 |
Thời
Sự Y Học số 152
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ BANTING THẮNG CUỘC CHIẾN
CỦA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.
Đối với một người con trai của nông gia vào cái thế kỷ thứ 20 mới nảy
sinh này, tốt nghiệp y khoa ở Ontario và lập nghiệp trong cái thành phố
bé nhỏ Londres trong vùng sâu của đất nước Canada thật chẳng phải là chuyện
dễ dàng bao nhiêu. Cái thị trấn nhỏ bé Londres không giống chút nào với
cái đô thị to lớn đã phát triển bên bờ sông Tamise. Theo lời của các giáo
sư thuật lại, thì chàng trai trẻ Frederic là một thầy thuốc ngoại khoa
chỉnh hình xuất sắc, nhưng bước đầu của anh rất là gian khổ. Lương tháng
chỉ có 4 dollars.
Và ngay cả bài giảng mà anh tiếp tục lên lớp ở đại học vẫn không cho phép
anh chu cấp những nhu cầu cần thiết cho chính mình. Sau đó, khi Banting
hay biết rằng có một nhiệm sở trợ lý cho những sinh viên năm thứ hai còn
trống, anh thầy thuốc trẻ tuổi vội chụp lấy cái của trời ơi và lương bổng
bổ sung nhờ chức vụ mới này. Tuy vậy, Banting đã không bao giờ hành nghề
môn sinh lý học mà người ta yêu cầu anh phải truyền đạt lại cho cái sinh
viên và anh cũng chẳng đặc biệt bị lôi cuốn bởi môn học này. Banting thổ
lộ như thế với vị giáo sư phụ trách và ông giáo sư, trước tấm lòng thành
thực của Banting, vẫn cứ ban cho anh nhiệm sở trợ lý này. Phải thú nhận
rằng ít có ứng viên muốn chen lấn để xin cho được cái chức vụ này.
TỤY TẠNG TRONG TẤT CẢ CÁC TRẠNG THÁI.
Như vậy là Banting, hầu như hoàn toàn không biết gì về môn sinh lý học,
mà anh được giao phó để truyền đạt cho các sinh viên, trở về nhà mỗi buổi
chiều và trong khi thăm khám bệnh tại phòng mạch riêng (không phải luôn
luôn có nhiều bệnh nhân), anh học để biết về sinh lý học qua nhiều chuyên
luận và các tác phẩm mà anh mượn ở thư viện đại học. Từ những sách báo
này, nảy sinh nơi anh một sự say mê về chức năng vận động bí ẩn của cơ
thể của con người, đến độ anh gần như đi đến chỗ nguyền rủa môn ngoại
khoa vốn đã chiếm đoạt tâm trí anh cho mãi đến giờ phút đó.
Chúng ta đang ở vào một buổi chiều tháng 10 năm 1920, ánh chiều tà của
hoàng hôn trộn lẫn trong những chiếc lá óng vàng rải tác khắp vùng quê.
Đã nhiều giờ, nhiều ngày, Banting chuẩn bị không mệt mỏi cho những buổi
hội nghị. Đề tài của những buổi thuyết trình này là gì ? Vai trò của tụy
tạng trong chuyển hóa của các hydrate de carbone. Anh biết rằng tinh bột
(amidon) và đường được biến hóa trong cơ thể thành hydrate de carbone
và chất này sinh ra năng lượng cần thiết cho sự hoạt động của cơ thể.
Chắc chắn rằng tụy tạng là một cơ quan đáng được chú ý hơn mặc dầu dạ
dày hơi che khuất nó. Nhà nghiên cứu trẻ tuổi nhanh chóng hay biết được
rằng tụy tạng có những ngoại tế bào và nội tế bào (cellules externes et
internes). Những ngoại tế bào sản xuất các diastase, mà các ống tụy sẽ
dẫn vào trong ống tiêu hóa. Khi các men diastase này gặp các hydrate de
carbone trong ruột, các dịch tiêu hóa biến đổi chúng thành glucose và
chất đường này đi qua máu để đến gan. Sau đó ở tại đây, glucose trở thành
một dự trữ glycogène cho cơ thể và sẽ được đưa vào các cơ, ở đó glycogène
lại trở thành glucose lần nữa, và chất đường này sẽ được đốt cháy bởi
oxy của các lá phổi và như thế sẽ cung cấp năng lượng. Còn về những nội
tế bào (cellules internes) của tụy tạng, chúng tiết ra một hormone và
kích thích tố này sẽ tạo glycogène, đồng thời sản xuất tia lửa đốt cháy
nó nhờ oxy khi nó trở thành glucose. Không có sự tiết hormone này, nếu
tụy tạng không còn đóng vai trò chức năng của mình nữa, đường sẽ tích
tụ cùng lúc trong cơ và trong máu. Và không có năng lượng, bệnh nhân sẽ
chết vì bệnh đái đường.
Banting vốn đặc biệt nhạy cảm với căn bệnh này, vì nó đã sớm cướp mất
người bạn của anh trong thời thơ ấu. Vào năm 1920, bệnh đái đường còn
là một trong những bệnh gây chết người và người ta đã chưa tìm ra một
giải pháp điều trị thỏa mãn, ngoại trừ một chế độ kiêng khem nghiệt ngã
và rồi chế độ ăn uống này cũng dẫn đến một cái chết chắc chắn.
Vậy phải làm gì để chữa tạm các bất túc của tụy tạng ? Dĩ nhiên người
ta nghĩ đến việc trích lấy dịch tụy tạng trên các động vật để tiêm vào
bệnh nhân. Tuy nhiên phương pháp này có nhiều nguy cơ : thật vậy, có 3
dịch tiêu hóa, trong đó một vài, chỉ cần tiếp xúc, có khả năng phá hủy
sự tiết của các tế bào nội tại. Con người chẳng cần đến bao nhiêu các
dịch tiêu hóa này, cũng như vài trích chất tụy tạng sẵn sàng gây nên những
cơn furonculose dữ dội. Với bản chất khiêm tốn thường lệ, Banting kết
luận rằng nếu các nhà bác học nổi tiếng hơn anh đã không tìm ra giải pháp,
thì không phải chính cái anh chàng trợ lý bé nhỏ mà anh thể hiện ở đại
học, lại sẽ thành công tìm ra giải pháp đó. Do đó anh chỉ bằng lòng với
việc lên lớp của mình, đồng thời lập lại những nghiên cứu của những người
đi trước anh. Anh dự tính chỉ dừng lại ở mức đó cho đến cái ngày người
quản lý thư viện cho anh mượn một tạp chí khoa học với một bài báo dành
cho các vai trò của các đảo Langerhans trong bệnh đái đường và đặc biệt
hơn trong bệnh sỏi tụy tạng. Langerhans đã khám phá ra tằng các chất tiết
của các tuyến nội tại (glande interne) đi qua máu. Thật là nghịch lý,
bài báo, được ký tên bởi một thầy thuốc ngoại khoa bụng, chứng minh rằng
các hòn sỏi, nằm trong các ống mang các tế bào ngoại tại vào ruột, đồng
thời gây sự phá hủy, các dịch tụy tạng khi đó tấn công vào các tế bào
đã tiết ra chúng. Bài viết này khiến Banting hơi phân vân. Ngày hôm sau,
anh đọc lại những chỗ mà anh đã ghi chú : “ Thắt các ống tụy tạng của
một con chó. Chờ đợi 6 đến 8 tuần. Lấy đi tụy tạng và trích các dịch tụy
tạng ”. Các ống tụy bị thắt tan rã đi và nếu các tế bào ngoại tại teo
lại, chúng không còn sản xuất nữa dịch tiêu hóa. Vậy ta chỉ còn bảo tồn
sự tiết của các tuyến nội tại mà thôi.
TIẾN VỀ INSULINE.
Banting thổ lộ những nghiên cứu của mình với ông trưởng phòng. Ông này
chấn động bởi điều đó và khuyên anh chàng trợ lý trẻ tuổi đến đại học
Toronto để tiếp xúc với Giáo sư John Richard Macleod, chuyên gia đặc biệt
về chuyển hóa của các hydrate de carbone. Banting được tiếp đón một cách
hết sức lạnh nhạt bởi nhà bác học lỗi lạc này. Đứng trước thái độ hợm
hỉnh như thế, Banting chỉ yêu cầu người ta dành cho anh, trong hai tháng,
một góc của phòng thí nghiệm, các động vật và một trợ lý. Giáo sư Macleod
lần chần tránh né trong nhiều tuần, nhưng sau cùng chịu nhường phòng thí
nghiệm của mình trong lúc ông phải đi công tác ở Tô Cách Lan. Chính lúc
đó mà Banting đã gặp một cộng sự viên, mà sau này nhanh chóng trở nên
người tiếp tay của tất cả những khám phá của anh: Charles Best. Banting
đã dứt khoát từ bỏ phòng mạch của mình và trường đại học Ontario. Tức
thời, anh bắt đầu những thí nghiệm bằng cách thắt dưới gây mê các ống
tụy tạng của nhiều con chó. Chỉ còn cần chờ đợi nhiều tuần để có các kết
quả. Vào lúc làm bảng tổng kết, Banting và Best đã chứng thực rằng, mặc
dầu các dây buộc vẫn được thắt chắc chắn và rằng chúng đã cho phép tạo
nên một bọc, nhưng các dịch vẫn tiếp tục chảy ra qua một ống mới được
tạo thành ngay chính trong các ống bị tắt ! Người ta chứng kiến điều giống
như là một hoại thư. Phải mổ lại để thắt lại các dây chằng đúng vào cái
nơi mà các nhà nghiên cứu tin chắc là chúng không để cái gì hết lọt qua.
Đó là một sự thành công. Các dây chằng được xử lý đã tác động và các tế
bào ngoại tại không còn sản xuất một dịch tiết nào nữa, như tụy tạng được
lấy đi từ một trong các con chó đã chứng tỏ điều đó. Con chó rơi vào trong
hôn mê đái đường, được phát hiện bởi một phân tích máu với một nồng độ
đường cao một cách bất thường. Sau đó họ lấy đi tụy tạng của một con chó
thứ hai, họ nghiền tụy tạng này để rút ra những chất dịch của những tế
bào nội tại rồi trộn lẩn chúng với một dung dịch chlorure và như thế có
thể xác định vị trí các đảo Langerhans. Họ hút đầy một ống tiêm và tiêm
sản phẩm vào con chó bị hôn mê. Hai giờ sau, con chó này bắt đầu cựa quậy
và 3 giờ sau, chúng đã hoàn toàn tỉnh dậy trở lại và nồng độ đường của
nó gần như đã trở lại bình thường. Dĩ nhiên để cứu con chó, họ đã phải
giết nhiều con khác và vì không có đủ động vật để trích lấy tụy tạng,
con đầu tiên đến lượt bị chết 8 ngày sau khi đã được hồi sức. Làm sao
đây ? Đi đến lò sát sinh gần nhất và tìm lấy những tụy tạng của các con
bò vừa bị giết chết và nhất là học cách đo nồng độ những mũi tiêm của
cái chất mà lúc đó anh gọi là isletine. Vấn đề còn lại là phải thuyết
phục Macleod, lúc đó vừa mới đi công du về. Ông này, sau khi phân tích
các kết quả, đã tuyên bố rằng các tính chất của isletine đúng là một khám
phá nhưng rằng thật ra nó phải được gọi là insuline, một cái tên mà Mayer
ở Bruxelles, vào năm 1905, đã đặt cho chất được tiết ra bởi những đảo
tụy tạng. Mặt khác, chất insuline này đã được làm tinh khiết vào năm 1922
bởi nhà sinh hóa học James Collip, nhờ thế cho phép nó được tiêm vào một
bệnh nhân người.
Người đầu tiên được hưởng phép điều trị này sẽ là một cậu con trai 14
tuổi, chẳng còn sống được bao lâu và sau mỗi mũi tiêm, đã tìm lại được
một nồng độ gần như bình thường của đường trong máu. Nhưng chủ yếu chính
một người bạn của Banting, anh ta cũng là thầy thuốc và bị chứng bệnh
khủng khiếp này, đã tình nguyện để làm tiến triển những nghiên cứu được
thực hiện bởi Banting cùng với vài trợ lý. Báo chí không còn ngồi yên
được nữa. Họ đã hay biết rằng một khám phá lớn sắp xảy ra. Nhưng còn quá
sớm và anh chàng Banting trẻ tuổi, khi nào cũng nhút nhát e dè, đã rất
khó khăn để đẩy lùi các cuộc tấn công của các phóng viên. Những nhà báo
này, sau các bài báo về khám phá insuline, đã mang lại niềm hy vọng cho
hàng ngàn bệnh nhân bị bệnh đái đường, khẩn khoản để người ta cung cấp
cho họ insuline. Sau cùng, một năm sau, người ta đã có khá nhiều insuline
cho tất cả các bệnh nhân.
Công trình của Banting đã được tặng thưởng bởi giải Nobel y học vào năm
1923, mà anh đã phải chia xẻ, do một sai lầm của ban giám khảo, với Macleod
trong khi chính Best mới được vinh dự này, điều mà Banting chắc chắn đã
lớn tiếng tuyên bố. Và chính cùng với người bạn nghiên cứu trung thành
này mà anh đã lãnh đạo một đơn vị nghiên cứu về ung thư và silicose ở
bệnh viện Toronto. Banting mất sớm, vào năm 50 tuổi trong một tai nạn
máy bay vào năm 1940. (SEMAINE MEDICALE 10/9/2009)
2/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI.
31/ Phải làm gì khi có ai đó bị mắc cúm ở nhà ?
Bệnh nhân phải nghỉ ngơi và uống đều đặn (nước, nước vắt trái cây, soupe...).
Nên theo dõi các triệu chứng và gọi thầy thuốc điều trị trong trường hợp
tái phát hay gia tăng sốt, đau đầu, khó thở hay mệt mỏi dữ dội và bất
thường.
Để ngăn cản sự lây nhiễm với những người khác trong hộ, tốt nhất là cách
ly bệnh nhân ngay lúc đầu của các triệu chứng, và trong khoảng 7 ngày,
nếu có thể, trong một căn phòng khác và ít nhất cách xa một mét. Tốt hơn
là người này nên mang một mặt nạ chống phóng thải (masque antiprojections)
khi có sự hiện diện của những người khác, để bảo vệ họ.
Không nên trộn lẫn những đồ dùng cá nhân của người bị bệnh này (khăn tắm,
khăn bàn) với những vật dụng của những người khác, cũng như không nên
dùng chung các chén dĩa, ly uống nước và bộ đồ ăn của anh ta. Phải lau
chùi kỹ, bằng xà phòng và bằng nước nóng hay với các sản phẩm nội trợ,
những vật mà anh ta chia xẻ với những người khác, như các nắm cửa, hệ
thống giội nước, télécommande hay máy điện thoại.
Người bệnh phải rửa tay nhiều lần mỗi ngày bằng nước máy và với xà phòng
dành riêng cho anh ta, và một cách hệ thống, sau khi hách xì, ho, hỉ mũi
hay đã thay đổi mặt nạ.
32/ Làm gì nếu thầy thuốc điều trị của tôi bị bệnh
? Tôi có được bồi hoàn nếu như tôi thăm khám một thầy thuốc khác không
?
Mọi thầy thuốc vắng mặt, vì bị bệnh hay nghỉ việc, có bổn phận hướng các
bệnh nhân mình đến một phòng mạch khác. Vậy, trong trường hợp bị bệnh,
bệnh nhân phải đến thầy thuốc thay thế này, bằng không thì số tiền bồi
hoàn sẽ bị giảm 40%.
Trong trường hợp đổi chỗ ở hay cấp cứu, có thể thăm khám một thầy thuốc
khác với thầy thuốc điều trị. Người ta xem là cấp cứu một tình huống không
được dự kiến hơn 8 giờ trước đó, và liên qua đến một bệnh hay một nghi
ngờ đe dọa bệnh nhân hay đến sự ven toàn của cơ thể và dẫn đến sự huy
động nhanh chóng của người thầy thuốc
33/ Có những khuyến nghị về ăn uống cho phép hạn
chế các nguy cơ không ?
Không có một mối liên hệ nào được chứng tỏ giữa chế độ ăn uống và các
nguy cơ nhiễm khuẩn cả. Nhưng sự việc ăn uống quân bình và không quá độ
cho phép tăng cường các phòng vệ miễn dịch của mình. Đặc biệt phải ưu
tiên các trái cây và rau xanh và các chất dinh dưỡng thiết yếu, trong
đó có các vitamine và các chất khoáng (sắt, kẽm, calcium, magnésium...).
Dường như cũng được chứng tỏ rằng các probiotiques (các vi sinh vật trong
quần thể ruột, flore intestinale) và các prébiotiques (các sợi thức ăn
hiện diện trong nhiều thực vật) tăng cường các phòng vệ miễn dịch. Một
sự cẩn trọng bắt buộc : rửa tay kỹ trước khi sửa soạn một bữa ăn.
34/ Uống vitamine, homéopathie có ích lợi không
?
Trong nhiều quầy của những hiệu thuốc, các phòng bào chế ca ngợi các giá
trị của những viên thuốc chống lại các siêu vi trùng, đặc biệt là virus
của bệnh cúm A (H1N1). Đối với nhiều thầy thuốc, các chất bổ sung thực
phẩm (compléments alimentaires) không có lợi ích, thậm chí có thể gây
nên những nguy cơ, nếu chúng được tiêu thụ quá mức. Tuy nhiên, vài người
trong ngành y tế cho rằng các chất bổ sung này có thể hữu ích trong trường
hợp ăn uống thiếu hụt và tăng cường các phòng vệ miễn dịch, đặc biệt là
những lúc thay đổi mùa. Trong tất cả các trường hợp, phải tránh sự tự
cho thuốc và xin lời khuyên nơi thầy thuốc của mình hay nơi dược sĩ. Nhất
là đừng bao giờ mua những loại thuốc này trên Internet.
35/ Nếu tôi hủy một chuyến du lịch, hãng bảo hiểm
sẽ đảm nhận nguy cơ bị bệnh cúm A hay không ?
Mọi người khai báo cúm A trong 7 ngày trước một chuyến đi du lịch, dầu
đó là ở Pháp hay ở ngoại quốc, và do đó không thể đi được, deu có thể
được bồi hoàn các phí tổn hủy chuyến đi với điều kiện phải trình một giấy
chứng nhận y khoa. Tùy theo các hợp đồng, người bệnh sẽ được bồi hoàn
hoàn toàn hay một phần. Vài công ty buộc một franchise, những công ty
khác đã thiệt đặt những bảo hiểm bổ sung. Vài carte bancaire, Visa Premier,
Visa Infinite, Gold Master Card hay American Express cũng bao gồm những
bảo hiểm hủy (assurances annulation). Ngược lại, việc sợ bị mắc bệnh cúm
A lúc du lịch không thể biện minh cho một bồi hoàn nào đó.
36/ Có những vùng địa lý nên tránh hay không ? Có
phải tốt hơn đi trong Nam bán cầu trong mùa hè nam cực, tức là mùa đông
đối với chúng ta ?
Các hoạt động cao nhất của cúm xảy ra vào mùa đông, tình hình đã trở nên
ít quan ngại hơn trong Nam bán cầu. Vào cuối tháng tám, OMS chỉ rõ rằng
Chí lợi, Á Căn Đình, Tân Tây Lan và Úc đại lợi đã vượt qua đỉnh cao của
dịch bệnh và đã trở lại những mức bình thường của hoạt động cúm.
Một cách tổng quát, OMS hiện nay không khuyến nghị hạn chế các cuộc du
lịch ra nước ngoài vì cúm A (H1N1). Thật vậy, OMS nói rõ, “ những nghiên
cứu căn cứ trên các mô hình toán học cho thấy rằng các hạn chế đối với
du lịch sẽ có một tác dụng giới hạn, thậm chí số không, lên sự lan tràn
của bệnh, điều mà các tài liệu lưu trữ về các đại dịch cúm đã xảy ra trong
quá khứ đã xác nhận, cũng như đợt SRAS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm
trọng). Cũng vậy, không có một khuyến nghị nào đặc biệt đã đưa ra ở mức
độ châu Âu.
Tuy nhiên nước Pháp khuyên thận trọng các du khách đi đến những nước mà
sự truyền cộng đồng của virus được xác nhận, và còn hơn thế nữa nếu đó
là những chuyến du lịch học đường. Danh sách của các nước này có thể được
tham khảo trên site của viện theo dõi y tế ( www.invs.sante.fr) hay site
cua OMS (www.who.int/fr)
37/ Một nước (châu Âu hay ngoài Liên Hiệp Châu Âu)
có thể từ chối không cho tôi vào lãnh thổ của nước đó bằng cách viện dẫn
cúm A hay không ?
Giới hữu trách y tế của Liên Hiệp Châu Âu (UE) hồi 13 tháng 8, đã thông
qua một thông tri về những biện pháp cần thực hiện để dung hòa sự tự do
đi lại và sự bảo vệ y tế cộng đồng, đối với những du khách có những triệu
chứng cúm. Lời khuyên ưu thế được cho nơi những cá thể có triệu chứng
là hoãn chuyến du lịch và ở lại tại nhà, những lời khuyến nghị y tế này
“không được dẫn đến một sự hạn chế các di chuyển và du lịch bên trong
hay bên ngoài biên giới của Liên Hiệp châu Âu”. Tuy nhiên, những biện
pháp được áp dụng trong mỗi nước để đối phó với một nguy cơ y tế cộng
đồng vẫn thuộc thẩm quyền của các nhà cầm quyền mỗi nước. Những quốc gia
mong muốn thông qua những biện pháp gây trở ngại một cách quan trọng sự
thông thương quốc tế của các du khách (ví dụ làm chậm lại sự khởi hành
của một hành khách trên 24 giờ, hoặc bằng cách từ chối một du khách sự
nhập cảnh hay xuất cảnh một nước) phải cung cấp cho OMS những lý lẽ và
những dữ kiện y tế cộng đồng làm cơ sở cho một biện pháp như thế.
38. Cúm A có những mặt tốt hay không ?
Các quy tắc vệ sinh được yết thị trong các trường học, các xí nghiệp,
các nơi công cộng...tạo nên một chiến dịch y tế cộng đồng tuyệt vời. Ví
dụ, nếu mọi người giữ được phản xạ rửa tay đều đặn, điều đó sẽ góp phần
làm giảm sự lan truyền của những bệnh khác , như bệnh viêm dạ dày-ruột
(gastro-entérite). Chúng ta cũng hy vọng rằng các thiết bị vệ sinh của
các cơ sở học đường sẽ được hiện đại hóa, với các máy cung cấp xà phòng
dịch và các khăn lau bằng giấy có thể vứt bỏ sau khi dùng. (LE
MONDE 5/11/2009)
3/ XÉT NGHIỆM MÁU PHÁT HIỆN
BỆNH ALZHEIMER.
Sự loan báo tuần qua việc đưa ra thị trường một xét nghiệm máu để phát
hiện bệnh Alzheimer (đang gây bệnh cho 850.000 người ở Pháp), đã gây nên
một sự ngờ vực nơi các chuyên gia chuyên về bệnh này. Trắc nghiệm máu
nhằm phát hiện bệnh Alzheimer này chỉ có để sử dụng nơi các phòng bào
chế dược phẩm và các trung tâm nghiên cứu.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, nguyên tắc của xét nghiệm này và mức
độ đáng tin cậy của nó vẫn còn bí ẩn. Hiện nay, sự chẩn đoán của bệnh
Alzheimer được dựa trên sự kết hợp của 3 tham số : các triệu chứng lâm
sàng, chụp hình ảnh não bộ và sau cùng đo nồng độ của hai protéine trong
nước não tủy. Sự chẩn đoán của một bệnh như thế chỉ có thể được đặt ra
sau hai lần thăm dò ở mức độ sâu. (LE FIGARO 11/12/2009)
4 / PARACETAMOL : KHÔNG ĐƯỢC
VƯỢT QUÁ LIỀU LƯỢNG QUY ĐỊNH.
Thuốc này, rất thường được sử dụng, chống lại một cách có hiệu quả đau
và sốt. Tuy nhiên, ở liều cao, paracétamol có thể độc cho gan.
Paracétamol, được sử dụng riêng rẻ, nhưng cũng được liên kết với những
thuốc khác (ví dụ codéine), cũng được sử dụng để chống đau; nó tác dụng
cộng lực với thuốc mà nó được liên kết, do đó liều lượng được sử dụng
được giảm xuống. Nhưng sự tích lũy của những liều lượng này có nguy cơ
làm đạt đến ngưỡng, mà vượt qua nó, thuốc sẽ trở nên độc cho gan.
Paracétamol (acétaminophène), thuốc chống đau và hạ sốt được sử dụng nhiều
nhất trên thế giới, chỉ được thương mãi hóa rộng rãi từ đầu những năm
1950, khi nó được tồng hợp vào năm 1878 bởi một nhà hóa học của Công Ty
Bayer. Sự thành công của paracétamol là do độc tính thấp đối với dạ dày-ruột
và do sự kiện là nó không gây nên những phản ứng tăng nhạy cảm. Paracétamol
không phải là một chất chống viêm như aspirine : đó là sự khác nhau chính
giữa hai loại thuốc này, mà bệnh nhân thông thường nhất tự sử dụng để
điều trị chống đau và sốt.
Tuy vậy, mặc dầu người ta không biết nguyên nhân tại sao, paracétamol
có một độc tính đối với gan ngay khi ta vượt quá các liều thông thường.
Và điều lạ kỳ là người ta không biết được phương cách tác dụng của nó
mặc dầu thuốc đã xưa. Những giả thuyết mới được công bố đều đặn về hai
chủ đề này. Người ta chỉ có thể nói ngộ độc cấp tình bởi paracétamol ở
những liều cao, trên 200 mg/kg, hoặc hơn 14g đối với một người đàn ông
70kg ! Khi đó một hoại tử gan phát triển trong 3-5 ngày sau khi uống.
Với những liều lượng điều trị (tối đa 1g mỗi lần, có thể lập lại 4 lần
mỗi ngày trong tình huống cấp tính), paracétamol được chuyển hóa bởi các
men gan, làm phóng thích những sản phẩm phụ hay các chất chuyển hóa, như
thế 90% liều lượng được uống vào, được loại bỏ trong 24 giờ sau khi uống.
Phần còn lại được chuyển hóa bởi các enzyme khác (các enzyme oxy hóa gan,
cytochrome P450). Trong số những chất chuyển hóa được phóng thích, chính
N-acétyl-parabenzoquinone-imine là độc cho gan. Nhưng trong những điều
kiện bình thường, chất này được làm bất hoạt và được thải ra trong nước
tiểu.
Trong những trường hợp sử dụng với liều quá quan trọng, các cơ chế bất
hoạt hóa trở nên không đủ để xử lý toàn bộ chất chuyển hóa tích tụ trong
gan.
Mới đây, FDA đã đưa ra một ý kiến cảnh giác chống lại độc tính tiềm tàng
của paracétamol lên gan. Khi thuốc được cho trong những thời gian dài,
các liều lượng hiệu quả (4g mỗi ngày) gần với những liều độc. Những liều
này khả dĩ gây nên những thương tổn gan thường trực có thể gây tử vong,
nhất là đối với những người mà chức năng gan đã bị biến đổi, như những
người già hay những bệnh nhân có những bệnh gan (như nghiện rượu). Như
thế, trong điều trị lâu dài, sự khác nhau có thể tinh tế giữa các liều
hiệu quả và những liều độc. Vì paracétamol cũng hiện diện trong những
thuốc chống đau khác, ta phải tính đến nguy cơ quá liều. Chính vì thế
FDA khuyến nghị sử dụng những liều paracétamol thấp nhất, và ước tính
liều được hấp thụ trong những loại thuốc mà nó đuợc liên kết với những
thứ thuốc khác.
Như vậy, trái với acide acétyl-salicylique hay aspirine, paracétamol không
có những tác dụng phụ, ngoài tính độc lên gan. Những tác dụng phụ của
aspirine là gì ? Hai tác dụng phụ chính là độc tính dạ dày-ruột và tác
dụng kháng đông (aspirine đặc biệt gây loét dạ dày và xuất huyết). Tính
chất chính của aspirine là hoạt tính chống viêm : aspirine ức chế men
COX (cyclo-oxygénase) xúc tác sự tổng hợp của prostaglandines. Mà men
này hiện diện dưới hai dạng, COX-1 và COX-2, có cùng tính chất hóa học,
nhưng không có cùng tính chất sinh lý.
COX-1, hiện diện một cách thường trực, xúc tác các prostaglandines “tốt”,
góp phần vào sự vận hành bình thường của cơ thể (đặc biệt là thận, hệ
tim mạch và ống tiêu hóa). Trái lại, COX-2, chỉ hiện diện trong trường
hợp viêm, chịu trách nhiệm sự sản xuất các prostaglandines “ xấu ”, nguồn
gốc của đau đớn do viêm. Aspirine ức chế COX-2 và do đó ức chế sự sản
xuất các prostaglandines “ xấu ”, nhưng cũng ức chế COX-1 cần thiết cho
cơ thể. Chính vì thế mà các hãng dược phẩm cố gắng hiệu chính các chất
ức chế đặc hiệu của COX-2, không ảnh hưởng lên sự vận hành tốt của COX-1.
Nhưng hiện nay, paracétamol đặc sắc hơn aspirine nhiều để chống lại sốt
và đau. Ngoài ra, một thuốc mới giá rẻ dẫn xuất từ paracétamol (SCP-1,
acétaminophène liên kết với saccharine) đã được hiệu chính mới đây. Thuốc
mới này dường như không có độc tính đối với gan và cũng hiệu quả như paracétamol
; vậy nó có thể là một thứ thuốc của ngày mai.
Vào cái thời buổi đe dọa đại dịch cúm này, paracétamol có lẽ sẽ được sử
dụng với lượng lớn để chống lại sốt và đau. Điều quan trọng phải ghi nhớ
trong trí là paracétamol là một thuốc quý, nhưng cũng có thể có những
tác dụng phụ độc quan trọng nơi vài người, do sự tích lũy liều lượng.
(POUR LA SCIENCE 11/2009)
5/ NHỮNG BỆNH TIM MẠCH ĐÃ CÓ TRONG
AI CẬP CỔ ĐẠI.
Trên 20 xác ướp (momies) của Viện bảo tàng cổ vật (Musée des antiquités)
của thủ đô Caire Ai cập, 16 trong số này có những dấu vết của xơ mỡ động
mạch, được phát hiện bởi scanner.
CỔ DỊCH TỄ HỌC (PALEOEPIDEMIOLOGIE). Các bệnh tim mạch như xơ mỡ động
mạch đã có từ thời thượng cổ. Nhưng căn bệnh này không chỉ liên kết độc
nhất với lối sống hiện đại như một giáo điều y học vẫn còn xác nhận. Công
trình nghiên cứu bằng scanner 20 xác ướp, cách nay 3.500 năm, được bảo
tồn ở Viện bảo tàng cổ vật Ai Cập, xác nhận rằng các bệnh tim mạch đã
gây bệnh với một tỷ lệ cao trong các tầng lớp thượng lưu xã hội. 16 trong
những người được ướp xác này có những động mạch bị xơ mỡ như các động
mạch của những người đương thời của chúng ta, ăn quá nhiều mỡ, hút thuốc,
uống rượu và không tập thể dục (Journal of The American Medical Association,
18/1/2009).
“Khám phá này cho thấy rằng chúng ta phải nhìn xa hơn những yếu tố nguy
cơ hiện đại để thật sự hiểu được bệnh này”, Gregory Thomas, nhà nghiên
cứu tim học thuộc Đại học Californie ở Irvine, một trong những đồng tác
giả của công trình nghiên cứu, đã xác nhận như vậy. Thông tin này không
phải là hoàn toàn mới. “ Trong quá khứ, các phẫu tích của các xác ướp
và những phân tích bằng kính hiển vi đã phát hiện những dấu vết của xơ
mỡ động mạch trên các di hài của các xác ướp ”, Alain Froment , giám đốc
khoa học của các sưu tập của Viện bảo tàng người ở Paris đã phát biểu
như vậy. “ Nhưng việc sử dụng một scanner là thanh lịch hơn nhiều. ” Nhất
là chụp hình ảnh y học (imagerie médicale) cho phép thay đổi thước tỷ
lệ. Không có tính chất phá hủy, kỹ thuật này cho phép xem xét nhiều thân
thể một cách rất tinh tế và nhanh chóng. “ Người ta không chỉ làm cổ bệnh
lý học (paléopathologie). Người ta có thể làm cổ dịch tễ học (paléoépidémiologie)
”, Eric Crubézy, nhà sinh học nhân văn (anthropobiologiste) ở đại học
Paul-Sabatier de Toulouse đã giải thích như vậy. Scanner 6 thiết diện
được sử dụng ở Ai Cập không đặc biệt có hiệu năng, Sylvain Ordureau, một
trưởng xí nghiệp hiện đang phân tích các xác ướp của Viện bảo tàng người
(Musée de l’homme) Paris, với một máy có hiệu năng rất cao, đã nhấn mạnh
như vậy
GIỚI THƯỢNG LƯU XÃ HỘI.
Bảng tổng kết sức khỏe tim mạch của 20 xác ướp có cách nay hơn 3.500 năm
không được tốt lắm. Nhóm nghiên cứu, được lèo lái bởi Gregory Thomas,
đã khám phá ra rằng, trên 16 xác ướp vẫn còn có những động mạch có thể
nhận diện được sau quá trình ướp xác, thì chín xác ướp trong số này có
một sự vôi hóa động mạch vành. Những dấu vết này có thể thấy được bên
trong các động mạch hay ở nơi mà các động mạch trong cơ thể của các xác
ướp hiện diện. Nhiều trong số các xác ướp này có một sự vôi hóa đến 6
trong số các động mạch của chúng.
Lúc phân tích các xương của các xác ướp, các nhà nghiên cứu đã ước tính
tuổi lúc qua đời của mỗi trong số 20 người được ướp xác. Như thế họ đã
có thể cho thấy rằng những bệnh lý tim mạch thường xảy ra hơn tùy theo
năm tuổi. 7 trên 8 người trên 45 tuổi có xơ mỡ động mạch. Nhưng hai trong
số 8 người Ai cập cổ đại chết trẻ hơn, cũng có những động mạch bị xơ mỡ.
Một con số không phải là không đáng kể .“Mặc dầu chúng ta không biết được
chứng xơ mỡ động mạch có đã gây chết người cho một trong các xác ướp này
hay không, nhưng chúng ta có thể xác nhận rằng một số lớn đã bị căn bệnh
xơ mỡ động mạch này”, các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận
như vậy.
Chắc chắn là các xác ướp không phải là đại diện cho toàn thể dân chúng
Ai Cập. Chỉ có các pharaon và những người thân thích của họ, các thân
hào, các thầy tu và vài động vật mới được ướp xác mà thôi. Các nông dân
đã không được ướp xác như vậy. Tuy nhiên chúng ta có thể khẳng định rằng
các bệnh tim mạch là thông thường trong số thành phần tinh hoa của xã
hội Ai Cập cách nay nhiều thiên niên kỷ. (LE FIGARO
19/11/2009)
6/
MỘT LOẠI THUỐC KÍCH THÍCH DỤC TÍNH PHỤ NỮ.
Thuốc flibanserine đã được trắc nghiệm với các kết quả tốt nơi hàng ngàn
phụ nữ bị các rối loạn về ham muốn (troubles du désir).
SEXUALITE. Các ông có Viagra từ năm 1998 để chữa chứng hỏng dục tình (pannes
sexuelles). Các phụ nữ chẳng bao lâu nữa sẽ có flibanserine để kích thích
dục tính của họ. Được trắc nghiệm nơi nhiều ngàn phụ nữ bị các rối loạn
về ham muốn, thuốc này đã cải thiện một cách đáng kể đời sống tình dục,
theo các công trình nghiên cứu được trình bày mới đây ở hội nghị lần thứ
12 của Hiệp hội y khoa tình dục (médecine sexuelle) châu Âu ở Lyon. Sau
sự đăng quang của viên thuốc màu xanh (Viagra) và các thuốc cạnh tranh
nó, (đã biến đổi việc điều trị các rối loạn sinh dục nam giới và đã chinh
phục một thị trường có doanh thu hàng tỷ dollar), các hãng bào chế dược
phẩm đã tìm kiếm loại thuốc tương đương nơi nữ giới. Nhưng mối thách thức
đã tỏ ra gay go hơn dự kiến, nhất là bởi vì bản năng giới tính (sexualité)
ở phụ nữ phức tạp hơn nhiều so với đàn ông. Một loại thuốc dán (patch)
testostérone được đặt tên là Intrinsa, đã được thương mại hóa năm 2007,
để điều trị chứng giảm ham muốn xảy ra sau mãn kinh ngoại khoa (ménopause
chirurgicale).
Ngoài bối cảnh hạn hẹp này, ý niệm loạn năng tính dục phụ nữ (dysfonction
sexuelle féminine) đã không tạo nên sự nhất trí. Đối với những người bi
quan, đó là một điều được dựng lên bởi các hãng dược phẩm để bán những
thứ thuốc mới, hiện tượng được biết dưới tên disease mongering. Trái lại
các chuyên gia về dục tính đã xác nhận rằng đó là những bệnh lý thật sự,
thường xảy ra nhưng không được biết rõ. “Hơn một nửa các phụ nữ có những
khó khăn lớn trong việc đạt được ham muốn hay khoái lạc”, BS Philippe
Brenot, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần và giám đốc giảng dạy tình dục
học (sexologie) ở đại học Paris-Descarte đã đánh giá như vậy. Theo nhà
điều trị này, nhà tìm tòi nghiên cứu của một trong những thử nghiệm với
flibansérine, “người ta không biết nhiều về bản năng giới tính nữ giới
bởi vì có ít các nghiên cứu trong lãnh vực không gây chết người và cấm
kỵ này”.
Cũng như trong trường hợp của Viagra, các lợi ích của flibansérine trên
dục tính đã được khám phá một cách tình cờ. Thuốc này, tác dụng lên hệ
thần kinh trung ương, nơi các thụ thể của sérotonine, trước hết đã được
sử dụng như thuốc chống trầm cảm trong những năm 1990 bởi phòng bào chế
Boehringer Ingelheim. Nhưng những tác dụng của nó lên sự ham muốn của
phụ nữ đã tỏ ra có sức thuyết phục hơn những hiệu quả lên tính khí, và
hãng bào chế đã chuyển hướng trong sự phát triển của thứ thuốc này. Những
kết quả được tiết lộ ở Lyon, phát xuất từ những công trình nghiên cứu
giai đoạn III (giai đoạn trước khi đưa thuốc ra thị trường), được tiến
hành ở Hoa Kỳ và châu Âu nơi các phụ nữ không bị mãn kinh và mắc phải
chứng “giảm hoạt ham muốn tình dục” (désir sexuel hypoactif) (DSH). Ít
được biết đến bởi công chúng và ngay cả bởi các thầy thuốc, thuật ngữ
này là thuật ngữ được sử dụng trong các sách giáo khoa tâm thần học để
định nghĩa những rối loạn tình dục, được đặc trưng bởi một sự thiếu ham
muốn cùng với sự đau khổ và những khó khăn giữa người với nhau, mà không
có một bệnh lý thực thể nào khác.
Trong 24 tuần, các người tình nguyện đã nhận uống 100mg flibanserine buổi
chiều vào lúc đi ngủ hay một placebo. Để đánh giá tác dụng của nó trong
một lãnh vực phức tạp như bản năng giới tính phụ nữ (sexualité féminine),
các nhà nghiên cứu đã nhờ đến một cuốn sổ theo dõi điện tử. Như vậy, các
phụ nữ tham dự đã đo lường mỗi ngày lòng ham muốn của họ, “những biến
cố tình dục thỏa mãn” (không nhất thiết đồng nghĩa với khoái lạc cực độ)
và mức độ đau khổ liên kết với những rối loạn tình dục. Sau nhiều tuần,
những tham số này được cải thiện nơi các phụ nữ được điều trị bởi flibanserine.
“Các hiệu quả không thể tranh cãi được, GS François Giuliano, thầy thuốc
chuyên khoa niệu và chuyên viên về những rối loạn tính dục (bệnh viện
Raymond-Poincaré, Garches) đã xác nhận như vậy. Nhưng lưu ý, đó không
phải cùng với khái niệm với các rối loạn cương (dysfonction érectile),
mà trong trường hợp này thuốc được uống theo yêu cầu. Ở đây, đó là một
điều trị hàng ngày, dài lâu.” Một vài người loan báo thuốc sẽ được thương
mãi hóa vào năm 2011. Một kỳ hạn mà hãng bào chế Boehringer Ingelheim
muốn tỏ ra thận trọng trong lúc chờ đợi các kết quả bổ sung. Một nhóm
các thứ thuốc khác, với những cách tác dụng khác nhau, đang được nghiên
cứu, trong những giai đoạn lâm sàng rất sơ khởi hay nơi động vật. (LE
FIGARO 9/12/2009)
7/ LUYỆN TẬP THỂ THAO ĐỂ LUÔN TRẺ
MÃI.
Hoạt động vật lý mạnh mẽ cho phép gìn giữ các télomère, điều này sẽ làm
hạn chế sự lão hóa tế bào.
Hoạt động vật lý của các vận động viên thể thao gây nên sự hoạt hóa của
men télomérase. Kích thước và tính chất bền vững của các télomère (các
đầu mút của các nhiễm sắc thể) như thế sẽ được duy trì, Ulrich Laufs (đại
học Saarland, Đức) đã viết như vậy trên site Internet của Circulation
số 30 tháng 11.
“Các télomère là một loại đồng hồ sinh học : các tế bào có những télomère
dài bảo tồn một khả năng phân chia lớn hơn và do đó “trẻ hơn”. Khi chiều
dài của các télomère đi xuống một ngưỡng nào đó, tế bào sẽ chết. Lần đầu
tiên chúng tôi đã cho thấy rằng sự luyện tập một môn thể thao đòi hỏi
dai sức (sport d’endurance) đã có thể có một ảnh hưởng trực tiếp như thế
nào lên khả năng phân chia tế bào của chúng ta. ”
Nhà nghiên cứu người Đức đã quan tâm đến 32 vận động viên chạy nghề nghiệp,
được tuyển chọn bởi đội điền kinh quốc gia. Tuổi khoảng 20, những vận
động viên này đã chạy trung bình 73 km mỗi tuần. Một nhóm thứ hai gồm
những cựu lực sĩ tuổi trung bình 51, tuy nhiên còn chạy 80 km mỗi tuần.
Mỗi trong những người tham gia vào công trình nghiên cứu này được so sánh
với một người đồng loại, cùng lứa tuổi, có sức khoẻ tốt, không hút thuốc,
nhưng không luyện tập thể thao một cách đều đặn.
Bên cạnh những tham số sinh lý được dự kiến (nhịp tim lúc nghỉ ngơi, huyết
áp, chỉ số khối lượng cơ thể (IMC) và nồng độ cholestérol thấp hơn), các
nhà nghiên cứu đã có thể chứng thực rằng các bạch cầu của các vận động
viên chứa một télomérase hoạt tính hơn và những télomères dài hơn so với
những télomères của những người không luyện tập thể thao. Mặt khác, sự
rút ngắn của các télomères được diễn ra một cách chậm hơn với tuổi tác.
Hiện tượng này không những chỉ thấy được nơi các vận động viên trẻ, mà
lại còn rõ nét hơn nơi các vận động viên thuốc nhóm thứ hai.
Những nghiên cứu lâm sàng trước đây và những khảo sát được thực hiện nơi
các động vật đã cho thấy rằng, các télomère ngắn hơn được liên kết với
một nguy cơ tử vong lớn hơn và với những bệnh do sự lão hóa, trong đó
có các bệnh tim mạch.
Trong những năm gần đây, sự nghiên cứu dành cho các télomère rất được
hâm mộ. Chi cần nhắc lại rằng Giải Nobel Y học vừa qua đã được trao cho
3 nhà nghiên cứu vì các công trình của họ về enzyme télomérase. Tất cả
các nhiễm sắc thể đều có các télomères ở đầu mút. Các télomères này được
cấu tạo bởi một chuỗi đặc hiệu ADN (TTAGGG), được lập lại hàng trăm lần.
Chính chuỗi đặc hiệu này bảo vệ nhiễm sắc thể chống lại sự phá hủy bởi
enzyme. Vào mỗi lúc phân chia tế bào, các chuỗi này bình thường phải ngắn
lại một chút. Nhưng télomérase có mặt ở đó để cân bằng với tác dụng này
và đồng thời để gìn giữ khả năng phân chia của tế bào. Chiều dài của télomère
có thể nói là một đo lường thời gian sống của tế bào. “Đây là lần đầu
tiên, chúng tôi đã có thể xác lập mối liên hệ giữa một đồng hồ phân tử
phản ảnh sự lão hóa và một sự luyện tập thể thao”, nhà nghiên cứu người
Đức đã kết luận như vậy. Khám phá này góp phần giải thích tại sao thể
thao có một tác dụng dương tính lên các huyết quản và làm giảm hậu quả
của những bệnh liên kết với quá trình lão hóa. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 11/12/2009)
8/ ĐẶC TÍNH MỚI CỦA DẦU CÁ.
Cơ thể biến đổi axít béo oméga-3 thành một thuốc chống viêm.
Nhiều bệnh lý như đái đường, nhiễm trùng huyết, viêm đa khớp dạng thấp,..
được biểu hiện đặc biệt bởi những phản ứng viêm quá mức hay mãn tính :
các bạch cầu lúc đó được lôi kéo với số lượng lớn vào trong các mô. Các
nhà nghiên cứu của Boston, Londres và Los Angeles đã phát hiện một cơ
chế nhờ do cơ thể chống lại quá trình viêm này.
Một trong những chất chủ chốt là một phân tử lipide, résolvine D2. Chất
này được cơ thể tổng hợp từ một axít béo oméga-3, có nhiều trong dầu cá.
Các résolvine và các phân tử tương tự, lipoxine, tạo nên một họ mới các
thuốc chống viêm. Lúc nghiên cứu tác dụng của résolvine D2 nơi chuột,
Matthew Spite và các cộng sự viên đã cho thấy rằng thuốc này tác dụng
lên nhiều mức khi có một phản ứng viêm. Một mặt, nó hạn chế sự kết dính
của các bạch cầu vào các mô bằng cách kích thích sự sản xuất monoxyde
d’azote, phân tử được biết có tính chất chống kết dính (propriété anti-adhésive)
: bằng cách tiêm résolvine D2 trong cơ crémaster của một con chuột (cơ
bao quanh các tinh hoàn) (mà ở đây trước đó họ đã làm phát khởi một phản
ứng viêm), các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một sự giảm số bạch cầu
(những bạch cầu này gắn vào trên thành của các tiểu tĩnh mạch tưới máu
cơ). Hiệu quả này biến mất khi người ta thêm một chất ức chế sự tổng hợp
của monoxyde d’azote. (POUR LA SCIENCE 12/2009)
9/ MIGRAINE : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐẺ CÓ
MỘT HIỆU QUẢ NHANH HƠN.
GS Dominique Valade, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, trưởng khoa Cấp
cứu đau đầu của bệnh viện Lariboisière, giải thích những lợi ích của rizatriptan
(Maxalt).
Hỏi : Ông có thể định nghĩa cái điều mà ông
thường gọi là một migraine (bệnh thiên đầu thống)?
G.S Dominique Valade : Đó là một bệnh nguồn gốc di truyền, gây nên bởi
các nhiễm sắc thể 19,1 và 2. Ở Pháp có 8 triệu người bị bệnh migraine.
Để có thể xác định đúng chẩn đoán, phải đảm bảo rằng bệnh nhân đã bị ít
nhất 5 lần một cơn kéo dài từ 4 đến 72 giờ. Một đặc điểm : đau đầu bắt
đầu ở một phía rồi lan ra toàn thể đầu. Trong đại đa số các trường hợp,
migraine kèm theo nôn hay mửa cũng như một sự khó chịu đối với ánh sáng
và tiếng động.
Hỏi : Có nhiều loại migraine hay không ?
G.S Dominique Valade : Có hai loại chính. 1. Các migraine “không có tiền
triệu (aura)”, thường xảy ra nhất (80% các trường hợp migraine), xuất
hiện nhanh và không có triệu chứng báo trước. 2. Các migraine “với tiền
triệu”, được đi trước bởi những triệu chứng thần kinh như rối loạn thị
giác (với những điểm sáng), lời nói. Một nửa những người migraine có nhiều
hơn một cơn mỗi tháng, điều này rất trở ngại cho đời sống nghề nghiệp,
gia đình và xã hội của họ.
Hỏi : Những điều trị thường cho là gì ?
G.S Dominique Valade : Có hai loại. 1. Các thuốc dùng trong trường hợp
lên cơn. 2. Một điều trị duy trì. Vài thuốc họ triptans có hiệu quả với
điều kiện được sử dụng sớm, ngay lúc đầu cơn migraine, khi đau đầu còn
có cường độ nhẹ. Các thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) cũng
có thể được cho. Các điều trị duy trì là một phương cách phòng ngừa :
chúng được cho nhằm làm giảm tần số, cường độ và thời gian của các cơn
(tùy theo bệnh nhân : các beta-bloquant, các thuốc chống trầm cảm, các
antisérotonine, các thuốc chống động kinh...)
Hỏi : Những thuốc này tác dụng như thế nào
?
G.S Dominique Valade : Trong trường hợp lên cơn, điều trị làm thuyên giảm
trong vòng dưới 2 giờ, 20% đến 30% các bệnh nhân, điều này có thể có vẻ
dài lâu khi ta đau đầu. Nơi những người khác, thuốc cần nhiều thời gian
hơn.
Bởi vì migraine xảy ra đột ngột, nên các bệnh nhân không luôn luôn có
sẵn một ly nước bên cạnh để uống viên thuốc ; họ thường dùng thuốc quá
muộn để có thể được làm thuyên giảm nhanh chóng. Các thuốc chống viêm
có bất tiện là gây nên một rối loạn tiêu hóa. Tính hiệu quả kém của các
triptans khi chúng được sử dụng trong lúc migraine đã trở nặng, giải thích
tại sao nhiều bệnh nhân không quan tâm đến điều trị của họ. Sự không tuân
thủ điều trị hiện nay rất quan trọng, khoảng 70%.
Hỏi : Vì lý do gì, rizatriptan (MAXALT) đặc
biệt có hiệu quả ?
G.S Dominique Valade : Thuốc này cũng thuộc vào lớp các triptans, nhưng
nó được thương mãi hóa dưới một dạng thuốc hòa tan dưới lưỡi trong vòng
hai hay ba giây. Thuốc phải được sử dụng càng sớm càng tốt trong khi cơn
đau đầu còn nhẹ.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào được
thực hiện với loại thuốc này là gì ?
G.S Dominique Valade : Một công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên
188 bệnh nhân. Những kết quả đã cho phép nhận xét rằng 24% người đã được
thuyên giảm trong 30 phút và rằng, nơi một số rất lớn (66%), cơn đau đã
biến mất trong vòng chưa được hai giờ. Điều chứng thực khác : nơi 63%
các bệnh nhân, những triệu chứng mửa kèm theo cũng đã biến mất nhanh chóng.
Tóm lại những ưu điểm của thuốc chống migraine này là gì ?
1. Trong bất cứ trường hợp nào, không cần phải có ly nước bên cạnh, chỉ
cần mang một viên thuốc theo mình để làm ngưng cơn migraine rất nhanh
chóng, điều này cải thiện đáng kể chất lượng sống. 2. So sánh với các
điều trị thông thường, thuốc này có một tác dụng nhanh lên một số lớn
hơn những người bị migraine. 3. rizatriptan chứng tỏ một hiệu quả tốt
lên các triệu chứng liên kết. (PARIS MATCH 26/11- 2/12/2009)
10/ LASER RĂNG : MỘT CUỘC
CÁCH MẠNG ?
“ Chiếc dao mổ sáng ” (bistouri lumineux), rất được sử dụng ở Ý và Tây
Ban Nha, bắt đầu được nói đến trong môi trường nha khoa ở Pháp. Vài người
gợi ý rằng để điều trị răng, laser có thể làm truất ngôi cái khoan răng
(fraise). Giấc mơ hay hiện thực ? Trong một thời gian lâu dài, sự sử dụng
laser đã rất là thứ yếu trong môi trường nha khoa. Thật vậy không có một
mô hình nào có khả năng nhằm đồng thời các mô mềm (lợi răng, niêm mạc)
và các mô cứng (men răng, ngà răng, xương). Sau hai mươi năm công tác,
các nhà nghiên cứu sau cùng đã chế biến được một laser có thể đảm bảo
tính đa năng này và ít xâm nhập hơn, như thế làm giảm nguy cơ làm nóng
mô quá mức, là điều trở ngại của những mô hình đầu tiên. Từ nay, laser
có thể được sử dụng trong các động tác hàng ngày của phòng khám bệnh nha
sĩ.
NẠO RẰNG CẦN NHIỀU THỜI GIAN HƠN.
Kỹ thuật mũi nhọn này đã được đề nghị bởi 1% các nha sĩ Pháp. Và laser
có cái gì đó để quyến rủ bởi vì nó đề nghị làm tan vụn sâu răng (như cái
khoan răng đã làm) nhưng không gây tiếng ồn và các chấn động rung.Tiếc
thay, trong phần lớn các trường hợp, cái bánh lăn (roulette) gây lo ngại
vẫn còn là một lối qua bắt buộc. Thật vậy, nạo răng sâu bằng laser cần
hai lần thời gian so với cái khoan răng (fraise) ! Chỉ cần sâu răng nằm
sâu, đòi hỏi gây mê, laser quá chậm để có thể cạnh tranh với cái khoan
răng. Laser này chỉ dành cho các sâu răng của các trẻ em hay cho các sâu
răng nông mà thôi.
NHỮNG TÍNH CHẤT DIỆT TRÙNG KHÔNG TRANH CÃI ĐƯỢC.
Vậy thì mặc dầu laser không thay thế cái khoan răng, tuy vậy nó thay thế
nó trên vài khía cạnh. “Laser có một tác dụng kháng khuẩn và một tác dụng
kích thích sinh học (biostimulant) (nó kích thích các mô) mà những kỹ
thuật khác không bao giờ có thể có được, nha sĩ Franck Amoyel đã giải
thích như vậy. Vậy, chính lúc kết hợp với cái kỹ thuật truyền thống mà
laser dường như thích đáng nhất, cải thiện chất lượng điều trị và tuổi
thọ của chúng.
“Trong trường hợp làm loài chân răng (déchaussement), một khi chuỗi các
vi khuẩn bị bẽ gãy bởi các siêu âm, thì laser này rất hữu ích để loại
bỏ tất cả vi khuẩn, và làm lành mạnh xương và các lợi răng giữ răng tại
chỗ” Trong trường hợp diệt tủy (dévitalisation), cái khó khăn là tiếp
cận đến các vi khuẩn ẩn mình bên trong răng. Laser đến được nơi đó, nhờ
nhiệt mà nó phát ra, cải thiện hiệu quả của hypochlorite de sodium, thường
được sử dụng để thực hiện thao tác này. Đối với các răng nông, tác dụng
vượt quá nạo đơn thuần : laser cho phép một sự kết dính tốt hơn của vật
liệu, mà người ta sẽ đặt lên bề mặt của răng, làm giảm nguy cơ các vi
khuẩn khác thâm nhập vào.
Tuy nhiên kỹ thuật tuyệt vời này có một phí tổn. Đầu tư một máy laser
à Erbium tổn phí 50.000 euro đối với nha sĩ. Đối với bệnh nhân, phí tổn
là 200 đến 400 euro đối với một diệt tủy (dévitalisation), và từ 100 đến
150 euro đối với một sâu răng, không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế.
Vậy chính các bệnh nhân tự quyết định có phải trả thêm tiền phụ trội chất
lượng này hay không. (TOP SANTE 11/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (14/12/2009)
>>>back>>>
|
 |