 |
Thời
Sự Y Học số 155
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÓ NÊN SỢ SỰ BIẾN DỊ
CỦA VIRUS A (H1N1) ?
Ở Na Uy, ở Pháp ... những sự biến
dị đầu tiên của virus gây nên các lo ngại. 8 tháng sau khởi đầu của dịch
bệnh, đã bắt đầu ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư 2009, virus A (H1N1) đã gây
nên gần 8000 người chết trên thế giới. Dĩ nhiên, cũng như mọi virus, virus
A (H1N1) đã biến dị. Nhưng những biến dị này hiện nay không đặt lại vấn
đề về tính hiệu quả của sự chủng ngừa, các chuyên gia đã đảm bảo như vậy.
Cần làm sáng tỏ qua 5 điểm :
1. Biến dị : Đó là gì vậy ?
Virus A (H1N1) đã biến dị hai lần. Biến dị đầu tiên,
được mệnh danh là D222G, ngẫu nhiên và đúng lúc, đã phát khởi ở Na Uy.
Sự biến dị được định vị trên gène của hémagglutinine 222. “Sự biến dị
này đã là một bộ phận của những biến dị được quan sát vào lúc đại dịch
1918”, Bruno Lina, chuyên gia virus và giám đốc của Trung tâm quốc gia
tham chiếu bệnh cúm đối với vùng phía Nam, đã ghi nhận như vậy. “Những
công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng sự biến dị cho phép các virus
cúm gắn vào sâu trong cơ thể dễ dàng hơn, nghĩa là nơi các tế bào phổi.”
Từ lúc loan báo vào ngày 20/1/2009, bởi Geir SteineLarsen, giám đốc của
Viện y tế công cộng Na Uy, danh sách các nước bị liên hệ đã dài ra : Ukraine,
Trung Quốc, Ba Tây, Mễ Tây Cơ, Nhật Bản, Hoa Kỳ,Ý, Pháp. Sự biến dị đã
được nhận diện trong những trường hợp nặng và tử vong, như ở Pháp, nhưng
cũng trong những trường hợp trung bình ở nơi khác trên thế giới. Sự biến
dị thứ hai, được gọi là H274Y, nằm trên chỗ hoạt động của neuraminidase,
một enzyme hiện diện nơi bề mặt của vỏ của các virusinfluenza. Sự biến
dị này gây nên sự đánh mất hoạt tính của một thuốc kháng virus, Tamiflu
(oseltamivir), và do đó làm cho điều trị không có hiệu quả.
2.Chúng ta có phải lo ngại hay không
?
“Những biến dị này thật là rầy rà”, Bruno Lina đã
chấp nhận như vậy. Nhưng theo ý kiến trấn an của nhiều quan sát viên,
thì những biến dị này có vẻ xảy ra lẻ tẻ, mà không có khuynh hướng lan
tràn. “Đối với D222G, cho đến ngày hôm nay, không có một dấu hiệu truyền
giữa người với nhau nào đã được quan sát, chuyên gia virus của thành phố
Lyon đã nói tiếp như vậy; chúng ta chưa biết sự biến dị này, một mình
nó, có tạo nên một yếu tố độc lực hay không”.
Vậy đây là lúc cần theo dõi. Nhưng đừng quên sự cần thiết phải bắt đầu
những nghiên cứu trên các mô hình động vật để biết được rõ nhiều hơn.
Bù lại, về việc tiêm chủng thì không có gì thay đổi, “ bởi vì những biến
dị này chỉ liên hệ đến những protéine và những protéine này không có dính
dáng gì với những nơi được nhận biết bởi vaccin ”, Bruno Lina đã nhấn
mạnh như vậy. Do đó virus luôn luôn được nhận biết bởi các kháng thể...
với điều kiện đã được tiêm chủng. Còn về sự đề kháng với các thuốc chống
virus, và sau hơn 6 tháng lưu hành của virus, sự đề kháng này chỉ đã được
nhận thấy trong khoảng 60 trường hợp trên thế giới.
3. Có thể có những biến dị khác
không ?
Cũng như tất cả các virus à ARN (virus của bệnh
sida, HIV là một thí dụ), virus của bệnh cúm biến dị thường trực, dầu
đó là virus A (H1N1) hay virus của cúm mùa. Đó là do sự kiện hệ sao chép
(système de copie) và sự tăng sinh của virus không hoàn toàn đáng tin
cậy và sinh ra những sai lầm. “ Chính những thay đổi kín đáo nhưng lũy
tích, sau cùng, có thể gây nên những biến đổi quan trọng ”, Jean-Claude
Manuguerra, thuộc viện Pasteur đã giải thích như vậy. Nhiều ngàn biến
dị của virus A (H1N1) đã xuất hiện …và có lẽ đã biến mất cũng rất nhanh.
Thật vậy, nhiều biến đổi của một virus tuân theo một quá trình Darwin
: chỉ còn sống sót những virus thích ứng tốt nhất với môi trường của chúng
và tăng sinh trong đó.
Phần lớn các biến dị không thể thấy được, bởi vì để nhận diện tất cả những
biến dị này, phải làm séquençage toàn bộ các virus được lấy nơi các bệnh
nhân, đây là điều không thể thực hiện được về phương diện vật chất. Một
trong những ưu điểm của các chất bổ trợ của các vaccin là gây nên một
đáp ứng mạnh hơn của hệ miễn dịch và do đó lớn hơn, có khả năng chống
lại nhiều biến dị tiềm tàng.
4. Virus giết hại như thế nào ?
Vài chỉ dấu bắt đầu hiển lộ về những nguyên nhân
tại sao những người dưới 50 tuổi, có sức khoẻ tốt, lại chết vì một nhiễm
trùng bởi virus A (H1N1). Đối với giáo sư Brigitte Autran (hôpital de
la Pitié-Salpêtrière, Paris), có lẽ phải thấy ở đó sự biểu hiện của “khía
cạnh đen tối của miễn dịch học”. Mặc dầu hệ miễn dịch của chúng ta là
một vũ khí tuyệt vời và mạnh mẽ để bảo vệ chúng ta chống lại các vi khuẩn
gây bệnh, nhưng một đáp ứng miễn dịch quá lớn có thể trở nên tệ hại hơn
là căn bệnh, nhất là khi điều đó được kèm theo bởi một quá trình viêm
dữ dội. Thế mà, mặc đầu chúng ta không biết được cơ chế đưa đến những
thể nặng của bệnh, nhưng điều mà chúng ta quan sát được là một nhiễm trùng
ở rất sâu trong phổi và một sự hóa sợi tăng nhanh được kèm theo bởi rất
nhiều viêm nhiễm. “Phản ứng viêm mạnh đến độ oxy không có thể đi từ mô
phổi vào các phế nang. Đối với các bệnh nhân này, chúng ta không bao giờ
biết được là phải gia tăng điều trị kháng virus hay trái lại ngăn chặn
phản ứng viêm. ” “ Thể nặng phải chăng là do một virus biến dị (mutant)
đặc biệt độc lực hay do một thể địa di truyền đặc biệt của người bệnh
? ” nhà nghiên cứu tiếp tục tự hỏi như vậy. Hiện nay chúng ta không biết
gì hết về điều đó.
5. Đại dịch sẽ tiến triển như thế
nào ?
Không thể tiên đoán được. Nhiều lắm ta có thể đưa
ra nhiều giả thuyết. Nếu tất cả được diễn biến ở Châu Âu cũng như ở Hoa
Kỳ (dịch bệnh xảy ra 1 tháng trước châu Âu), thì chúng ta sẽ đạt một cao
điểm từ nay đến cuối tháng 12. Ở Hoa Kỳ, cao điểm này đã được vượt qua
và dịch bệnh đang trên đường dốc đi xuống. Vào giai đoạn này, 3 kịch bản
sẽ được dự kiến đối với Antoine Flahaut, giám đốc Trường cao cấp y tế
công cộng ở Rennes. Hoặc là, và đó là giả thuyết lạc quan nhất, dịch bệnh
sẽ thoái trào vĩnh viễn. Hoặc là sự thoái trào này thấp, số các trường
hợp giảm ít và dịch bệnh sẽ hoạt động trở lại từ nay đến cuối mùa đông.
Hoặc là, kịch bản thứ ba có thể xảy ra, làn sóng xuống dưới ngưỡng dịch
bệnh và sau một thời hạn không biết được, sẽ bùng nổ trở lại. “Nhưng tình
trạng động này là ít có khả năng nhất bởi vì nó đã không bao giờ được
quan sát trong các dịch cúm mùa”, Antoine Flahaut đã xác nhận như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2010)
2/ CÚM
A (H1N1) : 100 CÂU HỎI (tiếp
theo TSYH số 154)
TRƯỜNG HỌC VÀ XÍ NGHIỆP (tiếp theo)
62/ Tôi có thể bị trưng dụng hay
không ? Ông chủ tôi có thể buộc tôi trở lại trong lúc đang nghỉ phép hay
không ?
Trong khu vực tư nhân, sự trưng dụng nhân viên không
được dự kiến bởi luật lao động. Tuy nhiên, sự trưng dụng có thể được áp
dụng nếu chính quyền đòi hỏi nhằm đảm bảo, thí dụ, một hoạt động sinh
tử bị ảnh hưởng do sự vắng mặt của các người ăn lương, như việc hốt rác
chẳng hạn, người ta đã giải thích như thế ở Bộ lao động.
Còn trường hợp nghỉ phép, ngày tháng được ấn định ít nhất hai tháng trước
và có thể bị biến đổi một tháng trước kỳ nghỉ phép. Nhưng trong trường
hợp “những hoàn cảnh đặc biệt”, kỳ hạn có thể ngắn hơn, Bộ lao động đã
chỉ rõ như vậy. Việc buộc một người ăn lương, đang đi nghỉ phép phải trở
lại, có thể nằm trong khung cảnh này, nhưng tất cả tùy thuộc vào cách
lý giải thế nào là “những trường hợp đặc biệt” bởi ông chủ. Ông chủ, nếu
cần, phải biện minh trước tòa án, nếu người ăn lương đòi đưa ông ta ra
tòa, sau khi đã bị đuổi việc vì đã từ chối rút ngắn kỳ nghỉ phép.
63/ Ông chủ tôi có thể đổi nhiệm
sở của tôi để thay thế một người ăn lương bị bệnh hay không ?
Vâng. Người ăn lương không thể từ chối sự huy động
này nếu việc thay đổi này chỉ gây nên một sự thay đổi các điều kiện làm
việc (gia tăng số giờ làm việc hay những công tác phải thực hiện, nhưng
không đi lệch các quy định của hợp đồng. . ). Ngược lại, nếu sự thay đổi
nhiệm sở có liên hệ đến một yếu tố thiết yếu của hợp đồng (chức vụ, thù
lao. . ), sự thay đổi này thể hiện bởi một văn bản sửa đổi hợp đồng lao
động. Trong trường hợp từ chối, người ăn lương có thể bị cho thôi việc.
64/ Các bổn phận của những ông chủ
để bảo vệ những người ăn lương ?
Một cách tổng quát, người chủ có bổn phận áp dụng
những biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn và bảo vệ sức khỏe vật lý
và tâm thần của các người lao động. Pháp chế áp đặt lên người chủ một
nghĩa vụ kết quả (obligation de résultat) cho sự an toàn của các người
làm công. Nếu đó là một nguy cơ như cúm A, thì người chủ ít nhất phải
có một nghĩa vụ phương tiện (obligation de moyens). Nếu người chủ đã không
áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hoặc đã thực hiện những biện pháp không
đầy đủ, một người làm công sẽ có thể sử dụng quyền báo động (droit d’alerte)
và nếu cần, quyền hủy bỏ (droit de retrait), có thể áp dụng trong trường
hợp “ nguy hiểm nghiêm trọng và gần kề ” (danger grave et imminent). Nếu
một người làm công ăn lương chết vì cúm A và nếu đúng là người này đã
lây nhiễm virus ở nơi làm việc, thì người chủ có thể phải chịu trách nhiệm.
Quan tòa sẽ công nhận sự hiện hữu của một lỗi không thể tha thứ được của
người chủ nếu ông ta cho rằng người chủ đã hay biết, hay đáng lý phải
hay biết về mốỉ nguy hiểm mà người làm công đã gánh chịu, và đã không
áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ người này.
65/ Nếu những biện pháp phòng ngừa
không được áp dụng tại trường tôi, phải làm gì ?
Một phụ huynh, nhận xét thấy một sự thiếu sót trong
việc phòng ngừa, phải báo với một đại diện phụ huynh học sinh. Ở trường
tiểu học, người đại diện chuyển thông tin lên hội đồng nhà trường (ở đây
có một đại diện của toàn thị chính), hay hội đồng hành chánh trong các
trường trung học. Một giáo viên đệ nhị cấp, nếu ghi nhận rằng những biện
pháp phòng ngừa không được áp dụng, có thể đưa đơn lên ủy ban vệ sinh
và an toàn tỉnh để báo cáo tình hình. Trong trường hợp không có phản ứng,
người giáo viên này có thể buộc phải tổ chức một cuộc họp của ủy ban an
ninh nhà trường.
66/Các bài giảng được đảm bảo như
thế nào khi một trường học hay một đại học đóng cửa?
Trong trường trung học, mỗi giáo sư có trách nhiếm bảo đảm sự liên tục
sư phạm về môn học của mình. Các bài tập có thể được đưa lên site internet
của nhà trường, hay được trao cho gia đình đồng thời với thông báo đóng
cửa trường. Trong các collège và lycée, các giáo viên tham chiếu đặt dưới
quyền sử dụng của các học sinh qua điện thoại.
Mỗi trường đại học có một “kế hoạch liên tục sư phạm và hành chánh”. Trong
trường hợp đóng cửa, mọi liên lạc phải được duy trì qua Web với các nhân
viên và sinh viên.
67/ Những quy tắc nào để đóng hay
mở cửa một nhà trẻ và một trường học ?
Sự đóng một phần hay hoàn toàn của một nhà trẻ (tối
thiểu thời gian 7 ngày liên tiếp) có thể được quyết định khi có ít nhất
3 người (trẻ em và nhân viên) đã mắc phải cúm A. Đối với các trường học,
việc đóng một lớp học (6 ngày liên tiếp, có thể lập lại nếu cần) có thể
được quyết định từ 3 học sinh học cùng một lớp bị bệnh cúm. Việc đóng
cửa toàn trường được thực hiện tùy trường hợp. Đối với các nhà trẻ cũng
như các cơ sở học đường, chính các tỉnh trưởng, liên kết với giới hữu
trách y tế quyết định việc đóng và mở cửa lại. (LE
MONDE 5/11/2009)
3/ VITAMINE D : MỘT
HORMONE ?
Trong những năm qua, chúng ta chứng kiến một mối quan
tâm mới đối với vitamine D, đến độ nhiều tác giả quy cho sinh tố này vào
hàng hormone. Chúng tôi đã hỏi ý kiến của BS Corine Bouuaert, thầy thuốc
đa khoa và giảng nghiệm viên của Phân khoa Y Khoa tổng quát của ULG.
Hỏi : Làm
sao giải thích sự tăng trở lại mối quan tâm đối với vitamine D ?
BS Corine Bouuaert : Người ta đã khám phá ra rằng, vitamine D có lẽ có
những vai trò khác ngoài vai trò bảo vệ và củng cố xương không thôi. Và
rằng, vitamine D không hẳn chỉ là một hormone có tác dụng lên xương, mà
có lẽ là một hormone tác động rất nhiều hướng (hormone pléiotrope). Thí
dụ người ta đã khám phá ra rằng, những thiếu hụt vitamine D cũng có thể
có một vai trò lên sức mạnh của cơ, hay ít nhất góp phần vào sự vận hành
của thực thể thần kinh-cơ, và những thiếu hụt vitamine D cũng được liên
kết nhiều hơn với những biến cố về tim, với nhiều vấn đề miễn dịch hơn
và với nhiều nguy cơ bị bệnh đái đường hơn. Người ta đã chứng thực rằng
các thiếu hụt vitamine D thường xảy ra và quan trọng hơn nhiều điều mà
người ta tưởng.
Hỏi : Bà có
thể nói cho chúng tôi biết về các công trình của bà về vitamine D ?
BS Corine Bouuaert : Cùng với các đồng nghiệp của chúng tôi, tôi đã thực
hiện một công trình nghiên cứu vào năm 2005-2006, ở Liège. Chúng tôi đã
đo lường tỷ lệ các thiếu hụt vitamine D nơi các ông già. Chúng tôi tuyển
mộ một cách không định trước những bệnh nhân nam giới. Tiêu chuẩn chọn
lọc là 65 tuổi hoặc hơn. Chúng tôi đã định lượng vitamine D của họ và
những người này phải trả lời một bảng câu hỏi, đặc biệt đề cập về mức
độ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời của họ. Như vậy, chúng tôi đã thu nhận
được một số các dữ kiện nơi tổng cộng 291 người trên 65 tuổi. Những kết
quả đã cho thấy rằng, rất ít người đã được cho bổ sung vitamine D. Các
thiếu hụt rất là nghiêm trọng, càng nghiêm trọng khi các bệnh nhân sống
trong các nhà dưỡng lão, điều này là hợp lý, bởi vì bệnh nhân ít khi đi
ra ngoài. Nhưng các bệnh nhân ngoại trú cũng rất thiếu vitamine D.
Hỏi : Những
bệnh lý do thiếu hụt vitamine D là gì ?
BS Corine Bouuaert : Nhiều tài liệu đã cho thấy một mối tương quan giữa
sự thiếu hụt vitamine D và cả một loạt các vấn đề về sức khoẻ, có liên
hệ với sức mạnh của cơ, sự cân bằng, chức năng tim mạch, bệnh đái đường.
Người ta cũng nghĩ rằng vitamine D là thiết yếu trong thời kỳ thai nghén,
nhất là cho cái vốn xương tương lai của thai nhi. Ở đây cũng vậy, hiện
giờ có cả một lãnh vực nghiên cứu, và những lời khuyến nghị đều đi theo
chiều hướng cần cấp bổ sung vitamine D nơi phụ nữ có thai. Vitamine D
dường như là một hormone, tác động rất nhiều hướng (pléiotrope), can thiệp
vào trong một loạt hệ và cơ quan mà người ta chưa biết được cơ chế chính
xác
Hỏi : Trong
thực hiển, thái độ xử trí cần phải theo là gì ?
BS Corine Bouuaert : Đó là điều đang được tranh luận hiện nay. Vài người
đề nghị đừng định nồng độ vitamine D, cho ngay các bổ sung vitamine D,
ít nhất 800 đơn vị mỗi ngày, nghĩa là 25.000 đơn vị, hay một ampoule D-Cure
mỗi tháng. Nhưng các dữ kiện mới đây gợi ý rằng, các thiếu hụt là quan
trọng hơn nhiều, và rằng có lẽ liều lượng này vẫn chưa đủ. Do đó, câu
hỏi được đặt ra là phải biết có nên thực hiện sự định nồng độ vitamine
D, và ở nơi những ai. Có lẽ phải định nồng độ nơi các người già, để xác
định ổ nồng độ nào thì phải cho bổ sung. Có lẽ phải đo nồng độ nơi những
người kêu đau cơ cũng như trong sự hiệu chính bệnh fibromyalgie. Một số
bệnh nhân bị chứng bệnh fibromyalgie có lẽ chỉ là do thiếu vitamine D.
Câu hỏi không được trả lời dứt điểm, nhưng dường như trong vài trường
hợp, đo nồng độ để có thể điều biến sự cho bổ sung là hữu ích. Đối với
Michael Holick, một tay cự phách về vấn xề này, liều lượng tấn công tùy
thuộc vào mức độ của sự thiếu hụt. Ta có thể đề nghị một liều lượng duy
trì từ 800 đến 1.200 đơn vị mỗi ngày, có thể được sử dụng hàng tháng,
thậm chí hàng quý.
Trị số bình thường được chấp nhận hiện nay là 30 đến 32 ng/mL. Nếu vào
lúc đầu, sự thiếu hụt là rất quan trọng, với những nồng độ dưới 10 hay
12 ng/mL, ta khuyến nghị một liều lượng tấn công 50. 000 đơn vị mỗi tuần,
trong 6 tuần, rồi chuyển qua liều lượng duy trì.
Phải biết rằng những phối hợp cố định nhiều vitamine, có hoặc không có
calcium, thường không đủ liều lượng. Mặt khác, ngưỡng độc tính (seuil
de toxicité) rất trên các liều lượng điều trị. Theo Vieth, một chuyên
gia thế giới khác về vitamine D, ngưỡng độc tính nằm trên mức 200 ng/mL,
điều này tương ứng với sự sử dụng 40.000 đơn vị mói ngày. Những tình huống
lâm sàng tăng canxi-huyết và soi niệu quản hiếm xảy ra, dẫu sao đứng hàng
đầu là : hyperparathyroidie primaire, BK, lymphome, sarcoidose…
(LE JOURNAL DU MEDECIN 10/11/2009)
4/ MỘT HƯỚNG ĐỂ LÀM CHẬM LẠI BỆNH ALZHEIMER.
NEUROLOGIE. Lại bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới của con người. Để kéo dài
tuổi trẻ. Chống lại sự lão hóa. Và một cách gián tiếp để chống lại bệnh
Alzheimer. Đến nay, phải thành thực mà nói, câu chuyện này đã trải qua
những diễn biến mới và bất ngờ trên các con chuột phòng thí nghiệm. Với,
mục tiêu lâu dài, không phải để làm cho các động vật gậm nhấm trở thành
bất tử, mà là để làm tăng tuổi thọ của con người, không bệnh tật và với
sức khoẻ tốt. Hôm qua, trong tạp chí có uy tín của Hoa Kỳ Cell, một nhóm
nghiên cứu bao gồm những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Pháp và Israel, đã loan
báo đã tạo các con chuột có khả năng không những vẫn trẻ dài lâu hơn,
mà còn những dấu hiệu của bệnh Alzheimer phát triển rất chậm. Chính bằng
cách ức chế một phần một loại gène, gène của các thụ thể đối với IGF1
(Insuline like growth factor), mà các nhà khoa học đã đạt được kết quả
này. Các hãng dược phẩm đã đang hiệu chính các thuốc có khả năng phong
bế tác dụng của gène này và có thể cho phép con người sống lâu hơn mà
không bị thoái hóa thần kinh.
Việc khám phá ra gène của các thụ thể đối với IGF1 vào giữa những năm
1990, đã mở ra một lãnh vực nghiên cứu rộng lớn trong cuộc chiến chống
lại sự lão hóa. Thí dụ người ta đã cho thấy rằng yếu tố tăng trưởng IGF1
này đóng một vai trò trong sự đề kháng đối với stress, đối với sự lão
hóa và tuổi thọ nơi các con sâu, các côn trùng, các con chuột. Với những
khả năng áp dụng đối với con người. Nhóm nghiên cứu của Martin Holzenberger,
nhà nghiên cứu của Viện Quốc Gia sức khỏe và nghiên cứu y học (Inserm
U 948), cách đây vài năm đã thành công tạo nên những con chuột mà tuổi
thọ được gia tăng 1/3, chỉ bằng cách ức chế một phần gène của thụ thể
đối với IGf1.
Trong bài báo được công bố hôm qua, Martin Holzenberger và các đồng nghiệp
Hoa Kỳ và Israel đã quan tâm đến các chú chuột được chương trình hóa để
phát triển bệnh Alzheimer và nơi các chú chuột này các gène của các thụ
thể của IGF1 một phần đã bị phong bế. Kết quả : không những các động vật
gậm nhấm này sống lâu hơn, như người ta đã dự kiến, mà nhất là những dấu
hiệu thần kinh của chúng xuất hiện chậm hơn nhiều. “Các chú chuột này
lão hóa ít nhanh hơn, sống lâu hơn, và thể hiện bệnh Alzheimer chậm hơn”,
Martin Holzenberger đã tóm tắt như vậy. “Mục tiêu của một công trình như
thế là để biết người ta có thể làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh Alzheimer,
bằng cách tác động lên quá trình lão hóa hay không ”, GS Ehud Cohen, thuộc
bệnh viện Hadassah, Jérusalem, đã giải thích như vậy. Với một lợi ích
rõ rệt. “Nếu người ta làm chậm được 5 năm khởi đầu của bệnh Alzheimer,
ngườita sẽ chia 2 số bệnh nhân bị bệnh này”, GS Françoise Forette của
bệnh viện Broca, Paris đã xác nhận như vậy. “Ngày nay, có đủ bằng cớ để
nói rằng các yếu tố tăng trưởng IGF1 (Insuline like growth factor), là
một hướng rất nghiêm chỉnh trong nghiên cứu về bệnh Alzheimer”, Martin
Holzenberger đã nói thêm như vậy.
SỰ PHÁT TRIỂN NHỮNG TẾ BÀO VIÊM.
Nhiều hãng dược phẩm đang nghiên cứu về các các chất ức chế IGF1, để chống
lại ung thư và cả bệnh Alzheimer. Người ta cũng đã chứng minh rằng chỉ
cần hạn chế calorie cũng đủ làm giảm sự kích thích của IGH1 (nơi người)
và làm gia tăng tuổi thọ nơi động vật gặm nhấm. Mặt khác, IGF1 cũng có
liên hệ trong những hiện tượng viêm và qua đó, có thể tác động lên sự
thoái hóa thần kinh này. Bệnh Alzheimer cũng được đặc trưng bởi sự phát
triển của những tế bào viêm trong não bộ, GS Forette đã nói thêm như vậy.
Mặc dầu những cuộc điều tra đã cho thấy rằng, những người bị bệnh khớp
mãn tính và được điều trị dài lâu bởi các thuốc kháng viêm, có ít nguy
cơ bị bệnh Alzheimer hơn những người khác, nhưng những thử nghiệm phòng
ngừa hiện nay đã không cho những kết quả dương tính.” Nếu một ngày nào
đó có một loại thuốc thật sự cho phép kéo dài tuổi thọ và làm chậm lại
sự xuất hiện của bệnh Alzheimer, thì việc thiết đặt những người già trong
xã hội của chúng ta, cũng là cả một vấn đề, sẽ được đặt ra một cách gay
gắt còn hơn cả ngày nay. (LE FIGARO 1/12/2009)
Đọc thêm :
Thời Sự Y Học Bài số 144, Đề Mục: 5/ ALZHEIMER : NHỮNG
GENES MỚI GÂY BỆNH.
5/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG
VÀ UNG THƯ ĐƯỢC SIẾT CHẶT LẠI.
Hơn 30% các ung thư có thể tránh được bởi những thói quen ăn uống tốt
hơn.
NUTRITION. Nhiều ung thư phát sinh từ các đĩa thức ăn của chúng ta. Trong
số 320.000 trường hợp ung thư mới được thống kê mỗi năm ở Pháp, khoảng
30% có thể tránh được bằng những thói quen dinh dưỡng tốt hơn và một lối
sống cân bằng. Vào năm 2009, một số càng ngày càng nhiều các ấn bản khoa
học đã hiệu chính mối liên hệ giữa cách ăn uống và ung thư. Cách đây vài
tháng, Viện ung thư quốc gia (Inca) đã công bố những lời khuyến nghị mới
về vấn đề này, đặc biệt căn cứ trên những kết luận của World Cancer Research
Fund. Quỹ nghiên cứu ung thư thế giới này đã phân tích hơn 7000 công trình
nghiên cứu. Trên ghế của các bị cáo là tình trạng tăng thể trọng (surpoids)
và bệnh béo phì (obésité), rượu, muối, các thịt đỏ và đồ thịt lợn và các
chất bổ sung thực phẩm có chất căn bản là bêtacarotène.
Hoạt động vật lý, sự cho bú sữa và sự tiêu thụ trái cây và rau xanh được
xếp loại như là những yếu tố làm giảm nguy cơ bị ung thư. Nếu được tiêu
thụ hàng ngày (ít nhất 5 lần mỗi ngày), các trái cây và rau xanh ngăn
ngừa nhiều ung thư tiêu hóa và, chỉ riêng đối với trái cây, ngăn ngừa
các ung thư phổi. Phải chăng vài loại trái cây hay rau xanh tốt cho sức
khỏe hơn những loại khác ? Các nhà nghiên cứu khảo sát đều đặn các tác
dụng chống ung thư của một số thức ăn nhất định. Công trình nghiên cứu
mới nhất : sự tiêu thụ hàng ngày quả đào lạc (pistache) bảo vệ chống ung
thư phổi.
NHỮNG TÁC DỤNG CHỐNG OXY HÓA.
Theo các chuyên gia, các công trình này hữu ích trong khung cảnh nghiên
cứu, nhưng trong thực tiễn, những nhấn mạnh những tính chất đặc biệt của
sản phẩm này hay sản phẩm kia thì không có ý nghĩa. “Không có một trái
cây hay một rau xanh nhiệm màu, mỗi thứ có thể chứa nhiều chất đáng quan
tâm : vitamine, polyphénol, caroténoides... , GS Serge Hercberg nhấn mạnh
như vậy. Chính sự phối hợp của các thức ăn mới cho phép có một sự hiệp
đồng và một sự bổ sung để ngăn ngừa các ung thư nhưng cũng để ngăn ngừa
những bệnh tim mạch..” Các tính chất của các trái cây và rau xanh được
giải thích một phần bởi những tác dụng chống oxy hóa (effets antioxydants)
của chúng. Suốt trong cuộc sống, sự tích tụ của các gốc tự do (radicaux
libres) trong các tế bào dẫn đến những hiện tượng oxy hóa, làm cho chúng
bị gỉ và do đó hóa già. “Các chất chống oxy hóa (antioxydants) chống lại
cơ chế này, GS Hercberg giải thích như vậy. Lấy hình ảnh của quả lê tàu
(avocat) bị nhuộm màu khi ta mở ra làm hai. Ta có thể tránh sự “gỉ” này
bằng cách phủ lên nó quả chanh, giàu vitamine C. (LE
FIGARO 27/12/2009)
6/ UNG THƯ : NHỮNG LIỆU PHÁP NHẮM ĐÍCH
(THERAPIE CIBLEE)
Vào năm 2010, theo OMS, ung thư sẽ trở thành nguyên
nhân đầu tiên gây tử vong trên thế giới, phế truất các bệnh tim mạch.
Nhưng năm 2010 cũng sẽ là năm đánh trả, bước vào trong kỷ nguyên của các
điều trị “cá thể hóa”(“sur mesure”), có hiệu quả hơn bởi vì được thích
ứng với mỗi loại ung thư, thậm chí đối với mỗi loại khối u. Và nếu xét
theo số các thuốc mới thuộc loại này, đang chờ đợi để được thương mại
hóa, thì một điều chắc chắn là : cuộc cách mạng của ung thư học (“khoa
học của các khối u ung thư”) này đang tiến bước. Giữa tháng ba năm 2008
và cuối năm 2010, Cơ quan các dược phẩm châu Âu (EMEA) đã tiên đoán sự
xuất hiện 50 loại thuốc chống ung thư mới trên thị trường. Một con số
khổng lồ, sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm đến. Ở Pháp, trong năm
2010, ít nhất 8 loại thuốc chống ung thư chưa từng có trước đây, được
chấp thuận năm 2009, sẽ đến làm phong phú kho vũ khí của các thầy thuốc.
860 LOẠI THUỐC ĐANG ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM.
Trong số các loại thuốc này, évérolimus, được chỉ định trong ung thư thận
giai đoạn tiến triển, catumaxomab, được chỉ định đối với vài ung thư tiêu
hóa, hay gefitinib, đối với vài ung phổi. Đây là những điều trị tấn công
vào các cơ chế riêng của các tế bào ung thư, trái với hóa học liệu pháp
cổ điển, “ dội bom ” không phân biệt các tế bào ung thư và các tế bào
lành mạnh. Nói một cách chính xác hơn, các thuốc này phong bế các phân
tử hay các gène bất thường chịu trách nhiệm tính hung dữ hay là nguyên
nhân của sự tăng sinh vô tổ chức của một khối u. Thế mà những bất thường
này có nhiều và đa dạng. Công cuộc nghiên cứu càng tiến triển thì điều
chứng thực sau đây là điều không thể tranh cãi : có bao nhiêu các khối
u ung thư khác nhau thì có bấy nhiêu bệnh nhân, vì mỗi khối u bao hàm
sự phối hợp độc nhất của các bất thường của nó. Do đó có nhiều điều trị,
mục đích là vô hiệu hóa càng nhiều các bất thường càng tốt để điều trị
một tối đa các ung thư.
Tuy nhiên, ý tưởng về các liệu pháp nhắm đích không phải là mới. “Thủ
lĩnh” của chúng là một loại thuốc được sử dụng từ hơn 30 năm nay, tamoxifène
(Nolvadex), tác dụng lên các khối u ung thư của vú, mà sự tăng trưởng
được kích thích bởi các hormone (oestrogène). Liệu pháp nhắm đích nổi
tiếng khác : herceptine (trastuzumab), năm 2001 đã cách mạng hóa sự điều
trị của ung thư vú. Herceptine phong bế phân tử HER2, hiện diện trên bề
mặt của 1/3 các ung thư vú và đóng một vai trò trong sự tăng sinh của
ung thư. Từ đó, hiệu năng của các dụng cụ di truyền (outil génétique)
đã cho phép đẩy nhanh sự nghiên cứu. Ngày nay người ta biết rằng gần 400
gène, nếu chúng bị biến dị, có thể gây nên sự ung thư hóa của một tế bào.
Bấy nhiêu mục tiêu đối với các điều trị mới. Tổng cộng, hơn 860 thuốc
chống ung thư đang là đối tượng của những thử nghiệm lâm sàng. Hoặc hơn
gấp đôi các thuốc đã được phát triển để chống lại các bệnh tim hay thần
kinh. Hiệu quả hơn và ít độc tính hơn hóa học liệu pháp cổ điển, chúng
tấn công vào gót chân Achille của các khối u ung thư. Một loại thuốc mới,
các “ chất ức chế PARP ”, vừa chứng tỏ tính hiệu quả lên các ung thư vú
“ba âm tính ” (triples négatifs) (không có thụ thể nào trong số 3 thụ
thể được nhắm đích bởi các điều trị hiện nay). Chiến thuật của chúng ?
Ngăn cản các tế bào ung thư sửa chữa các thương tổn của ADN, gây nên bởi
hóa học liệu pháp và do đó sống sót sau liệu pháp này. Các thuốc “ inhibiteurs
de PARP ” đầy hứa hẹn, đến độ các cuộc thương thuyết với EMEA để thương
mãi hóa chúng đã bắt đầu, mặc dầu các thử nghiệm lâm sàng còn đang được
tiến hành.
PHÂN TÍCH CHI TIẾT KHỐI U.
Nhưng do tính đặc hiệu của chúng, những liệu pháp này có một khuyết điểm
quan trọng. Mỗi liệu pháp chỉ có hiệu quả đối với vài bệnh nhân. “Công
cuộc nghiên cứu càng tiến triển, người ta càng chia các ung thư thường
xảy ra thành những nhóm ung thư hiếm”, Gilles Vassal, chuyên gia ung thư
của Viện Gustave-Roussy, Villejuif, đã giải thích như vậy. “Thí dụ, chỉ
có 30% các ung thư vú biểu hiện HER2 và có thể hưởng điều trị với herceptine.
Thế mà, trong số 30% này, chỉ một nửa có thể đáp ứng với điều trị, bởi
vì vài gène mang lại một sự đề kháng.” Do đó phải phân tích khối u một
cách chi tiết. Bệnh viện toàn khoa Massachusetts là bệnh viện đầu tiên
thực hiện công tác này một cách hệ thống. Từ nay đến giữa năm 2010, các
thầy thuốc sẽ thiết lập “thẻ căn cước” di truyền của các khối u của tất
cả các bệnh nhân, trước khi đề nghị với họ một điều trị. Nhưng sự xuất
hiện ồ ạt của các loại thuốc này không ngăn cản các chuyên gia ung thư
giữ đầu óc thực tế, nhất là những điều trị nhắm đích này có thể 100 lần
đắt hơn một hóa học liệu pháp cổ điển. (SCIENCE ET
VIE 1/2010) Đọc thêm :
Thời Sự Y Học Bài số 148, Đề Mục: 7/ UNG THƯ VÚ : TIÊN
LƯỢNG TỐT HƠN VỚI ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH.
7/ BỆNH ĐA KHỚP DẠNG
THẤP LAN TRÀN NHƯ THỂ NÀO ?
RHUMATOLOGIE. Một nhóm nghiên
cứu người Đức đã khám phá bằng cách nào quá trình viêm của bệnh viêm đa
khớp dạng thấp lần lượt tấn công các khớp. Các loại thuốc nhằm vào các
tế bào chịu trách nhiệm gây nên phản ứng viêm này có thể làm ngừng tiến
triển của bệnh.
Viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) là một bệnh của các khớp,
gây bệnh cho 0,5% dân chúng phương tây, đại đa số là các phụ nữ. Nói chung,
bệnh khởi đầu vào năm 40 tuổi, với một sự thương tổn của các bàn tay,
cổ tay và những khớp nhỏ của các bàn chân. Với thời gian, phản ứng viêm
ảnh hưởng lên phần lớn các khớp. Các bệnh nhân bị bệnh mất đi sự khéo
léo, một vài trở nên tật nguyền.
Cũng như mọi bệnh tự miễn dịch, viêm đa khớp là do một phản ứng bất thường
của hệ miễn dịch quay ngược trở lại chống cơ thể. Nhiều loại tế bào tấn
công các mô khớp : các bạch cầu (đại thực bào và các tế bào lympho) nhưng
cũng vài tế bào cấu tạo sụn, được gọi là những nguyên bào sợi hoạt dịch
(fibroblastes synoviaux), mà tác dụng của chúng đặc biệt gây tàn phá.
Một nhóm nghiên cứu người Đức vừa chứng tỏ rằng các tế bào này cũng chịu
trách nhiệm sự khuếch tán của căn bệnh : chúng di chuyển từ khớp này qua
khớp khác.
SỰ DI CHUYỂN.
Để chứng minh điều đó, Elena Neuman, thuộc đại học Justus-Liebig, ở Bad
Nauheim, và các đồng nghiệp, đã nghiên cứu hành vi của các nguyên bào
sợi người (fibroblastes humains) nơi các con chuột da bị lấy mất đi khả
năng phòng vệ miễn dịch, nhằm làm chúng không thải bỏ ghép. Các nhà nghiên
cứu đã cấy, trên một cạnh sườn của các động vật gặm nhấm, sụn người lành
mạnh với các nguyên bào sợi hoạt dịch (fibroblaste synovial) phát xuất
từ những bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp. Trên cạnh sườn bên phía đối diện,
họ đã ghép sụn lành mạnh không có nguyên bào sợi. Sau 60 ngày, họ trích
ra hai loại sụn và đã phân tích chúng. Kết quả : sụn thứ nhất (sụn với
các nguyên bào sợi hoạt dịch) bị tấn công bởi các nguyên bào sợi nằm ở
cạnh bên. Ngạc nhiên hơn, sụn thứ hai (sụn nằm ở cạnh sườn đối diện) cũng
chứa các nguyên bào sợi người, và đã bắt đầu phá hủy nó.
Vậy những tế bào này chuyển dịch từ phía này qua phía kia của cơ thể.
Bằng cách nào ? Có lẽ qua tuần hoàn máu. Thật vậy, các nhà sinh học đã
phẫu tích các cơ quan của 20 con chuột được ghép : chỉ một cơ quan, lá
lách, là chứa các vết của cac nguyên bào sợi. Mà một trong những chức
năng của lá lách là lọc các tế bào máu. Hơn nữa, trên 40 con chuột được
ghép, một nửa có những nguyên bào sợi hoạt dịch trong máu.
“ Công trình nghiên cứu này phát hiện ra rằng bệnh viêm đa khớp dạng thấp
lan tràn hơi giống với ung thư, từ một khối u đôi khi phát tán thành các
di căn ”, Marie-Christophe Boissier, thuộc đại học Paris XIII, đã giải
thích như vậy. Những công trình nghiên cứu này mở ra một hướng điều trị
mới : các thuốc nhằm ngăn cản nguyên bào sợi (fibroblastes) di chuyển.
“ Để tìm ra những loại thuốc này, còn cần phải nghiên cứu chi tiết những
cơ chế, nhờ đó các nguyên bào sợi này di chuyển trong các huyết quản và
gắn vào các khớp ”, Jean Roudier, thuộc Inserm, Marseille, đã đánh giá
như vậy. (LA RECHERCHE 1/2010)
8/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG
THẤP : GIÁO DỤC ĐỂ PHÒNG NGỪA.
Giáo sư Maxime Dougados, trưởng khoa thấp khớp của bệnh viện
Cochin, giải thích phương pháp mới này trong thấp khớp học tại diễn đàn
khoa học của Unesco “ Arthrites, arthrose, ostéoporose : dernières avancées
”.
Hỏi : Vì những
lý do nào một giáo dục phòng ngừa là đặc biệt được chỉ định trong các
trường hợp viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) ?
G. S Maxime Dougados : Đó là một bệnh viêm mãn tính tự miễn dịch, nói
chung, bắt đầu được biểu hiện ở các bàn tay, bởi một sự cứng khớp vào
buổi sáng và một sự sưng phồng các khớp. Không được điều trị, bệnh lý
này sẽ tiến triển dần dần, từng đợt và gây nên những biến dạng khớp, có
thể tạo nên một tật nguyền quan trọng. Một bệnh nhân, nếu có thể nhận
biết một tình trạng viêm, sẽ có thể đánh giá nó và hiểu được sự cần thiết
phải theo sát điều trị duy trì của mình để ngăn cản những biến dạng này.
Một bệnh nhân thông hiểu quản lý tốt hơn cuộc sống hàng ngày của mình.
Nếu y thức được về các nguy cơ của các bệnh liên kết, bệnh nhân cũng sẽ
biết tự bảo vệ tốt hơn.
Hỏi : Làm
sao một bệnh nhân có thể tự đánh giá tình trạng viêm của mình ?
G. S Maxime Dougados : Trước hết có một máy tính nhỏ, trong đó bệnh nhân
có thể đưa vào các thông tin, như số khớp bị đau hay bị sưng tấy. Toàn
bộ các dữ kiện được đo bởi một con số duy nhất, chỉ số DAS : nếu trên
3,2, căn bệnh vẫn còn luôn luôn đang hoạt động. Nhờ những điều chỉ dẫn
thu được như thế, thầy thuốc, vào mỗi lúc chẩn bệnh (khởi đầu hàng tháng,
rồi mỗi quý hay mỗi 6 tháng một lần sau đó), có thể thích ứng điều trị
tốt hơn nhiều.
Hỏi : Ngoài
phương tiện thực tiễn này, chương trình giáo dục nhằm vào những gì ?
G. S Maxime Dougados : Các trung tâm giáo dục đã được thành lập vì mục
đích này trong các khoa thấp khớp của bệnh viện và trong vài cơ sở chữa
bệnh bằng nước nóng (cures thermales). Ở đó các bệnh nhân có thể theo
các lớp tiết kiệm khớp (cours d’économie articulaire), qua đó họ học những
động tác cần phải tránh trong trường hợp đợt viêm cấp tính, để bảo vệ
các khớp và để hạn chế những thương tổn lên sụn, các dây gân và xương.
Các liệu pháp nhóm (thérapies de groupe), được hướng dẫn bởi một chuyên
gia tâm lý học (psychologue), cho phép những bệnh nhân bị viêm đa khớp
dạng thấp rất nặng, mà ở nhà họ phải âm thầm chịu đựng, phát biểu một
cách tự do. Đối với mọi loại thương tổn khớp (đầu gối, vai, háng... ),
những bài tập thể dục đặc hiệu đã được hiệu chính, thích ứng với mức độ
tàn phế.
Hỏi : Sự hữu
ích của những chương trình này về nguy cơ bị các bệnh liên kết là gì ?
G. S Maxime Dougados : Hãy nhắc lại rằng những bệnh nhân bị viêm đa khớp
này không chỉ có nguy cơ bị các biến chứng có liên quan đến các bệnh thấp
khớp, mà cũng bị những bệnh khác, vì lẽ tình trạng miễn dịch của họ bị
rối loạn hay do sự điều trị thấp khớp của họ. Chúng ta biết rằng nơi những
bệnh nhân bị bệnh đa khớp này, các bệnh tim mạch và nhiễm khuẩn thường
xảy ra hơn. Những chương trình giáo dục này sẽ báo động, nhắc nhở các
bệnh nhân những điều khuyến nghị cần thiết, bởi vì không nên quên rằng
họ phải được theo dõi rất sát ! Họ đặc biệt dễ bị những vấn đề tim mạch,
do đó điều quan trọng là phải đánh giá đều đặn huyết áp, nồng độ cholestérol,
đường huyết và trong lượng của họ. Những bệnh nhân này cũng có một nguy
cơ lớn hơn bị nhiễm trùng, do đó cần phải canh chừng để họ được tiêm chủng,
nhất là hàng năm chống lại bệnh cúm và mỗi 5 năm, chống lại phế cầu khuẩn
(pneumocoque).
Hỏi : Những
công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những lợi ích thật sự của các
chương trình này ?
G. S Maxime Dougados : Công trình nghiên cứu sau cùng hết, được thực hiện
vào tháng 9 /2009 bởi nhóm nghiên cứu của trung tâm Rennes, đã chứng minh
rằng , ba năm sau một chương trình giáo dục, hoạt tính của bệnh viêm này
chậm đi rất rõ rệt nơi những người được giáo dục. Ở đây, trong trung tâm
của chúng tôi ở bệnh viện Cochin trước đây chúng tôi đã thực hiện một
nghiền cứu đã cho phép chúng tôi quan sát thấy các bệnh nhân rất thỏa
mãn và có một khả năng đương đầu tốt hơn. (PARIS MATCH
12/11-18/11/2009)[/color]
9/ MỘT LOẠI THUỐC CHỐNG
LẠI VIÊM ĐA KHỚP.
RHUMATOLOGIE. Đây là một vũ khí mới chống lại viêm đa
khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide), căn bệnh tự miễn dịch còn chưa
được biết rõ, gây bệnh cho 21 triệu người trên thế giới và 300.000 người
ở Pháp. Thuốc mới, tocilizumab, mở đầu một lớp điều trị mới. Thuốc này
tấn công vào interleukine 6 (IL-6), một cytokine đóng một vai trò chủ
chốt trong sự điều hoàn phản ứng viêm. Tocilizumab là một kháng thể đơn
dòng (anticorps monoclonal), được hướng chống lại các thụ thể của IL6,
như thế phong bế sự gắn của cytokine vào các thụ thể và ngăn cản nó tác
động. Thuốc vừa được phép thương mãi hóa trên thị trường Pháp. Thuốc này
được dành cho những bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp đang tiến
triển thể trung bình và nặng, mà điều trị với các phương pháp cổ điển
(méthotrexate, anti-TnF-alpha) thất bại, nghĩa là khoảng 35.000 bệnh nhân.
Một sự bố trí cảnh giác dược (un dispositif de pharmacovigilance) sẽ được
thiết đặt, vì lẽ những trường hợp tử vong đã xảy ra ở Nhật Bản vào tháng
ba nơi những bệnh nhân có sức khỏe rất kém. Đứng trước căn bệnh nghiêm
trọng và gây tàn phế này, được đặc trưng bởi những đợt viêm nơi các khớp,
gây nên đau và sưng phù, nhưng cũng gây thương tổn lên tim, hiện nay không
có một điều trị nào chữa lành bệnh cả. (SCIENCES ET
AVENIR 1/2010)
10/ VI KHUẨN CHÍ RUỘT (MICROFLORE
INTESTINALE) ĐÓNG MỘT VAI TRÒ TRONG CHỨNG BÉO PHÌ.
Đây là điều mới để chống lại chứng béo phì : sự điều biến
vi khuẩn chí ruột (microflore intestinale) của chúng ta là làm dễ sự mất
cân. Nhóm nghiên cứu Tây Ban Nha đã áp đặt 36 thiếu niên bị tăng thể trọng
theo một chế độ ăn uống và những hoạt động vật lý. Mặc dầu tất cả đều
nhận một cung cấp năng lượng tương tự, nhưng 23 trong số các thiếu niên
này đã mất nhiều trọng lượng hơn những trẻ khác. Điều gì phân biệt chúng
với nhau ? Một tỷ lệ cao hơn 2 loại vi khuẩn ruột (clostridium và bacteroides).
Thành phần của vi khuẩn chí ruột do đó ảnh hưởng lên sự phát triển của
bệnh béo phì. (SCIENCE ET VIE 10/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/1/2010)
>>>back>>>
|
 |