 |
Thời
Sự Y Học số 150
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A : NHỮNG TRƯỜNG
HỢP NẶNG GIA TĂNG TRONG KHOA HỒI SỨC.
Các thầy thuốc hồi sức (réanimateur) kêu gọi tiêm chủng, sau khi đã quan
sát những thể nghiêm trọng nơi những người trẻ tuổi.
GRIPPE. Những trường hợp nặng gia tăng ở Pháp, và các thầy thuốc khoa
hồi sức nói càng ngày càng lo ngại khi những trường hợp này liên hệ đến
những người trẻ, trung bình từ 35 đến 40 tuổi. “Người ta thường nói phần
lớn những bệnh nhân bị thể nặng vốn đều có bệnh kèm theo (comorbidité).
Quả đúng là như vậy. Nhưng cần nhấn mạnh rằng thường đó là những bệnh
nhân có bệnh lý mãn tính mức độ trung bình với thời gian sống lâu dài,
và rằng có những bệnh nhân trẻ không có tiền sử bệnh lý và tỷ lệ cao mắc
thể nặng nơi những phụ nữ có thai”, Hiệp hội hồi sức nói tiếng Pháp (SRLF)
đã nhấn mạnh như vậy. Tổng cộng, ở Pháp, 145 trường hợp nặng đã được liệt
kê từ đầu dịch bệnh, trong đó 1/3 còn được nhập viện ở khoa hồi sức hay
đang còn được hồi sức, theo báo cáo tổng kết cuối cùng của Viện quốc gia
theo dõi y tế (INVS), được công bố hôm qua trên site internet. Từ 15 ngày
nay, trên toàn bộ lãnh thổ Pháp, hơn 60 người được nhập viện mỗi tuần
vì một bệnh cúm thể nặng, hoặc 10 lần nhiều hơn so với đầu tháng 10. Trong
các bệnh viện của Assistance publique, “mỗi ngày có từ 25 đến 30 bệnh
nhân chịu hô hấp nhân tạo (ventilation mécanique) trong đó 5 đến 10 thể
rất nặng cần phải nhờ đến một sự cấp oxy ngoài cơ thể (oxygénation extracorporelle),
mà một nửa nơi các trẻ em”, SRLF lại còn nhấn mạnh thêm như thế. Thật
vậy, những người trẻ tuổi nhất dường như đặc biệt dễ bị thương tổn đối
với virus A (H1N1). Những người dưới 15 tuổi chiếm 20% những trường hợp
nghiêm trọng được nhập viện, INVS đã xác nhận như vậy, những người trên
65 tuổi chiếm 7%.
VẤN ĐỀ HÔ HẤP MÃN TÍNH
“Đó chẳng phải là những trường hợp cúm mà ta thường thấy ở bệnh viện,
GS Charles Mayaud, trưởng khoa bệnh phổi và hồi sức của bệnh viện Tenon
(Paris) đã xác nhận như thế. Trong cúm mùa, những thể nặng thường xảy
ra nơi những người già. Virus làm thương tổn các phế quản ở bề mặt, điều
này có thể làm mất bù một bệnh vốn đã có trước, ví dụ suy tim hay suy
hô hấp. Ở đây, nơi những người trẻ, virus đại dịch gây nên những thương
tổn ở phần sâu của phổi và các phế nang, dẫn đến ngạt thở rất khó điều
trị.”
Theo INVS, các bệnh lý liên kết thông thường nhất là (trong gần 1/3 trường
hợp) một vấn đề hô hấp mãn tính và đặc biệt là một hen phế quản.
Một bệnh đái đường được tìm thấy trong khoảng 1% các trường hợp, một chứng
béo phì “bệnh lý” hay một thiếu hụt miễn dịch trong cùng những tỷ lệ.
18 phụ nữ có thai đã bị những thể nặng, hoặc 7%. Tổng cộng, chỉ 1% các
bệnh nhân này đã không có một thể trạng đặc biệt nào. 76 bệnh nhân đã
chết. (LE FIGARO 20/11/2009)
2/ CÚM A (H1N1) : TẠI SAO PHẢI
TIÊM CHỦNG CÁC TRẺ EM.
Đối với các thầy thuốc Nhi Khoa, sự tiêm chủng được biện minh trước hết
để tránh các thể nặng và tử vong.
SANTE. Trong khi chiến dịch chủng ngừa sẽ bắt đầu một cách chính thức
trong các trường học vào tuần này, nhiều bậc cha mẹ vẫn tiếp tục bị tấn
công bởi những mối nghi ngờ. Đứng trước các dữ kiện mâu thuẫn về virus
và các vaccin, liệu họ có phải gánh lấy trách nhiệm buộc gia đình mình
đi tiêm chủng hay không ?
Hỏi : Tại sao phải bắt các con em mình đi
tiêm chủng ?
Cũng như đối với các virus của cúm mùa, các trẻ em là một mục tiêu ưu
tiên của virus H1N1. “Bệnh cúm này theo dự kiến gây nhiễm cho 10 đến 25
% dân chúng. Nhưng phải biết rằng những người trẻ tuổi bị tiếp xúc nhiều
nhất với virus. Các trẻ em cùng nhau hàng giờ ngồi trong các lớp học,
điều này tạo nên một cách lây nhiễm rất có hiệu quả, GS Patrick Berche,
chuyên gia vi trùng học của bệnh viện Necker (Paris) đã giải thích như
vậy. Theo ông, hiện nay không rõ là bệnh cúm này có nghiêm trọng hơn những
bệnh cúm mùa trước đây hay không. Nhưng bởi vì dân chúng còn “trinh nguyên”
hay gần như không có một bảo vệ miễn dịch nào, nên số các trường hợp nhập
viện, kể cả nơi những người trẻ, sẽ là tăng cao hơn. “Các trẻ em rất dễ
bị nhiễm bởi virus H1N1, GS Catherine Weil-Olivier, thầy thuốc nhi khoa
và chuyên gia về cúm đã xác nhận như vậy. Phần lớn các trẻ em đều mắc
phải một bệnh cúm hiền tính, nhưng có những thể nặng, với suy hô hấp cấp
tính, trong đó 30% xảy ra mặc dầu không có yếu tố nguy cơ nào.” Hiện nay,
GS Catherine Weil-Olivier đã xác nhận như thế, các nhập viện vì cúm A
(H1N1) thường xảy ra nơi các trẻ dưới 4 tuổi hơn là trong những lớp tuổi
khác. Và tỷ lệ cần phải đưa các nhũ nhi dưới 1 tuổi vào hồi sức là cao
nhất so với những lứa tuổi khác. Đối với các thầy thuốc nhi khoa, trước
hết chính sự xuất hiện những trường hợp nặng, có tiềm năng gây tử vong,
ngay cả không có những yếu tố nguy cơ, biện minh cho việc chủng ngừa các
trẻ em rất nhỏ tuổi. “Lý luận cũng giống như đối với các vaccin chống
các viêm màng não do phế cầu và do haemophilus, GS Alain Chantepie, chủ
tịch của Hiệp Hội Nhi Khoa, đã nhấn mạnh như vậy. Ngày nay, phần lớn các
nhũ nhi đều nhận hai vaccin này, điều này cho phép tránh nhiều trăm trường
hợp tử vong mỗi năm. Tôi không hiểu tại sao vaccin chống cúm đại dịch
lại không được chấp nhận như vậy.” Theo bảng tổng kết mới nhất của Viện
theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire), 16 nhũ nhi dưới 1 tuổi đã
được nhập viện ở Pháp vì một thể nặng của cúm A (H1N1) từ khi bắt đầu
dịch bệnh và 32 trẻ em từ 1 đến 15 tuổi. Hai lứa tuổi này lần lượt chiếm
7% và 13% các trường hợp nặng.
Hỏi : Những nguy cơ của vaccin đại dịch là
gì ?
Theo các chuyên gia, các nguy cơ xảy ra ở trẻ em cũng như người lớn. Trên
thực tế, “nguy cơ bị những tác dụng phụ của các vaccin đại dịch thấp hơn
nhiều so với nguy cơ mắc phải bệnh cúm, GS Chantepie đảm bảo như vậy.
“Tất cả các dữ kiện thu được cho đến nay chỉ rõ rằng các vaccin chống
cúm đại dịch có một profil không độc rất tốt, tương tự với nguy cơ của
các vaccin chống cúm mùa, một bảng tổng kết của OMS đã kết luận như vậy.
Trong số 65 triệu người đã được tiêm chủng trên thế giới, dưới 10 trường
hợp nghi ngờ bị hội chứng Guillain-Barré đã được ghi nhận. Những tác dụng
phụ thường xảy ra nhất là tại chỗ : đau nơi chỗ chích, đỏ da... Sốt, đau
đầu và mệt cũng thường phát ra và biến mất trong 48 giờ.
Hỏi: Những đứa trẻ nào cần được ưu tiên tiêm
chủng ?
Cũng như ở người lớn, những trẻ yếu ớt nhất nằm ở đầu bảng. Đó chủ yếu
là các nhũ nhi và các trẻ em bị một bệnh hô hấp mãn tính (hen phế quản
cần điều trị hàng ngày, mucoviscidose, những di chứng của sinh non…) ;
một thiếu hụt miễn dịch hay một bệnh lý nghiêm trọng khác (thí dụ tim
dị tật). Những em nhỏ dưới 6 tháng được xem là ưu tiên, nhưng không thể
chủng ngừa chúng. Do đó để bảo vệ chúng cần tiêm chủng bố mẹ và những
người thân cận.
Hỏi : Trên thực tiễn ?
Các trung tâm tiêm chủng đang mở cửa cho các nhũ nhi từ 6 đến 23 tháng.
Những nhũ nhi này cũng như các phụ nữ có thai từ tam cá nguyệt thứ hai
sẽ được tiêm chủng bằng một vaccin không có chất bổ trợ.. 5 triệu học
sinh trung học trong những ngày đến sẽ có thể được tiêm chủng trong các
cơ sở học đường với điều kiện được bố mẹ chấp thuận. Đối với các trẻ em
mẫu giáo và tiểu học, chiến dịch sẽ bắt đầu đầu tháng 12.
Hỏi : Đóng cửa trường có ích lợi không ?
Hôm qua, 264 trường học được đóng cửa ở Pháp vì cúm. Giới hữu trách có
thể đóng cửa một lớp học, thậm chí một trường học, trong 6 ngày nếu từ
3 trường hợp xuất hiện trong cùng một tuần trong cùng một lớp học. Cũng
như các kỳ nghỉ hè, việc đóng cửa trường là một phương tiện có hiệu quả
làm chậm lại sự tiến triển của virus trong dân chúng. Biện pháp này có
lẽ ít dứt điểm hơn việc tiêm chủng.
“Phương tiện tốt nhất để làm ngưng đại dịch, đó là tiêm chủng những đối
tượng trẻ tuổi nhất, GS Berche đã đánh giá như vậy. Ngoài ra, ở Hoa Kỳ,
những người ưu tiên không phải là những người có nguy cơ, mà là những
trẻ em ở tuổi học đường. (LE FIGARO 24/11/2009)
3/ CÚM LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ NHỒI
MÁU CƠ TIM.
Theo một công trình nghiên cứu của Anh, nhiễm trùng cúm có thể gây nên
các nhồi máu cơ tim. Vậy sự tiêm chủng cũng cho phép bảo vệ tim nơi những
người có nguy cơ.Những biến chứng tim của nhiễm trùng influenza, như viêm
cơ tim (myocardite), đã được biết rõ, nhưng còn vai trò của cúm trong
sự xuất hiện của một nhồi máu cơ tim ? Các nhà nghiên cứu người Anh đã
thực hiện một duyệt xét hệ thống các tài liệu y học để nghiên cứu mối
liên hệ giữa cúm (trong đó có những hội chứng cúm và những nhiễm trùng
hô hấp cấp tính) và nhồi máu cơ tim.
Charlotte Warren-Gash, Liam Smeeth và Andrew Hayward cũng đã phân tích
hiệu quả của các vaccin chống cúm trong việc ngăn ngừa các tai biến tim
mạch. Để thực hiện điều này, họ đã thực hiện một phân tích méta các dữ
kiện thử nghiệm được kiểm tra. Họ đã giữ lại 42 tài liệu xuất bản (từ
năm 1932 đến 2008), mô tả 39 công trình nghiên cứu.
Nhiều công trình nghiên cứu quan sát báo cáo những sự liên kết mạnh mẽ
giữa bệnh cúm và nhồi máu cơ tim. Ngược lại, có ít bằng cớ hơn về sự hiện
hữu của một mối liên hệ giữa bệnh cúm với tỷ lệ tử vong tim mạch. Các
nhà dịch tễ học Luân Đôn giải thích hiện tượng thiếu máu cục bộ (ischémie)
này bởi hoạt tính viêm và làm dễ đông máu (activité inflammatoire et pro-coagulante)
của virus, như thế làm biến đổi chức năng nội mô.
Hai thử nghiệm quy mô nhỏ đã xác định hiệu quả bảo vệ tim mạch của vaccin
chống cúm nơi những người bị bệnh tim mạch. Trong khi thử nghiệm này cho
thấy một sự bảo vệ có ý nghĩa chống lại loại tử vong này, thì thử nghiệm
kia lại ít thuyết phục.
Vậy đối với các tác giả, sẽ có một nguy cơ gia tăng bị nhồi máu cơ tim
khi bị cúm mùa và chủng ngừa chống cúm hẳn phải được khuyến khích trong
những nhóm người mà sự tiêm chủng được khuyến nghị, nhất là nơi những
người bị một bệnh tim mạch, mà người ta thường thấy tỷ lệ tiêm chủng thấp.
Ngoài ra các tác giả đánh giá rằng những công trình nghiên cứu khác sẽ
xác lập tính hiệu quả của vaccin chống cúm trong việc làm giảm nguy cơ
bị các tai biến tim nơi những người lành mạnh. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 29/9/2009)
4/ HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH : MỘT ÍT
RƯỢU CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ.
Các lối sống của 40.000 phụ nữ, mà trong số đó 2000 người được nhập viện
vì huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), đã được phân tích bởi một
công trình nghiên cứu Hoa Kỳ. Các tác giả tìm mối tương quan giữa chế
độ ăn uống và sự xuất hiện của benh huyết khối tĩnh mạch. Ngược lại với
mọi chờ đợi, nguy cơ đã được thu giảm 26% nơi các phụ nữ tuyên bố là đã
uống rượu mức độ nhẹ mỗi ngày, so với các phụ nữ kiêng cữ. (PARIS-MATCH
15/10-21/10/2009)
5/ XỬ TRÍ CẤP CỨU TAI BIẾN MẠCH
MÁU NÃO.
Với hai triệu tế bào thần kinh bị chết đi với mỗi phút thiếu máu cục bộ
não, thời gian quả là một tham số có tính chất quyết định trong tai biến
mạch máu não cấp tính. Hai thái độ điều trị đang chiếm ưu thế hiện nay
: thực hiện liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse) trong vòng không quá
4,5 giờ sau một tai biến mạch máu não và sử dụng IRM để quyết định điều
trị tan huyết khối chừng nào có thể được. Điểm lại tình hình với BS Patricia
Redondo, trưởng Stroke Unit của CHU Tivoli (Bỉ).
Các tai biến mạch máu não ngày nay là nguyên nhân thứ hai gây tử vong
trên thế giới và là nguyên nhân thứ ba trong các nước phát triển, sau
nhồi máu cơ tim và ung thư. Trên bình diện của các hậu quả thần kinh,
đó là nguyên nhân đầu tiên gây tật nguyền và nguyên nhân thứ hai gây chứng
sa sút trí tuệ (démence). Ở Bỉ, mỗi năm có 19.000 người bị tai biến mạch
máu não, 9.000 người chết trong năm theo sau những những biến chứng liên
kết với tai biến mạch máu não hay những bệnh tim và 6.000 người vẫn bị
phế tật suốt đời. Phí tổn xã hội-kinh tế của chứng bệnh này là đáng kể
và từng ít một đặt ra một vấn đề y tế cộng đồng thật sự. Trong những năm
qua nhiều tiến bộ đạt được trong điều trị tai biến mạch máu não với những
chiến lược phòng ngừa thứ cấp và sự phục hồi chức năng thần kinh. Nhưng
chắc chắn chính liệu pháp tan sợi huyết (fibrinolyse, hay thrombolyse,
tan huyết khối) và sự phát triển của các điều trị nội huyết quản (traitement
endovasculaire) trong quang tuyến-thần kinh học can thiệp (neuroradiologie
interventionnelle) đã góp phần nhiều nhất trong sự thay đổi thái độ của
các thầy thuốc thần kinh mạch máu (neurologue vasculaire). Điều trị đã
trở nên tích cực dấn thân hơn trong giai đoan cấp tính, với những sơ đồ
đôi khi xâm nhập (invasif) như liệu pháp tan sợi huyết trong động mạch
(fibrinolyse intraartérielle) hay việc thiết đặt các stent nội sọ.
TIME IS BRAIN (THỜI GIAN LẠ NÃO BỘ).
Một kiến thức tốt hơn về các cơ chế sinh học của thiếu máu cục bộ não
cấp tính đã góp phần làm thay đổi nếp nghĩ trong điều trị. Ngày nay các
chiến lược căn cứ vào việc cứu sống phần não bộ bị nhồi máu, được gọi
là “vùng tranh tối tránh sáng thiếu máu cục bộ” (zone de pénombre ischémique).
Vùng này tương ứng với phần của nhu mô não loạn năng do sự giảm luồng
máu đến não nhưng còn có khả năng sống còn trong vài giờ và trở lại hoạt
động nếu một luồng máu thích hợp được tái lập nhanh chóng.
Thời gian là chủ yếu : ngày nay người ta ước tính rằng mỗi phút thiếu
máu cục bộ làm mất 2 triệu tế bào thần kinh, hoặc 120 triệu mỗi giờ và
1,2 tỷ mỗi tai biến mạch máu não. Chính vì vậy mà “vùng tranh tối tránh
sáng” (zone de pénombre) này sẽ là mục tiêu điều trị trong xử trí một
tai biến thiếu máu cục bộ não cấp tính (AVC ischémique aigu). Tất cả những
hành động được thực hiện sẽ nhằm làm hồi phục phần nhu mô não bị thiếu
máu cục bộ này, đồng thời làm giảm chuyển hóa của các tế bào thần kinh,
bằng cách duy trì một áp lực tưới máu (pression de perfusion) đúng đắn
đối với các động mạch bàng hệ và bằng cách làm thông thương trở lại huyết
quản bị tắc trong những thời hạn ngắn nhất.
4 GIỜ 30.
Từ năm 1996, chúng ta có những tác nhân làm tan sợi huyết có tác dụng
tại chỗ (liệu pháp tan sợi huyết trong động mạch, fibrinolyse intra-artérielle)
hay toàn thân (liệu pháp tan sợi huyết trong tĩnh mạch, fibrinolyse intraveineuse).
Một trong những thuốc được sử dụng là altéplase (Actilyse) hay r-tPA,
một polypeptide có được bằng sự tái phối hợp di truyền của t-PA (activateur
du plasminogène tissulaire). Việc sử dụng r-tPA chịu điều kiện bởi vì
ngoài tác dụng tan sợi huyết, thuốc có thể có những tác dụng có hại lên
nhu mô não, làm dễ, nơi vài bệnh nhân, sự thoái hóa của hàng rào máu-não
(barrière hémato-encéphalique) mà hậu quả là sự gia tăng phù nề và nguy
cơ xuất huyết não đôi khi gây tử vong. Mặc dầu vậy, theo một phân tích
méta của các công trình nghiên cứu, phương pháp tan sợi huyết (fibrinolyse)
là một liệu pháp hiệu quả về mặt phục hồi chức năng và tỷ lệ tử vong sau
3 tháng, Đó cũng là một liệu pháp an toàn như đã được chứng tỏ bởi registre
SITS-MOST.
Một bài báo mới đây của Lancet Neurology xác nhận rằng liệu pháp
tan huyết khối (thrombolyse hay fibrinolyse) sau một tai biến mạch máu
não có thể được thực hiện cho đến 4,5 giờ sau biến cố. Nhưng, các tác
giả nhấn mạnh, mặc dầu sự kéo dài của cửa sổ can thiệp đến 4,5 giờ cho
phép điều trị nhiều hơn các bệnh nhân, tuy nhiên nó không cho phép kéo
dài thời gian “ từ cửa đến kim ” (le temps de la porte à l’aiguille),
phải càng gần 1 giờ chừng nào tốt chừng ấy.
Một phân tích méta năm 2004 đã cho thấy rằng khi liệu pháp tan sợi huyết
được thực hiện trong 90 phút, 50% các bệnh nhân không có tật nguyền vào
tháng thứ 3 và 25% khi thời hạn can thiệp là 4 giờ 30. Công trình nghiên
cứu ECASS III (European Cooperative Acute Stroke Study III) cho thấy rằng
tỷ lệ tử vong y hệt nhau tùy theo altéplase được cho 3 giờ hay 4,5 giờ
sau khi xuất hiện các triệu chứng. Người ta cũng không quan sát thấy xuất
huyết nội sọ giữa hai thời biểu này.
Cần ghi nhận rằng altéplase có hiệu quả đối với mọi lứa tuổi và dầu độ
nghiêm trọng của tai biến mạch máu não theo thang NIHSS (National Institute
of Health Stroke Scale) là bao nhiêu. (LE JOURNAL DU
MEDECIN 30/10/2009)
6/ STRESS, ĐÚNG LÀ CÓ HẠI CHO TIM.
Một cách cổ điển, người ta chấp nhận rằng chứng trầm cảm (dépression)
ảnh hưởng một cách âm tính lên tiên lượng tim mạch. Đó cũng là điều được
rút ra từ tư liệu y học, nhưng cũng có thể rằng mối liên hệ này cũng đúng
đối với mọi dạng stress tâm lý-xã hội. Chứng trầm cảm thường được thấy
nơi những bệnh nhân bị các bệnh tim mạch: gần 20% những bệnh nhân này
bị trầm cảm. Thường không được chẩn đoán, bởi vì không phải luôn luôn
dễ dàng xác lập : ví dụ những hậu quả vật lý và tâm thần của nhồi máu
cơ tim có thể gây nên những triệu chứng tương tự với những triệu chứng
của chứng trầm cảm. Về mặt thuốc men, điều quan trọng cần nhấn mạnh là
các bêta-bloquant, trái với điều mà chúng ta tưởng từ lâu, không gây nên
trầm cảm. Nhiều lắm, chúng gây nên vài dấu hiệu riêng rẻ, nhưng không
phải là một bệnh cảnh trầm cảm hoàn toàn.
MỘT MỐI LIÊN HỆ RÕ RÀNG.
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng các bệnh nhân, trở nên trầm
cảm trong hai tuần đầu sau một nhồi máu cơ tim, có một nguy cơ tử vong
tim mạch hai đến ba lần cao hơn những bệnh nhân không trầm cảm. Vài công
trình nghiên cứu không tìm thấy một tương quan nào giữa chứng trầm cảm
và tỷ lệ tử vong tim mạch, nhưng mối tương quan này nói chung được xác
nhận trong tư liệu y khoa. Khoảng hai mươi công trình nghiên cứu gợi ý
rằng, ngoài việc bị nhồi máu cơ tim, những bệnh nhân trở nên trầm cảm
chịu một sự biến dõi tiên lượng về tim mạch. Ngoài ra, nguy cơ tùy thuộc
vào mức độ nghiêm trọng của bệnh trầm cảm : chính những bệnh nhân với
một điểm số trầm cảm cao có nguy cơ bị gia tăng. Điều quan sát này làm
tăng thêm niềm tin rằng đó không phải là một sự tình cờ. Sau cùng, những
bệnh nhân trầm cảm và lúc đầu không bị một bệnh tim mạch nào, có một nguy
cơ cao hơn trên bình diện này. Mặc dầu nhiều công trình nghiên cứu đều
liên hệ đến nhồi máu cơ tim, nhưng người ta cũng đã chứng minh rằng chứng
trầm cảm cũng làm gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não.
Vậy chứng trầm cảm có thể được thêm vào danh sách cổ điển của các yếu
tố nguy cơ tim mạch. Dường như nó không nguy hiểm như chứng nghiện thuốc
lá, nhưng các thầy thuốc chuyên khoa tim càng ngày càng có nhiều người
cho rằng nguy cơ mà chứng trầm cảm gây ra cũng bằng với nguy cơ liên kết
với sự gia tăng thể trọng (excès pondéral).
Vấn đề được đặt ra là tìm biết xem chứng trầm cảm có phải là một yếu tố
nguy cơ độc lập hay không. Người ta có thể cho rằng một bệnh nhân trầm
cảm có khuynh hướng hút thuốc nhiều hơn, ít hoạt động hơn hay ăn uống
thường không đúng quy cách, điều này có thể làm gia tăng nguy cơ. Hay
có thể rằng những người bị nhồi máu cơ tim trở nên trầm cảm và do đó có
một nguy cơ từ vong cao hơn. Hay những bệnh nhân trầm cảm ít chú ý hơn
việc theo dõi tốt các điều trị nhằm vào tim mạch. Nhưng các thống kê đều
rõ ràng : ngay cả sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với những yếu tố
nguy cơ khác, chứng trầm cảm vẫn làm phương hại tiên lượng tim mạch. Ta
cũng có thể tự hỏi những dạng khác của căng thẳng tâm lý-xã hội (stress
psychosocial), như lo âu hay giận dữ, có thể tạo nên một nguy cơ tim mạch
hay không. Các dữ kiện của tư liệu y học khác nhau về điểm này nhưng nhìn
toàn bộ, dường như là như vậy.
CƠ CHẾ.
Mối liên hệ giữa stress và các biến cố tim mạch có thể được giải thích
bởi sự kiện là stress làm rối loạn toàn cơ thể. Nó kích thích trục thượng
thận (axe surrénalien), điều này làm gia tăng cortisol trong máu. Hậu
quả là sự gia tăng nguy cơ bị xơ mỡ động mạch và phản ứng viêm, cũng như
khả năng đông máu (do sự hoạt hóa của các tiểu cầu). Sự rối loạn hệ thần
kinh tự trị dẫn đến sự gia tăng huyết áp và nhịp tim. Một mức độ đề kháng
nào đó đối với insuline (insulinorésistance) cũng xảy ra trong trường
hợp trầm cảm. (LE GENERALISTE 12/11/2009)
7/ MỘT LIỆU PHÁP GENE CHỐNG LẠI
BỆNH PARKINSON.
Lần đầu tiên ở Pháp, một liệu pháp gène (thérapie génique) được trắc nghiệm
trên 6 bệnh nhân bị bệnh Parkinson. Thử nghiệm lâm sàng, đã bắt đầu ở
bệnh viện Henri-Mondor (Créteil), nhằm đưa vào trong ADN của các neurone
còn nguyên vẹn 3 gène có khả năng làm phát khởi trở lại sự sản xuất dopamine,
chất dẫn truyền thần kinh bị thiếu hụt nơi những bệnh nhân này. Những
gène này đi vào trong các tế bào nhờ một virus mà không gây nguy hiểm
cho người. Virus được tiêm trực tiếp vào trong vùng não bộ bị thương tổn
(Locus niger) do thiếu dopamine. Đã được thí nghiệm trên các động vật
linh trưởng, phương pháp này đã cho phép cải thiện vài khả năng vận động
và điều chỉnh nồng độ dopamine trong não bộ, đến 12 tháng sau khi tiêm.
Theo Béchir Jarraya, tác giả chính của công trình nghiên cứu, liệu pháp
này cũng có thể bổ sung các phép điều trị bằng L-Dopa, thuốc chuẩn chống
bệnh Parkinson :
“Vài năm sau phép điều trị với L-Dopa, các biến chứng vận động xuất hiện
và chúng tôi đã chứng tỏ trên các mô hình rằng liệu pháp gène cũng có
thể ngăn ngừa những triệu chứng này”. Ở Pháp, bệnh Parkinson gây bệnh
cho hơn 100.000 người. (SCIENCE ET VIE 12/2009)
8/ NGUY CƠ UNG THƯ CÓ THỂ THAY
ĐỔI TÙY THEO NHÓM MÁU.
Nếu những người thuộc nhóm máu A,B hay AB có nhiều nguy cơ hơn phát triển
ung thư tụy tạng, đó là do profil di truyền của họ. Các nhà nghiên cứu
của National Cancer Institute, Bethesda (Hoa Kỳ), vừa khám phá các gène
là nguồn gốc của mối liên kết này, vốn đã được nhận diện ngay trong những
năm 1950. Để làm được như thế, họ đã khảo sát các gène của 4000 người,
trong đó 2000 người bị ung thư tuyến tụy tạng. Các kết quả đã cho thấy
một mối liên hệ giữa sự xuất hiện của bệnh ung thư tuyến tụy tạng và vùng
của nhiễm sắc thể số 9, vốn xác định nhóm máu. Như thế, những người mang
gène mã hóa đối với nhóm A, B hay AB có một nguy cơ gia tăng phát triển
ung thư của tụy tạng. Các nhà di truyền dự kiến khám phá những yếu tố
mẫn cảm (facteurs de susceptibilité) khác đối với ung thư này trong mục
đích cải thiện việc phát hiện nó. (SCIENCE ET VIE 11/2009)
9/
CHỨNG TRẦM CẢM NẶNG : PHÉP ĐIỀU TRỊ MỚI.
GS Pierre-Michel Llorca, trưởng khoa tâm thần của CHU de Clermont-Ferrand,
bình luận những hiệu năng của thuốc chống trầm cảm escitalopram (Sipralexa),
được công bố trên “Lancet”.
Hỏi : Tần số mắc phải những trạng thái trầm
cảm (état dépressif) ?
GS Pierre-Michel Llorca : Chứng trầm cảm (la dépression) là một bệnh có
tỷ lệ mắc bệnh gia tăng dần. Hiện nay ở Pháp, người ta liệt kê 2 triệu
trường hợp mới mỗi năm (nơi hai phụ nữ đối với một đàn ông). Những công
trình nghiên cứu mới nhất tiết lộ rằng 60 % các trường hợp tự tử xảy ra
sau một trầm cảm (8000 trường hợp mỗi năm).
Hỏi : Ông có thể nhắc lại những giai đoạn
khác nhau của chứng trầm cảm ?
GS Pierre-Michel Llorca : Giai đoạn của chứng trầm cảm thay đổi tùy theo
cường độ của nó. Có những đợt nhẹ, trung bình và quan trọng. Trong hai
giai đoạn đầu, ta sắp xếp các bệnh nhân có những triệu chứng ít mạnh và
những hoạt động hàng ngày chưa bị giảm quá nhiều. Giai đoạn cuối (giai
đoạn của những chứng trầm cảm nặng) được đặc trưng bởi một cường độ mạnh
của các triệu chứng và một sự rối loạn sâu của đời sống hàng ngày trên
bình diện nghề nghiệp, xã hội, gia đình. Các bệnh nhân được điều trị một
cách đặc hiệu tùy theo giai đoạn của bệnh.
Hỏi : Thường ta điều trị một chứng trầm cảm
thể nặng như thế nào ?
GS Pierre-Michel Llorca: Bằng những thuốc chống trầm cảm (atidépresseurs)
được cho trong một thời gian 10 đến 12 tháng. Nhưng khi ta tìm thấy những
tiền sử gia đình, phải thực hiện ngay một điều trị lâu dài hơn để tránh
tái phát. Một điều trị tâm lý thường được liên kết với điều trị bằng thuốc.
Vào những đợt trầm cảm nặng, não bộ hoạt động “chậm lại” (“au ralenti”)
và vài chất dẫn truyền thần kinh, như sérotonine (chi phối các cảm xúc)
bị giảm đi Điều này gây nên những triệu chứng trầm cảm. Các tác nhân chống
trầm cảm là những thuốc làm gia tăng nồng độ sérotonine.
Hỏi : Những tác dụng phụ của những điều trị
này là gì ?
GS Pierre-Michel Llorca : Các thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những
vấn đề tiêu hóa, như nôn, biến mất dần dần. Một vài thứ thuốc cũng làm
lên cân và, ít xảy ra hơn, những tác dụng có hại khác như migraine, giảm
dục tính, chóng mặt...
Hỏi : Những kết quả thu được với điều trị
này ?
GS Pierre-Michel Llorca: 70% các bệnh nhân được chữa lành (người ta điều
trị 30% những trường hợp đề kháng với những thứ thuốc khác), nhưng vấn
đề đối với những chứng trầm cảm nghiêm trọng là nguy cơ cao bị tái phát.
Vào đợt trầm cảm đầu tiên, tỷ lệ tái phát là 50%. Lúc xảy ra đợt thứ hai,
tỷ lệ này chuyển qua từ 70 đến 80% và sau một đợt thứ ba, tỷ lệ này là
90% !
Hỏi : Làm gì trong trường hợp tái phát ?
GS Pierre-Michel Llorca : Bệnh nhân tiếp tục lại thứ thuốc đã tỏ ra có
hiệu quả. Lần này điều trị sẽ được theo dõi rất dài lâu, đôi khi trong
nhiều năm, và dừng lại một cách rất thận trọng. Những người hay bị tái
phát khó chịu đựng được một cơn trở lại và những tác dụng phụ của điều
trị.
Hỏi : Do đó lợi ích của một điều trị với
một thứ thuốc mới, escitalopram (Sipralexa), được cho là có hiệu quả hơn
và chịu đựng được tốt hơn về lâu về dài...Những công trình nghiên cứu
nào đã chứng tỏ điều đó?
GS Pierre-Michel Llorca : Đó là một phân tích méta (một sưu tập của 117
công trình nghiên cứu khoa học), được công bố trong “ Lancet ”, so sánh
những kết quả của 1 điều trị chống trầm cảm nơi hơn 25.000 bệnh nhân bị
chứng bệnh này. Các kết luận chứng tỏ rằng thuốc hiệu quả nhất (bởi vì
có một tác dụng lớn hơn lên sérotonine) và được dung nạp tốt nhất là escitalopram.
Điều trị với thuốc này cải thiện nhanh chóng hơn khí chất trầm cảm (humeur
dépressive) và cũng cho phép tìm lại một cách nhanh chóng các khả năng
cảm thấy lạc thú của mình. Ưu điểm khác : thuốc gây nên rất ít các tác
dụng phụ. Suốt trong quá trình thực hiện các công trình nghiên cứu này,
các người tham gia có toàn quyền ngừng và không tham gia nữa… Đó là điều
mà họ thường làm. Nhưng với escitalopram, người ta ghi nhận rất ít sự
gián đoạn.
Hỏi : Ưu điểm lớn nhất của phép điều trị
này ?
GS Pierre-Michel Llorca: Điều trị này tỏ ra hữu ích nơi các người trầm
cảm có những nguy cơ lớn bị tái phát và nơi họ cần thực hiện một điều
trị dài lâu (PARIS MATCH 15/10-21/10/2009)
10/ HY VỌNG SỐNG (ESPERANCE DE
VIE) CÓ THỂ THÊM ĐƯỢC 5 NĂM.
Theo một báo cáo của OMS, hy vọng sống (espérance de vie) của dân chúng
thế giới có thể được gia tăng thêm gần 5 năm nếu ta tấn công vào 5 yếu
tố nguy cơ đối với sức khỏe : sự không đủ trọng lượng trong thời kỳ thơ
ấu, những quan hệ tình dục có nguy cơ, nghiện rượu, thiếu nước uống, sự
lành mạnh hóa và vệ sinh, và cao huyết áp. Thật vậy, những yếu tổ nguy
cơ này chịu trách nhiệm ¼ của 60 triệu tử vong xảy ra mỗi năm.
8 yếu tố một mình chịu trách nhiệm hơn 75% những trường hợp bệnh tim do
động mạch vành, nguyên nhân chính của tử vọng trên thế giới : rượu, tăng
đường huyết, nghiện thuốc lá, cao huyết áp, một chỉ số khối lượng cơ thể
(BMI) tăng cao, tăng cholestérol-huyết, ít ăn trái cây và rau xanh và
sự nhàn rổi không hoạt động.
7 nguy cơ môi trường và hành vi cũng như 7 nguyên nhân nhiễm trùng chịu
trách nhiệm 45% tử vong do ung thư trên thế giới, 71% các tử vong do ung
thư phổi là do thuốc lá, 10 nguy cơ chính có thể tránh được làm giảm tuổi
thọ khoảng 7 năm trên bình diện thế giới và hơn 10 năm trong vùng châu
Phi. (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/11/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (30/11/2009)
>>>back>>>
|
 |