 |
Thời
Sự Y Học số 151
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A : PHÁP DỰ KIẾN CHUYỂN
QUA MỨC BÁO ĐỘNG TỐI ĐA (CẤP 6)
PANDEMIE. Hôm qua, bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot, đã nêu lên khả năng
rằng nước Pháp chẳng bao lâu nữa sẽ chuyển qua mức báo động cấp 6 của
kế hoạch đại dịch cúm. 10 trường hợp tử vong mới đã được ghi nhận từ hôm
thứ sáu, xảy ra nơi những người phần lớn đã không có yếu tố nguy cơ hay
vấn đề gì đặc biệt”. Tuy nhiên bà Bachelot đã vội nhắc lại rằng kế hoạch
này vốn đã được nghĩ ra vào lúc dịch cúm gia cầm và rằng nó trước hết
tạo nên một “hộp dụng cụ” (boite à outils). “Có những dụng cụ trong mức
báo động cấp 6 đã có thể được sử dụng, ví dụ cấm tụ tập. Nhưng điều đó
không có nghĩa là chúng ta nhất thiết sẽ dùng tất cả”. Bà đã giải thích
như vậy. “Quyết định chuyển qua cấp 6 được dự kiến nhưng không phải một
sớm một chiều”, Didier Houssin, tổng giám đốc y tế đã giải thích như vậy.
Ở Pháp chính quốc, có 2.762.000 người bị nhiễm bởi cúm A. Người ta đếm
được 86 trường hợp tử vong, 305 trường hợp nghiêm trọng, với 101 còn đang
được hồi sức, mà trong số đó 20% là các trẻ em dưới 15 tuổi.
Những tụ tập, hội họp công cọng và các di chuyển bị giới hạn.
Kế hoạch dự kiến cả một loạt các biện pháp rào chắn nhằm kềm chế và giới
hạn sự lan rộng của đại dịch. Được nêu lên ưu tiên là sự đóng cửa các
nhà trẻ, các cơ sở giảng dạy và đào tạo, các nhà nội trú và những trung
tâm tiếp đón các trẻ vị thành niên. Đây là những biện pháp cần thiết mà
tính hiệu quả nhằm hạn chế sự lây lan vào lúc các dịch bệnh cúm đã được
chứng minh, theo những người soạn thảo kế hoạch. Sự đình chỉ hay thu giảm
vài phương tiện vận tải địa phương, những nơi có tiềm năng truyền virus,
cũng được chỉ rõ. Các nơi biểu diễn, các cuộc đấu thể thao, các hội chợ
và các phòng triển lãm cũng như những tụ tập hội hè cũng có thể bị đình
chỉ.
Những thăm viếng và tiếp cận với những nơi công cộng.
Kế hoạch gợi ý khả năng hạn chế những thăm viếng và những tiếp cận với
các cơ sở bệnh viện, với các nhà dưỡng lão, các nhà tu và những cơ sở
xã hội và y tế-xã hội.
Những biện pháp cách ly.
Các hoạt động tiêm chủng trong những tuần vừa qua đã che khuất nhiều biện
pháp vệ sinh đã được nói đến nhiều vào đầu dịch bệnh. Việc chuyển qua
cấp 6 có thể lại đưa vào chương trình nghị sự việc mang các phương tiện
bảo vệ hô hấp bởi nhân viên y tế hay việc mang mặt nạ ngoại khoa bởi những
người lành mạnh trong những nơi công cộng. (LE FIGARO
1/12/2009)
H1N1 : Ở CHÂU ÂU, VIỆC TIÊM CHỦNG DIỄN BIẾN KHÔNG
CÓ VẤN ĐỀ.
Một công cuộc điều tra, được tiến hành bởi các phóng viên báo Figaro,
tiết lộ rằng ở Châu Âu và Hoa Kỳ, các chiến dịch tiêm chủng diễn biến
không có vấn để lớn. Trong nhiều nước, các thầy thuốc đa khoa là tâm điểm
của chính sách phòng ngừa.
Ở Anh : Chiến dịch chống H1N1 đã bắt đầu
một cách êm ả, quá yên tĩnh theo giới cầm quyền. Đối với diện ưu tiên,
2 triệu nhân viên y tế, chỉ có 175.000 người đã được tiêm chủng cho đến
nay. Đối với dân chúng, chính các thầy thuốc gia đình chịu trách nhiệm
về những đối tượng có nguy cơ. Trong toàn cả nước, 1,6 triệu người đã
được tiêm chủng, với 1,2 triệu liều đã được giao. Nhưng một thăm dò mới
đây cho thấy rằng đa số các thầy thuốc gia đình nghĩ là không đạt được
các mục tiêu tiêm chủng được đề ra, bởi vì phần lớn người ta không muốn
tiêm chủng, do sợ những tác dụng thứ phát của vaccin, hoặc bởi vì họ nhận
thấy rằng cúm A (H1N1) không phải là một bệnh nặng. Mặc dầu hơn 800.000
trường hợp được liệt kê chính thức ở Anh nói riêng và 270 trường hợp tử
vong trong toàn Vương Quốc Anh, nhưng giới truyền thông không còn nói
nữa về H1N1…
Ở Ý : chiến dịch tiêm chủng diễn ra sôi nổi
: sau các giáo viên và nhân viên y tế, đến lượt các người thuộc diện ưu
tiên, trẻ em của các trường học, phụ nữ có thai. Một chiến dịch mới sẽ
bắt đầu vào tuần đến. Những người được mời tiêm chủng sẽ được báo qua
thư bưu điện và sẽ phải trình diện trong các trung tâm điều trị có thẩm
quyền trong công tác chủng ngừa. Các thầy thuốc gia đình chẳng bao lâu
sẽ có thể tham gia vào chương trình này. Từ 19 tháng mười, 3.438.000 người
đã được tiêm chủng. Tính đến nay, dịch bệnh đã gây tử vong cho 111 người.
Những đối tượng bị bệnh nhất là những trẻ từ 0 đến 14 tuổi (17,5 trên
1000 thuộc lứa tuổi này). Sự lây nhiễm có lẽ lùi lại. Bộ y tế dự định
cấp phát 10 triệu liều vaccin vào cuối tháng 12.
Ở Hoa Kỳ : Những ngày đặc biệt cho tiêm chủng
được tổ chức trong các bệnh viện, các trung tâm y tế, các trường học,
các trại lính và ngay cả trong các siêu thị Wal-Mart. Các thầy thuốc đa
khoa được quyền tiêm chủng. Không có con số chính thức, nhưng số người
đã được tiêm chủng là vài chục triệu. Vào đầu tháng 12, gần 70 triệu liều
vaccin đã được đặt hàng bởi các tiểu bang, nhưng chỉ 60 triệu đã được
phân phát. Cuộc tiêm chủng diễn biến tốt hơn so với hồi tháng 10 và 11,
nhưng nhu cầu vẫn nhiều hơn số liều vaccin hiện có. Làn sóng thứ hai của
cúm A (H1N1) ở Hoa Kỳ cho thấy những dấu hiệu giảm đi. 32 tiểu bang bị
ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cúm, nói chung trong vùng Đông-Bắc và miền
Tây, so với 48 tiểu bang vào lúc cao điểm dịch hồi cuối tháng 10. Một
làn sóng mới, ít nghiêm trọng hơn, được chờ đón vào tháng giêng sắp đến.
Ở Đức : Dân chúng không chen lấn để được
chủng ngừa cúm A (H1N1), vẫn luôn luôn được gọi là “cúm heo”. Không có
những hàng người chờ đợi tại phòng mạch các thầy thuốc đa khoa, được giao
quyền thực hiện việc tiêm chủng. 5 tuần sau khi bắt đầu chiến dịch tiêm
chủng, từ 4 đến 5,8 triệu vaccin loại Pandemrix đã được phân phát, theo
Viện Robert Koch, cơ quan liên bang chịu trách nhiệm kiểm soát và chống
lại những bệnh nhiễm trùng. Chính phủ kêu gọi tất cả các người Đức đi
tiêm chủng. Tuy nhiên tuần này, càng ngày càng ít người mong muốn thực
hiện việc này. Viện Robert Koch đã loan báo hôm thứ ba rằng mức độ nhiễm
trùng đã đạt một đỉnh cao ở Đức. Vào đầu tháng 12, có 172.000 trường hợp
cúm A (H1N1) đã được thống kê ở Đức, trong đó có 66 tử vong. Số các trường
hợp được khai báo tuần này khoảng 35.000, như thế đang giảm xuống.
Ở Bỉ : Không có vấn đề gì đặc biệt ngoại
trừ không thể đánh giá được chiến dịch tiêm chủng bởi vì các thầy thuốc
gia đình có thái độ ngập ngừng không muốn đăng ký các trường hợp chủng
ngừa. Nước Bỉ đã chỉ đặt hàng một vaccin duy nhất, Pandremrix, được sản
xuất bởi GSK, 12,5 triệu liều. Có lẽ quá nhiều. Bruxelles đã quyết định
gởi một phần dự trữ này cho các nước thế giới thứ ba, qua trung gian OMS.
Dịch cúm đã khởi phát vào đầu tháng mười, bây giờ đang giảm một cách đều
đặn. Công tác tiêm chủng được đảm bảo 90% bởi các thầy thuốc gia đình,
10% còn lại được đảm nhận bởi các trung tâm y tế. Phí tổn tiêm chủng được
bồi hoàn khi được thực hiện bởi thầy thuốc gia đình và miễn phí trong
các bệnh viện và trong những trung tâm y tế. Tuyệt đối không phải sắp
hàng. Chính thức đã có 513.921 người đã được tiêm chủng vào cuối tháng
11, hoặc 4,8% dân số của vương quốc Bỉ. Hơn 2 triệu liều vaccin đã được
cấp phát qua các hiệu thuốc. (LE FIGARO 6/12/2009)
2/ CÚM A : Ở CANADA, MỘT SỐ BẤT
THƯỜNG NHỮNG TRƯỜNG HỢP DỊ ỨNG NẶNG ĐƯỢC XÁC NHẬN SAU KHI TIÊM CHỦNG.
SANTE PUBLIQUE. Ở Canada, một trong những nước tiến xa nhất trong công
tác chủng ngừa này, một số bất thường các trường hợp phản ứng dị ứng nặng
do một lô vaccin, đã được quan sát. Tuy nhiên những trường hợp này (công
cuộc điều tra đang được tiến hành) sẽ không đặt lại vấn đề chiến lược
tiêm chủng đại trà, OMS và các chuyên gia về cúm đã đánh giá như vậy.
Vào ngày 17/ 11, trong bảng tổng kết hàng tháng của cảnh giác dược (pharmacovigilance),
Bộ y tế Canada đã báo cáo 36 phản ứng nghiêm trọng đối với các vaccin
chống virus H1N1 trong số 6,6 triệu người được tiêm chủng (hoặc 1/5 dân
số). Những tác dụng không được mong muốn này, nhất là các đợt sốt cao
và những phản ứng dị ứng nghiêm trọng (trong đó có một trường hợp tử vong)
đã không được cho là đáng lo ngại bởi nhà cầm quyền. “Tính đến nay, tần
số của những trường hợp phản vệ (anaphylaxie) dưới 1 trường hợp trên 100.000
liều được tiêm và như thế không vượt quá những tỷ lệ liên kết với những
vaccin khác, người ta đã viết như thế trong bảng thông cáo.
Hôm qua mọi chuyện đều tăng tốc độ, khi OMS (mà không xác nhận rõ ràng)
đã tiết lộ rằng “một số bất thường các phản ứng dị ứng nặng” xảy ra nơi
các người canada được tiêm chủng bởi một lô vaccin được sản xuất bởi hãng
bào chế GSK (GlaxoSmithKline). “Các cơ quan đặt quy chế canada, cũng như
trong những quốc gia khác, có nhiệm vụ theo dõi sự xuất hiện của các tác
dụng không được mong muốn, đã nhận thấy một mức độ các phản ứng phản vệ
(réaction anaphylactique) 5 lần cao hơn, hoặc 1 đối với 20.000 trường
hợp tiêm chủng, nơi những người đã nhận một lô đặc biệt của thuốc chủng
Arepanrix, BS Solzic Courcier, phát ngôn viên của GSK, đã xác nhận như
vậy. Lô vaccin đáng nghi ngờ này, gồm 170.000 liều, đã bị đình chỉ để
phân tích.” Phát ngôn viên của GSK nhấn mạnh rằng Arepanrix, được sử dụng
ở Canada, khác với Pandemrix được thương mãi hóa ở Pháp, ở chỗ các kháng
nguyên được sử dụng và quá trình chế tạo. Tuy nhiên hãng bào chế lẫn OMS
không thông báo về số người bị liên hệ bởi những phản ứng nghiêm trọng
này, và những dấu hiệu lâm sàng của họ. Theo site Radio-Canada, chính
trong tỉnh Manitoba mà những trường hợp này đã được ghi nhận. 7 người
đã bị choáng phản vệ (choc anaphylactique) trong nhiều giờ sau khi được
tiêm chủng. “Tất cả đều được điều trị nhanh chóng và khỏi bệnh không có
một di chứng nào”, site Radio-Canada đã xác nhận như vậy.
Ở PHÁP, BILAN LÀM YÊN LÒNG.
“Dầu đó là một vaccin hay là một loại thuốc, việc thu hồi một lô không
phải là một hiện tượng ngoại lệ, điều này là một phần của chuỗi chất lượng”,
phát ngôn viên của GSK đã ghi nhận như vậy. Còn phải biết xem đâu là vấn
đề đối với lot vaccin Canada. “Những phản ứng đối với các protéine của
trứng gà, được sử dụng để sản xuất vaccin cúm, là những trường hợp ngoại
lệ. Và những phản ứng đối với thiomersal, được thêm vào với lượng rất
nhỏ để làm ổn định các vaccin đại dịch, lại còn ngoại lệ hơn nữa”, GS
Paul Leophonte (Toulouse) đã đánh giá như vậy. Không phát biểu ý kiến
về những trường hợp Canada mà ông không có nhiều chi tiết, ông chỉ nhắc
lại rằng ngoài những dị ứng thật sự, có những phản ứng được gọi là “đặc
ứng” (idiosyncrastique) với vaccin cúm, được thể hiện bởi những cúm giả
(pseudogrippe) với sốt, đau.. trong những ngày sau khi tiêm chủng. “Những
phản ứng này có thể được làm dễ bởi những nồng độ protéine, quan trọng
hơn, ông nói thêm như vậy. Nhưng một vấn đề xảy ra trên một lot vaccin
không phải vì thế mà thôi không tiêm chủng nữa.”
Đối với OMS, các tiêm chủng quy mô lớn vẫn là phương tiện hiệu quả nhất
để chống lại một virus được cho là hiểm độc, đã giết chết 6.750 người
trên thế giới. Trong bảng tổng kết mới nhất, ngày 19/11, OMS ghi nhận
rằng 65 triệu người đã được tiêm chủng chống cúm đại dịch, với một “ profil
vô hại tuyệt vời ”. Bảng tổng kết dường như cũng làm yên tâm ở Pháp, nơi
đây hơn 300.000 liều vaccin đã được tiêm. (LE FIGARO
25/11/2009)
3/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI.
(tiếp theo TSYH số 149)
21/ Có nên thay đổi cách làm nội trợ không ?
Việc lau chùi các đồ vật và các bề mặt cho phép chống lại sự lây nhiễm
bởi vì chúng có thể bị làm bẩn bởi ho hay những hạt nước bọt bắn ra từ
những người bị cúm. Đồ đạc, các nắm cửa, máy điện thoại, télécommande
máy truyền hình, chậu rửa ráy phải được rửa với nước nóng, với xà phòng
hay các sản phẩm nội trợ thông thường. Phải lau chùi chúng một cách tỉ
mỉ và đều đặn, ít nhất một lần mỗi ngày. Cũng phải lưu ý thận trọng lúc
thao tác với các chất phế thải của bệnh nhân, nhất là các khăn lau bằng
giấy. Và dĩ nhiên cần thông khí chỗ ở, khoảng 15 phút, nhiều lần mỗi ngày,
và điều này có giá trị suốt cả năm.
22/ Có nên tránh những nơi công cộng hay không ?
Hiện nay không có một điều lệ đặc biệt nào. Trong trường hợp đại dịch,
những biện pháp được gọi là “khoảng cách bảo vệ y tế” (distance de protection
sanitaire) như giới hạn những cuộc tập họp, phát triển sự làm việc từ
xa (travail – distance) hay téléconférence đều được dự kiến. Để hạn chế
những tiếp xúc ở những nơi dễ lây lan và có mật độ người cao, giới hữu
trách y tế có thể thực hiện những biện pháp hạn chế hay đình chỉ tạm thời
các phương tiện vận tải tập thể, đóng cửa các cơ sở giảng dạy và đào tạo,
hoãn lại những cuộc thi đấu thể thao, đóng cửa các phòng chiếu bóng.
23/ Có phải nhờ người giao hàng mua được tại nhà
không ?
Như thế càng tốt nếu đại dịch bành trướng mạnh mẽ. Nhưng vấn đề , đó là
nguy cơ không có đủ người giao hàng.
24/ Có nên mang gant để đẩy xe Caddie ở siêu thị
không ?
Tốt hơn là rửa tay trước và sau khi đã sờ mó những đồ vật có tiềm năng
bi lây nhiễm như các panier và xe Caddie của siêu thị.
25/ Có nên thay đổi những hoạt động thể thao không
?
Không. Ta có thể đi tắm ở piscine không ? Vâng, bởi vì virus không chịu
được chlore, Viện Pasteur đã chỉ rõ như vậy. Nguy hiểm duy nhất có thể
do ai đó đùa giỡn khạc nhổ vào những người khác. Còn nước biển thì sao?
Ta không biết được virus chịu được với nồng độ muối nào. Ta có thể đi
nhà tắm hơi (sauna) không? Vâng, virus không chịu được hơi nước nóng 100
độ C. Còn các câu lạc bộ thể dục, trong đó người ta tập luyện trên các
xe đạp tập thể thì sao? Sau khi đã đặt tay trên tay lái, tốt hơn là rửa
chúng với gel nước-cồn hay nếu không tránh dụi tay lên miệng, mũi hay
mắt.
26/ Ưu tiên những loại vận chuyển nào ?
Các vận chuyển cá nhân : xe hơi hay xe đạp. Công ty đường sắt Pháp SNCF
hứa gia tăng tần số lau chùi nhà gare (bằng cách nhấn mạnh vào các tay
cầm của các cầu thang) và của các tàu hỏa. Như vậy, nguy cơ lây nhiễm
bởi virus sẽ thấp hơn trong métro so với nơi văn phòng làm việc hay ở
gia đình, nhà dịch tế học Antoine Flahaut đã đánh giá như vậy.
27/ Người ta có thể bị cúm A nhiều lần không ?
Không. Xác suất mắc phải cúm bởi virus mới A (H1N1) hai lần trong cùng
một năm là số không bởi vì cơ thể đã được miễn dịch bởi lần nhiễm trùng
đầu tiên.
28/ Cúm A (H1N1) có bảo vệ chống lại cúm mùa (grippe
saisonnière) không? Và ngược lại?
Cúm A (H1N1) chẳng bảo vệ chống lại cúm mùa và ngược lại cũng vậy. Virus
cúm A (H1N1), được lan truyền từ người qua người, là kết quả của những
tái phối hợp giữa vật chất di truyền (matériel génétique) phát xuất từ
virus heo, người và gia cầm. Virus này khác với virus A hay B của cúm
mùa, là virus người thường lưu hành trong những tháng mùa đông.
Những virus này vì phát xuất từ những giống gốc (souche) khác nhau, do
đó sự gây miễn dịch chống lại một trong những virus này (bằng tiêm chủng
hay do nhiễm trùng nguyên phát) không bảo vệ chống lại virus kia.
29/ Các gia súc có thể mắc phải cúm A (H1N1) không
?
Chó và mèo có thể bị gây bệnh bởi các virus đặc hiệu, nhưng các chuyên
gia đều khẳng định : không có nguy cơ về sự lây truyền của virus A (H1N1),
vốn đã được “ nhân hóa ” (humanisé) khi tái phối hợp di truyền, cho các
gia súc. Ngược lại ta không thể loại trừ rằng một sự biến dị về sau của
virus cho phép nó bị mắc phải bởi vài động vật.
30/ Thế các động vật có thể truyền bệnh cúm không
?
Theo như cùng cách các động vật không thể mắc phải bệnh cúm A (H1N1),
thì chúng dầu thuộc loại động vật nào, đối với người, đều không phải là
những vecteur của virus A (H1N1).
Do đó, tránh xa chuột hang (hamster), rùa hay chó teckel có lông cứng
vì sợ bị lây nhiễm bởi chúng là vô ích. (LE MONDE 5/11/2009)
4/ BỆNH SỐT RÉT : TỶ LỆ TỬ
VONG SỤT GIẢM NGOẠN MỤC Ở SENEGAL.
MALADIES TROPICALES. Ở Sénégal, việc sử dụng những phối hợp thuốc mới
có chất căn bản là artémisinine (ACT), chất dẫn xuất từ một dược thảo
Trung Hoa, đã cho phép làm sụt giảm một cách đáng kể tỷ lệ tử vong do
sốt rét.
Tỷ lệ tử vong này đã được thu giảm 2/3, chuyển từ “8000 tử vong mỗi năm,
cho đến năm 2006, xuống còn 1.200 mỗi năm ngày nay”, đối với một dân số
toàn thể là 12 triệu dân, BS Cheikh Sokhna, thầy thuốc chuyên khoa sốt
rét thuộc Viện nghiên cứu phát triển (IRD) ở Dakar đã giải thích như vậy.
Cùng chứng nhận bởi Bộ Y Tế Sénégal, thống kê “gần 600.000 trường hợp
cách nay gần 3 năm” và đảm bảo rằng con số này “được chia bởi 3,5”. Theo
Viện nghiên cứu phát triển, sự trụt lùi này là đáng kể nhất đối với các
trẻ em.
NHỮNG XÉT NGHIỆM CHẤN ĐOÁN MỚI.
“Trong vùng Niakhar (120 km đông nam Dakar), chúng tôi đã thấy một sự
sụt giảm 6 lần tỷ lệ tử vong nhi đồng do bệnh sốt rét”, GS Jean-François
Trape, nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển đã nhấn mạnh như
vậy. Mãi cho đến cuối những năm 1990, điều trị chính dựa trên nivaquine
và chloroquine. Nhưng đã phát triển một sự đề kháng của ký sinh trùng
Plasmodium falciparum (được truyền do muỗi cái anophèle chích) với hai
loại thuốc này, thúc đẩy Sénégal phải nhờ đến artémisinine (ACT) kể từ
năm 2006. “Với những thuốc mới này, các trẻ em trung bình chỉ còn mắc
phải 1,2 cơn sốt rét (“crise de palu”) mỗi năm, so với 6 cơn mỗi năm trong
những năm 1990 ”. Tuy nhiên, vài chuyên gia hiện nay đang lo sợ sự phát
triển của một đề kháng mới của ký sinh trùng đối với ACT. “Đã có những
trường hợp đầu tiên ở Thái Lan vào năm 2008-2009. Vậy ta có thể chờ đợi
thấy cùng hiện tượng sẽ xuất hiện ở Sénégal từ nay đến 10 đến 15 năm nữa”,
Bruno Pradines dược sĩ trưởng của Viện y khoa nhiệt đới đã cảnh cáo như
vậy. Nhưng có những yếu tố khác giải thích sự thoái lui này của bệnh sốt
rét. “Từ khi đưa ra những xét nghiệm chẩn đoán nhanh, chúng tôi đã khám
phá ra rằng mỗi cơn sốt không luôn luôn đồng nghĩa với sốt rét”, BS Samba
Kor Sarr, trưởng phòng khảo sát và nghiên cứu thuộc Bộ Y Tế đã nêu lên
như vậy. Thêm vào đó là những cố gắng phòng ngừa. Vào tháng sáu, chính
quyền đã phân phát 2,2 triệu chiếc mùng tẩm thuốc diệt côn trùng trong
toàn nước Sénégal. Hiện nay, “63% các hộ ở Sénégal có để sử dụng ít nhất
một chiếc mùng, BS Mame Birame Diouf của chương trình quốc gia chống bệnh
sốt rét đã đánh giá như vậy. Mục tiêu là ngăn ngừa muỗi chích vào ban
đêm, mà xác suất bị muỗi anophèle chích cao nhất giữa 18 giờ và 7 giờ”,
M.Sokhna đã nhắc lại như vậy. Mỗi năm sốt rét giết chết từ 1 đến 2 triệu
người trên thế giới, chủ yếu ở châu Phi. Đại đa số đó là những trẻ em
dưới 5 tuổi. (LE FIGARO 3/12/2009)
5/ CHỮA LÀNH NHỜ LIỆU PHÁP GENE.
Lần đầu tiên, một bệnh chết người, gây thương tổn cho não bộ, đã được
chữa lành nhờ liệu pháp gène (thérapie génique), một nhóm những nhà nghiên
cứu quốc tế, được lãnh đạo bởi GS Patrick Aubourg, thuộc bệnh viện Saint-Vincent-de-Paul,
Paris, đã tuyên bố như vậy trong tạp chí Science. Hai bệnh nhân trẻ bị
bệnh adrénoleucodystrophie (ALD), một bệnh di truyền hiếm, trong đó những
tế bào thần kinh bị mất bao myéline do não bộ đồng hóa kém các axít béo.
Mãi đến nay, điều trị chứng bệnh này là ghép xương. Thật vậy, xương ghép
này chứa những tế bào gốc (cellules souches), trong đó vài tế bào gốc,
do biệt hóa thành những tế bào nâng đỡ mới trong não bộ, có thể tái lập
ở đó một chuyển hóa lipide bình thường. Nhưng hai cháu trai này đã không
tìm ra được những người cho tương hợp (donneurs compatibles) và tình trạng
của chúng trở nên trầm trọng dần. Do đó các nhà nghiên cứu đã nhờ đến
một liệu pháp trên gène ABCD1, bị biến dị trong bệnh adrénoleucodystrophie,
và được biết từ năm 1994 nhờ các công trình của Patrick Aubourg. Họ trích
lấy nơi các bệnh nhân những tế bào tủy xương để truyền vào trong bộ gène
(génome) của chúng một bản sao bình thường của gène bị suy yếu, nhờ một
vecteur dẫn xuất từ virus HIV (sida). Rồi các nhà nghiên cứu tiêm chúng
vào lại nơi các trẻ em mà tủy xương đã được loại bỏ. Vài tháng sau, căn
bệnh biến mất. Một đứa trẻ thứ ba đang trên đường lành bệnh.
Phương pháp được chọn lựa có tính chất cách mạng vì nhiều lẽ. Trước hết,
nó đánh dấu một sự tiến bộ đối với ghép xương : hiệu quả hơn và nhanh
chóng, ngoài ra nó được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân bị bệnh ALD.
Sau đến, nó mở đầu một loại vecteur mới, được gọi là lentiviral, đã được
sử dụng để điều trị một bệnh di truyền khác hiếm hơn, hội chứng Wiskott-Aldrich.
Sau hết, nó mở đường cho liệu pháp gène của những mô khác với máu, như
hệ thần kinh. Với một chục thử nghiệm đang được tiến hành hay sắp được
tiến hành ở Pháp, liệu pháp gène sau cùng dường như đang trên đường làm
tròn những hẹn ước của mình. (SCIENCES ET AVENIR 12/2009)
6/ DÙNG KHÁNG SINH SẼ TRÁNH UNG
THƯ DẠ DÀY.
Thanh toán một vi khuẩn nơi những người trưởng thành trẻ tuổi sẽ bảo vệ
họ khỏi bị ung thư dạ dày. Thật vậy, Helicobacter pylori, nguồn gốc của
các loét dạ dày, cũng có thể đóng một vai trò trong sự xuất hiện của các
ung thư dạ dày ; loại ung thư này gây bệnh cho 9000 người Pháp mỗi năm.
Vậy có phải loại bỏ một cách hệ thống vi khuẩn này để ngăn ngừa ung thư
dạ dày hay không ?
Thật ra, một điều trị phòng ngừa bởi kháng sinh chỉ có thể hữu ích nơi
những người dưới 50 tuổi, theo Katsuhiro Mabe, thầy thuốc chuyên khoa
tiêu hóa của trung tâm y tế KKR Sapporo (Nhật Bản). Ông ta đã tiến hành
một công trình nghiên cứu trên hơn 4.000 bệnh nhân đã bị một loét dạ dày
do helicobacter pylori. Những người này, tuổi trung bình 50, đã nhận hoặc
là một điều trị chống lại axit của dạ dày, hoặc một kháng sinh liệu pháp.
Trong suốt công trình nghiên cứu, 56 trường hợp ung thư dạ dày đã được
phát hiện, nhưng không có sự khác nhau đáng kể nào đã được xác nhận giữa
hai nhóm. Ngược lại, những bệnh nhân trẻ hơn, đã sử dụng các kháng sinh
chống lại một loét dạ dày, dường như hưởng được một hiệu quả bảo vệ. Những
kết quả này gợi ý rằng việc thanh toán Helicobacter pylori nơi một bệnh
nhân trẻ tuổi đúng là làm giảm nguy cơ bị ung thư dạ dày. (SCIENCE
ET VIE 12/2009)
7/ RUỘT THỪA KHÔNG PHẢI LÀ MỘT
CỤC BƯỚU VÔ DỤNG.
Từ hàng triệu năm nay, ruột thừa chứa một quần thể vi khuẩn (flore bactérienne)
trong trường hợp bệnh ruột. Ruột thừa chẳng dùng vào việc gì cả. Nó chỉ
mang lại những bất tiện mà thôi. Nó có thể bị viêm và bị nhiễm trùng,
đó là điều mà người ta gọi là “ ruột thừa viêm ”. Khi đó người phẫu thuật
phải lấy nó đi để tránh ruột thừa viêm, khi thủng, gây nên viêm phúc mạc,
một biến chứng có ảnh hưởng xấu lên tiên lượng sinh tồn. Vậy ruột thừa
chỉ là một vết tích bí hiểm của quá trình tiến hóa. Richard Darwin xem
nó như là vết tích của một thời kỳ xa xăm, lúc đó tổ tiên của chúng ta
sống trong các rừng cây và nuôi sống nhờ các lá cây. Darwin đặt nền móng
giả thuyết này trên sự kiện là nhiều động vật ăn cỏ cũng có một ruột thừa,
nhưng hình dạng rất khác. Từ nhiều năm nay, một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ
của Đại học Duke (Bắc Carolina) công kích kịch liệt điệp khúc về sự vô
dụng của ruột thừa. Theo họ cái cục bướu khoảng 10 cm nằm ở đầu ruột già
này có một vài trò thật sự. Ruột thừa dùng làm nơi trú ẩn đối với các
“vi khuẩn tốt” (bonnes bactéries) nằm phủ kín các thành ruột của chúng
ta. Khi ỉa chảy nặng, các vi khuẩn này được che chở trong chỗ trú ẩn tự
nhiên này, rồi từ đó chúng có thể tăng sinh trở lại trong ruột. Nơi người
và các động vật linh trưởng, sự thông thương giữa ruột và ruột thừa không
diễn ra trực tiếp. Sự thông thương này được thực hiện qua một chỗ phình
có vai trò như là một hàng rào chặn.
100.000 TỶ VI KHUẨN
Lời giải thích của các nhà nghiên cứu thật hấp dẫn và nhất là lời giải
thích này đi theo chiều hướng của nhiều khám phá mới đây cho thấy vai
trò thiết yếu của các vi khuẩn ruột trong sự tiêu hóa các thức ăn và sức
khỏe của mỗi cá thể. Nơi một người trưởng thành, người ta ước tính rằng
quần thể ruột được cấu tạo bởi 100.000 tỷ vi khuẩn, hoặc một trọng lượng
toàn thể 1,5kg. Những vi khuẩn này nằm chất đống thành các lớp chồng lên
nhau dọc theo ống tiêu hóa, tạo thành những biofilm bảo vệ ruột chống
lại các vi khuẩn độc hại hay những tấn công bên ngoài. Một dự án châu
Âu (MetaHIT) mới đây đã được phát động để séquencer toàn bộ các bộ gen
(génome) vi khuẩn của ruột người. Những kết quả có thể làm biến đổi nhận
thức của chúng ta về sức khoẻ con người.
Nhóm nghiên cứu được dẫn dắt bởi William Parker tiếp tục công trình nghiên
cứu của mình. Các nhà sinh học này vừa công bố một công trình nghiên cứu,
trong đó họ cho thấy rằng ruột thừa đã hiện hữu từ hơn 80 triệu năm, dưới
các hình dạng khác nhau, nơi nhiều loài động vật có vú, trong đó có các
linh trưởng và vài động vật gặm nhấm (Journal of Evolutionary Biology,
10/2009). Nếu ruột thừa đã tồn tại lâu như thế trong thế giới sinh vật,
đó đúng là bởi vì nó có một ưu điểm tiến hóa, các nhà nghiên cứu đã xác
nhận như vậy trong phần kết luận của họ. “Trong những nước phát triển,
chúng ta được bảo vệ. Chúng ta không uống nước bị ô nhiễm, vậy chúng ta
không cần ruột thừa, William Parker đã nhận xét như vậy. Trong những nước
ở phía Nam với tình trạng y tế ít tốt hơn, những trường hợp ruột thừa
viêm nhiều hơn” nói một cách khác, chỉ chính nơi đó mà ruột thừa mới còn
có lý do tồn tại. “Để kiểm tra tính chất có căn cứ của giả thuyết này,
Dusko Ehrlich, nhà nghiên cứu ở Inra và điều phối viên của dự án MetaHIT
đã xác nhận như vậy, cần phải so sánh sự tái định cư vi khuẩn sau một
điều trị kháng sinh nơi những người có ruột thừa và nơi những người không
còn có nó nữa”. (LE FIGARO 6/12/2009)
8/ SỎI ĐƯỜNG TIỂU : NHỮNG QUY TẮC
ĐỂ NGĂN NGỪA NHỮNG TÁI PHÁT.
Sau hội nghị niệu khoa vừa qua, GS Olivier Traxer, thầy thuốc khoa niệu
Bệnh Viện Tenon chỉ rõ những cách ăn uống làm giới hạn các tái phát.
Hỏi : Ở Pháp, có bao nhiêu người bị sỏi thận
?
G.S Olivier Traxer : 10% dân số bị chứng bệnh này. Tỷ lệ mắc phải sỏi
thận ở đàn ông cao hơn. Một hòn sỏi, đó là một đám các tinh thể phát triển
trong thận. Sau khi đạt đến một kích thước nào đó, hòn sỏi sẽ gây nên
các cơn đau nếu nó đi vào trong niệu quản (uretère) đến bàng quang.
Hỏi : Người ta có biết nguyên nhân của những
hòn sỏi này không ?
G.S Olivier Traxer : Quá trình kết tinh này của nước tiểu rất là phức
tạp. Trong đại đa số các trường hợp, sỏi thận được tạo thành do sự kết
hợp của calcium với một yếu tố khác hiện diện trong nước tiểu : oxalate.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những
điều trị thường được sử dụng nhất ?
G.S Olivier Traxer : 70% các sỏi thận được tống xuất một cách tự nhiên
qua đường tiểu. Trong 30% còn lại, tùy theo các trường hợp, chúng ta có
3 kỹ thuật. 1. Nghiền sỏi (lithotritie) : các siêu âm đi xuyên qua da
và nghiền vụn các hòn sỏi nhỏ dưới 2 cm. 2. Soi niệu quản (urétéroscopie)
: đối với những hòn sỏi nhỏ đã đi vào trong niệu quản, người ta sẽ thực
hiện kỹ thuật lấy sỏi bằng phương pháp nội soi. 3. Phẫu thuật : đối với
những hòn sỏi lớn của thận, ta thực hiện can thiệp ngoại khoa (hiếm hơn)
bằng một đường xẻ 1cm trong lưng. Đáng tiếc thay những tái phát thường
xảy ra : 50% các bệnh nhân tái phát trong 5 đến 7 năm, và 70% sau 10 năm.
Hỏi : Có những phương tiện đề phòng ngừa
những tái phát hay không ?
G.S Olivier Traxer : Có, những phương tiện này chủ yếu tập trung vào chế
độ ăn uống, và thứ đến vào việc uống thuốc nhằm làm giảm sự kết tinh của
nước tiểu.
Hỏi : Những quy tắc mới nhất về chế độ ăn
uống được nhắc lại trong hội nghị niệu khoa vừa qua là gì ?
G.S Olivier Traxer : Những quy tắc này liên kết với 4 điều khuyến nghị.
1. hòa loãng nước tiểu để làm chúng dễ hoàn tan hơn ; 2. thu giảm đến
mức tối thiểu sự hiện diện của calcium trong nước tiểu ; 3. hạn chế lượng
oxalate trong nước tiểu ; 4. ngăn cản chừng nào có thể được sự liên kết
tai hại của calcium và oxalate.
Hỏi : Để hòa loãng nước tiểu, quy tắc là
gì ?
G.S Olivier Traxer: Uống thật nhiều: khoảng 2 lít mỗi ngày, thậm chí 3
lít đối với các vận động viên thể thao. Tất cả các loại nước có thể được
sử dụng.
Hỏi : Để giới hạn lượng calcium trong nước
tiểu, những lời khuyên nào ?
G.S Olivier Traxer : Từ lâu người ta đã tin rằng những thức ăn nhiều chất
calcium phải bị cấm chỉ trong chế độ ăn uống của các bệnh nhân : đó là
sai ! Những thức ăn này chỉ phải được tiêu thụ một cách quân bình. Calcium
với lượng hợp lý là cần thiết bởi vì, trong trường hợp thiếu hụt, chính
calcium của bộ xương sẽ bị huy động, và sẽ có một nguy cơ mất chất khoáng
(déminéralisation) của cơ thể. Quy tắc khác : thêm muối vào thức ăn ít
chừng nào tốt chừng ấy. Bởi vì, khi ta ăn quá mặn, cơ thể để loại bỏ muối
thặng dư buộc phải bài xuất cùng lúc calcium trong nước tiểu. Lời khuyến
nghị khác : hạn chế sự tiêu thụ các thức ăn giàu protéine (thịt, cá...)
một lần mỗi ngày, bởi vì để loại bỏ sự thặng dư protéine, cơ thể cũng
phải bài xuất calcium trong nước tiểu.
Hỏi : Để làm giảm oxalate trong nước tiểu,
những quy tắc được khuyến nghị là gì ?
G.S Olivier Traxer : Phải hạn chế những thức ăn giàu oxalate: chocolat,
các quả hồ đào và các quả phỉ (noisette), chè, vài loại rau như épinard..
Hỏi : Làm sao ngăn ngừa sự phối hợp tai hại
của calcium và oxalate ?
G.S Olivier Traxer : Lời khuyến nghị chính là uống một hay hai ly nước
cam vắt mỗi ngày, bởi vì nó mang lại cho cơ thể citrate, yếu tổ sẽ ngăn
cản sự liên kết của calcium và oxalate. Quy tắc khác : tránh các thịt
vụn, đồ thịt lợn và đồ ngọt. (PARIS-MATCH 3/12-9/12/2009)
9/ MẸ BÉO PHÌ, CON GÁI DẬY THÌ
SỚM ?
Chứng béo phì của nguời mẹ có một ảnh hưởng lâu dài lên tuổi bắt đầu kinh
nguyệt nơi các thiếu nữ. Thật vậy, Sara Keim và các cộng sự viên (National
Institutes of Health, Bethesda, Mariland) đã chứng nhận rằng các cô gái
có mẹ béo phì, có 3 lần nhiều hơn nguy cơ có kinh nguyệt bắt đầu ở một
lứa tuổi sớm (trước 12 tuổi), so với các cô gái mà mẹ có một trọng lượng
bình thường hay hơi cao.
Những công trình nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng các cô gái béo
phì có kinh sớm hơn và rằng các cô gái có mẹ béo phì cũng có khuynh hướng
trở nên béo phì. Trong công trình nghiên cứu hiện nay, các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ đã xác nhận rằng các cô gái có mẹ béo phì, đạt tuổi dậy thì
ở một lứa tuổi sớm hơn, dầu có bị béo phì hay không. Các tác giả đã căn
cứ trên các dữ kiện thu được qua 597 cuộc phỏng vấn nơi các phụ nữ tuổi
từ 22 đến 32 tuổi. (LE JOURNAL DU MEDECIN 6/10/2009)
10/ KÍCH THƯỚC QUẦN ÁO VÀ NGUY
CƠ UNG THƯ.
Một ngày nào đó phải chăng ta sẽ có thể tính toán nguy cơ bị ung thư căn
cứ trên kích thước của quần áo hay không ? Sự phân bố mô mỡ và tỷ số thắt
lưng/háng (rapport taille/hanche) ở đàn ông và đàn bà không giống nhau.
Hai tham số này có thể làm nghi ngờ một rối loạn chuyển hóa, một biến
chứng liên quan với chứng béo phì hay với chứng xơ mỡ động mạch, và ngay
cả sự hiện diện của vài loại ung thư. Các nhà nghiên cứu Hòa lan đã có
ý nghĩ căn cứ trên kích thước của quần áo và đã tiến hành một điều tra
trên 2500 người trong 13 năm. Họ đã xác nhận rằng những kích thước váy
(jupe) lớn nhất dường như tương quan với nguy cơ ung thư nội mạc tử cung
(cancer de l’endomètre), các kích thước lớn nhất của quần dài tương ứng
với nguy cơ bị ung thư thận. (SCENCES ET AVENIR 12/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (7/12/2009)
>>>back>>>
|
 |