 |
Thời
Sự Y Học số 144
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ VACCIN CHỐNG BỆNH SIDA
: SAU CÙNG CÁC KẾT QUA DƯƠNG TÍNH !
Cuộc thử nghiệm vaccin với quy mô rộng lớn nhất được tiến hành cho đến
ngày hôm nay đã cho phép làm giảm 1/3 nguy cơ nhiễm trùng bởi virus HIV.
Nhưng còn nhiều điều cần phải làm.
Mặc dầu vaccin chống bệnh sida chưa có cho ngày mai, nhưng đây là lần
đầu tiên trong lịch sử của dịch bệnh mà một thử nghiệm lâm sàng cho hé
thấy khả năng phòng ngừa sự lây nhiễm bởi virus HIV. Nguy cơ bị nhiễm
trùng sida giảm 31% nơi những người được tiêm chủng so với những người
đã nhận một placebo, hôm thứ năm 24/9, các nhà tổ chức cuộc thử nghiệm
tiêm chủng đã loan báo như vậy. “ Đó là một bước tiến quan trọng, giáo
sư Jean –François Delfraissy, giám đốc ANRS (Cơ quan quốc gia nghiên cứu
về bệnh sida và các bệnh viêm gan virus) đã chào mừng.Tuy nhiên vẫn còn
khiêm tốn và không đủ. Chúng ta chưa có một vaccin chống sida.” Được trắc
nghiệm nơi 16.000 người tình nguyện ở Thái Lan có huyết thanh âm tính
(séronégatif), thử nghiệm kết hợp hai vaccin khác nhau (un cocktail de
deux vaccins) được chế tạo cách nay 10 năm. Vaccin đầu tiên được tiêm
là Alvac, được bào chế bởi Sanofi Pasteur và vaccin thứ hai Aidsvax B/E
VaxGen. Hai vaccin, nhằm vào các chủng gốc lưu hành ở Thái Lan, được tiêm
cách nhau một khoảng thời gian 6 tháng, vaccin thứ hai tăng cường tác
dụng của vaccin thứ nhất, theo chiến lược primovaccination, tiếp theo
bởi một tiêm chủng nhắc lại (“ prime boost ”). Những người tình nguyện
được khám lại mỗi 6 tháng trong vòng 3 năm sau khi tiêm chủng, đồng thời
mỗi lần khám bệnh họ nhận “ những lời khuyên về phương cách phòng ngừa
nhiễm trùng bởi HIV ”. Những kết quả thô sơ của thử nghiệm giai đoạn III
này, được gọi là RV 144, đã được trình bày hôm qua nhân một cuộc họp báo
được tổ chức bởi Sanofi-Pasteur, là hãng bào chế Alvac-HIV, một trong
hai vaccin. Mặc dầu họ không ngớt đưa ra những lời tuyên bố phấn khởi,
nhưng các phát ngôn viên của quân đội Hoa Kỳ và Bộ y tế Thái Lan (đã tiến
hành nghiên cứu), đã không chi tiết bao nhiêu về các dữ kiện. Những dữ
kiện này sẽ được phát triển vào hội nghị quốc tế về các vaccin sẽ diễn
ra ở Paris từ 19 đến 22 tháng 10.
Hai thử nghiệm quy mô lớn đầu tiên, được tiến hành với các vaccin thế
hệ thứ nhất, đã thất bại. Để gia tăng các cơ may thành công, các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ đã nhờ đến chiến lược “ prime-boost ” (primovaccination rappel),
nhằm tiêm một vaccin đầu tiên để khơi mào đáp ứng miễn dịch, rồi một vaccin
thứ hai, tính chất khác, để khuếch đại sự sản xuất các kháng thể.Vaccin
đầu tiên, Alvac-HIV, được sản xuất từ một virus gây nhiễm trùng chim hoàng
yến (canari) (canarypox) bị biến đổi về mặt di truyền. Virus này không
có thể sống sót trong các tế bào người nhưng cho phép đưa vào các gène
mật mã cho các protéine miễn dịch của HIV. Vaccin thứ hai, AIDSVAX là
một dạng tổng hợp của một protéine thuộc lớp vỏ của virus, gpl120.
Được trắc nghiệm riêng rẽ, hai vaccin này đã không mang lại một sự bảo
vệ miễn dịch nào. Trong thử nghiệm Thái Lan, được bắt đầu vào năm 2003,
16.000 người tình nguyện, tuổi từ 18 đến 30 và được xem như có nguy cơ
“trung bình” bị lây nhiễm bởi HIV, đã được chia thành hai nhóm : 8.000
người đã nhận cocktail vaccin, 8.000 người nhận các placebo. Vào thời
kỳ đó, một bộ phận của cộng đồng y khoa đã đứng lên chống lại công trình
nghiên cứu này, được cho là cần phải bàn cãi về mặt đạo đức. 3 năm sau
khi chấm dứt các tiêm chủng, các vaccin đã xác nhận tính dung nạp tốt
của chúng. Nhất là, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh, sau cùng chúng đã chứng
tỏ một hiệu quả: 74 trường hợp sida đã xảy ra trong nhóm placebo, 51 trong
số những người được tiêm chủng, hoặc một sự giảm 31%, có ý nghĩa về mặt
thống kê. “Những kết quả của công trình nghiên cứu , thể hiện một sự tiến
bộ khoa học đáng kể, là điều chứng minh đầu tiên rằng một vaccin có thể
ngăn ngừa nhiễm trùng bởi HIV trong dân chúng trưởng thành và có một tầm
quan trọng lớn”, OMS và Onusida đã tuyên bố như vậy. “Rất là đáng phấn
khởi. Những kết quả này cũng cho thay chiến lược “prime-boost” đáng được
nghiên cứu sâu”, BS Catherine Hankins, trưởng cố vấn khoa học của Onusida
đã chỉ rõ như vậy. “Những kết quả này là khiêm tốn, nhưng đây là lần đầu
tiên người ta có một dấu hiệu dương tính đối với một vaccin”, GS Anthony
Fauci thuộc Viện quốc gia dị ứng và các bệnh nhiễm trùng (Hoa Kỳ) đã nhấn
mạnh như vậy. Tuy nhiên ông nhấn mạnh rằng vẫn còn nhiều câu hỏi phải
giải quyết trước khi dự kiến đưa ra thị trường. “Người ta không biết thời
gian bảo vệ do vaccin mang lại là bao nhiêu, cũng như không biết là vaccin
này sẽ có hiệu quả trong những loại dân chúng khác hay không, chẳng hạn
những người đồng tính luyến ái hay nghiện ma túy ”, Anthony Faucy đã ghi
nhận như thế. Các chuyên gia Pháp khác lại còn thận trọng hơn. “Phải tiết
chế bớt niềm phấn khởi của chúng ta, đó chỉ là một sự giảm 31%, và chúng
ta không biết tại sao những người này lại được bảo vệ”, GS Françoise Barré-Sinoussi,
Giải Nobel Y Học 2008 do đã tham gia vào việc khám phá virus HIV, đã phản
ứng như vậy.
“Tin vui đầu tiên, đó là sự thông tin về những biện pháp phòng ngừa đã
rất là có hiệu quả, bởi vì đã chỉ có 125 trường hợp lây nhiệm trên 16.000
người, giám đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu về sida (ANRS) Jean François
Delfraissy đã phát biểu như vậy.
Tuy nhiên, GS Yves Levy, phụ trách về những thử nghiệm vaccin ở ANRS nhắc
lại rằng “sau 30 ứng viên vaccin trong 20 năm, ít nhất chúng ta có được
một dấu hiệu cho thấy rằng có thể làm giảm các nguy cơ”. “Một vaccin có
hiệu quả trong 30% hay 50% các trường hợp sẽ có thể đóng một vai trò quan
trọng nếu vaccin này nằm trong một hệ thống phòng ngừa được tăng cường.
Chưa có giải pháp độc nhất để chống lại sida ”, Michel Sidibé, giám đốc
của Onusida đã đánh giá như vậy. (LE FIGARO 25/9/2009)
(LE MONDE 26/9/2009)
2/ H1N1 : ĐIỀU TRA VỀ CÁC NGUY
CƠ CỦA VACCIN.
Các chuyên gia muốn tỏ ra khá yên lòng, nhưng những điều khó dự kiến vẫn
còn tồn tại.
Các vaccin được hiệu chính nhanh chóng, chứa các chất bảo quản (conservateurs)
hay các chất bổ trợ (adjuvants) có tiềm năng gây độc. Đang lưu truyền
các lời đồn đại quá đáng nhất về các vaccin chống cúm đại dịch A (H1N1),
mà chiến dịch tiêm chủng sẽ bắt đầu trong tháng 10 này ở Pháp. Theo một
thăm dò mới nhất, ¼ dân Pháp hoàn toàn không muốn được chủng ngừa. Và
mối ngờ vực cũng không tha miễn những người chuyên ngành y tế. CNMSE (Coordination
nationale médicale santé environnement) yêu cầu những bằng cớ khoa học
“ chứng minh rằng sự tiêm chủng này là cần thiết và không nguy hiểm, nhất
là đối với các phụ nữ mang thai và các trẻ em nhỏ tuổi ”. Thí dụ cơ quan
này lo ngại về sự hiện diện của các chất bổ trợ (adjuvants) (những sản
phẩm nhằm làm gia tăng đáp ứng miễn dịch đối với vaccin) như squalène,
“ bị buộc tội trong hội chứng của các cựu chiến binh của chiến tranh vùng
Vịnh (syndrome des vétérans de la guerre du Golfe) ”. Cơ quan này cũng
tự hỏi về thiomersal, chất bảo quản chứa thủy ngân. “ Chủ yếu các vaccin
đại dịch có cùng thành phần với các vaccin đã được sử dụng mà không có
vấn đề từ hơn 60 năm nay để chống lại cúm mùa (grippe saisonnière) ”,
BS Rebecca Martin, thuộc văn phòng châu Âu của OMS đã nhấn mạnh như vậy.
“ Các vaccin chống cúm nói chung được dung nạp tốt, Paul Léophonte, thầy
thuốc chuyên khoa Phổi, tác giả của tác phẩm “ les Grippes en question
” đã xác nhận như vậy. Những tác dụng phụ thông thường nhất là những phản
ứng tại chỗ. Hiếm hơn, người ta quan sát thấy một phản ứng toàn thể với
sốt, mệt mỏi, v..v, nhanh chóng biến mất sau đó. Về các biến chứng thần
kinh rất là hiếm hoi, như hội chứng Guillain-Barré, được thể hiện bởi
những bại liệt thường thoái triển trong vài ngày : 1 trường hợp trên 1
triệu người được tiêm chủng. Ngoài những kháng nguyên virus, những khác
nhau giữa các vaccin rất được biết rõ này và các vaccin mới đại dịch là
gì ? Trước hết là kỹ thuật sản xuất. Để tiết kiệm thời gian, hãng Baxter
của Hoa Kỳ đã cho không sử dụng phương pháp cấy cổ điển lên các trứng
phôi thai mà theo phương pháp cấy tế bào Vero, phát xuất từ khỉ. “ Đó
là kỹ thuật mới, còn đang được trắc nghiệm lâm sàng, nhưng kỹ thuật này
không gợi lên mối e ngại nào đặc biệt ”, BS Martin đã đảm bảo như vậy.
Khác nhau khả dĩ khác : sự hiện diện trong các vaccin đại dịch những chất
bảo quản (conservateurs) như thiomersal. Việc nhờ đến hợp chất này được
biện minh để làm giảm nguy cơ lây nhiễm bởi vi khuẩn, nhưng thành phần
của nó với chất cơ bản thủy ngân làm lo ngại những người tiêu thụ. “ Trong
những năm 2000, thiomersal đã được rút ra khỏi những vaccin bởi vì bị
nghi là nguồn gốc của những rối loạn như autisme, Fabienn Bartoli, thuộc
Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế Pháp đã giải thích như vậy. Từ đó, các
công trình nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy rằng căn bệnh này vẫn tiếp
tục tiến triển, điều này gián tiếp làm an lòng.” Theo bà, vậy thì sử dụng
nó là hợp pháp, bởi vì cán cân giữa những lợi ích của thiomersal (một
vài để tránh những sự lây nhiễm vi trùng) và độc tính của nó (không được
chứng minh) vẫn còn dương tính. Còn về các chất bổ trợ (adjuvants) thì
sao ? Các vaccin cúm mùa không chứa chất bổ trợ, trừ Gripguard (Novartis),
được sử dụng nhất nơi những người già mà những đáp ứng miễn dịch yếu hơn,
GS Léophonte đã chỉ rõ như vậy. Đối với những vaccin đại dịch, 4 hãng
bào chế, mà Pháp đã gởi đơn đặt hàng, có chiến lược riêng của mỗi hãng.
“Lợi ích của các chất bổ trợ (adjuvants) này là có được cùng đáp ứng miễn
dịch với một lượng vaccin thấp hơn. Trong một tình huống khẩn cấp y tế,
điều đó cho phép chúng ta sản xuất được nhiều hơn, Pascal Barollier, phát
ngôn viên của Sanofi-Pasteur đã giải thích như vậy. Hãng đang tiến hành
những thử nghiệm lâm sàng của vaccin chống H1N1, có hoặc không có một
chất bổ trợ mới, được gọi là AF03. “Tổng cộng, vaccin đã được trắc nghiệm
trên nhiều ngàn người, Pascal Barollier đã đánh giá như vậy. Novartis
sử dụng một chất bổ trợ tên là MF59, hiện diện từ hơn 10 năm nay trong
các vaccin cúm mùa. Hơn 40 triệu liều của chất bổ trợ mà chất cơ bản là
squalène, đã được cấp trên thế giới, cho những nhóm có nguy cơ hay với
sự suy giảm miễn dịch, nhưng không gây nên một báo động pharmacovigilnce
nào”, BS Martin đã đảm bảo như vậy.
Ở hãng Baxter, không có một chất bổ trợ nào được sử dụng. Trong ý kiến
về chiến lược tiêm chủng, Hội đồng cao cấp y tế công cộng Pháp đã khuyến
nghị nên sử dụng hơn các vaccin không có chất bổ trợ trong vài nhóm dân
chung (đặc biệt là các phụ nữ có thai và các nhũ nhi).
TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG.
Tuy nhiên vì thiếu các dữ kiện với quy mô lớn về các chất bổ trợ (adjuvant),
GS Léophonte tự hỏi về tính chất có căn cứ của một tiêm chủng đại trà
(vaccination de masse). “ Vaccin được biện mình nơi những người có nguy
cơ bị những thể nặng. Nhưng vẫn phải thận trọng về một chiến dịch quy
mô lớn , làm gia tăng các nguy cơ mắc phải các tác dụng phụ ngoại lệ ”,
ông đã nêu lên như vậy. Những chuyên gia có tiếng khác tán thành một tiêm
chủng mở rộng (vaccination élargie), để bảo vệ đồng thời cá nhân và tập
thể. Mặc dầu các kỹ thuật chế tạo các vaccin chống cúm đã tiến triển trong
những thập niên qua, 532 trường hợp Guillain-Barré (trong đó 30 tử vong),
đã xảy ra ở Hoa Kỳ vào năm 1976 sau chiến dịch tiêm chủng vội vàng 40
triệu người, vẫn còn trong tất cả các ký ức. “ Các nước phải thiết đặt
các hệ thống phản ứng cảnh giác dược (pharmacovigilance) và thông tin
cho nhau ”, Rebecca Martin đã nhấn mạnh như thế. (LE
FIGARO 21/9/2009)
3/ H1N1 : TIÊM CHỦNG CÁC NGƯỜI
GIÀ ?
Các trận dịch bệnh cúm được liên kết với một lệ tử vong cao do tim và
các vaccin có một tác dụng bảo vệ.
GRIPPE. Một cuộc điều tra, được công bố hôm nay trong tạp chí y học Anh
The Lancet tiết lộ rằng vào các trận dịch cúm mùa, giữa 30 và 50% các
tử vong quá mức (surmortalité) là do các cơn nhồi máu cơ tim. Như vậy,
nhất là đối với các người già, virus của bệnh cúm không giết bệnh nhân
một cách trực tiếp, mà làm dễ sự mất bù của một tình trạng tổng quát vốn
mỏng manh, nhất là đối với những người trên 65 tuổi. Công trình này, được
thực hiện bởi những nhà nghiên cứu y tế công cộng người Anh, cũng gợi
ý rằng sự tiêm chủng sẽ làm giảm nguy cơ tử vong do tim vào luc dịch bệnh
cúm. Trong bối cảnh hiện nay, và dưới ánh sáng của những yếu tố này, các
người già có nên được tiêm chủng chống bệnh cúm A (H1N1) nhằm chống lại
tỷ lệ tử vong quá mức này ? Hiện nay, các người già không nằm trong diện
ưu tiên qua các lời khuyến nghị của các giới hữu trách y tế hiện hành,
ngoại trừ trong trường hợp các nguy cơ được xác nhận một cách rõ ràng.
Mỗi năm, trung bình có 6.000 tử vong được liên kết với cúm mùa. Nói chung
tỷ lệ tử vong cao hơn (surmortalité) này chỉ được quan sát hậu nghiệm
(a posteriori). “ Khi người ta xem xét đường cong của tỷ lệ tử vong của
dân chúng theo thời gian, người ta nhận thức mỗi năm rằng có một đỉnh
cao nhỏ xảy ra đồng thời với dịch cúm, G.S Antoine Flahaut (nhà dịch tễ
học, chuyên gia về bệnh cúm, giám đốc Viên cao học y tế công cộng) đã
giải thích như thế. Tỷ lệ tử vong quá mức này thay đổi tùy theo năm, từ
1000 đến 8.000 tử vong mỗi năm. ”
“ẤN ĐỊNH ƯU TIỀN THEO THỨ BẬC ”
Vào lúc cúm mùa, ở Pháp, trung bình 6 triệu người bị mắc phải virus, 6.000
người tử vong vì bệnh, hoặc một tử vong trên 1.000 người bệnh (tỷ lệ tương
tự ở Nhật Bản, Hoa Kỳ và Úc). Trên 6.000 tử vong này, chỉ 600 được công
nhận là có liên hệ trực tiếp với cúm (như các giấy khai tử chỉ rõ). Mặt
khác tỷ lệ tử vong cao hơn (surmortalité) do cúm này có liên quan 90%
những người hơn 65 tuổi và 87% những người trên 75 tuổi. “ Người ta không
biết nguyên nhân của những tử vong này. Có hai giả thuyết, hoặc là cúm
gây nên một sự mất bù của một bệnh có trước nơi người già, hoặc nhiễm
trùng cúm làm mất quân bình một tình trạng tổng quát vốn mong manh, Antoine
Flahault nói thêm như vậy. Trong 90% các trường hợp, người thầy thuốc
đã không quy tử vong cho cúm ”.
Trong những điều kiện này, có nên khuyến nghị tiêm chủng một cách hệ thống
những người già chống lại virus H1N1 vì lẽ không thể loại trừ một tỷ lệ
tử vong cao hơn mà không có thể nhận thấy được? “Tôi nghĩ rằng, do thận
trọng, vì lẽ tỷ lệ tử vong cao hơn mà chúng ta chỉ có thể đánh giá sau
này, nên cần phải khuyến nghị vaccin H1N1 cho tất cả các người già, GS
Antoine Flahault đã trả lời như vậy. Đồng thời ông cũng cho rằng chính
do thận trọng mà chúng ta sẽ tiêm chủng chống lại virus của cúm mùa. Đúng
vậy, hiện nay không có một yếu tố nào về tỷ lệ tử vong của những người
già cho thấy những dữ kiện đáng lo ngại. “ Một số các công trình nào đó
chỉ rõ rằng những người sinh trước năm 1957 dường như tương đối được bảo
vệ chống lại bệnh cúm do H1N1 này, GS Paul Léophonte (giáo sư chuyên khoa
phổi ở Toulouse) đã đảm bảo như vậy. Tôi nghĩ rằng phải ấn định ưu tiên
tiêm chủng theo thứ bậc, hơn là thực hiện những tiêm chủng đại trà.” Theo
giáo sư Claude Hannoun, chuyên gia bệnh cúm, hiện nay tỷ lệ tử vong cao
hơn do virus H1N1 đã không được quan sát thấy nơi những người già, dường
như ít nhạy cảm hơn với virus này” (LE FIGARO 22/9/2009)
4/ CÔNG NGHIỆP DƯỢC PHẨM CỦA CÁC
NƯỚC ĐANG PHÁT KHỞI ĐÃ THỰC HIỆN NHỮNG TIẾN BỘ ĐÁNG KỂ.
Được hiệu chính trong một thời gian kỷ lục, các vaccin của các hãng bào
chế Trung quốc chống cúm A có đáng tin cậy hay không ? Câu trả lời thay
đổi tùy theo người đối thoại ở Trung Quốc hay Châu Âu. “ Không có sự tin
chắc đối với vaccin này hơn so với những vaccin khác của Trung Quốc, vốn
đã không có tiếng về mức độ đáng tin cậy và không được chuẩn nhận ở Châu
Âu. Cộng đồng y khoa nước ngoài ở Trung quốc nói chung khuyến nghị dùng
các vaccin nước ngoài ”, một chuyên viên y tế phương tây ở Bác Kính đã
nhấn mạnh như vậy. Mặc dầu cũng thận trọng, Bruno Lina, chủ trì nhóm giám
định và thông tin về bệnh cúm, tỏ ra ít ngờ vực hơn : “ Rất khó trả lời
câu hỏi này, bởi vì chúng tôi thiếu thông tin, Chúng tôi không biết mức
đòi hỏi của giới hữu trách y tế Trung quốc và các kết quả của những thử
nghiệm lâm sàng đã chưa được công bố.
Mặc dầu sự mù mờ này, các chuyên gia không tỏ ra lo ngại. “ Những vaccin
duy nhất có thể nguy hiểm là những vaccin được thực hiện từ các sinh vật
như vaccin chống bệnh sốt vàng (fièvre jaune), Didier Raoult, giáo sư
đại học y khoa Marseille, đã giải thích như vậy. Đó không phải là trường
hợp đối với các vaccin chống cúm, được chế tạo từ những tác nhân gây nhiễm
trùng được làm bất hoạt.” Cùng lắm, những người được tiêm chủng có thể
bị một cơn sốt và ban đỏ tồn tại nơi tiêm chủng.
Vậy mặc dầu Trung quốc đưa ra những thông tin một cách nhỏ giọt, không
có lý do gì để ngờ vực cả. “Tôi không ngạc nhiên chút nào khi thấy các
hãng bào chế Trung Quốc đua tranh với các hãng bào chế Tây Phương, Didier
Raoult đã phân tích như vậy. Điều đó chỉ thể hiện tính năng động cùa đất
nước này về nghiên cứu các bệnh nhiễm trùng. Chúng ta sẽ phải làm quen
với những thành công của những nhà nghiên cứu Châu Á, bởi vì họ rất mạnh
và tiến nhanh .”
ĐIỀU TRỊ ÍT HIỆU QUẢ HƠN.
Những tiêu chuẩn y tế của Trung quốc, mềm dẻo hơn so với Tây phương, đã
có thể làm dễ Sinovac và Hualan trong cuộc chạy đua này. Ở Pháp, một vaccin
phải bảo vệ ít nhất 70% những người được tiêm chủng mới có thể được đưa
ra thị trường. “ Có thể là giới hữu trách Trung quốc ưa thích hơn phát
động nhanh chóng một điều trị ít hiệu quả hơn để đuổi kịp tốc độ của dịch
bệnh. Một chiến lược hợp lý khi phải bảo vệ hơn 1 tỷ người ”, M.Lina đã
tuyên bố như vậy.
Việc lựa chọn vaccin một liều được chế tạo bởi Sinovac và Hualan tán trợ
cho giả thuyết này. Có lẽ với một liều duy nhất khó có thể có cùng mức
độ bảo vệ như với hai liều, các nhà chế tạo Châu Âu đã tiên đoán như thế.
Tuy nhiên, hiệu chính một vaccin và sản xuất nó theo một quy mô lớn là
hai việc làm khác nhau.Về sản xuất với quy mô lớn, Trung Quốc còn phải
chứng tỏ khả năng. Nhưng phải công nhận rằng công nghiệp dược phẩm của
các nước đang phát khởi (pays émergents) đã thực hiện những tiến bộ đáng
kể từ một thập niên qua. Cách nay không lâu, Ẩn Độ trở thành nhà sản xuất
vaccin thế giới đầu tiên. (LE MONDE 10/9/2009)
5/ ALZHEIMER : NHỮNG GENES MỚI GÂY BỆNH.
NEUROLOGIE. Khám phá quan trọng này của Anh-Pháp mở ra những hướng điều
trị mới.
Bệnh Alzheimer gây bệnh cho 850.000 người ở Pháp. Những dự phòng cho tương
lai vẫn còn u tối, với số các bệnh nhân tăng dần vì tuổi thọ được kéo
dài ra. Thế mà cho đến ngày nay, các khả năng điều trị lại rất hạn chế.
Tạp chí khoa học đã công bố hôm qua các kết quả rất hứa hẹn của hai nhóm
nghiên cứu, một của Pháp và một của Anh, với sự khám phá 3 gène mới có
liên hệ trong dạng thông thường của bệnh Alzheimer, đã cho phép hiểu rõ
hơn các cơ chế của bệnh đồng thời mở ra những hướng điều trị mới. Đó là
những yếu tố mẫn cảm di truyền (facteurs de susceptibilité génétique)
đầu tiên được nhận diện, kể từ khi gène của apolipoprotéine E (mà vài
dạng làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh lên 4 lần) được khám phá vào năm 1993.
Căn bệnh thần kinh nghiêm trọng này được đặc trưng bởi một sự thoái hóa
dần dần của não bộ, được thể hiện bởi những rối loạn về trí nhớ, về trí
thông minh và về hành vi. Các gia đình và các bệnh nhân, đã sống một cách
rất đau khổ với căn bệnh này, đang trong chờ một phép điều trị có khả
năng ngăn ngừa, làm hoãn lại hay làm chậm lại tiến trình của nó.
CÁC KỸ THUẬT GENOTYPAGE V CÁC NGÂN HÀNG ADN.
Vào năm 2008, nhờ các kỹ thuật génotypage được hiệu chính và nhờ các ngân
hàng mẫu nghiệm ADN được lấy nơi những người bị bệnh Alzheimer, một nhóm
nghiên cứu đa ngành của Pháp đã lao mình vào một cuộc phiêu lưu khoa học
quan trọng : so sánh tất cả các gène của 2 .000 bệnh nhân bị bệnh Alzheimer
với các gène của 5.000 người cùng lứa tuổi nhưng không bị bệnh này, nhằm
nhận diện những khác nhau có thể có. Sau công trình khổng lồ và cực nhọc
này, các nhà nghiên cứu Pháp khám phá ra hai gène có liên quan trong căn
bệnh Alzheimer. “ Vào tháng 7/2009, những kết quả đầu tiên của chúng tôi
rất là lý thú và chúng tôi đã trình bày chúng nhân hội nghị thế giới về
bệnh Alzheimer được tổ chức ở Vienne, sau khi đã đề nghị công bố chúng
trên Nature Genetics, giáo sư Philippe Amouyel, giám đốc của một đơn vị
nghiên cứu của Viện Pasteur Lille, đã kể lại như vậy. Và ở Vienne, thật
ngạc nhiên ! Các nhà nghiên cứu Anh cũng loan báo là đã nhận diện, từ
6.000 bệnh nhân, hai gène liên kết với bệnh này, trong đó một giống hệt
với gène của chúng tôi. ” Vậy 3 dạng di truyền mới, làm dễ sự xuất hiện
bệnh Alzheimer hay bảo vệ chống lại nó, vừa được khám phá. Mặt khác các
nhà nghiên cứu Pháp và Anh sau đó đã xác nhận rằng các gène mà họ đã không
nhận diện đúng là một yếu tố làm dễ sự xuất hiện bệnh Alzheimer. Tất cả
những dữ kiện này sau đó được lập lại nơi gần 4000 bệnh nhân châu Âu.
Gène đầu tiên được khám phá, nằm trên nhiễm sắc thế 8, là gène của một
protéine, clusterine. Sự việc gène này có một hình dạng nào đó, có một
tác dụng bảo vệ chống lại bệnh và làm giảm nguy cơ bị bệnh 15%. “ Protéine
này sẽ can thiệp vào trong sự tạo thành các mảng protéines bêta-amyloides,
một trong những biến cố sinh học quan trọng đặc trưng của bệnh Alzheimer
”, GS Amouyel đã giải thích như vậy. Protéine này có thể là một mục tiêu
của công nghiệp dược phẩm trong việc hiệu chính các thuốc có khả năng
loại bỏ các mảng amyloide hay ngăn cản sự tích tụ của chúng.
Gène thứ hai có liên quan đến thụ thể của một protéine khác có liên hệ
trong những hiện tượng viêm và làm gia tăng nguy cơ 15%. Khám phá này
xác nhận ảnh hưởng của những cơ chế viêm trong bệnh Alzheimer (những bệnh
nhân bị viêm khớp sử dụng các thuốc chống viêm thường ít bị bệnh Alzheimer
hơn những bệnh nhân khác) và đẩy mạnh ý tưởng thử nghiệm các thuốc chống
viêm trong bệnh này. Gène thứ ba được khám phá bởi những nhà nghiên cứu
người Anh, picalm, can thiệp vào trong sự truyền luồng thần kinh và làm
giảm nguy cơ 15%.
“ Để tìm ra những thuốc mới, phải hiểu cơ chế bệnh, GS Amouyel đã nói
thêm như vậy, đó là tất cả ý nghĩa của những công trình mà chúng tôi đang
tiếp tục tiến hành, với các gène làm dễ sự xuất hiện bệnh mới mà chúng
tôi đang nghiên cứu.” Không có vấn đề dùng những kết quả nghiên cứu này
trong khung cảnh một điều tra phát hiện di truyền (dépistage génétique)
hay biến chúng thành một công cụ chẩn đoán. Ảnh hưởng của các gène không
hẳn là yếu tố quyết định duy nhất. Những yếu tố nguy cơ khác liên hệ với
môi trường cũng góp phần trong quá trình thoái hóa não bộ này. (LE
FIGARO 7/9/2009)
6/ MỘT THẾ HỆ CÁC THUỐC KHÁNG ĐÔNG
RẤT HỨA HẸN.
Các antivitamines K, được kê đơn từ nhiều thập niên qua cho những người
có nguy cơ cao bị các tai biến mạch máu não, phải chăng chẳng bao lâu
nữa sẽ trở nên lỗi thời ? Hiệu quả nhưng khó vận dụng, các thuốc kháng
đông (anticoagulants) này làm gia tăng sự xuất hiện của các xuất huyết,
nhất là ở đường tiêu hóa. Dabigatran, một thuốc kháng đông mới, gây chảy
máu rõ rệt ít hơn nhưng đống thời vẫn có hiệu năng ít nhất là tương tự,
theo một thử nghiệm rộng rãi được trình bày tại hội nghị tim học ở Barcelonne.
Công trình nghiên cứu, đã được thực hiện trên 18.000 bệnh nhân mắc bệnh
rung nhĩ (fibrillation auriculaire) (một rối loạn nhịp tim dễ đưa đến
các tai biến mạch máu não), cũng đã được công bố trên site Internet của
New England Journal of Medicine. Dabigatran đã được thương mãi hóa bởi
hãng Boehringer Ingelheim dưới tên Pradaxa trong một chỉ định khác. “Đó
là một công trình có tầm quan trọng chủ yếu”, GS Jean-Yves le Heuzey (Paris)
đã đánh giá như vậy. Theo thầy thuốc chuyên khoa tim này, dabigatran và
những thuốc tương cận khác, còn đang được trắc nghiệm lâm sàng, sắp đến
sẽ được đề nghị ưu tiên một trong vài trường hợp rung nhĩ. (LE
FIGARO 1/9/2009)
7/ UNG THƯ LƯỠI : MỘT ROBOT NGOẠI
KHOA ĐẦU TIÊN.
BS Gilles Dolivet, thầy thuốc ngoại Tai Mũi Họng của Trung tâm chống ung
thư Alexis-Vautrin, Nancy, bình luận những lợi ích của kỹ thuật mới robot
hóa.
Hỏi : Các ung thư lưỡi có thường xảy ra không
? Những điều trị thông thường là gì ?
BS Gilles Dolivet : Ở Pháp, người ta thống kê được hơn 2.000 trường hợp
mỗi năm, trong đó 90% xảy ra nơi đàn ông và 10% nơi phụ nữ. Có nhiều phương
pháp điều trị tương ứng với tiến triển của bệnh. Mặc dầu các ung thư này
có kích thước nhỏ, ta có thể mổ chúng mà không cắt xẻo nhiều (không lấy
đi một phần quá lớn của lưỡi) và sau đó cho bệnh nhân làm phóng xạ liệu
pháp (radiothérapie) (4-6 tuần sau phẫu thuật). Nhưng khi các khối u này
quá lớn, ta sẽ gắng phối hợp hóa học liệu pháp và phóng xạ liệu pháp.
Hỏi : Hậu phẫu diễn ra như thế nào ?
BS Gilles Dolivet : Các bệnh nhân vẫn phải được nhập viện hai hoặc ba
tuần bởi vì đó là một phẫu thuật nặng nề. Thầy thuốc ngoại khoa phải thực
hiện một đường xẻ, mở cổ cho đến tận xoang miệng và đôi khi buộc phải
mở khí quản (trachéotomie) (một canule được đặt vào trong khí quản trong
suốt khoảng 10 ngày). Bệnh nhân được nuôi bằng một ống thông (sonde).
Lúc tỉnh dậy, để làm giảm đau, cần điều trị bằng morphine. Thường phải
chờ đợi 6 tháng để có thể tái tục một đời sống hoạt động.
Hỏi : Những kết quả thu được với các protocoles
này là gì ?
BS Gilles Dolivet : Ở tại chỗ và vùng (locorégional), ta có các kết quả
tốt trong 70 đến 75 % các trường hợp, và ta thống kê được nơi những bệnh
nhân này từ 50 đến 55% tỷ lệ chữa lành sau 5 năm.
Hỏi : Kỹ thuật ngoại khoa mới bằng robot
hóa (robotisation) là gì ?
BS Gilles Dolivet : Kỹ thuật mới này được thực hiện với robot Da Vinci,
được thiết đặt bên cạnh bệnh nhân. Chiếc máy này gồm có một console và
ba cánh tay có khớp, trong đó một cánh tay mang hai caméra bé xíu và hai
dụng cụ khác có kích thước rất nhỏ (5mm). Cuộc giải phẫu diễn biến thành
hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, hai caméra được đặt trong xoang miệng
của bệnh nhân, cho phép phẫu thuật viên nhìn bằng hai mắt theo 3 chiều
của phẫu trường (rất được phóng đại bởi hệ thống quang học). Rồi thì,
phẫu thuật viên đưa vào các đầu của hai cánh tay của robot, trong đó một
cánh tay được trang bị bởi một chiếc kềm mảnh, còn cánh tay kia bởi một
cái móc nhỏ cầm máu (crochet coagulant). Suốt trong giai đoạn hai, phẫu
thuật viên, sau khi đặt đầu mình vào vị trí đối diện với hai màn ảnh tí
xíu giống các chiếc ống dòm, thao tác lên hai tay gác (manettes) để điều
khiển với một mức độ chính xác cực kỳ những cử động của cánh tay có khớp.
Cái móc cầm máu (crochet coagulant) phẫu tích khối u với một mức độ an
toàn lớn lao.
Hỏi : Lợi ích lớn nhất của kỹ thuật bằng
robot hóa (technique par robotisation) là gì ?
BS Gilles Dolivet : Nhờ cái nhìn được khuếch đại lên phẫu trường, phẫu
thuật viên có thể thăm dò những vùng khác của xoang miệng, vốn khó có
thể tiếp cận được với ngoại khoa truyền thống. Vậy phẫu thuật viên, trong
cùng một thì mổ, có thể can thiệp lên những thương tổn khác, được khám
phá trong lúc mổ.
Hỏi : Với robot này, những hậu phẫu diễn
ra như thế nào ?
BS Gilles Dolivet : Những kết quả đầu tiên cho thấy một sự giảm đáng kể
thời gian nhập viện (khoảng 10 ngày). Vì các đau đớn ít hơn, do đó bệnh
nhân nhân dùng ít các chất nha phiến hơn. Sự hồi phục chức năng diễn ra
nhanh hơn và phóng xạ liệu pháp có thể được tiến hành nhanh hơn. Đó là
một kỹ thuật mới và chúng tôi chỉ mới có một thời gian nhìn lại từ hai
đến ba năm, nhưng chúng tôi đã chứng thực, sau thời hạn này, cùng kết
quả với ngoại khoa cổ điển. Dẫu sao cũng có những chống chỉ định : một
vài dạng xoang miệng không cho phép đưa các dụng cụ vào được tốt.
Hỏi : Những ưu điểm của can thiệp bằng robot
hóa này là gì ?
BS Gilles Dolivet : Có 4 ưu điểm : 1. Một mức độ chính xác cao hơn của
động tác mổ. 2. Khả năng phát hiện và điều trị những thương tổn khác.3.
Hậu phẫu ít đau đớn hơn.4. Hồi phục chức năng diễn ra nhanh hơn.
Hỏi : Tại Pháp, ở đâu ta có thể được mổ với
phương thức mới này ?
BS Gilles Dolivet : Trong 5 trung tâm bệnh viện (centres hospitaliers)
: CHU de Nancy, de Tours và de Lyon-Sud, Trung tâm chống ung thư của thành
phố Lille và bệnh viện Georges-Pompidou ở Paris. (PARIS
MATCH 10/9-16/9/2009)
8/ NHỮNG ĐIỀU MỚI ĐỔI VỚI
LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG (ENDOMETRIOSE).
Mãi đến nay, lạc nội mạc tử cung (endométriose) chỉ có thể được phát hiện
nhờ soi ổ bụng (laparoscopie). Nhưng một phương pháp mới đang làm thay
đổi cục diện.
Lạc nội mạc tử cung không phải là một bệnh hiếm, người ta ước tính từ
10% đến 15% số các phụ nữ đang mắc phải bệnh hay sẽ phải đối đầu vào một
ngày nào đó, với hậu quả là đau vùng hố chậu (douleurs pelviennes), đau
lúc kinh kỳ (dysménorrhée), đau lúc giao hợp (dyspareunie) và các rối
loạn về khả năng có thai. Mãi đến hôm nay, chẩn đoán chỉ có thể được xác
lập nhờ soi ổ bụng, một kỹ thuật xâm nhập đòi hỏi phải nhập viện và gây
mê. Tuy nhiên có cái mới, mà những kết quả của một công trình nghiên cứu
mới đây đã vừa chứng tỏ điều đó. Các nhà nghiên cứu đã phát triển một
xét nghiệm mới cho phép phát hiện lạc nội mạc tử cung trên cơ sở một sinh
thiết của nội mạc tử cung, bất thường nơi các phụ nữ bị bệnh này. Thật
vậy, mật độ của các sợi thần kinh 14 lần cao hơn bình thường.
MỘT TIỂU CHUẨN TỐT.
Công trình nghiên cứu được thực hiện qua các sinh thiết nội mạc tử cung
(biopsie endométriale) của 99 phụ nữ đã đi khám bệnh vì những cơn đau
vùng hố chậu và/hoặc những rối loạn khả năng sinh sản. Các kết quả đã
được so sánh với những kết quả của soi ổ bụng (xác nhận rằng 64 trong
các phụ nữ này bị bệnh lạc nội mạc tử cung).
Xét nghiệm căn cứ trên mật độ của các sợi thần kinh cũng dương tính nơi
tất cả các bệnh nhân này trừ một. Có 6 dương tính giả, tuy nhiên hai trong
số này có những tiền sử lạc nội mạc tử cung. Kết cục, mức độ nhạy cảm
lên đến 98% và mức độ đặc hiệu 83%, điều này, theo các nhà nghiên cứu,
cũng tốt như các số điểm (scores) có được qua nội soi ổ bụng. Ngay cả
các thầy thuốc phụ khoa có kinh nghiệm về soi ổ bụng có khi bỏ sót một
chẩn đoán lạc nội mạc tử cung.
Trắc nghiệm mới cho phép nhận diện tốt hơn các phụ nữ sẽ cần đến một nội
soi ổ bụng. Và có thể điều này chưa chấm hết, bởi vì công cuộc nghiên
cứu hiện nay đang hướng về các chất chỉ dấu máu (marqueurs sanguins),
lại còn ít xâm nhập hơn so với sinh thiết. (LE GENERALISTE
10/9/2009)
9/ SỰ LÀNH MẠNH RĂNG VÀ NGUY CƠ
MẠCH VÀNH.
Viêm cận răng (parodontite) là một viêm nhiễm mãn tính của các lợi răng
do một nhiễm trùng bởi vi khuẩn, gây nên một sự hủy hoại xương và các
dây chằng giữ các chiếc răng trong các ổ răng (alvéoles osseues) của chúng.
Căn bệnh thông thường này (gây bệnh đến hai người trên ba), thường được
liên kết với chứng xơ mỡ động mạch, mà các biểu hiện cấp tính (nhồi máu
cơ tim, cơn đau thắt ngực không ổn định) tương quan với một sự viêm nhiễm.
Mặt khác có nhiều yếu tố nguy cơ chung cho hai căn bệnh này (thuốc lá,
đái đường, béo phì và tình trạng bất hoạt vật lý).
Hậu quả lôgíc : một nhóm các chuyên gia khuyến nghị rằng những người bị
viêm cận răng (parodontite) phải được đánh giá trên bình diện tim mạch
và nếu cần, nhận những điều trị tim thích hợp để làm giảm nguy cơ các
tai biến liên kết với xơ mỡ động mạch. (CŒUR et ARTERES
9/2009, số 4)
10/ ĐẬU NÀNH BẢO VỆ CHỐNG XUẤT
HUYẾT NÃO.
Một công trình nghiên cứu khoa học chỉ rõ rằng đậu nành có thể mang lại
khả năng bảo vệ chống lại các xuất huyết não. Những người tiêu thụ tối
thiểu 300 g các sản phẩm mà chất cơ sở là đậu nành mỗi tuần, có một nguy
cơ xuất huyết giảm 77% so với những người tiêu thụ dưới 50 g mỗi tuần.
Xuất huyết là một trong những dạng thông thường nhất của bệnh tim mạch.
Sự tiêu thụ đậu nành có thể có một tác dụng thuận lợi lên các nguy cơ
đột qụy (stroke). So với những người “ lành mạnh ”, những người vốn đã
bị một cơn đột qụy dường như tiêu thụ các sản phẩm có chất đậu nành ít
hơn nhiều. Thế mà, một người tiêu thụ các sản phẩm có chất đậu nành càng
nhiều, thì các nguy cơ bị xuất huyết càng thấp.
Những khám phá này xuất phát từ một công trình nghiên cứu được tiến hành
nơi 838 người Hoa thuộc hai giới tính với tuổi trung bình là 65. Trong
nhóm những người này, 374 người đã từng bị một đợt xuất huyết não trong
quá khứ. Những người khác là những người “ lành mạnh ” và tạo nên nhóm
kiểm chứng. Cả hai nhóm được hởi về sự tiêu thụ hàng tuần các sản phẩm
có chất cơ bản là đậu nành, như fèves de soja, nước uống đậu nành và tofu.
(LE GENERALISTE 17/9/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (27/09/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |