 |
Thời
Sự Y Học số 148
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU
HỎI.
1/ Ta bị mắc phải cúm A (H1N1) như thế nào ?
Như tất cả các bệnh cúm, bệnh cúm do virus (H1N1) được truyền từ cá nhân
này qua cá nhân khác, qua trung gian các dịch tiết của đường hô hấp, các
giọt nhỏ được phóng ra lúc hách xì hay do một cơn ho. Virus khi đó được
hít vào và sẽ phát triển trong các đường hô hấp. Sự truyền bệnh chủ yếu
diễn ra trong khung cảnh những nơi tù hãm, nhất là nếu những nơi này rất
thường được lui tới (métro, các biến cố thể thao hay văn hóa,v...v). Virus
cũng có thể được truyền qua tiếp xúc trực tiếp giữa người với nhau : hôn
hít, bắt tay nhau, ... Virus cúm có thể tồn tại trên các bề mặt : các
nắm cửa, các núm thang máy..
2/ Nếu tôi bị mắc phải bệnh cúm, thế có nặng không
?
Tất cả các bệnh cúm đều có thể gây nên tử vong, đặc biệt là nếu người
bị nhiễm trùng có những yếu tố nguy cơ. Ở Pháp, mỗi năm cúm mùa (grippe
saisonnière) gây bệnh cho 2,5 triệu người và làm từ 4000 đến 6000 người
chết.
Trong trường hợp cúm A (H1N1), trong đại đa số các trường hợp, căn bệnh
là hiền tính và gây nên những triệu chứng khó chịu (sốt, đau mình mẩy,
mệt mỏi) trong vài ngày. Tuy vậy, virus được lan truyền rất dễ dàng và
do đó có thể bị mắc phải bởi những người có những yếu tố nguy cơ, và gây
nên một bệnh nghiêm trọng hơn. Điểm cần ghi nhận : trong số những người
bị chết sau khi bị nhiễm bởi virus A (H1N1), 40% là những người trưởng
thành trẻ tuổi có sức khoẻ tốt, thường là những nạn nhân của một viêm
phổi siêu vi trùng (pneumonie virale).
3/ Những nhóm dân nào là có nguy cơ nhất ?
So với virus cúm mùa, có thể gây nên những thể biến chứng thậm chí chết
người, nhất là nơi những người già (90% các tử vong xảy ra nơi những người
trên 65 tuổi), virus A (H1N1) dường như đặc biệt tấn công vào những người
trưởng thành trẻ tuổi và các trẻ em, nhìn toàn bộ là những người từ 5
đến 50 tuổi. Một trong những giải thích được đưa ra là những người trẻ
đã không có cơ hội được tiếp xúc với các virus thuộc họ H1N1, đã lưu hành
nhiều cho mãi đến những năm 1950, trước khi bị che khuất bởi những virus
thuộc nhưng họ khác. Những người dưới 50 tuổi do đó đã không phát triển
một miễn dịch đối với chúng.
Các phụ nữ có thai tạo nên một nhóm đặc biệt có nguy cơ, nhất là trong
tam cá nguyệt thứ ba của thời kỳ thai nghén. Những người khác dễ bị những
thể nặng hơn là những người vốn bị những bệnh mãn tính : các bệnh lý hô
hấp, tim mạch, gan hoặc thận, một sự thiếu hụt miễn dịch (do một bệnh
hay một điều trị) hay một bệnh đái đường.
Chứng béo phì, với một chỉ dấu khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle)
trên 30, cũng dường như là một yếu tố nguy cơ.
4/ Những triệu chứng đầu tiên là gì ?
Cúm A (H1N1) có thể được biểu hiện bởi một số những triệu chứng nào đó
xuất hiệt đột ngột : run lạnh, sốt trên 38 độ C, đau đầu, những dấu hiệu
hô hấp (ho, mũi chảy, khó chịu ở phổi), nhức mỏi, đau khớp, mệt mỏi. Thêm
vào đó, thuờng hơn là so với các bệnh cúm cổ điển, là những dấu hiệu tiêu
hóa (nôn, ỉa chảy).
5/ Những xét nghiệm cho phép chẩn đoán cúm A (H1N1)
?
Những xét nghiệm nhanh (trong hai hoặc ba giờ) và những xét nghiệm huỳnh
quang miễn dịch (test immunofluorescence), thường được sử dụng đối với
những virus cúm khác, không được khuyến nghị để phát hiện virus biến dị
mới A (H1N1) vì chúng có mức độ nhạy cảm kém (30%). Vậy để phát hiện sự
hiện diện của cúm đại dịch, phải nhờ đến những test par amplification
génique (PCR), cho kết quả trong 8 đến 12 giờ. Những xét nghiệm này, được
thực hiện từ những bệnh phẩm lấy ở mũi và họng, chỉ có thể được thực hiện
trong hai trung tâm chuẩn quốc gia : Trung tâm của Viện Pasteur và trung
tâm của Lyon.
6/ Những xét ngiệm này có được thực hiện một cách
có hệ thống không ?
Không. Theo những khuyến nghị chính thức, những xét nghiệm này chỉ dành
cho những bệnh nhân có những dấu hiệu nghiêm trọng, các nhũ nhi, các phụ
nữ có thai và các nhân viên điều dưỡng.
7/ Ta có thể truyền virus trong khi không có những
triệu chứng cúm hay không ?
Thời kỳ lây nhiễm (période de contagiosité) bắt đầu khoảng 24 giờ trước
khi xuất hiện những dấu hiệu lâm sàng, nói một cách khác một cá nhân đã
mắc phải virus có thể truyền nó ngay cả khi anh ta chưa có các triệu chứng.
Vậy phải nghĩ đến việc ngăn ngừa những người mà ta đã gặp hôm trước.
8/ Phải thăm khám khi nào, ai và ở đâu?
Cần có một xử trí theo mức độ, dầu đó là người lớn hay trẻ em :
- Tôi không bị sốt (dưới 38 độ C) nhưng tôi có những triệu chứng như sau
: đau họng, nghẹt mũi, chảy mũi, ho. Có lẽ mới chỉ có cảm cúm đơn thuần
(simple rhume), tôi cần nghĩ ngơi.
- Tôi sốt hơn 38 độ C. Con sốt này đã bắt đầu đột ngột và tôi có những
triệu chứng như sau : ho, đau họng, đau đầu, mệt mỏi quan trọng, đau cơ.
Có lẽ tôi bị cúm (grippe) ; tôi tự điều trị tại nhà, nếu cần tôi gọi thầy
thuốc gia đình.
– Tôi sốt hơn 38 độ C và tôi thuộc vào các nhóm nguy cơ (trẻ em dưới 2
tuổi, phụ nữ có thai, những người bị một bệnh mãn tính) ; hay tôi bị sốt
và có những triệu chứng khó thở, nôn mửa. Hay tôi quan sát thấy sốt nơi
trẻ em trở nên ít năng động hơn thường lệ. Trong những trường hợp khác
nhau này, phải thăm khám bác sĩ gia đình trong cùng ngày.
- Tôi sốt hơn 38 độ C và tôi ở vào một trong những tình huống sau đây
: khó thở kéo dài, cứng cổ quan trọng, ngủ gà, mất định hướng, co giật,
sốt nơi một em bé dưới 3 tháng. Trong trường hợp này, phải đến cấp cứu
bệnh viện ngay hoặc gọi SAMU.
9/ Những thuốc được sử dụng là gì ?
Trong trường hợp cúm, phải dùng những thuốc chống sốt và đau, như paracétamol.
Các thuốc kháng siêu vi trùng (antiviraux) Tamiflu và Relenza có hoạt
tính đối với virus A (H1N1) khi chúng được cho trong vòng 48 giờ sau khi
xuất hiện những triệu chứng. Việc cho toa Tamiflu tùy thuộc quyết định
của thầy thuốc gia đình. Trong phần lớn các trường hợp, những người bị
bệnh lành bệnh mà không cần các thuốc kháng virus.
10/ Vai trò của Tamiflu là gì ?
Cũng như Relenza, Tamiflu, được cho sớm nơi một người có những yếu tố
nguy cơ, giới hạn mức độ nghiêm trọng của bệnh cúm. Vai trò của nó với
tính cách phòng ngừa được bàn cãi, nhưng “Tamiflu có thể hữu ích cho các
nhân viên y tế tiếp xúc thường xuyên với những người bị nhiễm trùng”,
G.S Claude Hannoun, nhà virus học chuyện về bệnh cúm đã chỉ rõ như vậy.
11/ Tamiflu giá bao nhiêu ? Có được bồi hoàn không
?
Hộp 10 viên giá khoảng 20 Euro. Thuốc kháng virus được bồi hoàn 35%, cũng
như tất cả những thuốc được gọi là “tiện nghi”. Thuốc chỉ được bồi hoàn
hoàn toàn đối với những người có nguy cơ, những người bị một nhiễm trùng
lâu dài hay bị suy giảm miễn dịch. Nếu nước Pháp chuyển qua mức độ báo
động y tế 6, Tamiflu sẽ được cấp bởi chính phủ và miễn phí cho tất cả.
(xem tiếp số đến) (LE MONDE 5/11/2009)
2/ ĐỘC LỰC CỦA VIRUS H1N1.
“ Virus H1N1 này, lúc len lõi vào đến tận các phế nang, có thể rất là
độc lực ”
Giáo sư Jacques Reynes, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới
của CHU de Montpellier trả lời các câu hỏi của phóng viên Paris Match.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những
lý do, ngoài khả năng gây nhiễm cực kỳ của nó, điều gì làm sợ virus mới
H1N1 ?
GS Jacqus Reynes : Hầu hết các virus cúm xâm nhập khí quản và các phế
quản. Những virus khác, như H1N1 có thể vào tận các phế nang và gây nên
viêm phổi. Quá trình đáp ứng của cơ thể đối với sự tấn công của virus
tạo nên một phản ứng viêm, trong vài trường hợp, may mắn thay là ít xảy
ra, có thể gây nên suy giảm hô hấp (détresse respiratoire). Thường thường,
các phòng vệ của cơ thể cho phép bệnh nhân chữa lành trong vài ngày.
Hỏi : Những người nào có nguy cơ phát triển
một thể nặng ?
GS Jacque Reynes : Những người có một vấn đề hô hấp mãn tính do chức năng
phổi của họ bị làm suy yếu. Những người dễ bị tấn công khác : những người
bị chứng béo phì quan trọng khiến khả năng hô hấp bị suy yếu, và những
người rất bị suy giảm miễn dịch, cũng như những người đã nhận một ghép
cơ quan hay tủy xương. Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, những
phụ nữ vào cuối thời kỳ thai nghén cũng có một nguy cơ gia tăng phát triển
một thể nặng, có lẽ do thiếu hụt một vài kháng thể.
Hỏi : Người ta tin rằng virus này đặc biệt
nguy hiểm đối với những người có sức khỏe yếu, thế mà ở Pháp có một thanh
niên mạnh khỏe chết vì bệnh cúm này !
GS Jacque Reynes : Người ta đã ghi nhận loại tai biến này nơi những người
bề ngoài rất khỏe mạnh và bị một thể nặng cúm mùa. Những người này có
thể bị một thiếu hụt miễn dịch không ngờ dến. Phải nhắc lại rằng virus
H1N1 có thể rất độc lực ! Hiện nay, dường như rằng, trong số các thể nặng,
1/3 những người bị nhiễm trùng không bị một bệnh mãn tính.
Hỏi : Tại sao một bộ phận nhân viên y tế
từ chối không chịu tiêm chủng ?
GS Jacque Reynes : Những phương thức chế tạo các vaccin chống cúm H1N1
hơi khác với những cách điều chế những vaccin khác. Đặc điểm duy nhất
: các chất bổ trợ (substances adjuvantes) sẽ được sử dụng một cách quan
trọng để gia tăng những đáp ứng miễn dịch. Những người không chịu tiêm
chủng có lẽ nhớ lại rằng, vào năm 1976, trong một chiến dịch tiêm chủng
đại trà ở Hoa Kỳ chống lại virus cúm A (H1N1) phát xuất từ heo, với một
vaccin cũng có những chất bổ trợ, người ta đã ghi nhận một tỷ lệ bất thường
xảy ra những vấn đề thần kinh. Ngày nay, mối e sợ này có thể được làm
dịu bớt bởi vì vài vaccin được hiệu chính chống lại virus mới này, đã
được sử dụng mà không gây nên những biến chứng. Những kinh nghiệm của
những vaccin mới này vẫn rất là giới hạn, đặc biệt là nơi những trẻ nhỏ,
các phụ nữ có thai và những người bị suy giảm miễn dịch. Nhiều thử nghiệm
lâm sàng đang được tiến hành để đánh giá rất chính xác những liều lượng
cần phải tiêm.
Người ta cũng nghiên cứu hiệu quả và độ dung nạp của những vaccin mới
có hay không có chất bổ trợ.
Hỏi : Ý kiến của ông thế nào đứng trước quy
mô của chiến dịch này ?
GS Jacque Reynes : Việc thông tin hóa đã làm ý thức được tầm quan trọng
của những biện pháp phòng ngừa. Một vài người nghĩ rằng người ta đã làm
quá đáng mối hiểm nguy. Chống lại virus mà đại đa số là hiền tính này,
các biện pháp có thể dường như không tương xứng, nhưng đến nay, tương
lai của loại bệnh cúm này một phần không có thể tiên đoán được. (PARIS
MATCH 24/9-30/9/2009)
3/ CON NGÁO ỘP CỦA CÚM TÂY BAN NHA.
Trận dịch bệnh cúm Tây Ban Nha, đã giết chết nhiều người hơn chiến tranh
14-18, được dùng làm con ngáo ộp cho những người tiên đoán một cuộc tận
thế mới. Nhắc lại lịch sử.
Cái điều mà ta gọi là cúm Tây Ban Nha (grippe espagnole), cái tên cũng
không thích hợp như tên gọi cúm Mễ Tây Cơ (grippe mexicaine) nhưng đã
đi vào trong Lịch Sử, đã là trận đại dịch cúm thế giới (pandémie grippale)
đầu tiên của thế kỷ 20, trước đại dịch cúm á châu (grippe asiatique) năm
1957 (4 triệu người chết), trước trận dịch của cúm Hồng Kông vào năm 1968
(2 triệu người chết) và trận dịch mà ta đang trải qua hôm nay. Bệnh cúm
Tây Ban Nha đã do một virus loại A/H1N1.
Những trường hợp đầu tiên quả thật đã được ghi nhận ở Tây Ban Nha, nơi
đây đã có hàng triệu người chết. Trái với phần lớn các nước khác của châu
Âu, lâm chiến trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở Tây Ban
Nha thông tin không bị kiểm duyệt và các tin tức về trận đại dịch cúm
này có thể được lưu hành từ đó, trong khi phía Đồng Minh, người ta sợ
tạo cho kẻ thù một cảm tưởng rằng quân đội và dân chúng bị suy yếu nếu
truyền bá những tin tức về căn bệnh cúm này.
Trận dịch đã bắt đầu vào tháng ba năm 1918, nghĩa là 8 tháng trước khi
kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất 14-18, nhưng xảy ra vào
lúc mà sự chấm dứt cuộc chém giết to lớn đã bắt đầu ló dạng. Trận dịch
được theo đuổi một cách mạch mẽ vào năm 1919 và đã kết thúc vào khoảng
giữa năm 1920. Số tử vong mà trận đại dịch cúm gây nên càng ngày càng
được bàn cãi, vì lẽ nhiều người đã tăng gấp đôi hay gấp ba con số chính
thức các người chết, mà các nhà viết sử đã ấn định ở mức 30 triệu, hay
đúng hơn giữa 20 và 40 triệu. Đó là trận dịch hủy hoại nhất của lịch sử
nhân loại. Mặc dầu các sự so sánh là táo bạo vì lẽ hành tinh vào thời
Trung Cổ ít dân cư hơn nhiều so với đầu thế kỷ 20, nhưng các nhà sử học
nhấn mạnh rằng trận đại dịch cúm Tây Ban Nha đã giết chết nhiều người
trong một năm hơn là trận đại dịch hạch xoài (peste bubonique), còn được
gọi là Dịch Hạch đen (Peste Noire), trong 4 năm (giữa năm 1347 và 1351).
Như các nhà sử học của Đại Học Stanford nhấn mạnh, người ta ước tính rằng
cứ năm người trên hành tinh thì có một người đã bị nhiễm bởi virus chịu
trách nhiệm đại dịch cúm này và rằng 24% những người Mỹ và có lẽ hơn thế
nữa đối với những người Châu Âu, đã bị nhiễm trùng. Họ còn xác nhận rằng
675.000 người Mỹ đã bị chết hoặc 10 lần nhiều hơn số lính Mỹ đã ngã xuống
trên các chiến trường của cuộc chiến 14-18 (thật ra đối với Hoa Kỳ là
cuộc chiến 1917-1918). Thật vậy, một nửa số những người Mỹ chết ở châu
Âu trong hai năm cuối của cuộc chiến tranh 14-18 thật ra là chết vì những
hậu quả của cúm Tây Ban nha. Một nhà sử học Mỹ đã ước tính số lính Mỹ
chết ở Âu Châu do hậu quả của bệnh cúm này là 43.000 người. Ngay cả tổng
thống Woodrow Wilson, phải thương thuyết những điều kiện của sự đầu hàng
của Đức, trong khi chính ông vừa mới hồi phục những hậu quả của bệnh cúm
này.
HAI CUỘC TÀN SÁT VÀO NĂM 1918.
Vào cuối năm 1918, Journal of the American Medical Association, tờ báo
tiền thân của JAMA, đã viết: “Năm 1918 đã chấm dứt : một năm được ghi
nhớ như là năm chấm dứt của cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong các biên
niên sử của loài người; một cuộc chiến tranh đã đánh dấu, ít nhất là vào
lúc này, sự tiêu diệt giữa con người với nhau; bất hạnh thay, là một năm
trong đó đã phát triển một căn bệnh nhiễm trùng gây nên tử vong cho hàng
trăm ngàn người. Y khoa trong vòng 4,5 năm đã chuyên tâm vào viec làm
cho các con người lính có khả năng chiến đấu trên các mặt trận và ở lại
đó. Bây giờ đây, y khoa phải hết sức chuyên tâm vào cuộc chiến đấu chống
lại kẻ thù tệ hại nhất của tất cả, đó là bệnh nhiễm trùng.”
Ngoài ra, các tác giả trong số cuối này của tạp chí vào năm 1918, còn
bàn cãi về chính bản chất của bệnh nhiễm trùng, bởi vì một bài báo của
Journal of the American Medical Association, mang tựa đề như sau : “ Bệnh
cúm (influenza) phải chăng là do một siêu vi trùng qua lọc (virus filtrable)
? Bệnh cúm Tây Ban nha tức thời tỏ ra đáng sợ hơn những bệnh cúm trước
đây, với một tỷ lệ tử vong 2,5% so với 0,1% đối với những dịch cúm mùa
đã được ghi nhận vào lúc đó. Các nhà nghiên cứu nói trên của Stanford
mặt khác nhấn mạnh rằng tai họa đã dữ dội đến độ hy vọng sống trung bình
(espérance de vie moyenne) ở Hoa Kỳ đã chịu một sự sụt giảm 10 năm. Một
giai thoại, được phổ biến rộng rãi vào thời đó, đã tường thuật một cuộc
đấu bài bridge, chứng kiến trong cùng một đêm 3 trong bốn tay chơi, hội
họp quanh bàn, đã ngã gục chết vì bệnh cúm. Tất cả các cơ quan y tế bị
tràn ngập hết cách cứu chữa, nhất là các bệnh viện, vốn đã bị quá tải
do sự trở về của những người lính bị thương trên mặt trận, một tình hình
lại càng trầm trọng thêm do sự tử vong của nhiều thầy thuốc, lại chính
là những nạn nhân của bệnh cúm này. Các thầy thuốc phải thú nhận sự bất
lực của họ là không tránh được cuộc thảm sát này.
Những thảm họa lại còn dấn các nước bị ảnh hưởng vào trong tình trạng
khủng khiếp. Nhất là ở Hoa Kỳ, theo gương các các cơ quan tổ chức mai
táng, những kẻ phải đảm nhận sự chôn cất của những nạn nhân ngã gục vì
cúm, không còn có thể theo kịp nhịp mà đại dịch áp đặt lên họ. Trong những
nước khác, tai họa lại còn tệ hại hơn. Thí dụ, ở Ấn Độ, người ta thống
kê 50 tử vong vì cúm đối với 1.000 người. Nhưng song song với tai họa
y tế là đại dịch này, chính y khoa trong những năm tháng này đã trải qua
một thời kỳ phát triển quan trọng. Vì buộc phải công nhận rằng mặc dầu
các cuộc chiến tranh gợi cho chúng ta những điều khủng khiếp, thế nhưng
những cuộc chiến này lại có một khía cạnh có lợi, làm những ngành như
ngoại khoa hay vô trùng thực hiện được những tiến bộ, nhất là vào thời
kỳ mà chúng chưa được phát triển một cách hoàn hảo. Tất cả điều đó cũng
góp phần vào sự chiến thắng của những tư tưởng khoa học đối với những
toan tính ngu dân nhằm giải thích thế giới và nhất là chính dịch bệnh.
Và những tiến bộ của y khoa quân sự có thể có lợi cho những bệnh nhân
là nạn nhân của cúm Tây Ban Nha.
LÝ THUYẾT ÂM MƯU ĐÃ CÓ VÀO THỜI KỲ ĐÓ RỒI.
Vào lúc mà hiện nay người ta đã không có một ý niệm chính xác về virus
là nguyên nhân của đại dịch này, ngay vào thời kỳ đó, điều này đã nhanh
chóng làm xuất hiện nhiều giải thích khác nhau liên quan đến lý thuyết
của các âm mưu (théorie des complots). Vào thời kỳ đó vấn đề này lại càng
dễ hiểu hơn, nhất là khi dịch tễ học y khoa đang còn trong những bước
chập chững ban đầu. Ký ức về việc sử dụng khí độc bởi quân đội Đức dĩ
nhiên vào lúc đó làm dễ sự xuất hiện của một lý thuyết về một vũ khí mới
được sử dụng bởi quân đội Đức, một lý thuyết tuy nhiên nhanh chóng bị
bác bỏ bởi sự kiện là căn bệnh đã giết chết phe Đức cũng như Đồng Minh.
Sau cùng người ta chấp nhận nguồn gốc tự nhiên của dịch bệnh, mà về sau
này người ta đã nhận thức rằng căn bệnh này là do một virus, có khả năng
gây nhiễm trùng và tăng sinh nơi heo nhưng không giết chết nó, đồng thời
có khả năng giết chết một loạt các động vật có vú khác trong đó có khỉ,
chuột và người. (LA SEMAINE MEDICALE 8/10/2009)
4/ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
TUỔI THỌ CON NGƯỜI.
Sự gia tăng thời gian hy vọng sống (espérance de vie) sẽ dừng lại vào
một ngày nào đó ? Trong những nước phát triển, tuổi thọ trung bình gia
tăng 3 tháng mỗi năm từ 160 năm nay. Nhưng nếu tin theo một phân tích
được công bố trong số vừa qua của Journal of Population Agening, tương
lai sẽ còn dành những mối bất ngờ. “ Cuộc bàn cãi về động lực của tuổi
thọ chưa bao giờ công khai như thế, Sarah Harper và Kenneth Howse, thuộc
đại học Oxford đã nhấn mạnh như vậy trong một bài báo, liệt kê nhiều yếu
tố ảnh hưởng lên tuổi thọ của con người. Thí dụ, nhiều chuyên gia tự hỏi,
nếu, trong những quốc gia như Hoa Kỳ, là nơi chứng béo phì là một bệnh
dịch thật sự, thì thời gian hy vọng sống (espérance de vie) có thể bị
giảm trong những năm đến hay không.
Vào năm 1840, những người Thụy Điển dẫn đầu với một tuổi thọ trung bình
45 năm. Ngày nay, Nhật Bản giữ vị trí này với một tuổi thọ gần 85 tuổi.
Trong hai thế kỷ, theo nhà nhân khẩu học James Riley, tuổi thọ toàn bộ
của con người đã tăng nhiều hơn gấp đôi đối với những người đàn ông (tuổi
thọ trung bình đã chuyển từ 25 tuổi lên 65 tuổi) và gần như gấp ba đối
với các phụ nữ (từ 25 lên 70 tuổi).
Không gì có thể nói trước rằng khuynh hướng này sẽ kéo dài vô tận. Tuy
vậy câu hỏi có tầm quan trọng. Thật vậy, sự lão hóa dân số chi phối tất
cá các chính sách nhà nước, trong việc tính tuổi về hưu cũng như việc
tổ chức hệ thống y tế, thậm chí sự quy hoạch các hệ thống vận tải nhằm
kéo dài tính tự trị của những người già.
Các chuyên gia đã biết giữ thái độ thận trọng. Trong những năm 1920, Louis
Dublin, một trong những nhà thống kê giỏi nhất của thời kỳ đó, đánh giá
rằng tuổi thọ tối đa của những người Mỹ không bao giờ có thể vượt quá
64 tuổi. Nhưng giới hạn sinh lý tối đa này đã bị phá vỡ. Vào tháng năm
2009, Gerontology Research Group đã thống kê trên thế giới có không dưới
200.000 siêu bách niên (supercentenaires), những người đã vượt quá 110
tuổi.
Trước những năm 1950, sự gia tăng tuổi thọ thường được gán cho sự giảm
tỷ lệ tử vong nhi đồng. Sau đó sự gia tăng này được giải thích bởi sự
gia tăng mức sống (niveau de vie) cũng như cả một loạt những tiến bộ về
vệ sinh, dinh dưỡng, giáo dục và y khoa. Nguy cơ chính liên kết với lối
sống trong thế kỷ XX là thuốc lá. “Những nguy cơ khác trong những nước
giàu là một chế độ ăn uống xấu, thiếu thể dục và uống quá nhiều rượu ”,
Sarah Harper và Kenneth Howse đã nêu lên như vậy.
Các nhà nghiên cứu Anh nhắc lại rằng tuổi thọ thay đổi tùy theo trình
độ xã hội-kinh tế. Nhưng về điểm này, cũng phải dè chừng những định kiến.
Thật vậy, một công trình nghiên cứu, được công bố hôm qua trong các bảng
tường trình của Viện Hàn Lâm Y học Hoa Kỳ đã cho thấy rằng, suốt trong
thời kỳ Đại Suy Thoái (Grande Dépression), giáng vào Hoa Kỳ vào năm 1929,
tuổi thọ của những người Mỹ đã nhảy vọt bất ngờ. Tuổi thọ trung bình đã
chuyển từ 57 tuổi vào năm 1929 lên hơi hơn 63 tuổi một chút vào năm 1932.
Trái lại tuổi thọ đã giảm trong suốt thời kỳ bành trướng kinh tế mạnh
mẽ trước thời kỳ Đại Suy Thoái và vào năm 1936-1937. Theo hai tác giả
của công trình nghiên cứu, José Tapia Granados và Ana Diez Roux thuộc
Đại Học Michigan, sự gia tăng tuổi thọ này có thể chủ yếu được giải thích
bởi việc giảm tiêu thụ rượu và thuốc lá do thất nghiệp cũng như do giảm
ô nhiễm kỹ nghệ.
Các phụ nữ có một tuổi thọ lớn hơn tuổi thọ của các người đàn ông. Nhưng
nếu ta nhìn kỹ, tình trạng hôn nhân của hai giới tính cũng tạo nên nhưng
khác nhau. “Những người có gia đình có khuynh hướng sống lâu hơn những
người độc thân và những người độc thân thì lại có tuổi thọ tốt hơn những
người ly dị hay những người bị góa”, các tác giả đã viết như vậy. Nói
về tuổi thọ, hôn nhân có lợi cho đàn ông hơn so với đàn bà.
(LE FIGARO 30/9/2009)
5/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT:
HƯỚNG VỀ NHỮNG LIỆU PHÁP “KHU TRÚ” (THERAPIES FOCALES) .
Nhiều chiến lược mới đang được thử nghiệm, có thể tránh nhưng di chứng
của những điều trị cổ điển.
UROLOGIE. Đó là một đường hướng thứ ba đang được mở ra đối với những người
đàn ông bị ung thư tuyến tiền liệt (cancer de la prostate). Những điều
trị mới, tại chỗ và ít hung hãn, thu được những kết quả đáng phấn khởi,
theo những công trình nghiên cứu được trình bày tuần qua nhân một hội
nghị quốc tế ở Paris. Hiện nay, các bệnh nhân có hai lựa chọn, tùy theo
giai đoạn tiến triển của khối u, tuổi tác và sự ưa thích của họ. Họ có
thể là đối tượng của một sự theo dõi tích cực, không phải luôn luôn dễ
chịu về mặt tâm lý ; hoặc một phép điều trị tích cực nhằm chữa lành họ
(phẫu thuật, phóng xạ liệu pháp). Con đường thứ ba, còn đang được thí
nghiệm, là con đường của một điều trị một phần (traitement partiel) của
tuyến tiền liệt, giới hạn vào bộ phận khối u (liệu pháp khu trú, thérapie
focale).
Trong số những ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện (từ nay hơn 70.000
mỗi năm ở Pháp), một nửa đuợc phẫu thuật. Với sự gia tăng hằng định của
thăm khám phát hiện bằng PSA (luôn luôn gây bàn cãi), các thầy thuốc niệu
khoa càng ngày càng thường đối đầu với những khối u có kích thước nhỏ,
khu trú và ít tiến triển. Chính những bệnh nhân này mà những liệu pháp
khu trú (thérapies focales) có thể được đề nghị. Các liệu pháp này nhằm
phá hủy các ổ ung thư bằng siêu âm, chính xác là những siêu âm hội tụ
có năng lượng cao (ultrasons focalisés de haute énergie), bằng đông lạnh
(cryothérapie) hay bằng một tác nhân tăng nhạy sáng (photosensibilisateur)
(liệu pháp quang động, photothérapie dynamique).
Được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu của viện Weizmann (Israel), liệu
pháp quang động (photothérapie dynamique), được phát triển bởi công ty
Stebabiotech, có đặc điểm là phá hủy các huyết quản cung cấp máu cho khối
u. Một thuốc tăng nhạy sáng (molécule photosensibilisante) (một dẫn xuất
của chlorophylle được mệnh danh là Tookad), được tiêm bằng đường tĩnh
mạch vào trong cơ thể, rồi người ta chiếu sáng nó bằng một sợi laser được
đặt duy nhất trong vùng ung thư. Được hoạt hóa bởi ánh sáng như thế (với
một độ dài sóng rất chính xác), thuốc tăng nhạy sáng sinh ra những phân
tử không ổn định dẫn xuất từ oxy, sẽ làm thuyên tắc các huyết quản và
làm ngạt khối u trong vài giờ.
Trên thực tiễn, 5 đến 6 sợi quang học (fibres optiques) được đưa vào qua
đường tầng sinh môn, dưới sự kiểm soát của siêu âm. Cuộc phẫu thuật, dưới
gây mê tổng quát nhẹ, kéo dài khoảng 1 giờ và bệnh nhân có thể từ giả
bệnh viện trong ngày. Được trắc nghiệm trên khoảng 40 bệnh nhân với một
ung thư khu trú của tuyến tiền liệt, liệu pháp huyết quản nhắn đích (thérapie
vasculaire ciblée) này đã được dung nạp tốt. Theo những kết quả được trình
bày bởi GS Mark Emberton (University College, Luân Đôn), nhân colloque
được tổ chức bởi hãng Stebabiotech, 1 bệnh nhân trên 18 có một sinh thiết
âm tính (không tìm thấy những tế bào ung thư) với 6 tháng nhìn lại. Một
hiệu quả thoạt đầu khiêm tốn, nhưng được xem là đáng quan tâm bởi các
thầy thuốc niệu khoa. Còn đặc biệt cần phải biết đâu là những kết quả
lâu dài hơn. Hãng Stebabiotech đã dự kiến một thử nghiệm khác vào năm
2.010 trên nhiều trăm người ở Châu Âu.
NHỮNG BUỔI LẬP LẠI.
“ Đó là một phép điều trị đơn giản, không gây nên những di chứng đường
tiểu và sinh dục, và có lợi điểm có thể lập lại được ”, GS Arnauld Villers,
thầy thuốc niệu khoa ở CHU de Lille, một trong những nhà nghiên cứu của
thử nghiệm lâm sàng đã giải thích như vậy. Những buổi liệu pháp khu trú
có thể được lập lại trong lúc theo dõi, trong trường hợp tái phát tại
chỗ hay khi xuất hiện một ổ khác trong tuyến tiền liệt. Tuy nhiên GS Villers
xác nhận rằng nếu chiến lược này là khá “ nhẹ nhàng ” đối với bệnh nhân,
nó phải kèm theo một theo dõi tương đối xâm nhập : IRM, định lượng PSA
trong máu và nhất là sinh thiết tuyến tiền liệt đều đặn.
“ Ngày nay, ta nhận diện được những bệnh nhân với một ung thư tuyến tiền
liệt có nguy cơ thấp, và người ta nghĩ là có thể điều trị chúng một cách
có hiệu quả bằng những phương pháp khu trú. Mỗi phương pháp có những ưu
điểm và những bất lợi của nó ”, BS Eric Barret thuộc Institut mutualiste
Montsouris (Paris), người cùng tham gia vào các công trình nghiên cứu,
đã tổng kết như vậy. “ Nếu những điều hứa hẹn của các liệu pháp khu trú
được xác nhận, khoảng 20% các ung thư tuyến tiền liệt có thể được hưởng
phương pháp này ”, GS Pascal Rischmann, chủ tịch Hiệp hội niệu học, đã
tiên đoán như vậy. Kỹ thuật độc đáo này, dựa trên một chất dẫn xuất của
chlorophylle, cũng được trắc nghiệm trong những ung thư phổi và những
ung thư của túi mật. (LE FIGARO 27/10/2009)
6/ MỘT VIRUS ĐƯỢC KHÁM PHÁ TRONG
VÀI UNG THƯ CỦA TUYẾN TIỀN LIỆT.
ONCOLOGIE. Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một rétrovirus trong lòng
nhiều ung thư của tuyến tiền liệt, nhưng không có thể nói virus có phải
là nguyên nhân hay hậu quả của khối u. Ung thư tuyến tiền liệt phải chăng
có thể được liên kết với một siêu vi trùng ? Đó là điều được gợi ý bởi
các nhà khoa học Hoa Kỳ, Ila Singh và một nhóm những nhà nghiên cứu của
trung tâm y tế của đại học Columbia (Nữu Ước). Các nhà nghiên cứu công
bố những kết quả chứng tỏ rằng những ung thư của tuyến tiền liệt, được
gọi là cấp cao (de haut grade) (đặc biệt hung hãn), chứa ADN vàc các protéine
siêu vi trùng của một rétrovirus được biết là làm nhiễm trùng các con
chuột.
Không phải lần đầu tiên mà người ta quy một tác nhân virus cho một ung
thư người : các papillomavirus là nguồn gốc của ung thư cổ tử cung, virus
của viêm gan B có thể dẫn đến một ung thư gan nguyên phát, và virus Epstein-Barr
gây nên lymphome de Burkitt (một khối u của hàm). Nơi người, nhiều công
trình nghiên cứu dịch tễ từ năm 2000 đã chỉ cho thấy rằng nhiễm trùng
và viêm nhiễm kinh niên có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của
ung thư tuyến tiền liệt.
BA CƠ CHẾ KHÁC NHAU
Virus này thuộc họ các gamma rétrovirus chuột, được biết đến và được sử
dụng bởi những nhà nghiên cứu trên thế giới từ hơn 40 năm nay, do những
tính chất sinh ung thư thí nghiệm của chúng nơi động vật. Nhưng cho đến
nay, không có một gamma rétrovirus nào đã từng cho thấy các khả năng gây
nên một ung thư nơi người.
Ila Singh và các cộng sự viên đã phân tích những mẫu nghiệm sinh thiết
của 233 trường hợp ung thư tiền liệt tuyến cũng như những mẫu nghiệm lấy
nơi 101 bệnh nhân bị một adénome tuyến tiền liệt hiền tính. Để thực hiện
điều này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật làm tăng sinh số các
sao bản của một mẫu ADN, như vậy cho phép phát hiện nó dễ dàng hơn.
Kết quả : các nhà nghiên cứu đã phát hiện sự hiện diện của ADN của virus
trong 14 trong số 233 cũng thư tuyến tiền liệt hoặc hơn 6% các trường
hợp. Và đặc biệt là trong những thể hung dữ. Họ cũng khảo sát sự hiện
diện của những protéine được biểu hiện bởi các gène virus này trong những
tế bào tuyến tiền liệt : 23% các mẫu nghiệm chứa những protéine này. Và
nhất là, các protéine XMRV được siêu biểu hiện (surexprimé) trong những
tế bào biểu bì ác tính của tuyến tiền liệt, điều này cho phép gợi ý rằng
nhiễm trùng bởi rétrovirus này có thể có một vai trò trong quá trình ung
thư hóa trong vài trường hợp.
Các rétrovirus có thể gây nên một ung thư bằng ba cơ chế khác nhau: cơ
chế đầu tiên do sự hiện diện trong bộ gène (génome) của virus một gène
sinh ung thư (oncogène) tăng sinh trong tế bào chủ và gây nên một sự biến
hóa khối u nhanh chóng. Cơ chế thứ hai là sự “châm lửa” (allumage) của
các gène tăng trưởng tế bào của người bởi một gène của virus, và cơ chế
thứ ba là sự đưa vào trực tiếp trong các gène người một mẫu ADN virus,
sẽ phát khởi sự biểu hiện của một gène ung thư. Công trình nghiên cứu
này trong tương lai sẽ có thể dẫn đến những phát hiện mới những chất chỉ
dấu ung thư (marqueurs cancéreux) (LE FIGARO 9/9/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1TrMNgo_XMVR_UngThuNhiepHoTuyen.htm
7/ UNG THƯ VÚ : TIÊN LƯỢNG TỐT
HƠN VỚI ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH.
BS Véronique Diéras, thầy thuốc chuyên khoa ung thư thuộc Viện Curie,
giải thích những tiến bộ quan trọng, được thực hiện trong các ung thư
vú, được trình bày tai Hội Nghị Asco, Hoa Kỳ.
Hỏi : Bà có thể nhắc lại tần số của các ung
thư vú ở Pháp ?
Véronique Diéras : Người ta đã thống kê được 51.000 trường hợp vào năm
2008. Trung bình cứ 8 phụ nữ đang có hoặc sẽ có một ung thư vú. Nhưng
hiện nay người ta quan sát thấy hơn 70% được chữa lành.
Hỏi : Các loại khác nhau của ung thư vú là
gi ?
Véronique Diéras : Người ta xếp chung thành 3 loại. 1. Những ung thư phụ
thuộc kích thích tố (hormono-dépendants), trong đó những tế bào ung thư
có những thụ thể (récepteur) đối với œstrogène và progestérone, những
hormone làm dễ sự tăng sinh những tế bào ác tính (khoảng 70% các ung thư).
2. Các ung thư “HER dương tính” (20% các khối u), hung hãn hơn nhiều,
có trên bề mặt của những tế bào một thụ thể HER2. Chỉ một mình nó, HER2
gây nên sự tăng sinh của những tế bào ung thư và làm dễ sự phân tán của
chúng để tạo nên các dì căng. 3. Các ung thư “cả ba âm tính” (triple négatif),
không có một thụ thể nào và còn hung hãn hơn các loại trước.
Hỏi : Ngoài ngoại khoa, bức xạ liệu pháp,
hóa học liệu pháp, những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) ngày
nay được sử dụng là gì ?
Véronique Diéras : Đối với những ung thư phụ thuộc kích thích tố (cancers
hormono-dépendants), các thuốc kháng kích thích tố (antihormonaux) là
chìa khóa của điều trị. Mục đích là chống lại một cách đặc hiệu các tác
dụng của các hormone trong tế bào ung thư. 1. Đầu đàng của những thứ thuốc
này nơi những phụ nữ trẻ hay mãn kinh là tamoxifène (Nolvadex). Dược chất
này cạnh tranh với các oestrogène nơi thụ thể và phong bế tác dụng của
nó. 2. Các chất ức chế men aromatase chỉ duy nhất được sử dụng nơi các
phụ nữ mãn kinh. Aromatase là một enzyme chịu trách nhiệm sự sản xuất
oestrogène nơi các mô mỡ và vú. 3. Một thuốc khác mới hơn, luôn luôn dành
cho các phụ nữ mãn kinh : fulvestrant (chích mông) gây nên sự thoái hóa
của các thụ thể đối với œstrogène.
Hỏi : Những kết quả của những điều trị nhắm
đích này ?
Véronique Diéras : Trong đại đa số các trường hợp, những điều trị này
là có hiệu quả. Tamoxifène có lẽ là thuốc đã cứu nhiêu mạng người nhất
trong 30 năm vừa qua ! Nhưng nơi những bệnh nhân này người ta quan sát
thấy một sự đề kháng với kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie). Lúc
đó ta có hai giải pháp : hoặc là ta biến đổi điều trị, hoặc là ta dự kiến
một hóa học liệu pháp. Các kết quả thay đổi tùy theo những đặc điểm sinh
học của khối u và những đặc điểm chung của mỗi bệnh nhân.
Hỏi : Bà có thể giải thích các đặc điểm di
truyền nghĩa là thế nào ?
Véronique Diéras : Một thứ thuốc nhắm đích (médicament ciblé), một khi
được đưa vào trong cơ thể, sẽ chịu những biến hóa, thay đổi tùy theo các
chuyển hóa, trước khi đạt đến mục đích của nó. Vì tất cả chúng ta khác
nhau về mặt di truyền, cùng một thứ thuốc sẽ không có cùng hiệu quả nơi
tất cả các bệnh nhân. Trong tương lai, lý tưởng sẽ là kê toa một điều
trị chống ung thư không chỉ tùy theo khối u mà còn tùy theo các gène nữa.
Hỏi : Đối với những ung thư phụ thuộc hormone,
những tiến bộ đạt được là gì ?
Véronique Diéras : Những nghiên cứu quốc tế hiện nay đang đươc tiến hành
trên những phụ nữ bị những tái phát dưới hormone liệu pháp, để phát triển
những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới, với những thứ thuốc
sẽ tăng cường tính hiệu quả của các thuốc chống hormone hiện nay hay để
ngăn ngừa các đề kháng. Ở Viện Curie, chúng tôi đã có những kết quả đáng
phấn khởi, sẽ được xác nhận trong một tương lai gần.
Hỏi : Đối với các loại ung thư “HER2 dương
tính”, những tiến bộ đi đến đâu rồi ?
Véronique Diéras : Người ta đã chứng kiến một cuộc cách mạng thật sự với
sự xuất hiện của herceptine, một kháng thể được tiêm bằng đường tĩnh mạch,
làm phong tỏa hoạt tính của thụ thể HER2. Được liên kết với hóa học liệu
pháp, phép điều trị này đã cho phép làm giảm 35% nguy cơ tái phát và,
trong tình huống ung thư, biến đổi ung thư thành bệnh mãn tính. Nhưng
lại còn những đề kháng. Một loại thuốc mới đây tác dụng lên một chỗ khác
của thụ thể, lapatinib, cho phép, trong trường hợp tái phát, kềm hãm sự
tăng sinh của những tế bào ung thư. Một phương pháp mới dường như rất
hứa hẹn : phương pháp này nhằm chế tạo trong phòng thí nghiệm cùng thứ
thuốc liên kết herceptine với một thuốc của hóa học liệu pháp. Với kỹ
thuật này, thuốc có độc tính chỉ được phóng thích trong lòng tế bào khối
u và không còn trong những tế bào lành mạnh nữa : không còn rụng tóc nữa
và ít những tác dụng phụ hơn nhiều.
Hỏi : Về những ung thư “ ba âm tính ” (cancers
triple négatif), tiến bộ đạt được là gì ?
Véronique Diéras : Chống lại những khối u này, hiện nay chỉ có hóa học
liệu pháp. Người ta liên kết hóa học liệu pháp với một điều trị chống
sinh mạch máu (traitement angiogénique), được tiêm tĩnh mạch, nhằm vào
các huyết quản nuôi dưỡng khối u. Với phương thức này, tiếc thay người
ta đã ghi nhận một số lớn các tái phát, do đó hiệu chính một điều trị
mới. Trong mỗi tế bào có enzyme Parp mà vai trò là sửa chữa các thương
tổn của ADN. Thế mà, chính enzyme này có thể chống lại tác dụng của một
hóa học liệu pháp và làm thất bại nó. Thuốc mới là một chất ức chế Parp,
do đó nhằm trung hòa enzyme này. Các kết quả đã tỏ ra rất dương tính với
các thuốc mới (cho bằng đường tĩnh mạch) liên kết với một hóa học liệu
pháp. Chúng đã tăng gấp ba các tỷ lệ đáp ứng và thời gia đáp ứng so với
hóa học liệu pháp được dùng đơn độc. Để có thể thực hiện những điều trị
này, mức độ chính xác của sinh thiết là cốt yếu. (PARIS
MATCH 22/10-28/10/2009)
8/ METFORMINE KẾT HỢP VỚI
HÓA HỌC LIỆU PHÁP TRONG ĐIỀU TRỊ VÀI UNG THƯ ?
Metformine (Glucophage) là một trong các thuốc chống đái đường được kê
toa nhiều nhất trên thế giới, do vai trò quan trọng của nó trong kiểm
soát đường huyết. Nhưng như chúng ta đã thấy với những thứ thuốc khác,
đó không phải là tác dụng đáng lưu ý duy nhất. Ngày nay, càng ngày càng
có nhiều dữ kiện gợi ý rằng metformine có thể kích thích hệ miễn dịch
và làm tăng cường hiệu quả của các điều trị chống ung thư. Đó là một dữ
kiện quan trọng khi ta biết rằng trên một tập hợp gần 1 triệu người, tỷ
lệ tử vong do ung thư là 29% cao hơn nơi những người có những nồng độ
đường trong máu tăng cao, độc lập với sự nghiện thuốc lá hay nghiện rượu.
Một nghiên cứu cho thấy rằng metformine, nếu được dùng riêng rẻ để điều
trị, được liên kết với một nguy cơ ung thư thấp hơn so với những điều
trị khác. Còn hơn thế, kết hợp nó với insuline cũng làm giảm nguy cơ này
đối với ung thư tụy tạng hay đại tràng, nhưng không đối với ung thư vú
hay ung thư tiền liệt tuyến. “ Sự việc lại còn đi xa hơn nữa khi hai công
trình nghiên cứu mới đây mà một cho thấy một đáp ứng tốt hơn với hóa học
liệu pháp nơi những người bị bệnh đái đường với ung thư vú, được điều
trị bởi metformine ”, GS Ulf Smith, chủ tịch của Hiệp hội châu Âu nghiên
cứu bệnh đái đường đã nói như vậy.
Dầu ở người như thế nào, các dữ kiện lại còn hùng hồn nơi động vật với
sự chứng minh rằng metformine ức chế các tế bào gốc ung thư khi metformine
được liên kết với doxorubicine. Với sự dè dặt cần được xác nhận, có lẽ
chúng ta đang trong buổi bình minh của một cuộc cách mạng trị liệu trong
điều trị vài bệnh ung thư.
Hội Nghị lần thứ 45 của European Association for the Study of Diabetes,
29/9- 2/10 2009, Vienne. (LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2009)
9/ CÁC TẾ BÀO GỐC : TỪ Y
KHOA ĐẾN MỸ PHẨM HỌC.
Những nghiên cứu về tế bào gốc không ngừng làm ngạc nhiên bởi vì chúng
mở ra một con đường sinh học điều trị mới, ngay cả trong lãnh vực sắc
đẹp.
DECOUVERTE : Không một ngày nào trôi qua mà không có một công bố khoa
học nói về những triễn vọng y khoa mới hay các chiến lược điều trị tiên
tiến về các tế bào gốc.
Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì các tế bào gốc ngày nay là niềm hy vọng
lớn nhất của y học để điều trị vài căn bệnh. Để hiểu rõ, phải biết rằng
những tế bào gốc phôi thai (cellulues souches embryonnaires) có khả năng
tái tạo bất cứ mô hay cơ quan nào. Cuối thời kỳ phát triển, mỗi mô là
chỗ tạm trú của những tế bào gốc được gọi là trưởng thành. Những tế bào
này nói chung “ nằm im” (dormant) và sẵn sàng trở nên hoạt động dưới thông
tin của vài messager sinh học. Thật vậy, chúng có khả năng thay thế các
tế bào bị thương tổn. Do đó ta hiểu tại sao các nhà nghiên cứu hâm mộ
di sản quý báu này. Được phân lập và cấy trong phòng thí nghiệm, các tế
bào gốc sau đó có thể sản xuất những tế bào có khả năng điều trị những
dạng đái đường khác nhau, các đột qụy, và ngay cả vài bệnh lý có tính
chất di truyền. Thí dụ khác với những người bị bỏng nặng : một mẫu mô
trích từ da lành cho phép tái tạo các mô để ghép và như thế giải quyết
những vấn đề thải bỏ (rejet).
Cũng vậy đối với những vùng của tim bị làm hỏng bởi một nhồi máu cơ tim
mà chúng ta sẽ tái định cư bằng những tế bào gốc có khả năng tái lập ở
đó một sự hoạt động. Khi chúng ta chứng kiến sự gia tăng không thể tin
được của số những người bị bệnh tim mạch trong những xã hội hiện đại của
chúng ta, các liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) đúng là sẽ mang lại
niềm hy vọng.
Một trong những khám phá mới nhất (và còn mở ra những triển vọng mới)
đã được thực hiện bởi một nhóm những nhà nghiên cứu của đại học Canada
và được công bố trong tạp chí “Stem Cells”. Sự liên kết của một hormone
được sản xuất bởi cơ thể (interféron gamma) với một nhóm tế bào gốc đa
năng nào đó có thể làm dễ sự tăng trưởng của các xương. Áp dụng y khoa
để điều trị bệnh loãng xương là cần thiết. Hãy nhắc lại rằng, theo OMS,
căn bệnh này có liên quan một phụ nữ trên 4 sau 50 tuổi.
CÁC TẾ BÀO GỐC VÀ THẨM MỸ HỌC.
Thẩm mỹ học (cosmétique) cũng quan tâm đến những tế bào gốc, do khả năng
làm tái sinh da của chúng. Những tế bào gốc biểu bì nằm trên màng căn
bản (membrane basale), ở chỗ nối bì-biểu bì (jonction dermo-épidermique).
Sau khi đã nhận thức nhanh chóng tiềm năng của chúng, các Laboratoires
de Recherche Avancée mà Lancôme được hưởng, đã thực hiện từ hơn 20 năm
qua những nghiên cứu sâu về chủ đề này. Các nhà khoa học như thế đã thực
hiện một cuộc khám phá quyết định và gây ngạc nhiên : số các tế bào gốc
biểu bì và hậu duệ của chúng không giảm đi với tuổi tác những chức năng
của chủng bị xáo trộn rất nhiều. Trong lúc nghiên cứu ảnh hưởng của những
biến đổi của chỗ nối bì-biểu bì, họ cũng phát hiện được tầm quan trọng
của môi trường của những tế bào gốc đối với khả năng hoạt động của chúng.
Bằng cách tái tạo một môi trường tối ưu, biểu bì của một lớp da được tái
tạo có khả năng tái sinh thấp, lấy lại tiềm năng tái tạo tương tự với
tiềm năng của một lớp da trẻ. Ngày nay, sau hai thập niên nghiên cứu,
Lancôme hưởng được những kết quả của những công trình nghiên cứu này và
thực hiện một cuộc cách mạng thẩm mỹ học: Absoluev Precious Cells, một
loạt những điều trị tái sinh và tái tạo đối với những phụ nữ trên 50 tuổi.
Triển khai trở lại tiềm năng tái tạo, da thêm được mật độ và những làn
nhăn được giảm đi một cách đáng kể. Từ y khoa đến sắc đẹp, chỉ cần bước
một bước...đã vượt qua. (LE FIGARO 24-25/10/2009)
10/ MỔ CÁC KHỐI U CỦA NÃO BỘ :
MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KỸ THUẬT (PHẦN I)
Những tiến bộ, được thực hiện trong những năm qua, từ nay cho phép điều
trị các thương tổn của não bộ trước đây không thể mổ được. Ngày nay, người
thầy thuốc có thể sửa soạn cuộc phẫu thuật trên ordinareur như một kế
hoạch bay (plan de vol), có thể kiểm tra trong lúc mổ vị trí những vùng
não bộ và, trong vài trường hợp, điều trị không cần phải mở hộp sọ. Chính
để cho các bạn biết tất cả những thành tích này mà chúng tôi đã phỏng
vấn 6 chuyên gia lớn. B.S Sorin Aldea, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc
bệnh viện Foch, G.S Alexandre Carpentier, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc
bệnh viện Pitié-Salpetrière, B.S Laurent Capelle, thầy thuốc ngoại thần
kinh thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, B.S Stephan Gaillard, trưởng khoa
ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Foch, G.S Jean-Jacques Mazeron, trưởng
khoa quang tuyến liệu pháp ung thư thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière,
B.S Charles-Ambroise Valéry, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện
Pitié-Salpetrière
NGOẠI KHOA MỞ HỘP SỌ KẾ HOẠCH HÓA NHỜ MÁY VI TINH.
Lúc hay tin rằng họ bị một khối u não, các bệnh nhân như có cảm giác bị
một cú chùy ! BS Laurent Capelle đã công nhận như vậy. Chữ khối u đã làm
họ sợ ...nhưng trong não bộ, ở đó, họ hoảng sợ. Phải trấn an, giải thích
rằng, mặc dầu hình ảnh gây ấn tượng, nhưng não bộ có thể “ cùng chung
sống với ”, có thể bù trừ. Điều này cho phép có nhiều khả năng điều trị.”
Các khối u của não bộ có thể hiền tính : các u màng não (ménigiome), u
tuyến não thùy (adénome hypophysaire), các u thần kinh đệm (gliome) mức
độ thấp...) hay ác tính : các di căn, các u thần kinh đệm mức độ cao,
các u nguyên bào thần kinh (glioblastomes). “ Các di căn, BS Stephan Gaillard
đã chứng thực như vậy, xảy ra thường hơn các u thần kinh đệm (gliomes)
: vì lẽ các ung thư càng ngày càng được điều trị tốt hơn và bệnh nhân
sống càng ngày càng lâu hơn, điều này, trong vài trường hợp, cho phép
có thể có thời gian phát triển một di căn. Nhưng dầu cho thương tổn là
hiền tính hay ác tính, nó luôn có cùng vấn đề : đó là thể tích của khối
u. Vì sọ là một hộp không thể căng giãn được, do đó nếu khối u trở nên
quá lớn, nó sẽ gây nên tăng áp lực trong sọ và ảnh hưởng lên tiên lượng
sinh tồn.”
“ NEURONAVIGATION ” (HÀNH THẦN KINH) ĐỐI VỚI THẦY
THUỐC NGOẠI THẦN KINH CŨNG NHƯ GPS ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI XE HƠI.
“ Để giải quyết vấn đề thể tích, người ta thực hiện ngay cắt bỏ khối u,
mỗi khi có thể được, các BS Stephan Gaillard và Sorin Aldea đã giải thích
như vậy. Tuy nhiên, vài định vị ngăn cản sự cắt bỏ hoàn toàn và ngay cả
một phần : phẫu thuật không được để lại những di chứng gây tàn phế. Nếu
người ta phẫu thuật trong một vùng chức năng, người ta có thể gây nên
một tật nguyền quan trọng. Những vùng não bộ có nguy cơ nhất là những
vùng vận động, ngôn ngữ, những cấu trúc nằm sâu (những nhân trung ương),
ngày nay dễ xác định nhờ những kỹ thuật IRM mới. Khi một khối u ở một
vị trí quá bất lợi, người ta thích sử dụng một kỹ thuật khác hơn, thí
dụ quang tuyến trị liệu.”
Để mổ một thương tổn não bộ với một sự chính xác tối đa, một tiến bộ đáng
kể đã được thực hiện với sự hiệu chính của một protocole giải phẫu có
máy vi tính hỗ trợ : hành thần kinh (neuronavigation). Đó là một kỹ thuật
mũi nhọn cho phép phẫu thuật viên định hướng tốt trong lúc phẫu thuật
; hành thần kinh đối với thầy thuốc ngoại thần kinh cũng tương tự như
GPS đối với người lái xe hơi.Một cách cụ thể, vài giờ hoặc vài ngày trước
khi giải phẫu, bệnh nhân được chụp IRM. Hình ảnh não sau đó được tích
trữ trong một ordinateur (đơn vị informatique trung ương được trang bị
một màn ảnh, một pointeur, hay bút chì quang học, và hai caméra). Ordinateur
này tái tạo lại hình ảnh theo 3 chiều không gian. Ở phòng mổ, ordinateur
này sẽ giúp phẫu thuật viên trong tất các các động tác. Ngày J, nhờ pointeur
phát ra một bức xạ hồng ngoại (xuất hiện trên màn ảnh), thầy thuốc ngoại
thần kinh bắt đầu thực hiện một recalage giữa sọ của bệnh nhân nằm dài
trên bàn và hình ảnh trên màn ảnh. Nhờ kỹ thuật này, công cụ phi thường
đã cho phép nhà phẫu thuật, hôm trước, hoạch định rất chính xác protocole
mổ, người thầy thuốc biết rất chính xác ông ta đang ở đâu so với mục tiêu
và những cấu trúc cần phải được tôn trọng. Đối với BS Stephan Gaillard,
“ với kỹ thuật này, người ta hưởng được một độ chính xác cao hơn độ chính
xác do mắt người đem lại ! Một tiến bộ quan trọng khác là sự hiệu chính
các dao mổ ít xâm nhập hơn, cho phép ngày nay chúng ta mổ những nơi hôm
qua không thể tiến đến được ; các dao mổ siêu âm (bistours à ultrasons)
đối với những khối u mềm, và những dao mổ khác bằng laser (bistouris au
laser) đối với những khối u rắn hơn. ”
NHỮNG KỸ THUẬT HÌNH ẢNH MỚI NHẤT TỐI ƯU CHẤT LƯỢNG
CÁC ĐỘNG TÁC PHẪU THUẬT
Với tinh thần sáng tạo, các nhà kỹ sư, các thầy thuốc quang tuyến thần
kinh và ngoại thần kinh không ngừng cải thiện các hiệu năng. “ Một phương
thức mới, GS Alexandre Carpentier đã giải thích như vậy, nhằm thực hiện,
trong lúc mổ, siêu âm của một khối u não bộ để kết hợp hình ảnh này với
hình ảnh của IRM được thực hiện hôm trước, tạo nên một hỗ trợ rất quý
báu ! Thật vậy, IRM vẫn là một hình ảnh cố định trong khi siêu âm cho
phép thấy được tiến triển của động tác phẫu thuật. Điều đó cho phép chúng
ta có được một mức độ an toàn lớn hơn của các động tác và một sự cắt bỏ
lại còn hoàn chỉnh hơn. ”
Đối với vài trường hợp mà sự cắt bỏ của một khối u có vẻ rất tế nhị lúc
thực hiện, các thầy thuốc quang tuyến thần kinh đã hiệu chính kỹ thuật
“ IRM fonctionnelle ”, cho phép thấy những chức năng của vài vùng não
bộ. Tiến bộ khác : các máy IRM đã được thiết kế đặc biệt để được thiết
đặt ở phòng mổ nhằm đưa bệnh nhân vào đó trong lúc can thiệp sọ mở. Ở
Pháp, bệnh viện Quân Đội, ở Toulon đã có thể được trang bị một máy như
thế.
ĐỂ TÔI ƯU HÓA PHẪU THUẬT CỦA MỘT KHỐI U UNG THƯ
: CÁC HY VỌNG CỦA MỘT HÓA HỌC LIỆU PHÁP.
“ Một vài loại thuốc chống ung thư, GS Alexandre Carpentier đã giải thích
như vậy, đến não một cách khó khăn do hàng rào bảo vệ máu-não (barrière
hémato-encéphalique) bao quanh các huyết quản của nó.Từ đó nảy ra ý tưởng,
vào lúc phẫu thuật mổ sọ, tiêm vài loại thuốc chống ung thư vào nơi phẫu
thuật.” Đến nay, người ta vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu.
Những kết quả thu được với tất cả những tiến bộ kỹ thuật này là gì ? Nhìn
toàn bộ, các kết quả đều tốt, BS Stephan Gaillard đã đảm bảo như vậy.
Sau can thiệp ngoại khoa, mặc dầu tất các các thận trọng, vẫn còn thấy
các thiếu sót, như sự bại liệt một phần, nhưng thường là tạm thời bởi
vì não bộ có khá năng bù trừ kỳ lạ ! Đối với vài khối u mà sự cắt bỏ đã
không thể hoàn toàn bởi vì định vị của nó, ngày nay ta có thể bổ sung
điều trị bằng một kỹ thuật ngoại quang tuyến (radiochirurgie) hay phóng
xạ liệu pháp (radiothérapie).” “ Hiện nay, BS Laurent Capelle nói tiếp,
người ta ước tính rằng tỷ lệ tử vong do giải phẫu gần zéro và tỷ lệ các
di chứng vĩnh viễn là dưới 5%. Khi người ta giải thích cho các bệnh nhân
rằng các kỹ thuật mới nhất cho phép làm tốt hơn với ít những nguy cơ hơn,
người ta nói với họ sự thật ! ”
(xem tiếp số đến) (PARIS MATCH 28/5- 3/6/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (14/11/2009)
>>>back>>>
|
 |