 |
Thời
Sự Y Học số 146
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A : OBAMA TUYÊN BỐ
TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP Y TẾ Ở HOA KỲ.
Virus H1N1 đã giết chết một ngàn người Mỹ và 20.000 người khác đã được
nhập viện.
EPIDEMIE. Vào lúc mà mọi người bắt đầu quên những nỗi ám ảnh do sự xuất
hiện của cúm A (H1N1) đã gây ra vào mùa xuân vừa qua, lời phát biểu được
đưa ra bởi Barack Obama trong một bản tuyên bố được công bố vào hôm thứ
bảy 24/10 đã có tác dụng như một gáo nước lạnh. Mặc dầu có khả năng làm
hoảng sợ dư luận, tổng thống Hoa Kỳ đã ra sắc lệnh “khẩn cấp quốc gia”,
tình hình liên quan với sự tiến triển của cúm A và đã ký một nghị quyết
nhằm tăng cường các phương tiện cho Bộ trưởng Y tế Kathleen Sibelius,
để ngăn chặn dịch bệnh.
Trong khi “ hàng triệu người Mỹ đã bị cúm ”, theo một đánh giá của Trung
tâm phòng ngừa bệnh tật, trong khi 20.000 trong số những người này đã
phải được nhập viện sau khi đã tiếp xúc với virus và trong khi ngàn người
chết vì nó, bản tuyên bố này sẽ cho phép gia tăng khả năng hoạt động của
các trung tâm y tế đứng trước sự đổ xô đến của các bệnh nhân.
Từ nay các trung tâm y tế này sẽ có toàn quyền để thiết đặt những cơ cấu
cấp cứu mà không phải tuân theo vài yêu cầu của pháp chế liên bang. Thí
dụ các bệnh viên sẽ có thể mở các trung tâm tạm thời hay những lều y tế
(tentes médicales) gắn liền với các bệnh viện để tiếp nhận các bệnh nhân
và cách ly họ với những bệnh nhân khác.
TRONG 46 TIỂU BANG BỊ ẢNH HƯỞNG TRÊN 50, CÁC VACCIN
NHỎ GIỌT
“Nhờ nhận diện nhanh chóng virus, bằng cách thực thi những biện pháp y
tế cộng đồng, bằng cách thông tin những người hành nghề y tế và công chúng
và nhờ sự hiệu chính một tiêm chủng có hiệu quả, chúng ta đã áp dụng những
biện pháp tích cực để bảo vệ sức khỏe của các công dân của chúng ta”,
tổng thống Hoa Kỳ đã giải thích như thế. Nhưng, “xét vì sự tiến triển
liên tục của đại dịch, chúng ta thực hiện các biện pháp bổ sung”, ông
đã nói thêm như vậy để biện minh cho các quyết định mới của ông. Trong
một công hàm gởi cho Quốc Hội, Obama xác nhận rằng những biên pháp khẩn
cấp này đã được thực hiện “để sẵn sàng cho tình huống có thể xảy ra của
một sự gia tăng nhanh chóng các trường hợp trong đất nước, làm tràn ngập
các cơ quan y tế”. Chính phủ mặt khác nhấn mạnh rằng các quyết định này
không phải do những diễn biến mới không được dự đoán trước.
Virus H1N1 tiếp tục lan tràn như “dự kiến”, theo một viên chức cao cấp,
46 tiểu bang trên 50 đã ghi nhận nhiều bệnh nhân bị mắc phải bệnh cúm.
Tại địa phương, dân chúng được thông tin một cách đều đặn về sự hiện diện
của những trường hợp mới, tại nơi làm việc hay ở trường học. Theo giám
đốc của Các trung tâm liên bang kiểm tra và phòng ngừa các bệnh tật (CDC),
BS Thomas Frieden, việc giao quá chậm các vaccin, vũ khí duy nhất có hiệu
quả để ngăn chặn đại dịch, ưu tiên nhằm vào các thanh niên và trẻ em,
là nguyên nhân của sự tiến triển không có triệu chứng này. “Chúng ta từ
nay ở trong một thời kỳ mà sự gia tăng số lượng các vaccin H1N1 sẵn sàng
để sử dụng quả là quá chậm”, ông đã phàn nàn như thế. Chính phủ liên bang
khởi đầu đã dự kiến rằng khoảng 120 triệu liều vaccin sẽ sẵn sàng vào
cuối tháng 10, nhưng các trung tâm ngăn ngừa các bệnh tật đã tuyên bố
rằng số các vaccin sẽ chỉ đạt được khoảng 30 triệu liều vào thời hạn này,
và chỉ 65 triệu vào cuối tháng 11 thay vì 200 triệu được dự kiến. (LE
FIGARO 26/10/2009)
2/ MỘT VACCIN H1N1 XỊT MŨI Ở HOA
KỲ
Được sản xuất từ virus được làm giảm độc lực, FluMist đã được chấp nhận
ở Hoa Kỳ nhưng đã không được cho phép ở Châu Âu.
PANDEMIE. FluMist hiện nay là vaccin chống cúm A mà người ta nói đến nhiều
nhất ở Hoa Kỳ. Sự tiêm chủng đã bắt đầu ở Hoa Kỳ vào đầu tháng 10 và vaccin
này đã làm lu mờ các vaccin cạnh tranh nó. Tại sao ? Bởi vì đó là vaccin
duy nhất được cho dưới dạng xịt vào mũi (spray nasal). Những vaccin khác
được tiêm bằng đường mông. Kết quả, người ta thấy vaccin dạng xịt mũi
này khắp nơi, ở đài truyền hình và trong báo chí. “Tất cả những gì cho
phép việc tiêm chủng được chấp nhận tốt hơn bởi dân chúng là một điều
tốt. Vaccin xịt mũi không phải là một bách dược nhưng là một hướng đáng
lưu ý trong các thuốc chống cúm ”, Bruno Lina, giám đốc Trung tâm cúm
quốc gia ở Lyon đã công nhận như vậy.
40 TRIỆU LIỀU
Được sản xuất ở Phildelphie bởi hãng sinh kỹ thuật Medimmune (được mua
lại năm 2007 bởi phòng bào chế AstraZeneca), Flumist là thuốc đầu tiên
sẵn sàng để được phân phát ở Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ đã dự kiến, theo
những tiên đoán mới nhất, chủng cho một nửa dân số. Tính đến nay, chính
phủ Mỹ đã đặt hàng 25 triệu liều vaccin chống H1N1 nơi năm hãng bào chế
: AstraZeneca (MedImmune), CSL, GlaxoSmithKline, Novartis và Sanofi-Aventis.
Riêng hãng MedImmune sẽ cung cấp 40 triệu liều. Đơn đặt hàng đã được thực
hiện trong khi các vaccin theo dự kiến phải được cho hai liều cách nhau
3 tuần. Hôm nay, CDC khuyến nghị một liều duy nhất, ngoại trừ đối với
các trẻ em dưới 9 tuổi.
Vaccin xịt mũi (vaccin par spray nasal) không phải là mới ở Hoa Kỳ. Nó
đã được cho phép bởi FDA vào năm 2003 để chống lại cúm mùa. Vào ngày 15/9
vừa qua, nó đã được chấp nhận để chống lại virus H1N1 đối với những người
mạnh khỏe, tuổi từ 2 đến 49 tuổi. Nó đảm bảo một khả năng bảo vệ 93% cao
hơn một placebo nơi các trẻ em từ 15 tháng đến 7 tuổi. Tính chất độc đáo
của FluMist không chỉ giới hạn ở cách cho thuốc bằng đường mũi. Trái với
các vaccin cạnh tranh nó tất cả đều được sản xuất từ virus được làm bất
hoạt (bị giết chết), FluMist được phát triển từ các vaccin sống được làm
giảm độc lực, do đó có một tên khác LAIV (Live Attenuated Influenza Vaccine).
Mặt khác, chính vì lý do này mà nó có thể gây nên viêm mũi, đau đầu hay
nôn mửa nơi các trẻ em và những hội chứng cúm “nhỏ” nơi người.
Giới hữu trách y tế châu Âu đã không muốn cho phép lưu hành FluMist mặc
dầu dạng vaccin này dễ được chấp nhận bởi dân chúng. Nó đặt ra “những
vấn đề về an toàn virus, đặc biệt là đối với tính ổn định của các giống
gốc”, ta có thể đọc thấy như thế trong La Grippe en face, một tác phẩm
tập thể, được công bố bởi nhà xuất bản Xavier Montauban. “Virus đã được
làm giảm độc lực bằng một loạt các biến dị nhưng nhà chế tạo ra nó đã
không cho chúng ta những bảo đảm đầy đủ về tính ổn định của những biến
dị này”, Bruno Lina đã xác nhận như vậy. CDC (Trung tâm kiểm soát bệnh
tật) đã đưa ra những hạn chế đối sự sử dụng FluMist. Thí dụ những người
tiếp xúc với những người bị suy giảm miễn dịch nặng không được tiêm chủng
bằng FluMist, cũng như nhân viên bệnh viện. Thật vậy những người này có
thể truyền bệnh cúm cho các bệnh nhân. Cũng cùng hạn chế đối với các phụ
nữ có thai, những trẻ em dưới 2 tuổi, những người bị hen phế quản, những
người có những bệnh tim hay những vấn đề hô hấp cũng như những người bị
dị ứng với trứng.
FluMist dễ được chấp nhận ở Hoa Kỳ cũng do sự kiện là, trái với những
vaccin H1N1 khác, vaccin xịt mũi này không chứa thiomersal, một hợp chất
thủy ngân làm dễ sự bảo quản thuốc. “Không bao giờ có vấn đề độc tính
đối với vaccin này”, Bruno Lina đã phát biểu như vậy.
Chẳng bao lâu nữa ở Châu Âu sẽ có những vaccin xịt mũi được sản xuất từ
các virus bị làm bất hoạt? Có lẽ không. Những trắc nghiệm mới đây ở Thụy
Sĩ đã cho thấy những tác dụng phụ đáng lo ngại : nhiều người đã bị bại
liệt mặt gây nên bởi một trong các chất bổ trợ (adjuvants).
(LE FIGARO 21/10/2009)
3/ VACCIN : HAI MŨI TIÊM
Ở CHÂU ÂU, 1 MŨI TIÊM Ở HOA KỲ.
Cơ quan dược phẩm châu Âu đã tuyên bố hôm thứ sáu rằng cơ quan luôn luôn
khuyến nghị rằng 3 vaccin chống cúm A(H1N1) được cho phép trong Liên Hiệp
châu Âu, phải được tiêm hai liều mặc dầu các dữ kiện đã cho thấy rằng
một liều đơn độc có thể đủ đối với 2 trong 3 vaccin được nói đến. Ủy ban
các chuyên gia của Cơ quan dược phẩm châu Âu “đã quyết định duy trì khuyến
nghị được thông qua vào tháng 9, nói rằng, tốt hơn, 3 vaccin này sẽ được
cho thành hai mũi, cách nhau ít nhất 3 tháng”, cơ quan dược phẩm châu
Âu đã tuyên bố như vậy. 3 vaccin được cho phép bởi Liên Hiệp Châu Âu là
Focetria của hãng bào chế Thụy Sĩ Novartis, Pandemix của hãng bào chế
Gsk (GlaxoSmithKline), cả hai chứa một chất bổ trợ (adjuvant), và Celvapan
của hãng Baxter Hoa Kỳ, không chứa chất bổ trợ. Cơ quan Liên Hiệp châu
Âu nói thêm rằng “các dữ kiện có được về Pandemix và Forcetria cho thấy
rằng một liều duy nhất có thể đủ nơi những người trưởng thành, nhưng các
dữ kiện này còn quá giới hạn nên ủy ban không thể khuyến nghị việc sử
dụng đại trà một chương trình tiêm chủng với một mũi tiêm duy nhất”. Các
kết quả của các thử nghiệm điều trị cho thấy rằng dầu vaccin là gì đi
nữa, một mũi tiêm cũng đủ đối với những người trên 9 tuổi. Trên cơ sở
những dữ kiện này, Trung tâm kiểm tra các bệnh tật (CDC d’Atlanta) ở Hoa
Kỳ khuyến nghị rằng một liều duy nhất được thực hiện đối với những người
trên 9 tuổi. Theo giáo sư Philippe Lechat (Afssaps), chủ yếu chính sự
thiếu các dữ kiện về sự bảo vệ lâu dài chống virus H1N1 đã giải thích
việc duy trì một tiêm chủng bằng hai mũi tiêm của cơ quan dược phẩm châu
Âu. (LE FIGARO 26/10/2009)
4/ NGỪA THAI CẤP CỨU : VIÊN THUỐC
NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) VÀ SAU ĐÓ...
Thuốc ngừa thai cấp cứu phụ nữ, dùng trong 5 ngày sau một giao hợp không
được bảo vệ, “viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau nữa” (pilule du surlendemain),
như Kristina Gemzell (Thụy Điển) đã đặt tên như thế nhân Hội nghị lần
thứ 8 của Hiệp hội Phụ Khoa Châu Âu, được dùng để thay thế lévonorgestrel
(LNG), điều trị chuẩn cho đến ngày hôm nay, có hiệu quả nhưng với một
hoạt tính giảm dần trong 72 giờ. Thật vậy, acétate d’ulipristal (UPA)
có nhiều ưu điểm : an toàn hơn lévonorgestrel, thuốc ngừa thai mới này
ngăn cản một cách hoàn toàn hơn sự rụng trứng và chỉ có ít các tác dụng
phụ.
Acétate d’ulipristal (UPA), chất điều biến chọn lọc (modulateur sélectif)
của các thụ thể của progestérone, hoạt tính bằng đường miệng, tác dụng
bằng cách liên kết với một ái lực rất mạnh với các thụ thể của progestérone
người. Cơ chế tác dụng nguyên phát có thể là một sự ức chế hay một sự
làm chậm lại sự rụng trứng. Sau khi cho bằng đường miệng một liều duy
nhất 30 mg, UPA nhanh chóng được hấp thụ và đỉnh cao nồng độ huyết thanh
đạt được khoảng 1 giờ sau khi uống, đồng thời có một thời gia bán hủy
dài (32,4 giờ), góp phần duy trì một hoạt tính không thay đổi trong 120
giờ.
Sự ngừa thai cấp cứu bằng hormone, được sử dụng cho đến nay (1,5 mg lévonorgestrel),
thường được gọi là “viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau” (pilule du
lendemain), có hiệu quả giảm một cách đáng kể ngay ngày thứ ba (giữa 48
và 72 giờ chỉ còn 58% hiệu quả).
Những công trình nghiên cứu lâm sàng được tiến hành với UPA, ở Bắc Mỹ
và châu Âu, nơi hơn 4.000 phụ nữ, đã cho thấy một hiệu quả tăng cao khoảng
95%. Hiệu quả này không thay đổi suốt trong 5 ngày, đúng đắn với thời
gian sống còn của một tinh trùng trong tử cung, trái với điều đã được
quan sát lúc sử dụng LNG (lévonorgestrel) (hoạt động 72 giờ, giảm với
thời gian từ 95% đến 58% giữa 0-24 giờ và 48-72 giờ). UPA có một độ dung
nạp tốt, có thể so sánh với lévonogestrel.
THỰC TIỄN.
- Uống một viên thuốc trong 120 giờ (5 ngày) theo sau một giao hợp không
hay kém được bảo vệ.
- UPA vẫn rất hiệu quả cho đến ngày thứ 5 sau một giao hợp không được
bảo vệ.
- Thuốc có thể được uống vào bất cứ lúc nào của chu kỳ kinh nguyệt.
- Một thai nghén phải được loại trừ trước khi dùng thuốc.
- Không nên cho bú trong suốt 36 giờ sau khi uống UPA, do tính chất thích
mỡ của thuốc.
- Trong trường hợp mửa trong 3 giờ sau khi uống, phải uống một viên thứ
hai.
- Hầu hết các phụ nữ (80,8%) có kinh vào lúc được dự kiến hay trong thời
hạn 7 ngày quanh thời kỳ này (6,1% có kinh 7 ngày sớm hơn và 13,1% 7 ngày
chậm hơn). Tuy nhiên, nếu lévonorgestrel (LNG) làm ngắn chu kỳ 2,1 ngày,
UPA trung bình kéo dài nó 2,6 ngày.
- Không có một thay đổi đáng kể nào đã được nhận thấy về thời gian và
lưu lượng của kinh kỳ. (LE JOURNAL DU MEDECIN 20/10/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr143.htm
(TSYH 143, bài số 5)
5/ VÕNG CHỐNG BỆNH SỐT RÉT.
Các chiếc võng, tẩm thuốc diệt côn trùng có tác dụng kéo dài, có thể giúp
góp phần kiểm soát bệnh sốt rét trong những vùng mà thuốc men thường dùng
chỉ có một tác dụng yếu kém. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình
nghiên cứu, được thực hiện ở Việt nam bởi Ngô Đức Thắng, vừa bảo vệ luận
án doctorat ở Viện Y Khoa Nhiệt Đới Anvers.
Trong vài vùng của Việt Nam, nhất là ở biên giới với Lào và Cambodge và
vùng trung nguyên miền núi, bệnh sốt rét vẫn là một bệnh quan trọng. Những
vùng xa xôi này được định cư bởi các dân tộc thiểu số, theo truyền thống
sống trong rừng. “Vecteur chủ yếu của ký sinh trùng sốt rét trong những
vùng này, muỗi Anopheles dirus ss, rất ưa thích các khu rừng...và người,
Ngô Đức Thắng đã giải thích như vậy. Muỗi Anopheles sống và chích ở ngoài
các ngôi nhà ở, và nhất là trong ngày, khi người dân không ở trên giường.
Điều này muốn nói rằng những chiếc mùng, tẩm hay không các chất diệt côn
trùng, không được hữu ích lắm trong các vùng này.” Tìm kiếm các công cụ
kiểm soát mới, đáp ứng tốt hơn theo tình thế, Thắng và nhóm nghiên cứu
đã trắc nghiệm tính hiệu quả của các chiếc võng tẩm các thuốc diệt côn
trùng có tác dụng kéo dài. Họ đã tiến hành công cuộc nghiên cứu trong
một trong những vùng bị ảnh hưởng nhất bởi bệnh sốt rét. “Làm việc trong
rừng, sự sử dụng mùng màn, sự thuộc vào một sắc tộc, tuổi tác và trình
độ học vấn là những yếu tố đã được tính đến, nhưng nguy cơ quan trọng
nhất dường như là sự nghèo nàn”, nhà nghiên cứu đã nêu lên như vậy.
LÀM GIẢM GẤP ĐÔI.
Dân chúng được chia thành 20 nhóm, mỗi nhóm có 1.000 người. Các nhà nghiên
cứu đã phân phát cho những người này các chiếc võng có tẩm hay không thuốc
diệt trùng. Sau hai năm theo dõi, họ đã có thể xác định, nhờ các trung
tâm y tế và những người công tác y tế trong làng, số những trường hợp
bệnh sốt rét mới : số các trường hợp mới giảm từ 26 xuống 12 trên 1000
người trong nhóm “võng có tẩm thuốc diệt côn trùng”. Tổng số các trường
hợp sốt rét trong dân chúng đã hạ từ 13,6% xuống 4%. “Điều nổi bật, đó
là những trường hợp mới đã hạ hai lần nhiều hơn trong nhóm sử dụng các
chiếc võng được tẩm thước diệt côn trùng. Tác dụng đã cho phép phòng ngừa
khoảng 10 trường hợp sốt rét trên 1000 dân. Trong những vùng bị nhiễm
nặng nhất, trung bình lợi được ba lần nhiều hơn.” (LE
JOURNAL DU MEDEIN 13/10/2009)
6/ RỐI LOẠN NHỊP TIM : MỘT ĐIỀU
TRỊ RẤT HỨA HẸN.
GS Michel Desnos, trưởng khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou,
giải thích tiến bộ đạt được với dabigatran để điều trị các rung nhĩ.
Hỏi : Các triệu chứng của rung nhĩ (fibrillation
auriculaire) là gi ?
G.S Michel Desnos : Đó là loạn nhịp tim thông thường nhất (1-2% dân số
sau 50 tuổi) và gia tăng với tuổi tác. Những triệu chứng đầu tiên được
thể hiện bởi hồi hộp, khó ở, những bệnh này cũng có thể tiến triển không
có triệu chứng và được khám phá bởi một mạch và tim không đều.
Hỏi : Không được điều trị, sẽ có những nguy
cơ nào ?
G.S Michel Desnos : Có hai nguy cơ chính. 1. Rung nhĩ làm dễ sự tạo thành
của các cục máu đông trong tim. Các cục máu đông này có thể di chuyển
lên não bộ và gây nên tai biến mạch máu não. Chúng cũng có thể di chuyển
đến một chi, làm bít tac động mạch và gây nên một thiếu máu cục bộ (ischémie),
với đau đớn dữ dội. Không điều trị, mối nguy hiểm là hoại thư (gangrène).
2. Rung thất ảnh hưởng chức năng vận động của tim, có thể gây nên suy
tim với khó thở. Nếu không điều trị, người ta sợ tai biến tim chết người.
Hỏi : Đến nay, người ta điều trị như thế
nào những người bị rung nhĩ ?
G.S Michel Desnos : Về nguy cơ do các cục máu đông, ta dùng các thuốc
kháng đông bằng đường miệng (các anti-vitamine K, như coumadine), rất
có hiệu quả. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu quan trọng và
không có thể dùng những thứ thuốc này, ta cho aspirine với liều lượng
thấp mỗi ngày. Mục đích của hai điều trị này là làm loãng máu, do đó làm
giảm các nguy cơ gây nên những biến chứng của rung nhĩ, đặc biệt là các
tai biến mạch máu não. Bên cạnh các điều trị kháng đông, các thứ thuốc
chống loạn nhịp, khử rung (cardioversion) hay thủ thuật cắt bỏ (ablation)
có thể tỏ ra cần thiết.
Hỏi : Những kết quả có được với điều trị
hiện nay là gì ?
G.S Michel Desnos : Các anti-vitamine K cho phép làm giảm các tai biến
mạch máu não hơn 60%, nhưng với cái giá của một sự gia tăng các tai biến
xuất huyết (trong đó có xuất huyết não). Bất tiện khác : điều trị này
không dễ sử dụng trong đời sống hàng ngày bởi vì nó đòi hỏi phân tích
máu đều đặn.
Hỏi : Tác dụng của điều trị mới đối với các
bệnh rung nhĩ này là gì ?
G.S Michel Desnos : Dabigatran đã xuất hiện trên thị trường châu Âu vào
tháng 10 năm 2008. Nhưng mãi đến nay, nó chỉ được thương mãi hóa duy nhất
để tránh các cục máu đông trong các tĩnh mạch nơi những người được mổ
để đặt khớp gối hay khớp háng giả. Những can thiệp này cần nằm bất động
trên giường, điều này làm dễ sự xuất hiện các viêm tĩnh mạch (phlébites).
Dabigatran, một chất ức chế trực tiếp thrombine (một yếu tố đông máu),
phong tỏa sự tạo thành của các cục máu đông. Thuốc được cho bằng đường
miệng và không cần theo dõi bằng xét nghiệm máu.
Hỏi : Những kết quả của các công trình nghiên
cứu đã được thực hiện là gì ?
G.S Michel Desnos : Vào lúc công trình nghiên cứu quốc tế (RELY) trên
18.000 bệnh nhân, người ta đã so sánh các kết quả thu được với điều trị
cổ điển bằng coumadine với các kết quả được ghi nhận với dabigatran. Thử
nghiệm đã được thực hiện với hai liều lượng khác nhau của thuốc mới :
một nhóm bệnh nhân đã nhận dabidatran 150 mg hai lần mỗi ngày ; một nhóm
khác, 110 mg, cũng hai lần mỗi ngày. Dabigatran được cho với liều lượng
cao làm giảm tai biến mạch máu não nhiều hơn là điều trị cổ điển bằng
coumadine, với một nguy cơ xuất huyết tương tự. Với liều lượng thấp hơn,
dabigatran tỏ ra cũng hiệu quả như coumadine trong việc ngăn ngừa tai
biến mạch máu não với ít xuất huyết hơn.
Hỏi : Khi nào ta có thể sử dụng điều trị
này đối với rung nhĩ. ?
G.S Michel Desnos : Chúng ta hy vọng sẽ nhận giấy phép cho lưu hành trên
thị trường trong những tháng sắp đến.
Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của dabigatran
là gì ?
G.S Michel Desnos : 1. Không phải theo dõi, dầu liều lượng cho là bao
nhiêu. 2. Với liều lượng thấp, ít nguy cơ xuất huyết hơn. 3. Với liều
cao, một hiệu quả lớn hơn để ngăn ngừa các tai biến mạch máu não. (PARIS
MATCH 8/10-1/10/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr144.htm
(TSYH 144 bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr131.htm
(TSYH 131, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr82.htm
(TSYH 82, bài số 7)
7/ TÌNH TRẠNG TRI THỨC CỦA VỢ ẢNH
HƯỚNG LÊN TUỔI THỌ CỦA CHỒNG.
Những người sống lứa đôi sẽ sống lâu hơn, các công trình trước đây đã
tiết lộ như vậy. Công trình nghiên cứu hiện nay, được tiến hành bởi Robert
Erikson và Jenny Torssander, lại gợi ý rằng việc chọn lựa người bạn đường
cũng có một ảnh hưởng lên tuổi thọ.
Các nhà nghiên cứu Thụy Điển đã căn cứ trên những dữ kiện phát xuất từ
1,5 triệu phụ nữ và đàn ông hoạt động, tuổi từ 30 đến 59 tuổi, sống lứa
đôi. Sự theo dõi đã kéo dài 10 năm.
Đối với các đàn ông cũng như đối với các phụ nữ, nguy cơ tử vong sau 10
năm cao hơn trong nhóm ít có học vấn nhất và nhóm có lợi tức thấp nhất.
Một tình trạng xã hội (statut social) thấp hơn và một nghề nghiệp ít được
đánh giá hơn cũng được liên kết với một tỷ lệ tử vong tăng cao hơn.
Nơi những người đàn ông, trình độ tri thức của người vợ mình đóng một
vai trò lớn hơn là chính trình độ học vấn của riêng mình : những người
đàn ông không học hết trung học có một nguy cơ tử vong trong 10 năm 1,1
lần cao hơn những người đàn ông đã học xong trung học. Trái lại, những
người đàn ông sống với một người vợ không đến trường bao nhiêu, có 1,25
nguy cơ cao hơn chết trong quá trình theo dõi, so với những người đàn
ông sống với một người vợ có trình độ đại học. Đối với các phụ nữ, mức
độ học vấn của riêng họ có ít ảnh hưởng hơn lên nguy cơ tử vong so với
tình trạng xã hội của người chồng. (LE JOURNAL DU MEDECIN
20/10/2009)
8/ GIẢI PHẪU TẠO HÌNH CƠ QUAN KÍN
(CHIRURGIE PLASTIQUE INTIME), CÁI NHÌN MỚI LÊN CÁC PHỤ NỮ.
Phẫu thuật kéo dài và làm lớn dương vật (l’allongement et l’élargissement
péniens), cũng như phẫu thuật làm tăng thể tích vú (augmentaion mammaire),
làm giảm bớt nhiều mặc cảm, trong khi việc tạo màng trinh (réfection hyménéale)
đáp ứng với những mối lo âu văn hóa và tôn giáo. Nhưng một lãnh vực khác
đang gia tăng quy mô một cách kín đáo, chỉ được truyền miệng với nhau
: sự cải thiện thẩm mỹ âm đạo và âm hộ.
Bộ phận sinh dục ngoài của tôi có đẹp không? Câu hỏi này có thể trở thành
nỗi ám ảnh đối với các ông lẫn các bà, nhất là nếu điểm so sánh là filmographie
pornographique ! Trái với những ưu tư nam giới, thường chỉ thuần về tâm
lý, những câu hỏi nữ giới đôi khi lại có căn cứ. Thật vậy, có thể có một
sự phì đại rất quan trọng của các mép nhỏ (petites lèvres), làm xáo trộn
không những cuộc sống hàng ngày (cọ xát lúc đi bộ hay đi xe đạp, vấy bẩn
lúc tiểu tiện) mà cả cuộc sống tình dục (dương vật khó đưa vào); trong
những tình huống khác, một sự căng quá mức của âm đạo sẽ làm nhiễu loạn
sự hài hòa của lứa đôi.
NYMPHOPLASTIE (PHẪU THUẬT TẠO HÌNH CÁC MỐI NHỎ
ÂM HỘ), THUẬT NGỮ ĐẸP...
Phải cứu xét một cách nghiêm túc mọi yêu cầu biến đổi thẩm mỹ các cơ quan
sinh dục. Các chỉ định là hiếm hoi và sự chấp nhận động tác phẫu thuật
phải được suy nghĩ chín chắn. Trên bình diện cơ thể học, nếu các môi nhỏ
(petites lèvres), còn được gọi là nymphe (nữ thần sông núi), vượt quá
2cm biên độ, chúng có thể được xem là quá lớn.
Một vài môi nhỏ có thể banh ra 6cm, thực hiện một màng ngăn trong (diaphragme
interne), hình cánh bướm. Chống chỉ định phẫu thuật trong trường hợp nhiễm
trùng herpes tại chỗ, và dĩ nhiên mọi bất thường tâm lý lúc thăm khám.
HAI PHUƠNG PHÁP.
Phẫu thuật được thực hiện dưới gây mê tại chỗ hay tổng quát và tiến hành
theo hai phương pháp, hoặc là cắt tất cả vùng thặng dư rồi may surjet,
hoặc cắt một tam giác có đáy ở sau mà không đụng đến bờ và giữ một dạng
vẻ tự nhiên. Cầm máu phải rất tỉ mỉ bởi vì các mạch máu nhỏ có khuynh
hướng co rút lại trong các mô và nhanh chóng gây nên những khối máu tụ
quan trọng. Một phẫu thuật tạo hình môi âm hộ (labioplastie) bằng laser
cũng được thực hiện từ nhiều năm nay. Những môi lớn (grandes lèvres) không
phì đại nhưng có thể dày lên. Hút mỡ (liposuccion) tại chỗ khi đó có thể
khiến các môi lớn lấy lại dạng vẻ trước đây.
KHÔNG LUYẾN TIẾC ?
Những bilan thỏa mãn có sức thuyết phục mặc dầu hậu phẫu thường đau đớn.
Một nghiên cứu Pháp trên 163 bệnh nhân, được phẫu thuật trong một thời
kỳ 9 năm, tính được 83% các phụ nữ không hối tiếc mặc dầu chỉ 89% là thỏa
mãn kết quả thẩm mỹ. Nếu vẻ đẹp góp phần trong quyết định đối với 87%
các trường hợp, sự khó chịu lúc mặc quần áo hay tập thể dục ảnh hưởng
lên quyết định của một phụ nữ trên hai, và sự đau lúc giao hợp góp phần
vào quyết định trong 43% các trường hợp.Tuổi bệnh nhân nằm trong khoảng
12 và 70 tuổi. Một nhóm nghiên cứu của Atlanta năm 2008 xác nhận rằng
những yêu cầu phẫu thuật vì thẩm mỹ chỉ là thiểu số. Thường nhất, các
rối loạn chức năng đứng hàng đầu, ngay cả khi chúng thường liên kết với
động cơ tạo hình. Những môi nhỏ là những cơ quan sinh dục phồng lên dưới
tác dụng của ham muốn, và chứa những cơ quan cảm nhận khoái lạc.Vậy cắt
bỏ chúng, nhất là vì những lý do thẩm mỹ là một ý nghĩ bất bình thường.
Lý do chính đáng duy nhất phẫu thuật chúng để giảm kích thước, đó là sự
vướng víu khó chịu về mặt cơ học và vệ sình. Tuy nhiên phải e sợ rằng
các yêu cầu không có động cơ gia tăng khi kỹ thuật sẽ trở nên ít kín mật
hơn. Đó là trường hợp xảy ra ở Hoa Kỳ.
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH ÂM ĐẠO : KHI ÂM ĐẠO HÉ MIỆNG.
Tùy theo lứa tuổi, người ta ước tính rằng có đến 40% các phụ nữ đã có
những phàn nàn về tình dục, bao gồm sự mất dục tính, khô âm đạo, đau lúc
giao hợp, giảm nhạy cảm kích dục hay không cảm thấy khoái lạc (anorgasmie).
Về vấn đề này, một phàn nàn kín đáo bắt đầu ám ảnh vài phụ nữ, nhất là
sau một cuộc sinh đẻ : Phải chăng tôi có âm đạo quá lớn hay quá giãn?”
Câu hỏi đôi khi được đặt ra bởi người chồng, không còn cảm thấy một cách
đầy đủ nữa sức ép của các thành âm đạo. Khoái lạc tình dục của lứa đôi
bị ảnh hưởng. Một phẫu thuật điều chỉnh có thể là một phẫu thuật chỉnh
hình âm đạo (vaginoplastie) đơn giản : colporraphie latérale làm giảm
niêm mạc âm đạo vài mm, hay một colporraphie kết hợp với một périnéoplastie
: sửa lại với sự sử dụng các mô chung quanh, các đai cơ, da, dây chằng.
(LE GENERALISTE 10/9/2009)
9/ THUỐC MỚI KỀM HÃM SỰ TIẾN TRIỂN
CỦA BỆNH PARKINSON.
Rasagiline không chỉ chống lại các dấu hiệu mà còn làm chậm lại sự tiến
triển của tật nguyền.
NEUROLOGIE. Một thuốc mới mà những thử nghiệm lâm sàng đang được tiến
hành nơi người sẽ có một tác dụng trực tiếp lên bệnh Parkinson và không
chỉ lên các triệu chứng của nó. Bệnh lý này gây bệnh cho gần 150.000 người
ở Pháp, là do sự thoái hóa, trong bề sâu của các nhân trung ương của não
bộ, các nhân “dopaminergique”. Sự thoái biến của những neurone này, rất
có liên hệ trong những hoạt động vận động, giải thích số các triệu chứng
mà các bệnh nhân mắc phải, run rẩy (tremblements), cứng đờ (raideurs),
đặc điểm của căn bệnh Parkinson.
Từ năm 1950, một thuốc được tổng hợp từ hai acide aminé rất thường được
tìm thấy trong các thảo mộc, L-Dopa và các dẫn xuất của nó, đã biến đổi
cuộc sống hàng ngày của nhiều bệnh nhân Parkinson. Khám phá này đã được
chào đón bởi giải Nobel y học năm 2000 và hóa học năm 2001. Ngày nay có
nhiều dược chất được gọi là “dopaminergique” có khả năng phục hồi sự sản
xuất dopamine, chất dẫn truyền thần kinh bị cạn đi trong não bộ của các
người bệnh. Nhưng không có thứ thuốc nào trong số này có tác dụng lên
chính căn bệnh, vì vậy bệnh thường vẫn tiếp tục tiến triển. Sự khám phá,
được công bố bởi một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ-Pháp trong New England Journal
of Medicine, đã được thực hiện bởi Olivier Rascol (CHU de Toulouse) và
Warren Olanow (Mount Sinai Hospital, New York). Bổ sung một công trình
nghiên cứu tương tự được thực hiện về loại thuốc này (rasagiline), thử
nghiệm mới này đã được thực hiện trên gần 1.200 bệnh nhân với một quá
trình theo dõi 18 tháng, trong 100 trung tâm ở Âu Châu và Hoa Kỳ. Các
nhà nghiên cứu đã chia các bệnh nhân thành nhiều nhóm, vài bệnh nhân được
điều trị ngay vào lúc đầu của công trình nghiên cứu, trong suốt 18 tháng,
những bệnh nhân khác chỉ được điều trị trong 9 tháng sau cùng. Các bệnh
nhân được bốc thăm, một nửa nhận một liều 1 mg/ngày, nửa kia nhận 2mg
của thuốc rasagiline, đã được cho phép lưu hành ở Pháp, dưới tên Azilect.
CÁC CƠ CHẾ BÙ TRỪ.
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi tiến triển của các bệnh nhân nhằm đo lường,
bằng những trắc nghiệm, sự trầm trọng hóa của bệnh theo thời gian (thật
vậy có những échelle de score của bệnh Parkinson, được sử dụng bởi các
thầy thuốc thần kinh trên toàn thế giới). Kết quả : các bệnh nhân, dùng
liều thấp nhất và sớm nhất, sau 18 tháng, có một score hơi tốt hơn so
với những bệnh nhân đã nhận liều này chỉ sau 9 tháng. “Hiệu quả này đi
theo chiều hướng của một biến đổi của tiến triển của bệnh bởi rasagiline,
Pierre Pollak (CHU Grenoble) đã đánh giá như vậy. Đó là một công trình
nghiên cứu được tiến hành rất tốt, chắc chắn, nhưng như các tác giả đã
công nhận, người ta không tìm thấy tác dụng này với liều lượng quan trọng
nhất.” Từ nhiều năm nay, trong thần kinh học, một ý tưởng cho rằng các
điều trị sớm (và không chỉ với rasagiline) có thể tận dụng những cơ chế
bù của bệnh, sẽ không cạn kiệt với thời gian. Nhưng chính các tác giả
công nhận rằng với liều lượng rasagiline mạnh nhất (2mg), họ không nhận
thấy ưu điểm của điều trị sớm này. (LE FIGARO 24/9/2009)
10/ SẮT ĐÓNG MỘT VAI TRÒ CHỦ CHỐT
TRONG BỆNH PARKINSON.
Mặc dầu còn ít được hiểu rõ, căn bệnh thoái hóa Parkinson ảnh hưởng lên
các neurone dopaminergique. Các tế bào thần kinh này tích trữ sắt nhờ
một chất được gọi là neuromélanine. Nhưng nhóm nghiên cứu của Kazrn Marcus,
thuộc đại học Ruhr, Bochum (Đức), vừa chứng tỏ rằng một yếu tố khác đóng
vai trò. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện, ngay bên trong các hạt neuromélanine,
sự hiện diện của ferritine, protéine chính có liên quan trong sự tích
trữ sắt trong các tế bào khác của thân thể con người. Khám phá này là
chủ yếu để hiểu chuyển hóa của sắt trong các neurone, nhất là các nghiên
cứu trước đây đã cho thấy rằng dung lượng của sắt trong các neurone dopaminergique
gia tăng trong bệnh Parkinson, điều này sản xuất những lượng lớn các gốc
tự do (radicaux libres) rất độc hại. Vai trò của ferritine trong sự tích
lũy này là gi? Tại sao sự tích tụ sắt xảy ra ? Hiểu được hiện tượng này
có thể gợi ra những cách điều trị mới căn bệnh Parkinson. (SCIENCE
ET VIE 10/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (1/11/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |