 |
Thời
Sự Y Học số 153
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ NGƯỜI BỆNH CỦA ĐẢO SAINTE-HELENE.
Khi ông ta đến cảng Rochefort sau cuộc bại trận khủng khiếp ở Waterloo,
Napoléon, mặc dầu chỉ còn là cái bóng của chính mình, lại tin như đinh
đóng cột rằng ông ta sẽ lên tàu đi châu Mỹ, là nơi còn có các bạn bè.
Đó là Napoléon không tính đến hạm đội Anh, lúc hay biết được các kế hoạch
của ông, đã vội phong bế hải cảng Pháp để thuyết phục Bonaparte lên một
chiếc tàu Anh, “le Bellerophon”. Được chuyển đến Nothumberland sau đó,
Napoléon bị buộc thực hiện một chuyến đi dài đến hòn đảo không mến khách
Sainte-Hélène, nơi đây ông đã đổ bộ 3 tháng sau đó.
NHỮNG NGƯỜI THẦY THUỐC TẬN TỤY CỦA NAPOLEON.
Trong nơi lưu đày xa xăm, Hoàng Đế chỉ được đi kèm theo bởi vài người,
trong đó có thống chế Bertrand và nhà sử học Las Cases, đã để lại cho
chúng ta nhiều hồi ký, thường do Napoléon đọc cho mà viết. Bên cạnh họ
là hai thầy thuốc 0’Meara và Antommarchi. O’Meara, người gốc Ái Nhĩ Lan,
đã từng gặp Hoàng Đế trên tàu Bellerophon và đã được biệt phái hẳn đến
cạnh ông để hết lòng vì công việc của mình, với một sự vồn vả ân cần làm
bộ tư lệnh hải quân Anh xét thấy đáng nghi ngờ, vì thế vào năm 1818 vị
thầy thuốc này được mời đến Albion. Từ kinh nghiệm của mình, O’Meara sẽ
rút ra một tác phẩm tuyệt vời, được tái bản đến 34 lần, tuy nhiên không
phải vì vậy mà cải thiện được chế độ áp đặt vào Bonaparte cho đến ngày
cuối đời của ông. Antommarchi tiếp nối O’Meara để đi theo người bệnh nhân
nổi tiếng của mình cho đến ngày lâm chung của Napoléon. Ông cũng để lại
cho chúng ta những bài viết hồi ký của mình .
Sự phê phán lịch sử buộc chúng ta phải tỏ ra thận trọng về nội dung của
các bản văn này, trong đó khuynh hướng đa cảm và lòng cảm thông che dấu
hay làm biến đổi một sự thật không có tính chủ quan. Hai thầy thuốc của
chúng ta đúng là những nhân chứng trực tiếp của những nỗi khổ đau về thể
xác và tinh thần của Hoàng Đế, như câu trả lời sau đây của O’Meara với
thống đốc Lowe khi ông này lo ngại về tình trạng sức khỏe của người tù
nhân của mình, đã chứng tỏ điều đó: “Phải mở rộng các giới hạn của khu
vực trong đó ông ta được phép đi dạo chơi, một cách tổng quát, phải tạo
cho ông ta một cảm tưởng tự do nào đó, và nhất là, an tọa ông ta trong
một ngòi nhà trên sườn đồi bên kia của hòn đảo ”. Bệnh nhân đau đớn đến
độ ông ta mong muốn thần chết hãy đưa ông ta đi nhanh chóng. Đây là điều
Naopléon đã tuyên bố với vị thầy thuốc của mình vào tháng 12 năm 1816
: “ Đêm qua, tôi bị một cơn thần kinh khiến làm tôi thức tỉnh cho đến
sáng. Tôi bị kích động và khốn khổ vì các cơn migaine khủng khiếp. Tôi
đánh mất cả tri giác, khoảng vài khoảnh khắc đồng hồ. Ngay cả tôi hy vọng
rằng cơn thiên đầu thống này sẽ trầm trọng dần, đủ để giải thoát tôi khỏi
sự hiện hữu thảm thương này. Vào trong bất cứ giây phút nào, tôi cũng
tin là đã bị một cơn đột qụy. Đầu tôi nặng nề với một cảm giác chóng mặt
; có thể nói dường như tất cả máu đều đổ dồn về não bộ. Tôi cũng cảm thấy
một nhu cầu bức thiết là muốn đứng dậy.” Hoàng Đế bình phục khá nhanh
cơn thần kinh này vì lẽ vài ngày sau đó, ông vừa miệt mài đọc thánh kinh,
vừa vẫn mơ màng đến cái đế chế với 83 triệu thần dân mà ông đã ngự trị.
Một lần khác, ông tự nói là một mình chịu trách nhiệm về tất cả những
thất bại và tố cáo sự điên rồ của mình là đã tiến quân đến Moscou để khuất
phục chế độ Nga xa hoàng.
CHIẾC GAN CỦA HOÀNG ĐẾ.
Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe của Hoàng Đế tiếp tục gây lo âu cho người
thầy thuốc của mình. Vào ngày 17 tháng năm 1817, O’Meara ghi nhận là đã
thấy Napoléon trong phòng tắm và kêu vang đau ở má phải, có lẽ gây nên
bởi sâu răng, cũng như sưng nề ở các mắc cá và cẳng chân. Chẩn đoán đối
với các dấu hiệu sưng tấy này: Napoléon phải luyện tập thể dục và tại
sao lại phải cưỡi ngựa, thế mà lại quên rằng địa hình, nơi ông được phép
di chuyển, là quá chật hẹp đến độ nó ngăn cản ngựa phi. “Ông sẽ không
còn thấy tôi nữa rất lâu, bác sĩ ạ”, người dân của đảo Corse đã nói thêm
vào như vậy. “Người ta đã áp đặt cho tôi một cái chết còn khủng khiếp
hơn nhiều so với cái chết của một người lính trên chiến trận.Tôi cảm thấy
rằng cái bộ máy càng ngày càng suy sút đi. ” 15 ngày sau, ngày 1 tháng
mười năm 1817, Napoléon kêu đau ở lá lách và những cơn đau nhói ở vai,
nhưng cũng một cảm giác khó chịu về phía gan. Người thầy thuốc kê toa
cho ông các thuốc chống táo bón nhưng ông cũng e sợ chứng viêm gan sẽ
buộc Hoàng Đế phải theo một chế độ kiêng khem nghiêm ngặt và phải từ bỏ
rượu. Sau đó, chứng bệnh càng ngày càng xấu đi và Bonaparte không ngừng
kêu van lá gan, có lẽ đang sưng lên một cách nguy hiểm. Các cơn đau ở
các chi trở nên dữ dội hơn nhưng Hoàng Đế gần như luôn luôn từ chối dùng
thuốc đã được kê đơn và khi O’Meara đột ngột bị ngừng chức, thì không
có một thầy thuốc nào ở cạnh giường ông trong 1 tháng. Người thầy thuốc
Ái Nhĩ Lan đã được mời trở lại nhưng sau đó bị triệu hồi vĩnh viễn. Hoảng
đế rất sầu não về sự ra đi này : “ Tội ác được hoàn thành. Đã quá lâu
rồi tôi vẫn còn sống.”. Và trước khi rút lui vĩnh viễn, O’Meara đệ trình
cho Thống chế Bertarnd một báo cáo dài và chi tiết về tình trạng sức khỏe
của bệnh nhân mình. Mặc dầu được săn sóc tận tình, căn bệnh vẫn tiếp tục
tiến triển và khiến lo ngại một viêm gan cấp tính. Napoléon cũng đã béo
phì quá mức, thân thể không chịu được những thời kỳ táo bón kéo dài, kế
tiếp bởi các đợt ỉa chảy dữ dội. Sốt cao cũng như trái tim có nhịp đập
quá mức. Ông được thầy thuốc kê toa thủy ngân (mercure), mà ông tỏ ra
ghét cay ghét đắng. Ông không chịu được nữa calomel, và một chứng viêm
phế quản ác hiểm, gây nên bởi tình trạng ẩm ướt của nơi chốn này, rất
khó mà vượt qua được, cũng như sự khốn khổ tinh thần, sự nhàn rổi và nỗi
cô đơn của chốn lưu đày.
O’Meara chẳng bao lâu được thay thế bởi BS John Stokoe. Ông này chỉ kịp
xác định chẩn đoán của người tiền nhiệm rồi từ chức trước những thủ đoạn
phá rối liên tục của chính quyền Anh. Phải rất nhiều phản kháng của Hoàng
Đế, nằm liệt giường không được săn sóc, sau cùng mới đổ bộ cạnh giường
ông một đội y tế mới, trong đó có BS Antommarchi, chỉ vừa tròn 30 tuổi
và cho mãi đến khi ấy, đã trau giồi tài nghệ thầy thuốc ngoại khoa của
mình ở Hospice Notre-Dame de Florence. Hai ngày sau, viên thầy thuốc mới
sau cùng có thể thính chẩn Hoàng Đế, và anh có thể nắm được ngay mức độ
của căn bệnh : thính giác kém đi, da rất tái xanh, hách xì dữ dội xen
lẫn với những cơn ho khan, các lỗ mũi bị nghẹt, mạch yếu nhưng đều, những
cơn đau lưu động trong vùng thắt lưng, nôn mửa liên tiếp ... Nhưng không
có gì là mới lắm trong chẩn đoán này...
Sự buồn chán, vẫn sự buồn chán trên cái núi đá, mà ở đó đã không bao giờ
xảy ra điều gì cả, và đó là điều tệ hại nhất, bởi vì tình trạng sức khỏe
không còn tiến triển bao nhiêu nữa trong hướng này hay hướng kia. “ Không
có gì được ghi nhận ” (Rien à signaler), người thầy thuốc vẫn luôn luôn
ghi vào trong báo cáo hàng ngày của mình như vậy. Nhưng sự đồng tình hợp
ý nhau giữa hai người chỉ được một thời gian do tính chất càng ngày càng
thất thường của Napoléon. Hoàng Đế trách người thầy thuốc của mình đã
không túc trực 24 giờ trên 24. Thật ra, Antommarchi đã lợi dụng những
lúc rảnh rổi hiếm hoi của mình để xuống trong thủ phủ của hòn đảo và trà
dư tửu hậu ở đó với các đồng nghiệp rất hiếm hoi, điều này làm Hoàng Đế
bất bình sâu nặng, đến độ Napoléon sau cùng hẳn đã đuổi viên thầy thuốc
này nếu Bertarnd đã không thuyết phục ông điều ngược lại. Antommarchi
có lẽ 10 năm nhỏ tuổi hơn, còn quá trẻ để có thể chống cự lại những cơn
bực bội cáu gắt của người chiến thắng trận Austerlitz !
SỰ CÁO CHUNG CỦA VINH QUANG THẾ GIỚI.
Vào năm 1821 này, các lực lượng lần lượt giã từ Hoàng Đế và không thể
nào lay chuyển được. Những cơn khó thở và những lần ói mửa gia tăng. Ngày
2 tháng 4, người ta kêu cứu một thầy thuốc người Anh, nhưng ông này đến
chỉ để xác nhận một lâm chung mà người ta cảm thấy đã gần kề. Theo các
gia nhân, chiều hôm đó một ngôi sao chổi đã đi xuyên qua bầu trời. Điềm
xấu, Napoléon đã thốt lên như vậy, vì chính cũng bằng cách này mà cái
chết gần kề của César đã được loan báo. Hai tuần lễ tiếp theo sau thật
đặc biệt khổ nhọc. Hoàng Đế cáu kỉnh hơn bao giờ hết, trải qua suốt thời
gian để soạn lại bảng di chúc. Ông đuổi cả vị thầy thuốc của mình ra khỏi
phòng mặc dầu những nỗi thống khổ gần như không chịu đựng được. Ngày 18
tháng 4, Antommarchi nhận sự giúp đỡ của 2 thầy thuốc người Anh, nhưng
chẳng còn làm gì được nữa. Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 năm 1821, Napoléon
mê sảng hoàn toàn. Những người thân chỉ còn nghe 3 chữ được lặp đi lặp
lại không ngừng : nước Pháp, quân đội, Joséphine. Vào 1 giờ, các đầu chi
bắt đầu lạnh giá, các bờ môi siết lại, đôi mắt lờ đờ, bụng trướng ra nhiều
lần, bị lay động bởi các tiếng sôi ruột, mạch yếu và không đều, từ 102
đến 122 đập mỗi phút. Và thứ thuốc duy nhất dành cho con người đang hấp
hối này là các thuốc làm rộp da (vésicatoire) và hai thuốc dán chứa chất
moutarde, được đặt lên lòng các bàn chân của Bonaparte.
Vào 6 giờ 1 phút ngày 5 tháng 5 năm 1821, Napoléon Bonaparte không còn
nữa. “ Vinh quang của thế giới đã chết đi như vậy ”, Antommarchi đã ghi
vào các cuốn sổ tay của mình như thế. Sau đó, người ta tiến hành rửa ráy
người chết và rồi đặt lên trên một chiếc giường khác. Viên thầy thuốc
lấy khuôn gương mặt của Napoléon, rồi bắt đầu giải phẫu tử thi trước sự
hiện diện của 3 vị tướng người Pháp, các sĩ quan người Anh và tám vị thầy
thuốc được yêu cầu tham dự vào cuộc mổ xác rùng rợn này. Antmmarchi ghi
các kết luận : “ Giải phẫu tử thi đặc biệt phát hiện rằng gan bị một viêm
nhiễm mãn tính và rằng các thành của dạ dày biến mất một phần, dưới một
khối u ác tính.” Một thầy thuốc người Anh đã không hết ngạc nhiên về mức
độ quan trọng của mỡ bao phủ tất cả các cơ quan của người chết, đồng thời
chứng nhận rằng dạ dày bị một ung thư, nhất là trong vùng môn vị nhưng
phủ nhận căn bệnh gan, mà từ lâu đã được mô tả bởi các đồng nghiệp, có
lẽ do lệnh của thống đốc đảo. Như thế để lại một bí ẩn sau cùng quanh
con người một thời đã cho mình là chủ nhân ông của thế giới, trước khi
bỏ mình trên một hòn núi đá hẻo lánh xa xăm của Đại Tây Dương. (SEMAINE
MEDICALE 29/10/2009)
2/ CÚM A : TIẾN TRÌNH DỊCH BỆNH
CHẬM LẠI Ở CHÂU ÂU.
Theo OMS, số các trường hợp đang giảm xuống ở các nước châu Âu (trừ nước
Pháp).
PANDEMIE. Virus H1N1 tiếp tục lưu hành ở châu Âu, nhưng hoạt động cúm
đã đạt một đỉnh cao và bắt đầu hạ xuống. Các hệ thống theo dõi quốc gia
ghi nhận khắp nơi một sự giảm số các trường hợp của các hội chứng cúm
và các nhiễm trùng hô hấp bình thường và nặng. Chỉ có một ngoại lệ là
Pháp, nơi đây các trường hợp hội chứng cúm tiếp tục gia tăng. Đó là một
trong những điểm được ghi nhận từ bảng tổng kết của OMS được công bố hôm
thứ sáu. OMS đã ghi nhận trong tuần qua 828 những trường hợp tử vong mới
do cúm A, trong đó 324 trên toàn bộ lục địa châu Âu. Theo OMS, sự lùi
lại của bệnh cúm đã bắt đầu trong tám nước : Islande, Bỉ, Irelande, Hòa
Lan, Tây Ban Nha, Bồ đào nha, Ý và Đức. Ở Bắc Âu, mặc dầu cường độ của
dịch bệnh vẫn cao, tuy nhiên bệnh cúm có khuynh hướng giảm xuống ở Na
Uy, Thụy Điển và Đan Mạch. Ngược lại ở Đông Âu, virus H1N1 tiếp tục lan
tràn, ngoại trừ Bulgarie, Ukraine và Géorgie. Sự loan báo bệnh cúm thoái
trào ở Tây Âu không phải là một điều bất ngờ. “Rất có thể là chúng ta
đang đến gần cao điểm của làn sóng thứ nhất ở Châu Âu ”, ngay hôm thứ
tư, bộ trưởng y tế Pháp Reselyne Bachelot đã loan báo như vậy nhân cuộc
họp báo. Thật rất khó mà biết được một sự thoái lui thật sự sẽ mào đầu
hay chúng ta sẽ vẫn trên mức bình nguyên ”, bà đã nói thêm như vậy.
Dịch bệnh ở Pháp chẳng bao lâu cũng lùi lại như ở các nước láng giềng
châu Âu, GS Antoine Flahaut, chuyên viên dịch tễ học và giám đốc Trường
cao đẳng y tế cộng đồng, đã không do dự tiên đoán như vậy, “ Tất cả những
công trình nghiên cứu về cúm mùa cho thấy có một sự đồng bộ (synchronisme)
cao trong các dịch bệnh cúm ”, ông đảm bảo như vậy. “ Chẳng còn bao lâu
nữa chúng ta sẽ đạt được cao điểm trong đất nước chúng ta, tuần này hay
tuần đến.”
Sự đồng bộ của các dịch bệnh cúm (synchronisme des épidémies grippales)
là một hiện tượng được biết rõ. Ví dụ mỗi năm, cao điểm của tỷ lệ tử vong
của cúm mùa ở châu Âu xảy ra một tuần sau Hoa Kỳ. Mặc dầu hiện nay, với
H1N1, sự chênh lệch giữa hai phía Đại Tây Dương là dài hơn vì lẽ thời
gian chênh lệch này khoảng 1 tháng, nhưng động lực của dịch bệnh không
bị xê xích đáng kể giữa cac nước có điều kiện y tế như nhau và chừng nào
virus không biến dị.
Trong những ngày đến, chẳng bao lâu nữa, một bước quyết định sẽ được vượt
qua trong sự hiểu biết của chúng ta về cúm A. Thật vậy, những phân tích
đầu tiên séroprévalence chống virus H1N1 sẽ được công bố nầy mai. Trong
lúc phát hiện các kháng thể chống lại H1N1 trong huyết thanh của một số
lớn người, những phân tích này sau cùng sẽ cho phép biết với một mức độ
chính xác tốt hơn số những người đã bị cúm, đồng thời bao gồm những người
đã có thể đã bị nó mà không hay biết, nói một cách khác là những trường
hợp không có triệu chứng. Hiện nay, những công trình nghiên cứu này chỉ
được tiến hành trong hai nước trên thế giới : ở Anh và ở Pháp với các
chương trình SéroGrippeHebdo và CoPanFlu, được lèo lái bởi Antoine Flahaut.
Những công trình nghiên cứu này rất được chờ mong. “ Thật là lạ lùng khi
thấy rằng, ngày nay chúng ta không có cả một ý niệm về quy mô của bệnh
nhiễm trùng. Các nhà dich tễ học không biết là nhiễm trùng cúm đang ảnh
hưởng lên 5%,10% hay 20% dân số ”, tạp chí Nature Xavier de Lamballerie,
của đại học Aix-Marseille II, thực hiện các xét nghiệm huyết thanh cho
nước Pháp, đã tâm sự như vậy.
MỘT ĐỨA TRẺ CHẾT 4 NGÀY SAU KHI ĐƯỢC TIÊM CHỦNG
CHỒNG CÚM A.
Một đứa bé 9 tuổi bị chết, hôm thứ ba ở Haute-Loire, 4 ngày sau khi đã
được tiêm chủng chống lại cúm A (H1N1). Hôm 4 tháng 12, nó đã nhận một
mũi tiêm Panenza, vaccin không có chất bổ trợ, được sản xuất bởi hãng
Sanofi Pasteur. 48 giờ sau đó, đứa trẻ bị sốt và có những rối loạn tiêu
hóa quan trọng. Ngày mồng 8, nó bị khó ở (malaise) nghiêm trọng, cần sự
can thiệp của Samu. Tử vong xảy ra 2 giờ sau đó. Các phân tích virus học
và vi khuẩn học đang được tiến hành. Các yếu tố có được hiện nay không
cho phép xác lập nguồn gốc của trường hợp tử vong này, cũng như không
cho phép tuyên bố về vai trò khả dĩ của sự tiêm chủng, Cơ quan an toàn
các sản phẩm y tế Pháp (Afssaps) đã chỉ rõ như vậy. Cơ quan này đã cho
phép đưa ra thị trường Panenza ngày 15/11 vừa qua. Một giải phẫu tử thi
pháp y đã được thực hiện theo yêu cầu của Viện Kiểm Sát Puy-en-Velay.
(LE FIGARO 14/12/2009).
3/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI
(tiếp theo TSYH số 152)
TIÊM CHỦNG
39/ Các vaccin được chế tạo như thế nào ?
Nguyên tắc chế tạo của một vaccin chống cúm là phối hợp một giống gốc
của một virus cúm không sinh bệnh đối với người và những yếu tố riêng
của giống gốc, mà vaccin được hướng vào chống lại, nhằm gây nên một đáp
ứng đặc hiệu của hệ miễn dịch. Các tái phối hợp, cho phép có được giống
gốc vaccin, được thực hiện một cách cổ điển bằng cách cấy trên các trứng
gà thụ tinh, nhưng cũng trên cấy tế bào.
40/ Vaccin có phải bị trả tiền không ?
Vaccin này sẽ được cấp theo chế độ tiers payant toàn bộ, không phải ứng
trước chi phí, trong các trung tâm được dự kiến cho điều này. “ Các cơ
quan bổ sung sẽ trả ticket modérateur ”, Bộ trưởng y tế Pháp Roselyne
Bachelot đã xác nhận như vậy.
41/ Khi nào phải được tiêm chủng ? Có bị bắt buộc
không ?
Có thể đi tiêm chủng một khi nhận được phiếu tiêm chủng của Caisse d’assurance-maladie,
đồng thời tôn trọng một kỳ hạn 3 tuần nếu đã được tiêm chủng chống cúm
mùa. “ Tất cả công dân Pháp đều nằm trên danh sách, bộ trưởng y tế Roselyne
Bachelot đã xác nhận như vậy, nhưng sự tiêm chủng không là bắt buộc. Một
liều là đủ cho những người từ 18 đến 60 tuổi, nhưng đối với những người
trẻ nhất thì phải hai liều.
42/ Ông chủ tôi có thể buộc tôi phải tiêm chủng
hay không ?
Không. Tiêm chủng vào lúc này không bắt buộc.
43/Nếu tất cả mọi người quanh tôi đều bị bệnh, thế
thì tiêm chủng có còn hữu ích hay không?
Trong trường hợp cúm mùa (grippe saisonnière) mà virus đã lưu hành trong
dân chúng, có hai lý do khả dĩ để thoát khỏi sự nhiễm trùng: hoặc là ta
đã được miễn dịch chống lại virus, và tiêm chủng khi đó là vô ích; hoặc
là ta đã chỉ thoát được sự lây nhiễm (contagion) nhưng sự lây nhiễm này
có thể luôn luôn xảy đến. Lý luận này không còn đứng vững nữa trong trường
hợp cúm A (H1N1), vì lẽ chưa có ai trước đây đã được tiếp xúc với virus.
Vậy các người có nguy cơ phải được tiêm chủng trong tất cả các trường
hợp.
44/ Bắt đầu từ lứa tuổi nào phải tiêm chủng cho
các trẻ em ?
Trước 6 tháng, tiêm chủng chẳng ích lợi gì : hệ miễn dịch chưa được khá
chín mùi để sự tiêm chủng có hiệu quả. Sau 6 tháng và trong những năm
đầu của tuổi ấu thơ, sự tiêm chủng chống cúm mùa được thực hiện bởi nửa
liều, và cần hai mũi tiêm kế tiếp nhau. Về cúm A, tùy theo vaccin được
sử dụng, sẽ phải cần hoặc là nửa liều hoặc là cả liều.
45/ Có phải áp dụng những biện pháp đặc biệt đối
với các trẻ sơ sinh hay không ?
Các trẻ sơ sinh mỏng manh hơn khi đối diện với các nhiễm trùng, bởi về
hệ miễn dịch của chúng đang trên đường phát triển. Nơi các trẻ sơ sinh,
cúm có thể có những dạng khác : thí dụ bệnh có thể được biểu hiện bởi
viêm dạ dày-ruột cấp hay bằng một cơn sốt đơn độc.
Các trẻ sơ sinh cũng dễ bị những biến chứng nghiêm trọng hơn và kéo dài
hơn, như viêm phổi. Do đó lợi ích của các thuốc kháng virus, độc nhất
dựa trên ý kiến thầy thuốc, có thể được cấp cho các nhũ nhi dưới 1 tuổi.
46/ Người ta có chắc chắn về hiệu quả của vaccin
không ? Có các nguy cơ hay không ? Các tác dụng phụ ? Các chống chỉ định
?
Mặc dầu vaccin mới rất có thể là sẽ chứng tỏ hiệu quả chống cúm đại dich
giống như các vaccin chống cúm mùa, nhưng vấn đề các phản ứng phụ tạo
nên nhiều lo âu hơn, nếu ta xét đến bối cảnh khẩn cấp trong đó vaccin
được chế tạo.
Liên Hiệp châu Âu đã cấp giấy phép đưa ra thị trường cho 3 vaccin : Focetria
(Novartis) và Pandemrix (GlaxoSmithKline) và Celvapan (Baxter), được chế
tạo từ các nguyên mẫu được hiệu chính chống virus H5N1. Cơ quan dược phẩm
châu Âu (EMEA) đã xác nhận rằng một sự thay đổi giống gốc như thế không
làm biến đổi tính hiệu quả lẫn mức độ an toàn của một vaccin. Điều này
đã không thuyết phục được tất cả những người trong ngành y. BS Marc Girard
nói đó là một “ đánh giá đi tắt ” (une évaluation cout-circuitée).
Sự hiện diện của các chất bổ trợ trong phần lớn các vaccin đại dịch cũng
đã gây nên tranh cãi, mặc dầu EMEA nhắc lại rằng một trong những chất
bổ trợ này đã được sử dụng trong hơn 40 triệu liều mà không gây ra vấn
đề quan trọng. Về phía mình, Haut Conseil de la santé publique vẫn rất
thận trọng, chỉ rõ rằng “ về các chất bổ trợ loại huyền tương lipid, sự
vắng mặt các dữ kiện về sự dung nạp lâu dài và triển vọng sử dụng một
chất bổ trợ kích thích mạnh tính miễn dịch nơi những người có hệ miễn
dịch đang trong quá trình thành thục (những trẻ em rất nhỏ) không phải
là không nêu ra nhiều nghi vấn.
47/ Người ta có thể chọn loại vaccin : có hay không
có chất bổ trợ ?
Các vaccin không có chất bổ trợ chống virus H1N1 được dành ưu tiên cho
vài nhóm người được xem là dễ bị thương tổn hơn : các trẻ nhỏ, các phụ
nữ có thai, những người bị suy giảm miễn dịch.
Phần lớn các vaccin được đặt hàng bởi Pháp là những vaccin với chất bổ
trợ. Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế của Pháp (Afssaps) đã chỉ rõ rằng,
vào cuối tháng 11, cơ quan sẽ chấp thuận vaccin không có chất bổ trợ,
Panenza, của hãng Sanofi Pasteur.
48/ Thế cũng sẽ phải tiêm chủng chống cúm mùa không
?
Vaccin chống cúm mùa không có hoạt tính chống virus mới A(H1N1) và các
vaccin chống cúm đại dịch không tạo miễn dịch chống lại cúm mùa. Vậy tiêm
chủng chống cúm mùa vẫn được khuyến nghị, đặc biệt là đối với những người
trên 65 tuổi và những người bị vài bệnh mãn tính. Cúm mùa giết chết từ
4000 đến 6000 người mỗi năm ở Pháp.
49/ Có nguy cơ khi được tiêm chủng bởi hai loại
vaccin (chống cúm mùa và cúm đại dịch) ?
Không có nguy cơ đặc biệt khi nhận hai vaccin, chống cúm mùa và chống
cúm đại dịch. Tốt nhất, hai vaccin phải được tiêm cách nhau 3 tuần.
50/ Ở Pháp người ta đã từng thực hiện một chiến
dịch tiêm chủng quy mô như thế ?
Đã không có chiến dịch tiêm chủng với tẩm cỡ tương đương. Chiến dịch tiêm
chuẩn duy nhất trước đây có thể so sánh là tiêm chủng các học sinh lớp
6 chống lại viêm gan B, được khởi động vào năm 1994. Với chiến dịch này,
gần 500.000 trẻ em vào năm 1994-1995 và khoảng 700.000 trẻ em năm sau
đó, đã được tiêm chủng. Chương trình tiêm chủng này đã bị đình chỉ vào
năm 1998 vì các cuộc tranh cãi về những tác dụng phụ khả dĩ của vaccin.
51/ Thế còn trên thế giới ?
Chiến dịch tiêm chủng nổi tiếng nhất trước đây đã xảy ra vào năm 1976,
ở Hoa Kỳ, sau dịch bệnh cúm heo H1N1, xảy ra ở căn cứ quân sự Fort Dix
(New Jersey). Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford đã ra lệnh tiêm chủng toàn
thể dân chúng, và 48 triệu người Mỹ (hoặc 1/3 dân số) đã nhận một vaccin
được sản xuất dành cho dịch bệnh này. Vì sự lây nhiễm vẫn chỉ được giới
hạn ở căn cứ quân sự của New Jersey, và vì giống gốc virus cuối cùng tỏ
ra ít độc lực hơn cúm mùa, nên chiến dịch tiêm chủng sau đó bị đình chỉ.
Nơi khoảng 500 người, vaccin gây nên một biến chứng thần kinh, hội chứng
Guillain-Barré.
52/Trong trường hợp có các tác dụng phụ sau khi
tiêm chủng, ai sẽ chịu trách nhiệm ?
Nếu các tác dụng phụ là do một khiếm khuyết của sản phẩm (vaccin bị ô
nhiễm bởi một sự không trong sạch lúc sản xuất..), nhà công nghiệp sẽ
bị quy trách nhiệm. Khi sự tiêm chuẩn đã được thực hiện bởi một thầy thuốc,
theo pháp chế của sự trưng dụng, thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi
thường những thiệt hại được gây nên.
Luật dự kiến khả năng bộ trưởng y tế áp dụng những biên pháp khẩn cấp
đứng trước một “ đe dọa trầm trọng ”. Nếu là như vậy, sự bồi thường thiệt
hại thuộc về Office national d’indemnisation des accidents médicaux. (LE
MONDE 5/11/2009)
4/ KHÔNG CÓ NHIỀU U NÃO HƠN
MẶC DẦU SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI CẦM TAY.
Ở Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy điển, sự sử đúng điện thoại cầm tay
(gsm) đã kinh qua một đỉnh cao bùng nổ từ giữa những năm 90. Nếu điện
thoại với một máy điện thoại cầm tay gây nên một sự gia tăng tỷ lệ mắc
phải u thần kinh đệm (gliome) và u màng não (méningiome), thì một cách
hợp lý, ta sẽ phải thấy một sự gia tăng của các khối u này, Isabelle Deltour
của Viện dịch tễ học về ung thư ở Copenhague đã giải thích như vậy. Bà
ta và các cộng sự viên đã phân tích các sổ ghi ung thư của Đan Mạch, Phần
Lan, Na Uy và Thụy Điển trong một thời kỳ kéo dài từ 1974 đến 2003 và
họ đã đi đến kết luận như sau : từ năm 1974, người ta quan sát thấy một
sự gia tăng nhẹ hàng năm của tỷ lệ của các u não nơi những người trưởng
thành ở Scandinavie, nhưng sự gia tăng này không theo nhịp với việc sử
dụng lũy tiến của các máy điện thoại cầm tay.
Tuy nhiên vẫn phải thận trọng khi xác nhận rằng không có một sự liên hệ
nhân quả nào giữa các điện thoại cầm tay và các khối u não, các nhà nghiên
cứu đã đánh giá như vậy. Các lời giải thích cho các phân tích nêu trên
có thể được đưa ra : đúng là có một mối liên hệ nhân quả nhưng quá nhỏ
nên không xuất hiện trong công trình nghiên cứu này nếu sự gia tăng chỉ
xảy ra nơi một nhóm người đặc biệt. Đó là những người đặc biệt nhạy cảm
hay có một cách sử dụng điện thoại đặc biệt. Những thời kỳ tiềm phục (5-10
năm) cũng có thể quá ngắn để thấy xuất hiện các khối u và như thế hậu
quả này sẽ rõ ràng hơn sau này.
Suốt trong thời kỳ này (1974-2003), người ta đã chẩn đoán một u não cho
mỗi 60.000 người đàn ông và đàn bà của các nước vùng Scandinavie, trên
một dân số toàn thể là 16 triệu người trưởng thành. Tỷ lệ mắc bệnh u thần
kinh đệm (gliome) gia tăng trung bình 0,5 mỗi năm nơi các người đàn ông
và 0,2% nơi các phụ nữ. Đối với các u màng não (méningiome), có một sự
gia tăng 0,8% mỗi năm nơi các đàn ông và, sau đầu những năm 90, một sự
gia tăng 3,8% nơi các phụ nữ. Khuynh hướng gia tăng ổn định đã không bị
gia tốc đột ngột giữa năm 1998 và 2003, một thời kỳ 5-10 năm, sau khi
điện thoại cầm tay được đưa vào ồ ạt.
Như vậy, giữa năm 1974 và 2003, những tỷ lệ mắc bệnh của những loại u
não này trong 4 nước Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển đã vẫn là
ổn định, đã giảm hay đã tiếp tục gia tăng dần, nhưng đã bắt đầu trước
khi điện thoại cầm tay xuất hiện. (LE JOURNAL DU MEDECIN
18/12/2009)
5/ SCANNER TIM, PHUƠNG PHÁP THAY
THẾ ĐỂ NHÌN THẤY CÁC ĐỘNG MẠCH VÀNH.
Các máy chụp hình ảnh này cho phép khảo sát các động mạch và tránh trong
một vài trường hợp chụp động mạch vành (coronarographie).
CARDIOLOGIE. Đó là câu chuyện của một người đàn ông 50 tuổi đến ngân hàng
để xin mượn một số tiền quan trọng. Mặc dầu anh ta cảm thấy rất mạnh khỏe,
nhưng nhà ngân hàng này đòi hỏi anh ta một bilan tim, vì lẽ anh có những
tiền sử nhồi máu cơ tim trong gia đình. Điện tâm đồ, được thực hiện trong
thử nghiệm gắng sức (épreuve d’effort), phát hiện những bất thường rất
nhỏ. Trong những trường hợp như thế có phải đi đến chỗ thực hiện một chụp
mạch vành (angiographie coronaire, còn được gọi là coronarographie) hay
không, nghĩa là có phải chịu một thăm khám xâm nhập để xem xét các thành
trong của các động mạch tưới máu tim, thăm dò này không phải là không
có những biến chứng. Thầy thuốc chuyên khoa tim khi đó đề nghị với bệnh
nhân một scanner động mạch vành, một thăm dò tim tương đối mới, cho phép,
nhờ các hình ảnh thu được bởi scanner và được tái tạo theo 3 chiều không
gian, thấy được toàn bộ các động mạch vành và mức độ thông máu của chúng.
Trong trường hợp bệnh nhân này, xét nghiệm này đã phát hiện một chứng
hẹp quan trọng của thân chung của động mạch vành trái (động mạch chính
của tim), cần phải thực hiện phẫu thuật bắt cầu (pontage) nhanh chóng.
“ Scanner tim đặc biệt hữu ích đối với những bệnh nhân có những yếu tố
nguy cơ thấp hay trung bình, đối với họ một chụp động mạch vành (coronarographie)
không nhất thiết là cần thiết, đã nói như vậy BS Jean-Louis Sabayrolles,
đồng thời là thầy thuốc chuyên khoa tim và quang tuyến, người tiền phong
trong nghiên cứu về các scanner tim (Centre cardiologique du Nord, Paris)
và hiện đang làm việc với máy mới nhất được hiệu chính General Electric
Healthe Care, cho phép làm giảm và đồng thời cải thiện chất lượng cùa
hình ảnh và sự chính xác của chẩn đoán.
TRONG TRƯỜNG HỢP NGUY CƠ THẤP.
Ngày nay, tất cả các leader về chụp hình ảnh, đều có những máy chụp hình
ảnh có khả năng khảo sát những động mạch vành quý báu mà không cần thiết
bị xâm nhập. Các máy này, mà những nguyên mẫu đầu tiên có từ cách nay
khoảng 10 năm, bắt đầu đạt trình độ thành thục, với khoảng 50 thiết bị
trên lãnh thổ Pháp. Nhưng liệu chúng có cho phép chẩn đoán chính xác như
chụp động mạch vành (coronarographie) hay không ? “ Có máy thôi không
phải là đủ, BS Sablayrolles đã đảm bảo như vậy. Cần phải được đào tạo
để sử dụng những kỹ thuật phức tạp này. Ngoài ra, hiệp hội tim và quang
tuyến Pháp vừa thành lập một văn bằng liên đại học, dành cho các thầy
thuốc chuyên khoa quang tuyến và chuyên khoa tim, để cho phép họ không
những làm việc cùng nhau, mà còn thụ đắc những năng lực cần thiết cho
sự sử dụng máy và lý giải các các hình ảnh.”
Tháng 8 vừa qua, nhóm của Centre cardiologique du Nord (Paris) đã công
bố một công trình nghiên cứu trong tạp chí Radiology, so sánh hiệu quả
của scanner tim với hiệu quả của chụp động mạch vành (angiogrphie coronaire).
Công trình này, được tiến hành nơi 124 bệnh nhân tình nguyện có các triệu
chứng tim, nhằm thực hiện trong kỳ đầu một scanner tim và so sánh những
kết quả của nó với những kết quả của chụp động mạch vành (coronarographie)
được làm trong kỳ hai. Những kết quả hoàn toàn đáng phấn khởi, mặc dầu
thăm khám bằng scanner tim không thể thay thế hoàn toàn thăm khám bằng
chụp động mạch vành. “ Giá trị tiên đoán (valeur prédictive) âm tính là
100%. Điều này có nghĩa la khi kết quả thăm khám bằng scanner tim là bình
thường, ta chắc chắn rằng không có bệnh lý động mạch vành, BS Sablayrolles
đã giải thích như vậy. Ngược lại, đứng trước những hẹp động mạch vành
mức độ trung bình (hẹp 40 đến 60% lòng của động mạch), scanner thiếu sự
chính xác để định lượng mức độ của hẹp. Vào lúc đó, điều quan trọng là
các kết quả của scanner tim phải được đối chiếu với các triệu chứng và
những thăm dò tim học khác. Ngược lại, khi mức độ hẹp trên 60%, thi nhất
thiết phải thực hiện một chụp động mạch vành với mục đích xác nhận chẩn
đoán bệnh và đồng thời điều trị bằng làm giãn động mạch bị hẹp và đặt
các stent .”
Thăm khám bằng scanner tim cần tiêm một chất cản quang bằng đường tổng
quát. Thăm khám chỉ cần vài phút, thời gian thu được những hình ảnh nói
riêng là rất ngắn. Theo các chuyên gia, thiết bị này (scanner tim) sẽ
không thay thế tất cả các chụp động mạch vành, vì chính thăm dò này còn
cho phép thực hiện một động tác điều trị. Nhưng trong vài trường hợp,
scanner tim có thể tránh việc nhờ đến chụp động mạch vành nhất là trong
những trường hợp không chắc chắn hay có nguy cơ thấp. Sau cùng, mặc dầu
máy scanner tim trị giá khoảng 900.000 euro, nhưng đối với bệnh nhân phí
tổn thăm khám là 150 euro, hoặc gần 10 lần thấp hơn so với chụp động mạch
vành. (LE FIGARO 9/12/2009)
6/ CÁC BỆNH NHÂN ĐỘNG MẠCH
VÀNH : THÀNH CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA CÁC TẾ BÀO GỐC.
Việc sử dụng các tế bào gốc mang lại nhiều hy vọng. Trong hội nghị vừa
qua của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ, nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của GS Douglas Losordo
(Cardiovascular Research Institute de Chicago) đã trình bày một công trình
nghiên cứu vô cùng đáng phấn khởi : 167 bệnh nhân mạch vành, bị cơn đau
thắt ngực nghiêm trọng, đã nhận các tế bào gốc được gọi là “ CD 34 ”,
phát xuất từ tủy xương của chính họ và được biết là có khả năng kích thích
sự tăng trưởng của những mạch máu nhỏ của cơ tim. Sau khi đã trích lấy
từ tủy xương và thanh lọc, các tế bào gốc này được tiêm trở lại vào trong
cơ tim của họ, trong 10 vị trí, đuợc xác định bằng một kỹ thuật cartographie
của tim, cho phép định được những vùng cơ tim bị bệnh, có thể làm hồi
phục được (còn sống) mặc dầu không được cấp đủ huyết quản. 12 tháng sau,
và sau khi đã so sánh với những bệnh nhân đã nhận một placebo, những bệnh
nhận được điều trị có một sự giảm đáng kể nhưng cơn đau thắt ngực, về
thời gian cưng như tần số và một sự gia tăng gấp đôi hiệu năng của họ
đối với gắng sức. Một sự thu giảm tỷ lệ tử vong cũng đã được ghi nhận.
(PARIS-MATCH 3/12-9/12/2009)
7/ CÁC RỐI LOẠN NHỊP TIM
: LẦN ĐẦU TÊN SỬ DỤNG ROBOTIQUE.
Các BS Patrice Bergeron và André Pisapia thuộc bệnh viện Saint-Joseph
(Marseille) giải thích những lợi ích của “ công cụ ” mới này.
Hỏi : Trong số các rối loạn nhịp tim, tỷ
lệ mắc bệnh rung nhĩ (fibrillation auriculaire) là gì ?
BS André Pisapia : Rối loạn nhịp này là thường xảy ra nhất ở Pháp : 1%
dân số bị bệnh trước 50 tuổi, rồi 4% sau 75 tuổi . Các triệu chứng được
biểu hiện bởi hồi hộp, khó thở và tim đập không đều và nhanh.
Hỏi : Các nguy cơ của rung nhĩ là gì ?
BS Patrice Bergeron : Có hai nguy cơ chính : nghẽn động mạch (embolie
artérielle) (thường nhất là ở não bộ) và suy tim, có thể gây nên phù phổi.
Hỏi : Những điều trị hiện hành là gì ?
BS André Pisapia : Để ngăn ngừa mọi nghẽn mạch (embolie), người ta bắt
đầu với điều trị thuốc bằng các thuốc chống loạn nhịp và kháng đông (anticoagulant).
Những điều trị này chỉ có hiệu quả trong 50% các trường hợp. Đối với những
người đề kháng với điều trị, lúc đó ta nhờ đến kỹ thuật cắt bỏ bằng tần
số phóng xạ (technique d’ablation par radiofréquence) (dòng điện xoay
chiều). Mục đích của can thiệp này là phá hủy các vùng của tâm nhĩ trái,
là nơi có những ổ (foyer) chịu trách nhiệm rối loạn nhịp tim.
Hỏi : Can thiệp diễn biến như thế nào ?
BS André Pisapia : Dưới gây mê tại chỗ hay tổng quát, người thầy thuốc
bắt đầu đưa vào một cathéter qua nếp bẹn, vào trong tĩnh mạch đùi. Rồi
thì, dưới sự kiểm soát quang tuyến, ông ta đưa cathéter lên tận tâm nhĩ
trái. Sau đó, trên màn ảnh, ông tái tạo cơ thể học 3 chiều của tâm thất
này và định vị trí các ổ chịu trác nhiệm của bệnh rung nhĩ. Đó là một
giây phút tế nhị bởi vì vài vùng khó đến được do những chỗ cong của đường
đi và do tính cứng của cathétér. Chính ở đó có nguy cơ bị thủng (người
ta thống kê 1 đến 2% trường hợp xuất huyết quanh tim, nhưng may thay là
có thể hồi phục được, và 1 trường hợp nghẽn mạch trên 1000). Sau khi đã
định vị trí, người thao tác, nhờ một cathéter, phát ra một dòng tần số
phóng xạ, nhờ nhiệt, phá hủy những vùng chịu trách nhiệm chứng rối loạn
này.
Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
BS André Pisapia : Trong 70% các trường hợp, đó là một sự thành công.
30% trường hợp còn lại, ta phải lên chương trình một can thiệp mới.
Hỏi : Phương pháp mới với sự sử dụng robot
(robotisation) là gì ?
BS André Pisapia : Mục đích là thực hiện một sự định vị trí chính xác
hơn nhiều của các vùng chịu trách nhiệm gây ra bệnh rung nhĩ, nhằm gia
tăng tính hiệu quả của động tác, làm giảm các tái phát, nhưng cũng để
tránh những nguy cơ xảy ra các biến chứng xuất huyết và nghẽn mạch. Mục
đích này đã có thể đạt được với sự hiệu chính một robot thay thế bàn tay
của người phẫu thuật. Robot được cấu tạo bởi một cánh tay có khớp (bras
articulé), được kéo dài bởi một bao mang (gaine porteuse) mềm bằng silicone.
Bao mang này, nhờ bao quanh cathéter, nên làm cho nó dễ uốn hơn và do
đó dễ thao tác hơn. Động tác thứ nhất của can thiệp vẫn như thế, cathéter
được nối với cánh tay có khớp của robot được đặt trên bàn mổ. Ngồi vào
bàn chân quỳ (console), nơi đây một màn ảnh tạo lại lộ trình theo 3 chiều,
người thầy thuốc điều khiển cánh tay có khớp, và cánh tay này sẽ dẫn hệ
thống bao chứa cathéter lên đến tận tâm nhĩ trái. Sau đó người phẫu thuật
xê dịch và hướng cathéter một cách rất chính xác! Sự nhanh nhẹn mới này
làm giảm rất nhiều các nguy cơ, sự nhìn thấy phẫu trường được phóng đại
mang lại sự chính xác nhiều hơn.
Hỏi : Thời gian nhìn lại với kỹ thuật robot
hóa này ?
BS André Pisapia : Một công trình nghiên cứu, được chỉ đạo bởi G.S Natale
thuộc đại học Austin (Texas) trên 200 bệnh nhân, đã ghi nhận những kết
quả rất tốt không có biến chứng. Ở bệnh viện Saint-Joseph (Marseille),
trên 25 bệnh nhân được điều trị đến nay, chúng tôi đã quan sát những kết
quả y hệt.
Hỏi : Tương lai của robotique đối với những
rối loạn nhịp tim ?
BS Patrice Bergeron : Vì lẽ các ưu điểm của nó, như mức độ chính xác cao
của động tác, sự giảm các nguy cơ, sự giảm thời gian can thiệp, ít bị
tiếp xúc với các tia X, nên kỹ thuật này, hiệu năng hơn nhiều so với bàn
tay của con người, sẽ càng ngày càng được sử dụng. (PARIS
MATCH 10/12-16/12/2009)
8/ VITAMINE D : BẢO VỆ TIM MẠCH.
Nhiều công trình nghiên cứu đã báo cáo sự hiện hữu của một mối liên hệ
giữa việc thiếu hụt vitamine D và sự xuất hiện của một bệnh tim mạch.
Mối liên hệ này được xác nhận bởi một thử nghiệm lâm sàng, đã theo dõi
27.686 bệnh nhân (50 tuổi hoặc hơn), ở Utah, xứ sở của những người theo
giáo phái Mormon. Những người này uống ít rượu và ít hút thuốc lá hơn
nhiều so với những người Mỹ còn lại, điều này làm công trình nghiên cứu
có ý nghĩa hơn (ít bị interférence). Những người không có tiền sử tim
mạch đã được chia thành 3 nhóm tùy theo nồng độ của vitamine D trong máu
: bình thường, thấp, rất thấp. Thử nghiệm này đã được tiến hành bởi Viện
tim của Intermountain Medical Center ở Murray, và những kết quả, ngoạn
mục, được trình bày ở hội nghị vừa qua của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ. Sau một
năm theo dõi, những người có nồng độ vitamine D rất thấp có một nguy cơ
tim mach chết người được gia tăng 77%, nguy cơ tai biến mạch máu não gia
tăng 78%, nguy cơ xuất hiện một bệnh động mạch vành gia tăng 45% và nguy
cơ bị suy tim gia tăng 50% ! Các tác giả khuyến nghị nên đo nồng độ vitamine
D của mình vào mùa đông và, nếu cần uống bổ sung viatmine D. (PARIS
MATCH 10/12-16/12/2009)
9/ CÁC KHOA HỌC THẦN KINH
(NEUROSCIENCES) GIÚP CÔNG LÝ ?
Việc sử dụng các hình ảnh não bộ trong các tố tụng gây tranh cãi.
PHÁP Y HỌC. Các kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ (imagerie cérébrale) hiện
đại và, nói một cách tổng quát hơn, các khoa học thần kinh (neurosciences)
liệu có một vị trí trong những tố tụng tư pháp hay không ? Nhiều nước
đã trả lời dương tính cho câu hỏi này khi nhờ đến những phương pháp chụp
hình ảnh não bộ để kiểm tra tính trung thực của các lời nói của một bị
cáo hay để đánh giá mức độ trách nhiệm của anh ta. Ở Pháp, là nơi neurosciences
đã chưa vượt qua khỏi các cánh cửa của các tòa án, chủ đề này vẫn còn
nhạy cảm, không những vì những lý do mức độ đáng tin cậy về mặt khoa học
của kỹ thuật mà còn vì những vấn đề đạo đức. Hôm qua, các nhà nghiên cứu,
các quan tòa, các thầy thuốc và các chuyên gia khác đã điểm tình hình,
nhân một séminaire được tổ chức bởi Centre d’analyse stratégique, trực
thuộc phủ thủ tướng.
Cuộc bàn cãi không phải chỉ mới có từ hôm qua. Các polygraphe đầu tiên,
hay những máy phát hiện nói dối, đã được phát triển ở Hoa Kỳ vào đầu những
năm 1920. Nhanh chóng, mức độ đáng tin cậy cua máy đã bị tranh cãi, các
nhà khoa học nhấn mạnh rằng các đo lường hóa học, sinh lý hay điện, được
thực hiện bởi các máy này, có thể thể hiện những cảm xúc liên kết với
những hành vi không phải phát xuất từ sự nói dối (bắt đầu là sự căng thẳng
lúc được thăm khám). Tòa Án tối cao Hoa Kỳ cuối cùng đã cấm sử dụng các
polygraphe (máy phát hiện nói dối) vào năm 1988, nhưng các nước như Canada
vẫn luôn luôn sử dụng chúng. Nhất là, với sự xuất hiện của những máy phát
hiện nói dối thế hệ mới, nhờ đến những kỹ thuật hiện đại chụp hình ảnh
như IRM chức năng.
Nguyên tắc là phát hiện những biến đổi của hoạt động não bộ xảy ra do
sự cố gắng nhận thức (effort cognitif) mà sự nói dối đòi hỏi. Đó không
phải chỉ là nghiên cứu cơ bản. Vào năm 2008, ở Ấn Độ, phương thức này
đã được dùng lần đầu tiên để lên án một phụ nữ trẻ bị buộc tội là đầu
độc vị hôn phu của mình. Vì đã không phản ứng với câu “tôi đã mua arsenic”
hơn là “ bầu trời màu xanh ”, nên người ta đã xem như, một cách lạm dụng,
rằng bị cáo (chối bỏ các sự kiện) xem việc mua độc chất như là một sự
việc được xác lập cũng như màu xanh của bầu trời . Đối với vài nhà khoa
học Pháp, chính cái nguyên tắc của sự thăm khám mới tạo ra vấn đề. “ Máy
phát hiện có thể báo cho biết rằng người đó nói sự thật, mặc dầu đó không
phải là sự thật, nhà sinh học thần kinh Hervé Schneiweiss (CNRS) đã nêu
lên như vậy. Dầu phương pháp là gì đi nữa, nó cũng không thay đổi cái
niềm tin vững chắc của một người vào cái điều mà anh ta cho là đã trông
thấy. Không có sự thật thần kinh (vérité neurale).
RẤT THẬN TRỌNG
Vấn đề tranh luận khác : các neurosciences phải chăng có thể chỉ dẫn về
trách nhiệm của một kẻ phạm tội ? “ Ở Hoa Kỳ, các tòa án đã cho phép các
thăm dò bằng IRM hay PET scan để chứng tỏ những thương tổn khả dĩ làm
rối loạn hành vi ”, Christian Byk, thẩm phán tòa phá án Paris đã chỉ rõ
như vậy. “ Các thương tổn ở vùng hốc mắt-trán (orbitofrontal), ở phía
trước não bộ, có thể được thể hiện bởi những hành vi vô xã hội (comportement
asocial) của những người nhiên hậu sẽ phải ra trước các tòa án ”, nhà
sinh học thần kinh (neurobiologiste) Angela Sirigu (CNRS) đã xác nhận
như vậy. Nhóm nghiên cứu của ông đã chứng minh rằng vùng này đóng một
vai trò cơ bản trong các sự hối tiếc, tình cảm này có thể biến mất trong
trường hợp bị các thương tổn.
“Vài bất thường này của não bộ làm gia tăng nguy cơ có hành vi chống xã
hội (comportement antisocial), điều này không có nghĩa là chúng đều dẫn
đến các tòa án, BS Sébastien Tassy (đại học Aix-Marseille 2) đã phát biểu
như vậy. Nhất là, phần lớn các hành vi chống xã hội là sự việc của những
người có não bộ bình thường. ”
Một cách tổng quát hơn, nhà sinh thần kinh học nữ Catherine Vidal (Viện
Pasteur) khuyến nghị hết sức thận trọng trong việc lý giải các IRM não
bộ. “ Những thương tổn cơ thể học không nhất thiết có một ảnh hưởng lên
chức năng, bà ta nêu lên như vậy đồng thời nhấn mạnh đến những tính chất
dẻo (plasticité) của não bộ. Ngoài ra, thường không thể biết được các
bất thường là nguyên nhân hay hậu quả của một hành vi sai lệch (comportement
déviant). ” (LE FIGARO 13/12/2009)
10/ UNG THƯ BÀNG QUANG : COI CHỪNG
THUỐC LÁ.
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được tiến hành ở New Hampshire trong
20 năm, nơi hơn 2000 bệnh nhân, chỉ rõ rằng ung thư bàng quang tiến triển
hằng định, chủ yếu là do thuốc lá. Thuốc lá nhân nguy cơ mắc phải ung
thư bàng quang lên 5 lần nơi người hút thuốc, so với những người không
hút thuốc. Nguy cơ vẫn tồn tại dài lâu sau khi đã ngừng hút thuốc. Nguy
cơ giảm rõ rệt trong 5 năm đầu sau khi ngừng hút thuốc nhưng vẫn trên
mức chuẩn cho đến 20 năm sau khi ngừng hút. (PARIS
MATCH 10/12-16/12/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (21/12/2009)
>>>back>>>
|
 |