 |
Thời
Sự Y Học số 147
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/NHỮNG TIN ĐỒN LÀM KÍCH
ĐỘNG MỐI LO SỢ VỀ VACCIN.
Các văn bằng sáng chế khả nghi, các chất bổ trợ nguy hiểm…các vaccin chống
cúm A (H1N1) là đối tượng của những cuộc tấn công dối trá hay phóng đại
quá mức.
Có lẽ các bạn đã nhận được trong những tuần vừa qua một couriel gây lo
ngại về vaccin chống cúm A (H1N1) với một nhan đề gây báo động như “Chủng
ngừa chết người?”. Có lẽ các bạn cũng đã nghe nói đến nữ phóng viên người
Áo, Jane Burgermeister, đã đưa đơn kiện OMS và Liên Hiệp Quốc về mưu toan
giết người hàng loạt? Theo bà ta, các chính phủ đang cố gắng làm giảm
dân số thế giới bằng chiến dịch tiêm chủng được gọi là chết người này..
Những tin đồn này có thể đủ để gieo mối nghi ngờ về chất lượng của các
dược phẩm được đề nghị và động cơ thật sự của các quốc gia khi muốn tiêm
chủng dân chúng của nước họ.
Hỏi: “Cúm A (H1N1) là một căn bệnh lai tạp
(maladie hybride) được tạo nên bởi các yếu tố của cúm heo, của cúm người
và của cúm gia cầm. Được cấu tạo như thế, đó là cái gì hẳn phải xuất phát
từ các phòng thí nghiệm. ”
Đáp : Không. Tất cả các bệnh cúm đang lưu
hành đều là kết quả của những tái phối hợp giữa nhiều giống gốc có nguồn
gốc khác nhau. A (H1N1) không thoát khỏi quy luật đó. Nói chung chúng
nảy sinh trong lòng các dân cư đông đúc sống tiếp xúc mật thiết với các
động vật, tình huống tạo nên một cái lò (creuset) lý tưởng để nhiều giống
gốc gặp nhau, trộn lẫn với nhau và biến dị. Chúng thường phát sinh trong
lòng các trại nuôi gia cầm hay heo, như đã là trường hợp đối với A (H1N1).
Hỏi : “ Tiêm chủng ưu tiên các phụ nữ có
thai và các trẻ em đúng là bằng cớ rằng người ta muốn tấn công vào những
kẻ dễ bị thương tổn nhất.”
Đáp : Chẳng phải chút nào. Lựa chọn ưu tiên
này là do việc các trẻ em dưới 2 tuổi và các phụ nữ có thai là yếu ớt
hơn đứng trước các virus cúm. Các trẻ em, bởi vì một hệ miễn dịch đang
còn chưa được chín mùi. Các phụ nữ có thai bởi vì các phòng vệ miễn dịch
về mặt tự nhiên được “ làm ngủ ” để tránh cho cơ thể khỏi phản ứng thải
bỏ thai nhi... Tuy nhiên, với A (H1N1) và người ta không hiểu tại sao,
tính dễ thương tổn của các phụ nữ có thai dường như lại còn được tỏ rõ
hơn thường lệ, theo các con số tỷ lệ tử vong và các dạng nghiêm trọng
được ghi nhận trong nam bán cầu. Người ta cho rằng các phụ nữ có thai
có nguy cơ bị các biến chứng 4 lần nhiều hơn so với mức trung bình của
dân chúng. Cũng thuộc vào diện nguy cơ, những người được ghép cơ quan,
những bệnh nhân bị suy giảm hô hấp hay những người mang virus HIV. Cần
ghi nhận rằng nếu được tiêm chủng sau 3 tháng thai nghén, một phụ nữ cũng
gây miễn dịch cho con mình chống lại virus. Một yếu tố quan trọng vì lẽ
nhũ nhi không thể được tiêm chủng.
Hỏi : “ Nếu các thầy thuốc từ chối chủng
ngừa, đó là bởi vì vaccin nguy hiểm. ”
Đáp : Trên thực tế, và theo thăm dò mới nhất
của MG France (22/9), 55% các thầy thuốc nói sẵn sàng để được chủng ngừa.
Đứng trước cúm A (H1N1), vài chuyên gia dịch tễ học thấy 2 lý do giải
thích các sự e dè hiện nay : trước nhất, loại cúm này không làm sợ hãi
lắm. Thứ hai, ngoài những người già, phần lớn người ta không có thói quen
được chủng ngừa chống cúm : mặc dầu tiêm chủng miễn phí, nhưng họ không
thấy lý do để thay đổi thái độ. Thật ra, lợi ích của sự tiêm chủng đại
trà này đặc biệt là để làm giảm hậu quả kinh tế của căn bệnh có thể làm
nằm liệt giường 1/3 dân cư.
Hỏi : “ Aluminium, latex, lipide trích từ
gan cá mập…tất cả những chất bổ trợ này được thêm vào thuốc chủng, đó
là món canh của quỷ ! ”
Đáp : Trước hết chúng ta hãy nhắc lại vai
trò của chất bổ trợ (adjuvant) : làm hoạt hóa hệ miễn dịch khi hệ này
gặp vaccin (vaccin chỉ là một dạng vô hại và bất hoạt của virus (kháng
nguyên). Điều này cho phép hệ miễn dịch nhận biết một cách hiệu quả hơn
virus thật sự và loại bỏ nó nhanh chóng hơn.
Có nhiều cách tác dụng tùy theo các chất bổ trợ. Việc thêm vào chất bổ
trợ với những liều lượng cực nhỏ cho phép “ nhữ mồi ” (leurrer) hệ miễn
dịch, làm cho nó tin rằng chất bổ trợ là nơi xảy ra một quá trình viêm
dữ dội. Khi đó cơ thể phản ứng lại một cách kịch phát và phát động một
sự sản xuất ồ ạt các kháng thể càng có hiệu quả hơn để nhận diện kháng
nguyên. Thêm các chất bổ trợ cũng cho phép sử dụng ít hơn các kháng nguyên,
do đó giảm phí tổn chế tạo và gia tốc sự sản xuất các vaccin. Ở Pháp,
cũng sẽ có một công thức vaccin không có chất bổ trợ. Vaccin này được
dành ưu tiên cho các phụ nữ có thai vì cần nên tránh kích động hệ miễn
dịch nơi đối tượng này.
Hỏi : “ Nguy cơ bị những biến chứng nghiêm
trọng phát xuất từ các vaccin chống cúm là lớn hơn nhiều so với nguy cơ
do chính bản thân bệnh cúm.”
Đáp : Sai. Trong cán cân các lợi ích/các
nguy cơ, không có một thí dụ nào trong đó sự tiêm chủng đã nghiêng về
phía xấu. Chiến dịch tiêm chủng năm 1976 chống lại bệnh cúm heo ở Hoa
Kỳ thường được nêu lên làm ví dụ bởi những người theo lý thuyết của sự
âm mưu (théorie du complot). Được phát động vội vàng bởi tổng thống Gerald
Ford nơi 40 triệu người nhằm ngăn chặn một trận dịch đã không bao giờ
xảy đến, chiến dịch tiêm chủng đã gây nên gần 400 nạn nhân bị hội chứng
Guillain-Barré, một dạng bại liệt. Hoặc một tỷ lệ một trên 100.000 người
được tiêm chủng. Thí dụ này là độc nhất. Ngoài ra, con số này phải được
so sánh với tỷ lệ tử vong của cúm A (H1N1), được ước tính từ 1/1.000 và
1/10.000…
Hiệu quả của vaccin chống cúm không bao giờ là hoàn toàn cả, đặc biệt
trên sự giảm tỷ lệ tử vong (nó chỉ đạt được 20%). Nhưng đứng trước một
toàn đại dịch, những nguy cơ phát triển một căn bệnh sau khi được tiêm
chủng vẫn luôn luôn vô cùng bé hơn những nguy cơ bị virus khi không được
chủng ngừa.
Hỏi : “ Vaccin chống cúm mùa cũng hiệu quả
chống virus A (H1N1).”
Đáp : Tin đồn này dựa trên một công trình
nghiên cứu Mễ Tây Cơ được công bố trên site Internet của British Medical
Journal. Được thực hiện vào đầu trận dịch, công trình nghiên cứu này cho
thấy rằng vaccin chống cúm mùa 2008-2009 bảo vệ chống lại những thể bệnh
nặng của cúm A (H1N1). Trên thực tế, chính các tác giả vẫn rất thận trọng
trong những kết luận của họ. Bởi vì họ căn cứ trên số lượng những người
tham dự rất thấp, do đó các kết quả này có thể tạo nên những thiên lệch
thống kê.
Hỏi : “ Bằng cớ của sự âm mưu ? Bằng sáng
chế của vaccin chống cúm A (H1N1) đã được đệ trình năm 2007, hai năm trước
khi dịch bệnh.”
Đáp : Giống gốc H1N1 lưu hành từ lâu rồi.
Chính một virus thuộc loại này đã là nguyên nhân của “ cúm Tây Ban Nha
” năm 1918 cũng như của trận dịch năm 1978 và một phần quan trọng của
các cúm mùa. Chúng ta hãy nhắc lại rằng Hx và Nx chỉ sự phối hợp của hai
phân tử kháng nguyên ở trên bề mặt của virus, không có gì hơn. Có 16 loại
phụ (sous-type) H và 9 loại phụ N. Như vậy bệnh cúm hiện nay chỉ là một
cá thể trong một dân số to lớn các virus cúm của họ H1N1 và như vậy không
phải ngạc nhiên khi các bằng sáng chế đã được đệ trình trước thời điểm
của bắt đầu dịch bệnh. Tên A (H1N1) do đó rất mơ hồ, nhưng đó là một tên
gọi đã được chọn vào hồi tháng sáu vừa qua để phòng “ sự vạch mặt chỉ
tên ” được công bố của tên gọi cúm Mễ Tây Cơ lúc đó được sử dụng. Và tất
cả các H1N1 nhận nhiều mối quan tâm như thế chính là bởi vì chúng đều
có chung một khả năng gây bệnh cao.
- Vào giữa tháng mười, 3 vaccin được khuyến nghị bởi Cơ quan châu Âu đánh
giá các dược phẩm (EMEA). Đó là Celvapan (Baxter), Focetria (Novartis)
và Pandemix (GlaxoSmithKline). Chỉ có Celvapan là không có chất bổ trợ
(adjuvant).
- Những vaccin khác sẽ đến như Panenza, cũng không có chất bổ trợ, sẽ
được chuẩn y vào cuối tháng 11. (SCIENCES ET
AVENIR 11/2009)
2/ H1N1 : CÁC BIẾN CHỨNG
XẢY RA Ở MỌI LỨA TUỔI.
Các bệnh nhân trẻ có một tỷ lệ nhập viện quan trọng hơn, các người trên
50 tuổi có một nguy cơ tử vong cao hơn.
Một điều tra Hoa Kỳ được công bố hôm qua trong tạp chí Mỹ Jama (Journal
of American Medical Association) tiết lộ rằng những người trên 50 tuổi
cũng có thể là những nạn nhân của những biến chứng nghiêm trọng của cúm
H1N1, trong khi mãi đến nay chỉ nhấn mạnh đến những nguy cơ xảy đến nơi
những người trẻ tuổi nhất. Rõ ràng là bệnh cúm do virus mới này chưa tiết
lộ hết những điều bí mật của nó mặc dầu những kiến thức tiến triển với
sự tiến bước của toàn đại dịch. Người ta chưa biết một cách rõ ràng tỷ
lệ tử vong, mặc dầu con số 1 trường hợp trên 10.000 bệnh nhân thường được
đưa ra nhất. Người ta cũng chưa nhận diện một cách rõ ràng tất cả những
yếu tố liên kết làm gia tăng nguy cơ mắc phải các biến chứng.
Công cuộc điều tra, được công bố trong JAMA đã chú ý đến 1.088
bệnh nhân đầu tiên được nhập viện ở Californie, vào lúc làn sóng dịch
từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2.009. Công trình này mang lại một số thông
tin chưa từng có và xác nhận rằng, trái với cúm mùa, mặc dầu những người
trẻ tuổi nhất bị ảnh hưởng nặng nề bởi virus mới này, nhưng những người
trên 50 tuổi cũng không được trừ miễn, vì lẽ tỷ lệ tử vong đối với họ
cao hơn so với những lứa tuổi khác. Một cách rõ ràng, những người trên
50 tuổi thường ít bị bệnh và nhập viện hơn những người trẻ vì lẽ một vài
trong số họ có được một miễn dịch trước đây, nhưng khi họ bị mắc bệnh,
thì nguy cơ chết vì bệnh cúm quan trọng hơn.
Cuộc điều tra mới nhất này đã cho phép làm xuất hiện một số những sự kiện
khác. Một mặt, trên 1.088 bệnh nhân được nhập viện này (mà 1/3 phải được
đưa vào phòng hồi sức), 344, hoặc 32%, là những người dưới 18 tuổi. Tuổi
trung bình của những bệnh nhân được nhập viện là 27 tuổi, nhưng với những
trường hợp xảy ra từ 1 tuổi đến 92 tuổi. Tỷ lệ nhập viện trung bình là
2,8 trên 100.000 dân, nhưng từ 11,9 trường hợp trên 100.000 đối với những
bệnh nhân dưới 1 tuổi đến 1,5 trường hợp trên 100.000 đối với những người
trên 70 tuổi.
Tổng cộng, có 18 trường hợp tử vong, hoặc 1% trong 1 .088 người được nhập
viện. Nhưng tỷ lệ này đạt 20% đối với những người trên 50 tuổi. Thời hạn
trung bình giữa lúc bắt đầu các triệu chứng và tử vong là 12 ngày, nguyên
nhân của tử vong là viêm phổi siêu vi trùng (các lá phổi hoàn toàn bị
xâm nhập bởi virus) liên kết với một hội chứng suy giảm hô hấp cấp tính
(syndrome de détresse respiratoire aigu).
Các biến chứng trước hết giáng vào những người vốn đã suy yếu bởi một
bệnh lý có trước. Điều này cũng được tìm thấy ở Californie, vì lẽ 68%
những người được nhập viện trong điều tra này (60% những người dưới 18
tuổi, 72% những người trên 50 tuổi) có bệnh cao huyết áp, đái đường, bệnh
thận hay tiêu hóa. Chứng béo phì cũng là một yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên
chúng ta hãy ghi nhận rằng không gì khiến tiên đoán được một kết cục nghiêm
trọng đối với hơn 30% những bệnh nhân không có một bệnh lý nào. Mặt khác,
bệnh cao huyết áp hay bệnh đái đường là những bệnh thông thường và rất
phổ biến, nhưng ở đây được xem như là làm gia tăng nguy cơ. Chính sau
hai ngày kể từ lúc bắt đầu bệnh cúm mà các biến chứng xuất hiện, với các
triệu chứng như ho, sốt và khó thở.
BẢO VỆ NHỮNG NGƯỜI THÂN CỦA CÁC TRẺ NHỎ.
Theo các tác giả, nhiều kết luận là cần thiết : “Những trẻ em dưới hai
tuổi có tỷ lệ nhập viện cao nhất, nhưng chúng còn quá nhỏ để có thể nhận
các vaccin hiện được cho phép.Vậy điều quan trọng là bảo vệ ưu tiên những
người thân của các em nhỏ, các tác giả của California Pandemic Working
Group đã nhấn mạnh như vậy.
Mặt khác, 20% các phụ nữ có thai được nhập viện đã cần đến những điều
trị tăng cường (soins intensifs). Các tác giả khẩn khoản để các phụ nữ
có thai được hưởng tiêm chủng ưu tiên. Hôm qua, trong khi OMS nhấn mạnh
sự cần thiết chủng ngừa đối với các phụ nữ có thai, các kết quả của một
công trình nghiên cứu đang được tiến hành chỉ rõ rằng một mũi tiêm đối
với các phụ nữ có thai là đủ. Nhưng đối với những trẻ từ 3 đến 9 tuổi,
một miễn dịch đầy đủ đạt được bằng hai mũi tiêm cách nhau 10 ngày. (LE
FIGARO 4/11/2009)
3/ GIẢI NOBEL LẦN THỨ 100 CHẠY
THEO TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ.
Giải Nobel y học và sinh lý học đã được trao cho Elizabeth Blackburn,
Carol Greider và Jack Szostak do những công trình nghiên cứu của họ về
các nhiễm sắc thể (chromosomes). Các người được giải chia nhau 1 số tiền
gần 1 triệu Euro.
3 người Mỹ này được thưởng vì đã khám phá “các nhiễm sắc thể được bảo
vệ bởi các télomère và men télomérase như thế nào”, Viện Karolinska (Stockholm)
đã xác nhận như thế khi trao giải thưởng. Những công trình của họ, được
thực hiện trong nửa đầu của những năm 80, đã cho phép hiểu các nhiễm sắc
thể có thể được sao chép như thế nào trong lúc phân chia tế bào và chúng
được bảo vệ ra làm sao chống lại sự thoái hóa. Những công trình nghiên
cứu này có những áp dụng trong nghiên cứu về ung thư và sự lão hóa.
Elizabeth Blackburn và Jack Szostak đã khám phá rằng một chuỗi duy nhất
của ADN nơi các télomère bảo vệ các nhiễm sắc thể chống lại sự hủy hoại,
và Carol Greider và Elizabeth Blackburn đã nhận diện enzyme télomérase,
vào khi sao bản ADN, cho phép bảo tồn chiều dài của nhiễm sắc thể bằng
cách thêm một télomère vào mỗi đầu của nhiễm sắc thể. Men télomérase này
có thể là chìa khóa của tuổi thanh xuân bất diệt và do đó men này được
gọi là “enzyme de l’immortalité”. Nó cũng đóng một vai trò quyết định
trong sự ung thư hóa của các tế bào bởi vì khi hoạt tính của nó mạnh mẽ,
chiều dài của các télomère được duy trì và sự lão hóa tế bào được hoãn
lại.
Sự hiểu biết những nhân tố quyết định tế bào của sự lão hóa là thiết yếu
để hiểu rõ tuổi thọ của con người. Télomère là những đường hướng cho phép
nghiên cứu vấn đề này. Télomère, được cấu tạo bởi ADN, nằm ở đầu mút của
các nhiễm sắc thể, có đặc điểm thu ngắn lại khi phân chia tế bào. Cái
ngày mà kich thước của nó trở nên không đủ, tế bào không còn có khả năng
tăng sinh được nữa và chết. Télomérase, một enzyme được khám phá bởi các
nhà nghiên cứu được giải Nobel, có khả năng ức chế sự thu ngắn lại của
các télomère can dự trong sự lão hóa của các tế bào. Từ đó, người ta tin
rằng đã khám phá ra bí mật của sự bất tử của con người. Nằm ở đầu mút
của các nhiễm sắc thể, các télomère bảo vệ chúng chống lại những tác dụng
của thời gian và môi trường và sự ngắn lại của các télomère là một hiện
tượng tự nhiên chứng tỏ sự lão hóa của chúng ta. Nhiều người nghĩ rằng
sự ngắn lại của các télomère là một nguyên nhân của sự lão hóa, không
những ở mức tế bào mà còn ở mức toàn cơ thể.
3 người Mỹ đã được tặng thưởng vì đã giải quyết trong những năm 1980 một
bí ẩn làm bực mình các nhà sinh học từ lúc sự trùng đôi của các nhiễm
sắc thế (duplication des chromosome) đã được khám phá 3 thập niên trước
đó: làm sao các đầu của các phân tử mang các gène của chúng ta có thể
được sao chép lại? Thật vậy, các men sao chép các nhiễm sắc thể của chúng
ta được bố trí ở đầu mút của các nhiễm sắc thể để bắt đầu công việc. Tất
cả được làm sáng tỏ khi 3 nhà nghiên cứu tìm ra télomérase, một enzyme
mà chức năng là bảo vệ (ít nhất một phần) các télomère khỏi bị hủy diệt
trong lúc phân chia tế bào. Với khám phá này sau đó các nhà nghiên cứu
đã chứng minh rằng các khiếm khuyết trong sự sản xuất télomérase có thể
là nguồn gốc của nhiều loạn năng tế bào. Vài căn bệnh dường như được liên
kết với những thiếu hụt télomérase như trong dyskératose aplastique congénitale,
fibrose pulmonaire idiopathique và progeria. Progéria, một sự lão hóa
sớm của cơ thể được đặc trưng chủ yếu bởi một sự ngắn lại sớm của các
télomère. Ngược lại, các tế bào ung thư có một “super-télomérase”. Có
khả năng phân chia hết sức mãnh liệt, các télomère của các nhiễm sắc thể
của chúng từ thế hệ này qua thế hệ khác không bao giờ ngắn lại.
Télomérase chỉ được biểu hiện trong những tế bào gốc (phôi thai hay không).
Nhưng chúng cũng được tái hoạt hóa trong vài khối u ung thư và đóng một
vai trò trong sự tăng sinh của khối u. Có lẽ ít nhất nó đóng góp một phần
trong sự giải thích sự bất tử của vài dòng tế bào ung thư. Hai thách thức
chính của nhân loại, là tâm điểm của giải Nobel này, đó là cuộc đấu tranh
chống lại ung thư và sự lão hóa, một cách nghịch lý do hai cơ chế đối
lập nhau, trong một trường hợp là sự ức chế của télomérase, trong trường
hợp kia là sự kích thích nó.
Từ những công trình sáng lập này, nhiều nhóm nghiên cứu khác nhau đã bắt
đầu nghiên cứu các télomère và enzyme của chúng trong khung cảnh ung thư
học (những thử nghiệm vaccin antitélomérase), trong nghiên cứu các tế
bào gốc và về sự lão hóa con người. Thí dụ năm vừa qua, các nhà nghiên
cứu người Anh đã chứng minh rằng mức độ hoạt động vật lý trong lúc rổi
rãnh được liên kết với chiều dài của các télomère và rằng các télomère
của những người hoạt động tích cực nhất có 200 nucléotide dài hơn so với
những người hoạt động ít tích cực hơn (lần lượt 7,1 và 6,9 kilobases),
điều này tương ứng khoảng một chục năm.
“Một trong những áp dụng khả dĩ của công trình nghiên cứu về các télomère
là cuộc đấu tranh chống lại ung thư, Jérome Dejardin (Inserm) đã giải
thích như vậy. Télomérase trong vài ung thư, nhưng không phải trong tất
cả, góp phần vào sự tăng sinh ác tính. ” Những công trình nghiên cứu in
vitro cho thấy rằng khi ta ức chế télomérase, sự tăng sinh của các tế
bào ung thư giảm dần đi. Nhiều hãng dược phẩm quan tâm đến những công
trình này. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành nơi những bệnh
nhân bị ung thư, với các thứ thuốc nhằm ức chế enzyme này. Kể cả các vaccin
antitélomérase đã được hiệu chính và đang được đánh giá. Tất cả khó khăn
của một liệu pháp như thế là ở chỗ việc cản télomérase để chống lại các
tế bào ung thư có thể gây nên một sự lão hóa gia tốc của những tế bào
khác. Trừ phi hiệu chính một điều trị hoàn toàn tại chỗ.
Một áp dụng khác mà người ta hy vọng từ công trình nghiên cứu này là cuộc
đấu tranh chống lại sự lão hóa. Bằng cách cho các tế bào trưởng thành
của cơ thể enzyme télomérase này, người ta có thể ngăn cản sự lão hóa
và sự chết của tế bào hay không ? “ Sự nghiên cứu về télomérase là một
trong những trục chính yếu hiện nay của các công trình về sự lão hóa,
Jerome Dejardin nói tiếp như vậy. In vitro, khi ta sử dụng télomérase
trong các canh cấy tế bào người, những tế bào này không còn bị lão hóa
nữa.. ”
Lại còn nữa, nhiều hãng dược phẩm Hoa Kỳ đang hiệu chính những thuốc không
nhằm hoàn toàn vào sự bất tử tế bào mà gần như thế. “ Người ta đã chế
tạo cả những chú chuột trở nên già chậm hơn, bằng cách làm chúng siêu
biểu hiện télomérase, GS Eric Gilson (chuyên gia sinh học phân tử, đại
học y khoa Nice ) đã giải thích như vậy. Và lại nữa, tất cả khó khăn là
ở chỗ lúc làm gia tăng hoạt tính của enzyme trẻ mãi không già này để chống
lại sự lão hóa, người ta cũng tăng cao nguy cơ tăng sinh ung thư..
Một trường nghiên cứu to lớn đã được mở ra với sự khám phá các télomère.
“ Nó có liên hệ đến tất cả các bệnh, mà những bệnh được liên kết với sự
tăng sinh tế bào, có rất là nhiều. Không chỉ ung thư mà thôi. Mà còn những
bệnh khác liên kết với những hiện tượng lão hóa sớm và những rối loạn
đổi mới tế bào ”, G Eric Gilson đã nói thêm như vậy.
Tuy vậy, cần lưu ý rằng : các télomère và télomérase không phải là các
nguyên nhân của ung thư hay sự lão hóa. Nhiều lắm, chúng tạo nên những
hướng nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn sự phát khởi của hai biến cố này.
NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC GIẢI NOBEL LÀ AI ?
Elizabeth Blackburn giữ hai quốc tịch Hoa Kỳ và Úc. Sinh năm 1948 ở Tasmanie
(Úc), từ năm 1990, bà giảng dạy ở Đại Học Californie (San Fancisco). Bà
đã được các giải thưởng Gruber và Lasker cũng như giải thưởng L’Oréal-Unesco.
Carol Greider, sinh năm 1961 ở San Diego (Californie), chuyên về sinh
học phân tử (biologiste moléculaire), từ năm 1997 làm việc ở Département
de Biologie moléculaire et de Génétique, Johns Hopkins University School
of Medicine (Baltimore). Bà đã khám phá ra télomérase trong khi chỉ mới
23 tuổi. Bà cũng được giải thưởng Lasker.
Jack Szostak, sinh năm 1952, người Mỹ, giáo sư di truyền học Đaị Học Harvard
(Massachusetts). Giải thưởng Lasker năm 2006, ông có phòng thí nghiệm
riêng ở Harvard Medical School và nghiên cứu nguồn gốc của sự sống.
Những người được giải Nobel 2009 quả rất là xứng đáng. Mặc dầu con đường
nghiên cứu của họ dĩ nhiên đã được vạch ra bởi nhiều nhà bác học khác
về di truyền học, đặc biệt là bởi Hermann Muller và Barbara McClintock.
Tất cả hai người này đều đã nhận giải Nobel Y Học và mỗi người theo cách
riêng của mình, đã có trực giác về sự hiện hữu của các télomère, nhưng
đã không hoàn toàn giải mã được chức năng cũng như những áp dụng khả dĩ
của chúng. (LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2009) (SCIENCES
ET AVENIR 11/2009) (LE FIGARO 6/10/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1TrXuan_NobelYHoc2009.htm
4/ CƠ THỂ CỦA CHÚNG TA BẢO VỆ CÁC
TẾ BÀO UNG THƯ.
Khi xuất hiện những tế bào đầu tiên của một ung thư, hệ miễn dịch dường
như không phân biệt được chúng. Điều này cũng dễ hiểu : những tế bào ung
thư biểu hiện trên bề mặt của chúng các protéine bình thường, như thế
được nhận diện như là những tế bào lành mạnh, bởi các tế bào lympho T
điều hoà (lymphocytes T régulateurs), đặc biệt có nhiệm vụ bảo vệ những
tế bào của cơ thể và nhận biết những kẻ thù tiềm tàng của nó. Những tế
bào lympho điều hòa nay như vậy phong bế các tế bào lympho thực hiện (lymphocytes
effecteurs), bình thường có nhiệm vụ loại bỏ những tế bào bất thường.
Sau khi đã thu được kết quả này, nhóm nghiên cứu của CNRS, được chỉ đạo
bởi David Klatzman, đã đi xa hơn. Sau khi đã lấy đi khỏi các con chuột
các tế bào lympho điều hòa, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng các tế
bào ung thư bị tấn công trực tiếp bởi những tế bào lympho thực hiện ngay
khi chúng xuất hiện. Nói một cách khác, hệ miễn dịch bình thường, bị lừa
bởi các tế bào ung thư, duy trì bảo vệ những tế bào này trong khi chúng
có khả năng gây thiệt hại. Vai trò của tính miễn dịch này trong ung thư
củng cố ý tưởng của một tiêm chủng phòng ngừa có thể thực hiện. (SCIENCES
ET VIE 10/2009)
5/ ĐIỀU TRỊ ĐẦU TIÊN CHỒNG LẠI
CÁC TẾ BÀO GỐC UNG THƯ.
Oncologie. Nổi tiếng khó điều trị, những tế bào gốc ung thư (cellules
souches cancéreuses) là nguồn gốc của những tái phát và những di căn.
Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã nhận diện lần đầu tiên các thứ thuốc cho
phép hủy diệt chúng. Và tế bào ung thư đề kháng với hóa học liệu pháp
và phóng xạ liệu pháp. Theo một giả thuyết gây tranh cãi, những tế bào
này tương ứng với một loại đặc biệt của những tế bào ung thư, duy nhất
có khả năng sinh ra những khối u mới trong mô ban đầu hay bằng cách di
chuyển đến những cơ quan khác. Được mệnh danh là “những tế bào gốc ung
thư” (cellules souches cancéreuses), chúng có những đặc điểm chung với
những tế bào gốc lành mạnh: chúng đổi mới vô hạn định và có thể biệt hóa
thành những tế bào thuộc các loại khác nhau. Mặc dầu chúng chỉ chiếm dưới
1% các tế bào của khối u ung thư, nhưng chúng đóng một vai trò thiết yếu
trong tiến triển của bệnh vì lẽ chúng là nguồn gốc của các di căn và tái
phát. Để giả thuyết này được công nhận, phải tìm kiếm những thứ thuốc
cho phép chống lại một cách đặc hiệu những tế bào gốc ung thư này, và
chứng tỏ rằng tác dụng của các thứ thuốc này làm giới hạn sự tiến triển
của ung thư. Đó là điều mà một nhóm nghiên cứu của đại học Harvard vừa
thực hiện.
Được lèo lái bởi Eric Lander và Robert Weinberg, nhóm nghiên cứu đã tiến
hành một “sự sàng lọc có lưu lượng cao” (un criblage à haut débit), một
kỹ thuật tự động hóa nhằm trắc nghiệm hàng ngàn những phân tử khác nhau
trên các tế bào in vitro. Việc sử dụng kỹ thuật này không phải là hiển
nhiên : nó đòi hỏi một số lượng lớn các tế bào, trong khi những tế bào
gốc ung thư hiện diện với số lượng rất nhỏ trong các khối u.
Sự sàng lọc. Để vượt trở ngại này, các nhà sinh học đã tạo nên trong phòng
thí nghiệm những dòng tế bào giàu các tế bào gốc ung thư từ những tế bào
của vú được biến đổi về mặt di truyền. Sau đó họ đã trắc nghiệm trên chúng
16.000 các chất và đã phân lập 32 chất có một tác dụng độc. Một trong
những chất này, salinomycine, tấn công các tế bào gốc ung thư một cách
rất đặc biệt chọn lọc và hiệu quả : được cho nơi các tập hợp những tế
bào ung thư, salinomycine chia trăm tỷ lệ những tế bào gốc ung thư, so
sánh với paclitaxel, một trong những chất chống ung thư mạnh nhất hiện
nay. Các nhà sinh học sau đó đã ghép những tế bào ung thư trên các con
chuột và đã điều trị các động vật với salinomycine. Kết quả : sự tăng
trưởng của các khối u và sự tạo thành của các di căn đã được giảm rõ rệt.
Đối với Daniel Louvard, giám đốc của trung tâm nghiên cứu của Viện Curie,
công trình này mở ra một con đường mới. “Nó xác nhận giả thuyết nói rằng
các tế bào ung thư có những đặc tính của tế bào gốc, có thể được giết
chết một cách chọn lọc, và rằng điều này ngăn cản sự tiến triển của bệnh.
Như thế điều này gợi ý rằng ta có thể tiêu hủy căn bệnh ở gốc ngọn, đồng
thời tránh không đụng đến phần lớn những tế bào gốc lành mạnh, cần thiết
cho sự đổi mới của các cơ quan của chúng ta.”
Trong tương lai, những loại thuốc nhắm đích các tế bào gốc ung thư có
thể được dùng phối hợp với những liệu pháp hiện nay : không những điều
trị sẽ hiệu quả hơn, mà sự thoải mái của các bệnh nhân cũng được cải thiện,
bởi vì ta có thể giảm cường độ của các hóa học liệu pháp. Tuy nhiên cần
cẩn trọng khi suy diễn những kết quả này vào sự điều trị của ung thư nơi
người. “Phương pháp quả là đổi mới, nhưng các thứ thuốc đã được trắc nghiệm
trên những tế bào nhân tạo được tạo ra trong phòng thí nghiệm và được
ghép lên các động vật, Christophe Ginestier, thuộc trung tâm nghiên cứu
ung thư Marseille, đã nhắc lại như vậy. Điều đó không nhất thiết tương
ứng với điều xảy ra trong một khối u trực tiếp từ một bệnh nhân”.
(LA RECHERCHE 10/2009)
6/ CÁC PHẪU THUẬT VIÊN ĐIỀU TRỊ
CÁC ĐAU ĐỚN THẦN KINH NHỜ SIÊU ÂM
Mổ não với một chùm tia siêu âm, đó là kỳ công được thực hiện bởi nhóm
phẫu thuật viên của Ernst Martin, của CHU de Zurich. Để có được điều đó,
các nhà giải phẫu thần kinh đã kết hợp siêu âm với IRM. Trong khi các
siêu âm gây nên một sự tăng cao nhiệt độ của các mô cần nhắm đến, đủ để
gây nên sự chết của các tế bào, IRM cho phép kiểm soát hướng đi của các
tia siêu âm và nhiệt độ do chúng gây nên. Các thầy thuốc ngoại thần kinh
của Zurich đã trắc nghiệm phương thức này lên 9 bệnh nhân bị đau dây thần
kinh (douleurs neuropathiques) do bị cắt cụt chi hay do những thương tổn
thần kinh. Việc cắt bỏ bằng siêu âm một phần của đồi thị (thalamus) đã
cho phép làm giảm, thậm chí làm biến mất các đau đớn của họ. Mãi đến ngày
nay, các thầy thuốc ngoại khoa thực hiện sự cắt bỏ này bằng phóng xạ liệu
pháp (radiothérapie) hay bằng ngoại khoa cổ điển. “ Nghiên cứu đầu tiên
này đã chứng tỏ tính khả thi và tính vô hại của phương thức này. Trong
tương lai, chúng tôi hy vọng sử dụng chúng để điều trị những bệnh lý khác
như bệnh Parkinson hay những khối u não bộ”. Ernst Martin đã giải thích
như vậy. (SCIENCE ET VIE 10/2009)
7/ DÙNG SIÊU ÂM ĐỂ MỒ NÃO.
Những kỹ thuật mới cho phép phá hủy các thương tổn mà không cần gây mê
cũng như dao mổ.
CHIRURGIE. Mổ não như thể ta ở trong đó, nhưng không đụng đến nó. Ngoại
thần kinh (neurochirurgie) đang đi vào trong một kỷ nguyên mới, không
dao mổ không gây mê. Nhờ các siêu âm cực mạnh, một phẫu thuật viên có
thể phá hủy các thương tổn có kích thước của một hạt gạo, nằm ở sâu nhất
trong não bộ, dưới sự kiểm soát của một IRM (imagerie par résonance magnétique),
được thực hiện en temps réel. Đến nay, chỉ vài bệnh nhân đã được hưởng
liệu pháp đầy hứa hẹn này. Ở Thụy Sĩ, các GS Daniel Jeanmonod và Ernst
Martin (Zurich) đã điều trị khoảng 12 người bị đau đớn mãn tính, đề kháng
với thuốc, với một máy gọi là ExAblate, được phát triển bởi hãng Insightec
của Israel. Trong vài tuần nữa, cũng nhóm nghiên cứu này sẽ tiến hành
một chỉ định khác : bệnh Parkinson. Ở Pháp, một máy sử dụng một kỹ thuật
học tương tự, được thiết kế bởi hãng Supersonic Imagine của Pháp, đang
tiến hành những trắc nghiệm tiền lâm sàng. Một công trình nghiên cứu,
theo dự kiến từ nay đến hai năm, sẽ được tiến hành nơi những bệnh nhân
bị đau đớn mãn tính, bị bệnh Parkinson hay vài khối u não bộ khác. Nhiên
hậu, phương pháp này sẽ được thực hiện trong những bệnh lý khác, trong
đó có động kinh.
MỘT MỨC ĐỘ CHÍNH XÁC TỪNG MILIMET.
Nguyên tắc của liệu pháp bằng siêu âm (thérapie par ultrasons) là khá
đơn giản. Được hướng vào một mục tiêu được xác định trước, các siêu âm
được hội tụ có cường độ cao (ultrasons focalisés de haute intensité, HIFU)
cho phép làm gia tăng nhiệt độ lên khoảng 60 độ C. Như thế ta có thể làm
đông, do đó phá hủy các mô với một độ chính xác từng milimet. Được sử
dụng đầu tiên năm 1993 đối với những ung thư khu trú của tuyến tiền liệt,
phương pháp này càng ngày càng phát triển, kết hợp với IRM, để điều trị
các khối u trong những cơ quan khác. ExAblate được đề nghị trong nhiều
nước, trong đó có Pháp, để điều trị các u xơ tử cung. Những thử nghiệm
đang được tiến hành trong các ung thư vú, gan…nhưng mãi cho đến gần đây,
việc áp dụng nó lên não bộ dường như là điều không có thể thực hiện được.
“Vấn đề chính, đó là hộp sọ. Xương hấp thụ một phần và làm biến dạng các
tia siêu âm được phát ra ” ; GS Ernst Martin, thuộc bệnh viện đại học
nhi đồng Zurich, đã giải thích như vậy. Để tránh điều trở ngại này, nhóm
giải phẫu Thụy Sĩ đã nhờ đến một loại mũ casque được trang bị 1024 bộ
chuyển đổi (transducteur), những máy nhỏ sản xuất những tia siêu âm và
tập trung chúng vào vùng được nhắm đến. Trong một năm, 12 bệnh nhân với
những cơn đau đớn mãn tính có cường độ mạnh, với những nguồn gốc khác
nhau (cắt cụt, chấn thương, thương tổn đĩa đốt sống...) đã được thí nghiệm.
Các siêu âm được phát ra vào phần trong cua đồi thị (thalamus médian),
một cấu trúc có quan hệ trong việc kiểm soát sự đau đớn. Nhiệt độ và các
va chạm được kiểm soát en temps réel bởi IRM. “Can thiệp giải phẫu đã
được dung nạp rất tốt, và chúng tôi đã có những kết quả dương tính nơi
56% các bệnh nhân, đây là một điểm số tốt đối với những cơn đau mãn tính,
GS Martin đã xác nhận như vậy. Như thế, một người có thể cai morphine
mà anh ta đã sử dụng từ 12 năm nay ”.
Nhiên hậu, liệu pháp này có thể trở thành một phương pháp thay thế cho
những điều trị hiện nay bằng ngoại phóng xạ (radiochirurgie), như Gamma-Knife
hay Linac (nhằm rọi tia X vào những thương tổn não bộ, cũng không cần
mở hộp sọ. “Hai loại liệu pháp có độ chính xác như nhau, nhưng các siêu
âm tiềm năng có nhiều ưu điểm, BS Anne-Laure Boch, thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière
(Paris) đã đánh giá như vậy. Trước hết các siêu âm không phát ra tia X.
Sau đó chúng tác dụng tức thời trong khi thời hạn là nhiều tuần đối với
ngoại phóng xạ.”
Tuy nhiên, BS Boch, trắc nghiệm máy Supersonic Imagine của Pháp trên các
động vật và các tử thi người, nhấn mạnh rằng máy này chỉ mới còn ở một
giai đoạn nghiên cứu. Chúng tôi sẽ chỉ chuyển qua các thử nghiệm lâm sàng
khi chúng tôi chắc chắn rằng đã có sự chính xác được tuyên bố, bà ta đã
nhấn mạnh như vậy. Tương tự với máy ExAblate, được sử dụng bởi các người
Thụy Sĩ, máy đang được nghiên cứu ở Pháp khác ở kỹ thuật được sử dụng
để vượt qua chướng ngại của hộp sọ. Kỹ thuật của chúng tôi chính xác hơn
nhờ sự sử dụng các siêu âm có tần số cao hơn, nhà vật lý Jean-François
Aubry, nguồn gốc của bằng sáng chế, với các đồng nghiệp của ông thuộc
Viện Langevin, đã đảm bảo như vậy.
Những can thiệp như thế vào ngay trong trung tâm của não bộ không phải
không có nguy cơ. Ở Boston, nơi đây các thầy thuốc tiến hành một công
trình nghiên cứu lâm sàng trên 10 người tình nguyện trong khung cảnh của
những khối u não rất tiến triển, người bệnh nhân thứ 4 bị chết vì xuất
huyết não trong những ngày tiếp theo sau buổi liệu pháp bằng siêu âm,
trong lúc anh ta ở giai đoạn cuối của ung thư não. Vì có mối nghi ngờ,
thử nghiệm đã được đình chỉ. (LE FIGARO 2/10/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr139.htm
(TSYH 139, bài số 6)
8/ VITAMINE D VÀ NGUY CƠ CAO HUYẾT
ÁP
Nơi các phụ nữ trẻ, sự thiếu hụt vitamine được liên kết với một sự gia
tăng nguy bị cao huyết áp về sau này. Đó là điều được giải thích bởi các
nhà nghiên cứu trong hội nghị lần thứ 63 về nghiên cứu cao huyết áp, được
tổ chức bởi Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ (AHA).
Các nhà nghiên cứu đã xem xét các phụ nữ được tuyển mộ trong công trình
nghiên cứu Michigan Bone Health and Metabolism Study và đã phân tích các
dữ kiện của 559 phụ nữ người Caucase sống ở Tecumseh, (Michigan). Công
trình, hiện luôn được tiến hành, đã khởi đầu vào năm 1992 khi những người
này tuổi từ 24 đến 44 (trung bình 38 tuổi). Huyết áp của họ đã được đo
mỗi năm và nồng độ vitamine D, được xác định một lần vào năm 1993, đã
được so sánh với huyết áp được đo vào năm 2007.
Những kết quả cho thấy rằng, so với những người tham dự có những nồng
độ viatmine D bình thường, các phụ nữ bị thiếu hụt (dưới 80 nmol/l) vào
năm 1993, có 3 lần nguy cơ cao hơn bị một cao huyết áp tâm thu (hypertension
systolique) 15 năm sau đó.
Vào lúc đầu của công trình nghiên cứu, 2% các phụ nữ tham gia đã có cao
huyết áp hay được điều trị bởi các thuốc chống cao áp và thêm 4% đã được
chẩn đoán cao huyết áp. Nhưng 15 năm sau, những con số này lần lượt là
19% và 6%.
“ Những kết quả của chúng tôi cho thấy rằng một sự thiếu hụt sớm vitamine
D có thể làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp sau này nơi các phụ nữ trung
niên ”, Flojaune Griffin, một trong những nhà nghiên cứu đã xác nhận như
vậy.
Theo các chuyên gia thuộc các chuyên môn khác nhau, sự thiếu hụt vitamine
D rất phổ biến nơi phụ nữ.Mặt khác, không có sự nhất trí về việc cung
cấp tối ưu vitamine D. Theo vài nhà nghiên cứu, cung cấp vitamine được
khuyến nghị hiện nay từ 400 đến 600 đơn vị mỗi ngày là không thích đáng
và họ chủ trương một nồng độ thay đổi từ 1.000 đến 5.000 đơn vị. Ta cần
nhắc lại rằng ngoài vai trò được xác lập của vitamine D trên chuyển hóa
xương, sự thiếu hụt của vitamine này cũng đóng một vai trò trong vài ung
thư và độc hại đối với tính miễn dịch và các bệnh viêm.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/10/2009)
9/
BỆNH BẠCH CẦU TỦY CẤP TÍNH (LEUCEMIE MYELOIDE AIGUE) : NHỮNG VI GHÉP (MINIGREFFES)
ĐẦU TIÊN
G.S Noel Milpied, thầy thuốc chuyên khoa huyết học, CHU de Bordeaux, chủ
tịch Hiệp hội ghép tủy xương của Pháp, nêu lên những ưu điểm của một phương
pháp ít xâm nhập hơn đối với vài loại ung thư máu.
Hỏi : Những đặc điểm của bệnh bạch cầu (leucémie)
này là gì ?
GS Noel Milpied : Đó là một ung thư máu, gây bệnh 3 người trên 100.000
người, thường là sau 50 tuổi. Một tế bào non của tủy xương (chế tạo các
tế bào máu : hồng cầu và bạch cầu và các tiểu cầu), trở nên bất bình thường,
tăng sinh vô giới hạn nhưng không bao giờ đạt được trình độ chín mùi của
nó. Hậu quả : không còn có đủ hồng cầu và bạch cầu nữa, điều này gây nên
thiếu máu và sự xuất hiện của các nhiễm trùng. Mặt khác, sự khan hiếm
của các tiểu cầu máu (plaquettes sanguines) làm dễ sự xuất huyết.
Hỏi : Đến nay, điều trị bệnh này như thế
nào ?
GS Noel Milpied : Điều trị nhằm cho một hóa học liệu pháp (chimiothérapie)
nặng nề với nhập viện từ 4 đến 6 tuần. Điều trị nhằm phá hủy một cách
tạm thời tủy xương, rồi ta chờ cho các tế bào bình thường tái sinh lại.
Sau đó để loại trừ các tế bào ung thư còn lại, ta có thể bắt đầu lại một
hóa học liệu pháp hay thực hiện ghép tủy xương. Với nhiều buổi hóa học
liệu pháp, ta thu được tỷ lệ sống còn từ 60 đến 70% , và nơi những người
được ghép, tỷ lệ này là 50 đến 60%.
Hỏi : Khi nào ta cho một hóa học liệu pháp
mới thay vì một ghép tủy xương ?
GS Noel Milpied : Nếu kết quả thu được với hóa học liệu pháp đầu tiên
là rất thỏa mãn và nếu không có bất thường di truyền bất thuận lợi trong
các tế bào bị bệnh bạch cầu (cellules leucémiques), ta đề nghị những buổi
hóa học liệu pháp củng cố. Nhưng nếu những kết quả đầu tiên sau hóa học
liệu pháp gây thất vọng hay nếu có những bất thường di truyền, ta sẽ đề
nghị ghép tủy xương.
Hỏi : Những bất tiên của kỹ thuật ghép tủy
xương cổ điển ?
GS Noel Milpied : Ta rất sợ các nguy cơ độc tính liên kết với điều trị
mạnh chuẩn bị trước khi ghép. Phương cách nhằm tiêm những tế bào của một
người cho (donneur) vào bệnh nhân. Nhưng, để cho cơ quan của người nhận
(receveur) có thể chấp nhận chúng, thì các tế bào ung thư phải được tiêu
hủy tối đa, điều này cần đến một liệu pháp rất nặng nề với những liều
lượng mạnh các loại thuốc có tác dụng phụ có hại. Hóa học liệu pháp tăng
cường này mạnh đến độ ta chỉ thực hiện nơi những bệnh nhân dưới 45 tuổi.
Sự chuẩn bị để ghép được thực hiện trong phòng vô trùng. Sau đó, bệnh
nhân nhận những tế bào của người cho (ghép) bằng truyền tĩnh mạch.
Hỏi : Làm sao nảy ra ý tưởng tạo một kỹ thuật
ghép ít độc hơn ?
GS Noel Milpied : Trong những công trình đầu tiên về bệnh bạch cầu cấp
tính này, người ta đã tin tưởng rằng tác động duy nhất của các tế bào
được ghép (greffon) là tái tạo những tế bào máu. Nhưng mới đây, người
ta đã khám phá rằng các tế bào miễn dịch của greffon, một khi được đưa
vào trong bệnh nhân, có khả năng nhận biết và phá hủy các tế bào ung thư.
Người ta suy diễn rằng tiến hành một điều trị chuẩn bị mạnh mẽ như thế
để thu được một kết quả tốt, có thể hữu ích hơn. Sự chuẩn bị mới trước
khi ghép gồm có một hoá học liệu pháp ít độc tính hơn nhiều, được cho
với những liều lượng nhỏ, rất có thể chịu được, điều này cho phép ghép
những bệnh nhân ít trẻ hơn, tình trạng sức khỏe kém hơn.
Hỏi : Sau sự chuẩn bị mới trước khi ghép
này, những kết quả là gì ?
GS Noel Milpied : Trước đây, với phương cách cổ điển, các bệnh nhân bị
bất sản tủy xương (aplasie médullaire) hoàn toàn, bị mệt mỏi ghê gớm,
bị đau đớn do sự phá hủy của các niêm mạc, và họ được nuôi ăn bằng đường
tĩnh mạch. Tình trạng của những bệnh nhân này khiến họ dễ bị các biến
chứng gan và phổi. Với kỹ thuật mới, ta không còn quan sát thấy nữa sự
hủy hoại của các niêm mạc, các bệnh nhân cảm thấy ít đau đớn hơn nhiều
và có thể tự ăn uống bình thường. Có khi ta không phát hiện thấy bất sản
tủy xương, bởi vì các tế bào máu tái sinh nhanh chóng. Trên hàng trăm
những bệnh nhân trên 50 tuổi và có sức khỏe kém, ta đã quan sát thấy,
với 4 hay 5 năm nhìn lại, cùng các kết quả thu được nơi những bệnh nhân
trẻ tuổi hơn được ghép với kỹ thuật cổ điển. (PARIS-MATCH
24/9- 30/9/2009)
10/ VIÊN THUỐC NGỪA THAI CHO ĐÀN
ÔNG, KHI NÀO CÓ ?
Trong những năm qua, viên thuốc ngừa thai dành cho đàn ông (pilule pour
homme) đã được loan báo nhiều lần. Và tuy vậy, mặc dầu những tiến bộ khoa
học, việc ngừa thai nam giới (contraception masculine) vẫn luôn luôn còn
phải chờ đợi. Điểm qua những lý do của sự chậm trễ này...không phải luôn
luôn là những lý lẽ mà ta tưởng.
“Sự phát triển của ngừa thai nam giới đã chịu và đang còn chịu đựng kết
quả thành công của ngừa thai nữ giới ”, Bernard Jégou, trưởng nhóm nghiên
cứu về sự sinh sản của con người ở Inserm (Rennes) đã giải thích như vậy.
Và đó là một sự kiện, khả năng sinh đẻ của các phụ nữ dễ kiểm soát hơn
là khả năng sinh sản của các đàn ông. Nơi phụ nữ, ta chỉ cần phong bế
một đỉnh cao kinh kỳ (pic menstruel).
MỤC TIÊU : PHONG BỂ SỰ SẢN XUẤT CÁC TINH TRÙNG.
Ở người đàn ông, cần phải làm dừng lại sự tạo thành thường xuyên của vài
trăm tinh trùng ... Và điều này phải được thực hiện suốt cả đời người,
vì lẽ người đàn ông không có thời kỳ mãn kinh (ménopause). Tuy nhiên,
trên cùng nguyên tắc với viên thuốc ngừa thai nữ giới, có thể phong bế
khả năng sinh sản nam giới (fertilité masculine) bằng cách tiêm các kích
thch tố nam (hormones androgènes) như testostérone. Vào năm 2007, các
nhà nghiên cứu Úc-Hoa Kỳ đã công bố phân tích các trắc nghiệm lâm sàng
được tiến hành giữa năm 1990 và 2005 và bao gồm 1.500 đàn ông được ngừa
thai bằng hormone. Kết quả: một tỷ lệ hiệu quả 97 và 100%. Một con số
y hệt với con số thu được với ngừa thai nữ giới, hơn nữa không làm giảm
các hiệu năng tình dục hay dục tính (libido). Một tham số thiết yếu trong
chừng mực các kích thích tố nam có liên quan đồng thời trong sự sản xuất
của các tinh trùng và trong dục tính...
Trở ngại cuối cùng cho sự hiệu chính của một phương pháp ngừa thai như
thế : testostérone phải được tiêm mông mỗi tuần. Bởi vì, uống vào dưới
dạng thuốc viên, testostérone bị phá hủy bởi gan. Thế mà vào tháng năm
vừa qua, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thành công làm giảm số lần tiêm
xuống còn một mũi tiêm mỗi tháng. “Đó là điều góp phần làm cho phương
pháp này thành một phương tiện ngừa thai được dung nạp tốt hơn”, nhà chuyên
khoa về bộ phận sinh dục nam (andrologue) Sylvain Mimoun đã hân hoan phát
biểu như thế. Đó là không tính đến “sự phá hủy testostérone bởi gan có
khả năng được giải quyết”, Bernard Jégou đã xác nhận như vậy.
Những phương pháp khác đang được thí nghiệm. Một trong những phương pháp
này nhằm tác động lên các hormone được sản xuất bởi não bộ, chứ không
còn lên các hormone được sản xuất bởi các tinh hoàn. Thật vậy các hormone
được sản xuất bởi não bộ kiểm soát thượng nguồn sự sản xuất của các hormone
được sản xuất bởi các tinh hoàn. Sau hết, một đường hướng cuối cùng dựa
trên sự tạo thành các kháng thể chống tinh trùng (anticorps anti-spermatozoide),
như là trường hợp xảy ra tự nhiên nơi vài người đàn ông vô sinh.
Các giải pháp không thiếu gì. Tuy vậy “ Sự nghiên cứu trong lãnh vực này
còn thủ công, Bernard Jérou lấy làm tiếc. Các phòng thí nghiệm còn thiếu
quan tâm đối với sự ngừa thai, dầu đó là nam giới hãy nữ giới.”
MỘT KỀM HÃM XÃ HỘI HƠN LÀ NHỮNG LÝ DO KHOA HỌC.
Đó là chưa tính đến rằng, mặc dầu cho các đàn ông và các phụ nữ nói họ
sẵn sàng chia sẽ trách nhiệm ngừa thai, nhưng không chắc chắn rằng trên
thực tế đúng là như vậy. “Trước hết bởi vì điều đó hàm ý một sự tin tưởng
rất lớn lao của người phụ nữ đối với người bạn đường của mình, sau hết
bởi vì việc ngừa thai nữ giới tạo nên một sự chinh phục xã hội (une conquête
sociétale) mà các phụ nữ, có ý thức hay không, đều không sẵn sàng từ bỏ
nó”, Bernard jégou đã kết luận như vậy. (TOP SANTE
10/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (7/11/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |