 tháng
với rasagiline. Không ngạc nhiên : sau 9 tháng đầu tiên, tình trạng của
các bệnh nhân được điều trị bởi rasagiline được cải thiện. Nhưng đáng
ngạc nhiên hơn, sau 18 tháng và mặc dầu tất cả các bệnh nhân đều được
điều trị rasagiline, nhưng sự khác nhau giữa hai nhóm vẫn tồn tại. Thế
mà “nếu rasagiline chỉ tác dụng lên các triệu chứng, thì tác dụng của
nó sau 18 tháng đáng lý ra phải giống hệt nhau trong hai nhóm”, Warren
Olanow đã xác nhận như vậy. Kết luận, thuốc hẳn phải kềm hãm sự trở nặng
của bệnh. Một tác dụng cần phải được xác nhận bằng một sự theo dõi các
bệnh nhân. (SCIENCE ET VIE 11/2009) Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr146.htm
(TSYH 146, bài số 9)
5/ TÂM THẦN HỌC : LITHIUM VẪN LÀ
ĐIỀU TRỊ CĂN BẢN CỦA CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC
Một công trình nghiên cứu lớn xác nhận vai trò của Lithium trong căn bệnh
xen kẽ những giai đoạn kích động và trầm cảm này.
Bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), còn được
gọi là bệnh lưỡng cực loại 1 (maladie bipolaire de type 1), gây bệnh 1%
dân chúng trong dạng “ thuần nhất ” nhưng 4% bị một dạng nhe (“ édulcorée
”), tuy nhiên không phải là kém phần đau khổ. Những rối loạn được gọi
là lưỡng cực này, được thể hiện bởi những giai đoạn trầm cảm xen kẽ với
những lúc kích động, mất ngủ, cảm giác khoái trá, những ý nghĩ vĩ đại…
được phân biệt với những trầm cảm phản ứng (dépressions réactionnelles)
bởi sự thiếu những yếu tố khởi động rõ ràng. Và nhất là bởi những khác
nhau trong điều trị và xử trí. Đã từ nhiều năm nay, một tố bẩm di truyền
mạnh có thể là nguyên nhân của những bệnh này. Một vài gia đình có vẻ
bị ảnh hưởng hơn so với những gia đình khác.
Trái với những bệnh tâm thần nghiêm trọng khác, đối với loạn tâm thần
hưng-trầm cảm và các rối loạn lưỡng cực, có những điều trị tỏ ra có hiệu
quả và đảm bảo một đời sống gần như bình thường đối với một tỷ lệ không
phải nhỏ các bệnh nhân. Nhưng rất thường những rối loạn này không được
chẩn đoán tốt, gây nên một sự chậm trễ trong việc xử lý. Điều trị cơ bản
không dựa vào các thuốc chống trầm cảm mà vào các thuốc điều hòa tính
khí (régulateurs de l’humeur). Tuần này, tạp chí Anh The Lancet đã xuất
bản những kết quả của một thử nghiệm điều trị rất quan trọng, thử nghiệm
Balance, mà những kết luận chứng minh một cách chính thức rằng điều trị
hiệu quả nhất đối với các rối loạn lưỡng cực là ở chỗ kết hợp của hai
thuốc điều hòa tính khí, lithium và valproate. “ Những kết quả này rất
là quan trọng, GS Chantal Henry, giám đốc trung tâm chuyên gia về những
rối loạn lưỡng cực, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) đã giải
thích như vậy. Trước hết, những kết quả này đã có được nhờ một công trình
nghiên cứu độc lập của công nghiệp dược phẩm. Sau đó, chúng cho phép mang
lại những câu trả lời cụ thể bằng cách xác định một loại “ gold standard
” trong điều trị những rối loạn lưỡng cực.
Thử nghiệm, được công bố trong The Lancet, đã được tiến hành bởi một mạng
thế giới các thầy thuốc tâm thần chuyên về căn bệnh này. Thử nghiệm được
thực hiện trên 330 bệnh nhân trong 41 trung tâm điều trị ở Anh, Ý, Pháp
và Hoa Kỳ. Các bệnh nhân được chia thành 3 nhóm : những bệnh nhân của
nhóm đầu tiên chỉ nhận lithium, những bệnh nhân của nhóm thứ hai chỉ nhận
valproate (một thuốc chống động kinh đã tỏ ra có hiệu quả chống lại những
rối loạn tính khí) và những bệnh nhân của nhóm thứ ba nhận một phối hợp
của hai thứ thuốc. Tất cả những bệnh nhân này đã được điều trị và theo
dõi trong hai năm.
Những kết quả cho thấy rằng 46% các bệnh nhân nhận hai loại thuốc đã không
bị tái phát, đặc biệt là không có một đợt hưng phấn (manie) hay trầm uất
(dépression) trong hai năm điều trị, so với 41% những bệnh nhân chỉ nhận
lithium và 31% đối với những bệnh nhân chỉ nhận valproate. “ Nếu những
kết quả này chỉ rõ rằng sự kết hợp của lithium và valproate cho những
kết quả tốt nhất, phân tích thống kê cho thấy rằng, sự khác nhau giữa
sự sử dụng hai loại thuốc kết hợp với nhau và lithium được dùng riêng
rẽ, là không đáng kể, GS Chantal Henri, đã góp phần vào công trình nghiên
cứu này cho Pháp, đã xác nhận như vậy.
Những tác dụng ngoạn mục của lithium lên các loạn thần kinh hưng- trầm
cảm đối với một số bệnh nhân nào đó (nhưng không phải tất cả) đã được
khám phá trong những năm 1970. Tuy vậy thuốc này vẫn không được sử dụng
đầy đủ nhất là bởi vì hơi khó quản lý. “ Những liều lượng điều trị không
xa lắm những liều lượng gây độc, GS Henry đã nói thêm như vậy. Phải theo
dõi đều đặn bệnh nhân. Ngoài ra, sức ép thương mãi của các hãng được phẩm
khiến các thầy thuốc cho toa những thuốc mới, dễ quản lý hơn, nhưng có
vẻ ít hiệu quả hơn. Các bệnh nhân, đáp ứng tốt với lithium, thấy đời sống
mình thật sự thay đổi, với một sự thoái lui các giai đoạn hưng phấn và
trầm cảm, thậm chí một sự biến mất đối với vài bệnh nhân. Tất cả các phân
tích méta đều cho thấy rằng lithium làm giảm tỷ lệ tự tử và nhập viện
nơi những bệnh nhân bị nhưng rối loạn lưỡng cực. Trong công trình nghiên
cứu Balance, một số quan trọng các bệnh nhân đã không tái phát chút nào.”
Lithium được thương mãi hóa ở Pháp dưới tên Téralithe. Sử dụng liều lượng
không đúng đắn, thuốc gây nên một cảm giác khát dữ dội và một nguy cơ
bị thương tổn thận và giáp trạng. Cái khó khăn điều trị là ở chỗ sự trì
chậm trong chẩn đoán bệnh này, nhất là trong những thể ít điển hình. “Công
trình nghiên cứu Balance xác nhận rằng ngày nay lithium vẫn là điều trị
chọn lựa của những rối loạn lưỡng cực”, GS Chantal Henry đã kết luận như
vậy. (LE FIGARO 28/12/2009)
6/ NGOẠI KHOA CỦA BỆNH ĐỤC THỦY
TINH THỂ (CHIRURGIE DE LA CATARACTE) : ĐỪNG DO DỰ NỮA !
Người ta thống kê khoảng 500.000 phẫu thuật được tiến hành mỗi năm ở Pháp.
Những triệu chứng đầu tiên là một sự biến đổi của các màu sắc, sự lòa
mắt và một cảm giác khó chịu thị giác. Sau đó dần dần được xác lập một
sự giảm thị lực : người ta thấy mờ rồi rất mờ. “Không được điều trị, BS
Catherine Albou-Ganem đã xác nhận như vậy, ta có thể đánh mất thị giác,
điều này gần như không còn là trường hợp trong đất nước của chúng ta nữa.
Chẩn đoán được xác lập bằng một thăm khám đơn giản bởi kính hiển vi sinh
học (biomicroscope). Mục đích của can thiệp ngoại khoa là để thay thế
thủy tinh thể bị biến đổi bằng một thủy tình thể khác, bằng plastique
mềm. Sự gây mê từ nay được thực hiện với các giọt của thuốc nhỏ mắt, được
dung nạp rất tốt. Ngày nay, những đường xẻ bé tí (micro-incisions) được
thực hiện ở ngoại vi của giác mạc (cornée) khoảng 2mm (thay vì 12mm cách
nay còn vài năm). Sự tiến bộ này có thể được thực hiện là nhờ kỹ thuật
ngoại khoa đã trở nên ít gây chấn thương hơn. Trong quá khứ, người ta
lấy đi tức thời toàn bộ của thủy tinh thể, nên bắt buộc phải thực hiện,
một đường xẻ lớn. Ngày nay, nhà phẫu thuật đưa vào một loại búa đâm (marteau
piqueur) bé xíu vô cùng mảnh, làm nghiền vụn thủy tinh thể và hút các
mảnh vụn ra, đồng thời để lại cái vỏ ngoại biên của nó. Để thay thế thủy
tinh thể bị lấy đi, nhà phẫu thuật đưa vào một implant được gấp lại trong
một ống tiêm đặc biệt. Thủy tinh thể sau đó tự mở ra như một cánh dù.
Những implant mới nhất, bằng polymère cực kỳ mềm mại, rất có hiệu năng
: bằng cách biến đổi độ cong và design của chúng, chất lượng quang học
đã được cải thiện rất nhiều. Chúng có thể dễ gấp hơn và gây nên những
biến chứng ít hơn.” Phẫu thuật, kéo dài 10 đến 20 phút, hoàn toàn không
đau, và sự hồi phục, rất nhanh chóng và hoàn toàn. Với tỷ lệ biến chứng
dưới 1%, phẫu thuật này đã tỏ ra có tính chất cách mạng. (PARIS-MATCH
5/11-11/11/2009)
7/ LIỆU PHÁP GENE CẢI THIỆN
CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH PARKINSON
NEUROLOGIE. Bằng cách tiêm 3 loại gène vào trong não bộ của những động
vật linh trưởng mô hình của bệnh, các nhà nghiên cứu Pháp đã thành công
điều trị được chúng mà không gây nên những tác dụng phụ gây khó chịu quan
trọng.
Run, cứng các chi, giảm khả năng di chuyển : các triệu chứng của bệnh
Parkinson gây cản trở quan trọng. Bệnh lý này, gây bệnh cho 100.000 người
Pháp, được liên kết với sự thoái hóa, trong não bộ, của những tế bào thần
kinh sản xuất dopamine. Thuốc chuẩn để điều trị bệnh Parkinson ? L-dopa.
Nhưng thuốc này gây nên những cử động không kiểm soát được, các loạn vận
động (dyskinésie). Do đó, lợi ích của liệu pháp gène (thérapie génique),
được hiệu chính bởi một nhóm nghiên cứu người Pháp : liệu pháp này đã
cho phép điều trị các khỉ macaque mô hình của bệnh, mà không gây nên những
tác dụng phụ này.
VIRUS VÔ HẠI.
Tính độc đáo của điều trị này dựa trên sự sử dụng đồng thời 3 gène thiết
yếu cho sự tổng hợp của dopamine. Các nhà nghiên cứu đã đưa các gène này
vào trong một virus được làm trở thành vô hại. Virus được chọn vì có khả
năng chuyên chở một lượng quan trọng các thông tin di truyền. Sau khi
đã được biến đổi như vậy, virus này được chủng vào trong striatum của
khỉ macaque, tức vùng của não bộ thiếu dopamine trong chứng bệnh này.
Virus truyền 3 gène này vào các tế bào thần kinh và những neurone này
bắt đầu chế tạo chất dẫn truyền thần kinh. Những kết quả thu được thật
đáng phấn khởi. Sự sản xuất dopamine, được đo in vivo, đã đạt một nồng
độ lên đến 50% trị số bình thường. Tất cả các khỉ macaque được điều trị
đã có một sự cải thiện trong 12 tháng theo dõi. Nhất là khả năng cử động
đã trở lại 80% mức bình thường. Sau hết, so với uống L-dopa, liệu pháp
này đã không gây nên những loạn vận động (dyskinésie). Được áp dụng cho
một nhóm khỉ macaque mắc bệnh Parkinson, khởi đầu được điều trị bởi L-dopa,
liệu pháp gène đã làm giảm số khỉ bị bệnh.
SỰ SẢN XUẤT LIÊN TỤC.
“Giả thuyết của chúng tôi cho rằng sự cách quãng cần thiết của các liều
thuốc uống L-dopa gây nên một sự kích thích não bộ đoạn hồi, là nguyên
nhân của những biến chứng này, Béchir Jarraya, thầy thuốc ngoại thần kinh
và nhà nghiên cứu của CEA-Inserm, đã giải thích như vậy. Sự sản xuất tại
chỗ và liên tục dopamine mà liệu pháp gène mang lại, làm vững chắc cho
lý luận này.” Liệu pháp gène có thể được sử dụng ngay khi những triệu
chứng đầu tiên xuất hiện, dùng đơn độc hay bổ sung L-dopa.
Được cổ vũ bởi thành công này, các nhà khoa học đã phát động một thử nghiệm
lâm sàng trên những người bị bệnh Parkinson ở bệnh viện Henri-Mondor,
Créteil. “ Tình trạng của 6 bệnh nhân, được điều trị theo phương pháp
này, đã được cải thiện ở những mức độ thay đổi; điều trị tỏ ra được dung
nạp tốt ”, Stéphane Palfi, thầy thuốc ngoại thần kinh điều khiển thử nghiệm
này, đã tuyên bố như vậy. “ Những công trình này thể hiện một bước tiến
quan trọng, Etienne Hirsch, chuyên gia về căn bệnh ở CNRS, về phần mình,
đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, cũng như mọi can thiệp ngoại thần kinh,
liệu pháp này có những nguy cơ xuất huyết. (LA RECHERCHE
12/2009)
8/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ : MỘT
THẾ HỆ IMPLANT MỚI THAY THẾ THỦY TINH THẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH NHIỀU RỒI LOẠN.
Để mổ đục thủy tinh thể (cataracte), các laser mới “femtoseconde” cho
phép thực hiện các đường xẻ dưới 1 mm, để lấy thủy tinh thể ra khỏi ổ,
sau khi nó được làm hóa lỏng bởi laser. Như thế hạn chế chấn thương gây
nên bởi các đường xẻ 2mm đang được thực hiện ngày nay. Bởi vì mặc dầu
vẫn không thể đưa vào một thủy tinh thể thay thế cổ điển với một đường
xẻ dưới 1 mm, các công trình nơi động vật cho thấy rằng, cái túi thủy
tinh thể được khoét rỗng có thể được làm đầy, qua một đường xẻ dưới 1mm,
bằng cách tiêm vào đó silcone lỏng. “Chất silicone này gây nên phản ứng
trùng hợp (polyméralisation) và một khi được đặt tại chỗ, có thể được
điều biến (remodélé) lại bằng laser nhằm điều chỉnh các rối loạn thị giác
cổ điển”, GS Béatrice Cochener (Brest) đã giải thích như vậy. Sự trong
suốt được tìm thấy lại và thị giác được điều chỉnh cùng lúc với phẫu thuật.
Trong khi kỳ công kỹ thuật này chỉ mới ở giai đoạn thí nghiệm thì một
thế hệ implant mới đang làm đảo lộn phép điều trị bệnh đục thủy tinh thể.
Đó là những thấu kính bé xíu trong nhãn cầu, cũng điều chỉnh những rối
loạn như cận thị, viễn thị và lão thị. Được gọi là nhiều tiêu cự (multifocal),
các implant này có trên bề mặt của chúng những vòng đồng tâm xen kẽ nhau,
trong đó những vòng này tái lập thị giác nhìn xa, còn những vòng kia phục
hồi thị giác nhìn gần. Như vậy, não bộ tiếp nhận đồng thời những thông
tin thị giác được thích ứng với thị giác nhìn gần và nhìn xa và chính
não bộ sẽ thực hiện sự chọn lọc tùy theo nơi mà nó chú ý đến. Các implant
này mang lại sự thành công đến độ hiện đang phát triển ngoại khoa của
“thủy tinh thể trong” (chirurgie du cristallin clair), nhằm thay thế một
thủy tinh thể lành mạnh bằng một implant nhiều tiêu cự, để điều chỉnh
chứng cận thị, lão thị,.. Tuy nhiên Christophe Baudouin (Viện thị giác,
Paris) không hoàn toàn tán đồng về phẫu thuật này, nhằm điều chỉnh những
khuyết tật mà chỉ cần đeo kính để điều trị chúng, “trong khi đó là một
vi phẫu thuật (micro-chirurgie) bao gồm những nguy cơ, mặc dầu rất nhỏ.
Ngoài ra, các implant này đòi hỏi những khả năng đáp ứng của não bộ khó
mà tiên đoán được trước khi đặt. Chính vì thế mà những implant “điều tiết”
(“accomodatif”) đã xuất hiện trong những năm vừa qua. Được chấp thuận
ở bên kia Đại Tây Dương, các implant điều tiết này hoạt động như thủy
tinh thể, theo các co rút của thể mi (muscle ciliaire) trong lúc điều
tiết. Nhưng ở Pháp, các implant này vẫn còn đáng ngờ bởi vì mặc dầu chúng
mang lại một thị giác nhìn xa và trung gian, nhưng thị giác nhìn gần lại
ít tốt hơn và thường cần phải đeo kính. (SCIENCE ET
VIE 11/2009)
9/ BỆNH HƯ KHỚP GỐI : PHUƠNG PHÁP
ĐIỀU TRỊ BẰNG NƯỚC KHOÁNG NÓNG ĐƯỢC PHỤC HỒI GIÁ TRỊ.
GS Christian-François Roques, chủ tịch của hội đồng khoa học của Hiệp
hội Pháp nghiên cứu điều trị nước khoáng nóng, bình luận những kết quả
thuyết phục của một công trình nghiên cứu mới đây.
Hỏi : Các bệnh hư khớp gối (arthrose du genou
hay gonarthrose) có thường xảy ra không ?
G.S Christian-François Roques : Sau 50 tuổi, các hư khớp gối gây bệnh
cho 20% dân chúng, thật là nhiều ! Những người dễ bị chứng bệnh này là
những người có một thể trọng gia tăng (surpoids), một sự biến dạng khớp
gối và những người đã tập một môn thể thao mạnh, vài công việc nặng nhọc
hay những người đã là nạn nhân của chấn thương. Những thương tổn của đầu
gối cũng xảy đến nơi những người bị bệnh hư khớp (maladie arthrosique),
trong đó những khớp khác bị thương tổn.
Hỏi : Những triệu chứng của bệnh hư khớp
gối là gì ?
G.S Christian-François Roques : Những triệu chứng đầu tiên hết được biểu
hiện bởi đau lúc bước, lúc lên cầu thang. Rồi thì sau đó, thành hình một
sự trở ngại chức năng ảnh hưởng lên những hoạt động hàng ngày. Vào giai
đoạn thứ ba của tiến triển, đầu gối bị cứng đi : không thể duỗi ra hoàn
toàn, điều này gây nên sự bước khập khiễng. Khi đó bệnh nhân thật sự bị
tàn phế.
Hỏi : Nói chung người ta dùng những thứ thuốc
nào ?
G.S Christian-François Roques : Đó là những thứ thuốc giảm đau đơn giản,
các thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS), những điều trị duy trì.
Người ta cũng thực hiện những điều trị tại chỗ : tiêm ngấm (infiltration)
cortisone hay acide hyalunonique. Người ta cũng dự kiến phẫu thuật khi
không làm giảm được sự đau đớn và trong trường hợp trở ngại chức năng
quan trọng.
Hỏi : Kết quả là gì với những phương pháp
điều trị này ?
G.S Christian-François Roques : Các loại thuốc có một hiệu quả có mức
độ trong việc làm giảm các cơn đau, còn các thuốc kháng viêm thì gây nên
vài biến chứng tiêu hóa, tuần hoàn… Về điều trị duy trì, lại nữa, hiệu
quả tỏ ra hạn chế. Việc đặt các khớp giả (prothèse du genou) cho những
kết quả tốt nhưng đó là một động tác phẫu thuật nặng nề, mà trong thời
kỳ hậu phẫu đôi khi có vài nguy cơ.
Hỏi : Trong những trường hợp nào, người ta
thực hiện một điều trị bằng nước khoáng nóng (cure thermale) ?
G.S Christian-François Roques : Đối với hư khớp gối, liệu pháp điều trị
bằng nước khoáng nóng, trên nguyên tắc, được khuyến nghị đối với tất cả
các thể không ở vào một giai đoạn mà giải pháp ngoại khoa được dự kiến
(nhưng chúng tôi cũng khuyên điều trị bằng nước khoáng nóng đối với những
thể nặng mà ngoại khoa bị chống chỉ định). Mục đích là làm giảm bớt sự
đau đớn và cải thiện khả năng vận động bằng những đợt tắm nước nóng, giàu
những chất khoáng (nhất là lưu huỳnh), sẽ đi xuyên qua da. Tác dụng giảm
đau tác động lên nhưng cơ chế kiểm soát đau đớn, nơi hệ thần kinh (tủy
sống và não bộ) và trên các cơ duỗi. Những điều trị này cho phép huy động
tốt hơn khớp đồng thời nuôi dưỡng sụn khớp.
Hỏi : Những kết quả của công trình nghiên
cứu Thermarthrose, vừa được công bố trong một tạp chí rất nổi tiếng, là
gì ?
G.S Christian-François Roques : Công trình nghiên cứu này đã được tiến
hành từ năm 2006 đến 2007 trên 462 bệnh nhân bị hư khớp gối (gonarthrose)
nặng và được chia thành hai nhóm : một nhóm nhận một điều trị bằng nước
khoáng nóng còn nhóm kia là nhóm chứng. 3 trạm điều trị bằng nước khoáng
nóng đã được đưa vào : Aix-les-Bains, Balaruc-les-Bains và Dax. Về những
đợt điều trị 3 tuần này, những điều trị bao gồm tắm nước khoáng nóng trong
bồn tắm, đắp bùn nóng, thể dục dưới nước (aquagym) ở bể bơi có nước khoáng
đun nóng, các xoa nắn bằng tay (massages manuels)..Những kết quả, được
công bố trong “Annals of The Rheumatic Diseases”, tạp chí chuyên về thấp
khớp đứng đầu thế giới, đã chứng minh một sự cải thiện rất rõ rệt các
cơn đau và của khả năng vận động khớp nơi những bệnh nhân được điều trị
bằng nước khoáng nóng, điều này đã cho phép họ giảm sự tiêu thụ các loại
thuốc. Kết luận của thử nghiệm : điều trị bằng nước khoáng nóng (cure
thermale) có một tác dụng giảm đau hai lần rưởi quan trọng hơn so với
những điều trị thông thường. (PARIS MATCH 29/10-4/1/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr112.htm
(TSYH 12, bài số 9)
10/ TUỔI DẬY THÌ ĐÃ CÓ TỪ TRONG
TRỨNG NƯỚC.
Đối các cô con gái và các cậu con trai, những yếu tố tăng trưởng sớm trong
tử cung và sau khi sinh, dường như ảnh hưởng đồng thời lên các chỉ dấu
sớm hay muộn của sự phát khởi tuổi dậy thì. Người ta nghi ngờ rằng dậy
thì sớm (puberté précoce) làm dễ những chứng bệnh khác nhau như ung thư
hay chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu người Đức, Nadina Karaolis -Danckert
và các cộng sự viên, đã muốn biết xem môi trường của những giây phút đầu
tiên của cuộc sống có ảnh hưởng lên sự xuất hiện của tuổi dậy thì hay
không.
215 người tham dự (49,8% con gái) vào công trình nghiên cứu DONALD. Trong
công trình này người ta thực hiện những phép đo người (mesures anthropométriques)
liên tiếp giữa 6 và 13 tuổi để có thể đánh giá tuổi bắt đầu dậy thì và
những thông tin liên quan đến trọng lượng vào lúc sinh, sự cho bú sửa
mẹ, tốc độ lên cân và những đặc điểm của bố mẹ. Tuổi vào lúc kích thước
cơ thể đạt cao điểm và tuổi bắt đầu kinh nguyệt cũng được tính đến.
Những trẻ, cân nặng từ 2.500 đến dưới 3.000 g, có khởi đầu tuổi dậy thì
7 tháng sớm hơn. Những trẻ, đã lên cân nhanh chóng giữa lúc sinh và lúc
được 24 tháng, có tuổi dậy thì 4 tháng sớm hơn những trẻ đã lên cân một
cách bình thường. Một sự lên cân nhanh chóng cũng được lên kết với một
sự đạt sớm cao điểm của tầm vóc và ở nơi các cô con gái, tương ứng với
một bắt đầu kinh nguyệt sớm.
Theo các tác giả, đối với các cô con gái và các cậu con trai, những yếu
tố tăng trưởng sớm trong tử cung và đau khi sinh dường như ảnh hưởng đồng
thời lên các chỉ dấu sớm và chậm của sự phát khởi của tuổi dậy thì, độc
lập với sự cấu thành của cơ thể trước tuổi dậy thì. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 15/12/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (10/1/2010)
>>>back>>>
|
 |