 |
Thời
Sự Y Học số 142
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ 1918-2009 : LỊCH SỬ KỲ
LẠ CỦA VIRUS H1N1.
Virus mới này, được nhận diện vào tháng tư vừa rồi, là hậu duệ trực tiếp
của tác nhân khủng khiếp gây bệnh cúm được gọi là Tây Ban Nha, đã gây
nên 20 đến 50 triệu người chết giữa năm 1918 cà 1920. Nhưng từ đó, nó
đã chịu nhiều biến dị (mutation) và tái phối hợp (recombinaison) di truyền
với những virus cúm khác, điều này đã góp phần làm giảm bớt tính độc lực
của nó.
Virus cúm H1N1 chưa từng có, hôm nay đang đi vòng quanh hành tinh với
một tốc độ như sấm chớp, đã đến từ đâu ? Mặc dầu các nhà nghiên cứu chưa
hết truy tìm tất cả các giai đoạn của lộ trình cực kỳ phức tạp của virus,
nhưng họ đã nhận diện một cách chắc chắn một trong những tổ tiên xa xăm
và danh tiếng của nó. “ H1N1 của đại dịch 2009 là một trong những hậu
duệ thế hệ thứ tư của virus cúm Tây Ban Nha năm 1918 ”, G.S Anthony Fauci,
thuộc Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH), mới đây đã nhấn mạnh như thế trong
New England Journal of Medicine. Có thể nói đó là một cháu chắt,
cuối cùng hơi giống với ông tổ của nó, trên bình diện di truyền cũng như
trên mặt độc lực.
Virus khủng khiếp của cúm Tây Ban Nha, đã gây nên từ 20 đến 50 triệu người
chết trên thế giới, mặt khác có thể tự hào có nhiều đồng đội khác. “Tất
cả những virus cúm nguồn gốc của đại dịch hay những báo động đại dịch
ở thế kỷ XX phát xuất từ virus H1N1 của năm 1918, sau những tái phối hợp
ít nhiều phức tạp”, G.S Patrick Berche, chuyên gia vi trùng học của bệnh
viện Necker Paris đã giải thích như vậy. Được tái tạo dần dần bởi các
chuyên gia virus học và các nhà dịch tễ học, lịch sử của các virus cúm
(trong đó có 3 họ A, B, C) và đặc biệt là những loại phụ (sous-types)
A (H1N1) càng ngày càng giống với một saga familial.
NHỮNG CON CHIM MANG VIRUS.
Đã hơn 90 năm qua, các tác nhân gây nhiễm này lưu hành một cách liên tục
trên thế giới, làm lây nhiễm nhiều loài động vật khác nhau và được biến
đổi về mặt di truyền lúc đi từ loài động vật này qua động vật khác. “
Để hiểu điều gì đã xảy ra từ năm 1918, không nên xem các virus cúm như
là những thực thể riêng biệt, mà tưởng tượng 8 gènes của chúng như là
những đội viên của một đội hình ”, Anthony Fauci đã giải thích như vậy.
Một đội hình (équipe) mà các đội viên cùng chơi..Cho đến khi được chuyển
đến một đội hình thể thao khác để làm cho nó có hiệu năng hơn.
Từ năm 1918 (những gì xảy ra trước đó vẫn còn là một bí ẩn), ổ chứa chính
của các virus H1N1 là gia cầm, các loài chim và đặc biệt là các loài chim
hoang dã, là những vecteur mang virus nhưng không nhạy cảm với sự nhiễm
trùng. Đồng thời, những giống gốc của H1N1 đã lưu hành từ thời điểm này
một cách thường trực trong các loài heo và người. Nơi người, các virus
này đã biến hóa với thời gian và đã chịu trách nhiệm các bệnh cúm mùa
thông thường giữa năm 1918 và 1957. Thông thường nhưng với vài ngoại lệ...
“Vào năm 1946 và 1950 xuất hiện 2 giống gốc mới khá độc lực, đã lan tràn
trong nhiều nước trước khi thoái lui”, Patrick Berthe, xem hai trận dịch
này như là những đại dịch “bị sẩy”, đã kể lại như vậy. Theo ông, virus
H1N1 hiện nay là hậu duệ trực tiếp của virus của năm 1950, điều này có
thể giải thích sự kiện hiện nay những người trên 60 tuổi tương đối được
bảo vệ. Vào năm 1957, một sự kiến bất ngờ. Các virus H1N1 đột ngột từ
giã con người. Chúng biến mất hoàn toàn và vào năm đó được thay thế bởi
một giống gốc mới khác, H2N2, nguồn gốc của trận đại dịch cúm lần thứ
hai của thế kỷ XX, xuất hiện ở châu Á. “Virus A (H2N2) là mới, các kháng
thể phát xuất từ các nhiễm trùng trước không có một hiệu quả nào để chống
lại nó, bởi vì nó là kết quả của một sự tái phối hợp (réassortiment) giữa
virus người (H1N1) và gia cầm”, GS Claude Hannoun, một trong các chuyên
gia về bệnh này ở Pháp, đã viết như vậy trong tác phẩm của ông La Grippe
: ennemi intime, sẽ được xuất bản vào ngày 10/9 năm nay.
MỘT BIẾN CỐ CHỦ YẾU VÀO NĂM 1918
Như là điều thường xảy ra, virus đại dịch mới “ăn thịt” (cannibalise)
toàn bộ những virus khác. “Virus H1N1 sẽ chỉ tái xuất hiện nơi người 20
năm sau, vào năm 1977, Patrick Berthe đã nói tiếp như vậy.. Và điều lạ
lùng là khi chúng trở lại vào luc đó, về mặt di truyền chúng y hệt với
các virus của năm 1950. Các nhà khoa học hôm nay nghĩ rằng đó hoặc là
một virus, vốn được đông lạnh ở một nơi nào đo, đã tái nổi dậy, hoặc là
một sự lây nhiễm phát xuất từ một phòng thí nghiệm.” Sau năm 1977, các
virus này lại tiếp tục sự lưu hành cổ điển mùa đông nơi loài người. Vào
năm 1998, một biến cố chủ yếu sau đó sẽ xảy ra nơi các con heo ở Mỹ :
một virus H1N1 heo tái phối hợp với những giống gốc gia cầm và người.
Vài trường hợp nhiễm trùng ở người bởi virus mới phức tạp này đã được
mô tả trong những năm qua ở Hoa Kỳ. Vào tháng tư vừa qua, khi các nhà
khoa học của trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) mổ xẻ bộ gène (génome)
của virus mới H1N1, họ đã tìm thấy 6 gène của tác nhân gây nhiễm được
phân lập vào năm 1998, liên kết với hai gène xuất phát từ virus gây nhiễm
các con heo châu Âu...... Cuộc gặp gỡ di truyền này đã được thực hiện
như thế nào ? Một ngày nào đó người ta sẽ tìm thấy người bệnh nhân bị
nhiễm trùng đầu tiên hết hay không ? Đối với các nhà khoa học, vẫn còn
nhiều ẩn số. Nhưng càng ngày càng có nhiều nhà khoa học gợi ý rằng một
sự theo dõi chăm chú hơn thế giới heo sẽ cho phép phát hiện sớm hơn virus
H1N1 mới này. (LE FIGARO 3/9/2009)
2/ CÚM A (H1N1) : THAI NGHÉN, MỘT
THỜI KỲ CÓ NGUY CƠ.
Trong thời kỳ thai nghén, các phụ nữ mắc phải virus H1N1 có nguy cơ cao
bị biến chứng và tử vong. Đó là điều được chứng tỏ bởi một nhóm các nhà
nghiên cứu Hoa Kỳ, đã sưu tập, ở Hoa Kỳ, những trường hợp nhiễm trùng
bởi virus đại dịch H1N1, xảy ra nơi những phụ nữ có thai trong những tháng
đầu tiên của trận đại dịch hiện nay, cũng như những tử vong liên kết với
virus này trong hai tháng đầu tiên của dịch bệnh này.
Giữa 15/4 và 18/5/2009, các trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) của 13
tiểu bang Hoa Kỳ đã đăng ký 34 trường hợp được xác nhận hay có khả năng
bị nhiễm trùng bởi virus đại dịch H1N1 nơi các phụ nữ có thai. Các triệu
chứng đều tương tự với những triệu chứng được tìm thấy trong dân chúng
nói chung. 11 trong số các phụ nữ có thai này, hoặc 32%, đã được nhập
viện. Tỷ lệ này cao hơn trong dân chúng nói chung (4,2%).
Giữa 15/4 và 16/6/2009, các CDC đã ghi nhận 6 trường hợp tử vong của các
phụ nữ có thai, tất cả đã phát triển một bệnh viêm phổi và một hội chứng
suy hô hấp cấp tính (syndrome de détresse respiratoire aigue), cần phải
thông khí cơ học (ventilation mécanique). Trong số những người này, một
béo phì, hai có những vấn đề nội khoa không nghiêm trọng khác và ba có
sức khoẻ tốt.
Vậy đối với Denise Jamieson và các cộng sự viên, các phụ nữ có thai có
thể có một nguy cơ bị các biến chứng cao hơn khi họ bị nhiễm trùng bởi
virus mới H1N1. Các dữ kiện này đi theo chiều hướng của những khuyến nghị
hiện nay chủ trương điều trị nhanh chóng các phụ nữ có thai bị ô nhiễm
bởi virus H1N1 bằng các thuốc kháng virus. Trong những lời bình luận được
công bố trong Journal Watch Infectious Diseases (5/8/2009), BS Mary Wilson
đánh giá rằng các phụ nữ có thai phải được tiêm chủng ưu tiên chống lại
H1N1 : “Sự tiêm chủng trong thời kỳ thai nghén cũng có thể bảo vệ đứa
trẻ sau khi sinh“, bà ta đã kết luận như vậy. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 1/9/2009)
3/ MICHAEL JACKSON, MỘT NẠN NHÂN
CỦA HỘI CHỨNG BRUGADA ?
Sự phối hợp của propofol và hội chứng Brugada có thể gây chết người. Theo
thầy thuốc chuyên khoa tim Pedro Brugada, người đã mô tả hội chứng này,
Michael Jackson có lẽ bị chết do hậu quả của sự phối hợp kém may mắn này.
Mặc dầu một cuộc giải phẫu tử thi và những xet nghiệm đã được thực hiện,
nhưng nguyên nhân tử vong của Michael Jackson vẫn còn bị tranh cãi. Không
nghi ngờ gì nữa, ngôi sao nhạc Pop đã chết do hậu quả của ngừng tim, nhưng
người ta không biết trong trường hợp chính xác nào. Theo thầy thuốc của
Jackson, Conrad Murray, người ca sĩ đã được tìm thấy bất tỉnh trong phòng
của anh ta và người thầy thuốc đã cố gắng hồi sinh nhưng không thành.
Từ đó người ta đã hay biết rằng Jackson bị chứng bệnh mất ngủ mãn tính,
được điều trị bởi những thuốc giảm đau và những thuốc ngủ mạnh, trong
số đó có propofol và các benzodiazépine. Ngày 28/8 vừa qua, viên thầy
thuốc đã bị chính thức buộc tội giết người không cố ý (homicide involontaire).
Đối với BS Pedro Brugada, làm việc ở bệnh viện Onze Lieve Vrouw, Alost
(Bỉ), Michael Jackson đã chết vì hội chứng Brugada, gây nên bởi một thuốc
gây mê. Căn bệnh mà ông đã mô tả vào năm 1992, cùng với người em Josep,
là một bệnh di truyền nhiễm sắc thể thường tính trội (maladie génétique
autosomique dominane) hiếm có, được đặc trưng bởi một trái tim bình thường
về phương diện cơ thể học, một nâng cao đoạn ST (sus-décalage du segment
ST) và một bloc nhánh phải (bloc de branche droit) trên điện tầm đồ, liên
kết với một nguy cơ gia tăng bị loạn nhịp thất (arythmie ventriculaire),
có thể dẫn đến ngất xỉu hay chết đột ngột. Đôi khi ngừng tim là triệu
chứng đầu tiên (và cuối cùng !). Một sự biến dị của gène SCN5A là nguyên
nhân của hội chứng này, nhưng những gène khác có thể liên hệ đến. Sự biến
dị này làm rối loạn các kênh sodium (canal sodique) trong cơ tim.
Năm 2008, hai thầy thuốc chuyên khoa tim đã khám phá ảnh hưởng của các
thuốc gây mê, trong đó có propofol, lên các kênh sodium. Propofol là một
chất gây mê tổng quát có thời gian tác dụng ngắn và theo Pedro Brugada,
các tử vong đã xảy ra ở Hòa Lan trong các can thiệp ngoại khoa thông thường
nơi những bệnh nhân mang hội chứng này.
Propofol, được mệnh danh là “ sữa của chứng quên ” (lait de l’amnésie)
do màu trắng sữa, được đăng ký trong hơn 50 nước và thay thế thiopental
vốn được sử dụng trước đây. Propofol không được xem là thuốc giảm đau
và trên nguyên tắc có thể được dùng với những thuốc chống đau khác. Ngược
lại sự liên kết của propofol với một chất làm suy giảm hô hấp (un déprimant
respiratoire) bị chống chỉ định. Thế mà dường như người ca sĩ đúng là
đã phối hợp hai thứ thuốc này.
Đối với Pedro Brugada, ngôi sao nhạc Pop vậy thì có lẽ đã không chết do
hậu quả của một hành động giết người không cố ý, mà là do một sự phối
hợp chết người của một thuốc gây mê và một thuốc giảm đau, đã gây nên
một rối loạn nhịp không hồi phục được trên một trái tim vốn đã bị ảnh
hưởng bởi hội chứng Brugada. Do đó Brugada tuyên bố là rất ngạc nhiên
khi thấy thầy thuốc pháp y, thực hiện giải phẫu tử thi Michael Jackson,
đã không xét đến khả năng này. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 4/9/2009)
4/ ASPIRINE LÀM GIẢM 29% TỶ LỆ
TỬ VONG
Theo JAMA số 12/8 vừa qua, sự sử dụng hàng ngày acide acétylsalicylique
làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư đại-trực tràng và tỷ lệ tử vong chung,
nhất là nơi những người có khối u siêu biểu hiện COX-2. Từ nay vấn đề
phòng ngừa nơi những người trên 50 tuổi được đặt ra.
Theo một vài nhà sử học, aspirine còn xưa hơn cả Hippocrate. Các trích
chất của cây dương liễu chứa hoạt chất của nó, đã được sử dụng vào thời
đại đồ đá mới (Néolithique), do các tính chất chống đau, kháng viêm và
hạ nhiệt. Chính vào năm 1899 mà aspirine được thương mãi hóa lần đầu tiên
và từ đó danh sách các lợi ích của nó ngày mỗi dài ra. Lợi ích sau cùng
là hoạt tính chống tiểu cầu (activité antiplaquettaire).
Với những liều lượng nhỏ (giữa 75 và 300 mg/ ngày, tùy theo các công trình
nghiên cứu), các tính chất chống ngưng kết (propriétés antiagrégantes)
của nó ngăn ngừa một cách hiệu quả sự tạo thành những cục máu đông trong
các huyết quản mà không gây nên thương tổn đáng kể. Đồng thời, từ nhiều
năm nay, một số các công trình nghiên cứu đã muốn chứng tỏ lợi ích về
lâu về dài của nó trong vài ung thư như vú, tiền liệt tuyến, miệng, họng,
thực quản, đại-trực tràng và dạ dày. Vì các liều lượng được chỉ định luôn
luôn có thể gây nên xuất huyết dạ dày hay ruột, nên sự sử dụng nó đã không
bao giờ được chính thức khuyến nghị để phòng ngừa nguyên phát hay thứ
phát trong dân chúng nói chung. Nhưng, hôm nay, các dữ kiện thuận lợi
tích lũy đến độ vài chuyên gia đặt lại vấn đề. Đứng trước một ung thư
phát triển thầm lặng, với một tỷ lệ sống tùy thuộc vào mức độ nhanh chóng
của sự can thiệp, thì há không nên sử dụng hay sao một hoá học liệu pháp
đơn giản, hiệu quả và ít tốn kem, dầu phải chịu vài tác dụng phụ có thể
xử lý được ?
TỶ LỆ TỬ VONG GIẢM 29%.
Mối liên hệ giữa aspirine và ung thư đại-trực tràng không phải mới có
từ hôm qua. Ngay vào năm 2005, một công trình nghiên cứu được thực hiện
trên 82.911 phụ nữ được đưa vào trong cuộc điều tra dịch tễ học “ Nurses’
Health Study ”, được theo dõi từ 1980 đến 2000, đã cho thấy rằng những
phụ nữ uống đều đặn 325 mg aspirine, hai lần mỗi tuần, đã có một sự giảm
23% nguy cơ mắc phải ung thư đại-trực tràng, so với những phụ nữ không
uống đều đặn. Vào thời kỳ này, người ta đã nhấn mạnh rằng sự giảm nguy
cơ chỉ đáng kể bat đầu từ 10 năm sử dụng và liên kết với liều lượng. Trong
những trường hợp thái quá, các phụ nữ đã uống hơn 10 liều aspirine mỗi
tuần trong 10 năm có nguy cơ bị ung thư giảm 53%.
Năm 2007, một công trình nghiên cứu của Anh, tiến hành trên 7.500 người
giữa năm 1970 và đầu của những năm 80, với một theo dõi 10 năm, tương
ứng với một thời gian tối thiểu để một adénome phát triển thành ung thư,
gợi ý rằng sự sử dụng mỗi ngày 300 mg aspinrine là một yếu tố bảo vệ chống
lại ung thư đại-trực tràng. Những kết quả đã cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh
ung thư đại- trực tràng nơi những người có nguy cơ được giảm 73% dưới
aspirine, với một tác dụng phụ thuộc vào thời gian điều trị, liều lượng,
sự tôn trọng uống thuốc của bệnh nhân. Trong công trình nghiên cứu mới
này, nhôm cửa Andrew Chan (Haward Medical Scholl) đã theo dõi hai nhóm
1.279 bệnh nhân bị ung thư đại-trực tràng ở những giai đoạn trầm trọng
khác nhau, được điều trị và được theo dõi trong 12 năm, giữa năm 1980
và 2008 ; 43% trong số những bệnh nhân này uống aspirine mỗi ngày sau
khi ung thư được chẩn đoán. Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng aspirine
mỗi ngày làm giảm 29% tỷ lệ tử vong gây nên bởi ung thư đại-trực tràng
và làm giảm 21% tỷ lệ tử vong toàn thể.
Mối liên hệ giữa aspirine và quá trình sinh ung thư là mối liên hệ nào
? Ngày nay, chúng ta biết rằng aspirine ngăn cản sự tăng trưởng khối u
bằng cách ức chế một enzyme (COX-2), chịu trách nhiệm phản ứng viêm và
sự tăng sinh của các tế bào và được siêu biểu hiện trong phần lớn của
các ung thư đại trực- tràng. Bằng cớ là trong một nhóm phụ gồm những bệnh
nhân có cả khối u COX-2 dương tính được nhận diện bởi histochimie, nguy
cơ tử vong do ung thư đại-trực tràng là 61% thấp hơn nơi những bệnh nhân
uống aspirine so với những người không uống.
GIỮA PHÒNG NGỪA VÀ NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ
Nhiều công trình nghiên cứu quan sát và các thử nghiệm lâm sàng đã xác
lập lợi ích của aspirine trong việc phòng ngừa các adénome và polype có
nguy cơ. Tuy nhiên không có những lời khuyến nghị chính thức về sự phòng
ngừa này, có lẽ là do những tác dụng phụ được biết của aspirine như kích
thích dạ dày-ruột và xuất huyết đường tiêu hóa. Vậy có phải vì thế mà
phải bỏ ý tưởng hay theo đuổi nó ?
Đối với G.S André Van Gossum (thầy thuốc chuyên khoa dạ dày-ruột của bệnh
viện Erasme, Bỉ), “Từ nhiều năm nay ý tưởng này đã được tiếp tục theo
đuổi nhưng hiện nay, ở bệnh viện Erasme cũng như nơi khác ở Bỉ, aspirine
không được đề nghị cho các bệnh nhân để phòng ngừa nguyên phát hay thứ
phát. Tuy nói vậy, nhưng sự tích lũy của các dữ kiện khiến một ngày nào
đó sẽ phải tự nêu câu hỏi về tỷ suất giữa lợi ích và nguy cơ, trên quy
mô dân chúng, theo những gì được thực hiện trong phòng ngừa các bệnh tim
mạch. Trước hết, chúng ta có thể hình dung nhắm đến các bệnh nhân có nguy
cơ ung thư không có chống chỉ định về tiêu hóa hoặc thận. Trong trường
hợp này, việc sử dụng aspirine nơi những người 50 tuổi thật là nhất cử
lưỡng tiện ! ”. (LE JOURNAL DU MEDECIN 28/8/2009)
5/ NHỮNG ĐỀ KHÁNG MỚI VỚI BỆNH
SỐT RÉT.
Cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục. Nhiều công trình nghiên cứu vừa cho thấy
rằng ký sinh trùng gây bệnh sốt rét sắp trở nên đề kháng với điều trị
tốt nhất hiện nay, artémisine.
Thuốc chống sốt rét rất hiệu quả này, trích từ một loại cây ngải (armoise),
dược thảo hiện diện từ hơn 2.000 năm nay trong dược điển Trung Hoa, đã
đóng góp vào sự giảm mạnh của nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum
: trong những năm vừa qua, nhiễm ký sinh trùng sốt rét đã giảm một nửa
trong 1/3 các nước bị ảnh hưởng, OMS đã chỉ rõ như vậy trong báo cáo mới
nhất.
Trong khi phần lớn các giống gốc của ký sinh trùng sốt rét đáng sợ Plasmodium
falciparum đã trở nên đề kháng với các điều trị cổ điển với chloroquine
hay phối hợp antifoliques-antifoliniques, chúng bị tiêu diệt trong vòng
chưa được hai ngày nơi những bệnh nhân được điều trị bằng một sự phối
hợp có chất cơ bản là artémisine. Thế mà, theo hai công trình nghiên cứu
được công bố trong tạp chí The New England Journal of Medicine, thì thời
hạn này đã chuyển qua 3 ngày trong tây-bắc của Cambodge. Chính trong vùng
này mà cách nay gần 50 năm đã xuất hiện những giống gốc đề kháng hiện
đang tàn phá châu Phi. Theo các chuyên gia, cần khẩn cấp theo dõi những
di chuyển của những nhóm dân bị nhiễm ký sinh trùng tại địa phương và
kê đơn cho họ một cách hệ thống những phối hợp thuốc có chất cơ bản là
artémisine thay vì dùng nó đơn độc, điều này làm dễ sự xuất hiện của những
giống gốc đề kháng. (SCIENCES ET AVENIR 9/2009)
6/ CÁC THUỐC TRỪ SÂU LÀM
TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ BỊ BỆNH PARKINSON
Alexis Elbaz là thầy thuốc chuyên khoa thần kinh-dịch tễ học thuộc Inserm.
Ông vừa điều hành một công trình nghiên cứu về tác động của các thuốc
trừ sâu lên trên vài trăm nông dân Pháp.
Hỏi : Công trình nghiên cứu mà ông vừa công
bố bàn về ảnh hưởng của các thuốc trừ sâu lên sức khỏe của các người làm
nghề nông. Kết luận của ông là gì ?
Alexis Elbaz : Nơi các nông dân đã rải các chất thuốc trừ sâu trong suốt
cuộc đời nghề nghiệp của họ, các kết quả của chúng tôi chỉ rõ rằng nguy
cơ phát triển bệnh Parkinson được nhân lên 1,8 lần, so với những người
đã không sử dụng các thứ thuốc này. Ngoài ra chúng tôi cho thấy rằng nguy
cơ này gia tăng với thời gian và tần số sử dụng. Nhưng đó cũng là một
trong những lần đầu mà một họ thuốc trừ sâu được đặc biệt quy cho trách
nhiệm. Thật vậy, một phân tích sâu hơn, được thực hiện trên các nhà nông
nam giới, đã phát hiện rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson được nhân
lên 2,4 lần nơi những người đã từng xử lý đất trồng của họ với các thuốc
trừ sâu organo-chlorés. Tuy nhiên công trình nghiên cứu của chúng tôi
không cho phép loại bỏ sự liên hệ của những chất khác ít thường được sử
dụng hơn.
Hỏi : Bao nhiêu người đã tham dự vào công
trình nghiên cứu của ông ?
Alexis Elbaz : Chúng tôi đã so sánh 224 bệnh nhân Parkinson của Mutualité
sociale agricole với 557 người cũng thuộc cơ quan này, nhưng không bị
bệnh. Các nhà nông được hỏi về tính chất, thời gian và tần số sử dụng
các thuốc trừ sâu ; nhưng cũng được hỏi về phương pháp rải thuốc, loại
đất trồng, diện tích của cơ sở kinh doanh…Rồi thì chúng tôi tìm kiếm một
mối liên hệ có thể có với bệnh Parkinson đối với 29 họ thuốc trừ sâu.
Chúng tôi đã chỉ thực hiện việc tìm kiếm này đối với những người đàn ông,
bởi vì nói chung chính họ được giao phó rải thuốc. Bây giờ chúng tôi nghiên
cứu xem vài đất trồng có bị liên hệ hơn so với những đất trồng khác hay
không.
Hỏi : Người ta biết gì về các thuốc trừ sâu
organochloré ?
Alexis Elbaz : Từ khoảng 10 năm nay, các công trình nghiên cứu về các
thuốc trừ sâu organochloré gia tăng. Đuợc thực hiện in vitro hay trên
các động vật, nhiều trong số những công trình này kết luận về tính độc
hại của các thuốc trừ sâu organochloré đối với các neurone dopaminergique.
Chính những tế bào thần kinh này bị thoái hóa nơi những bệnh nhân mắc
bệnh Parkinson. Nhưng cách tác dụng của chúng không hoàn toàn được làm
sáng tỏ. Tuy nhiên, nước Pháp, cũng như nhiều nước khác, đã dần dần cấm
chỉ sử dụng các thuốc trừ sâu này, đến độ rút chúng ra khỏi thị trường
vào năm 2007. Nhưng các thuốc trừ sâu organochloré được sử dụng rộng rãi
giữa những năm 1950 và 1990, trên nhiều đất trồng : trái cây, rau xanh,
nho, bắp, tournesol, colza..Và người ta biết rằng chúng vẫn còn tồn tại
trong môi trường nhiều năm sau khi phun thuốc.
Hỏi : Thế nào nếu chỉ tiếp xúc các thuốc
trừ sâu với những nồng độ thấp ?
Alexis Elbaz : Thật vậy, các kết quả của chúng tôi đặt câu hỏi về các
hậu quả của một sự tiếp xúc với nồng độ thấp của dân chúng, qua đường
không khí, nước và thực phẩm. Những công trinh nghiên cứu bổ sung là cần
thiết để trả lời câu hỏi này. Tuy nhiên một công trình nghiên cứu mới
đây được tiến hành ở Californie đã gây sự chú ý. Theo các tác giả, những
người vung ven, sống trong một bán kính 500 m chung quanh những cánh đồng
được xử lý bởi các thuốc trừ sâu thuộc họ “ carbamates ”, và bởi những
thuốc diệt cỏ Paraquat, có một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh Parkinson.
(LA RECHERCHE 9/2009)
7/ÁNH SÁNG CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH
PARKINSON.
Hướng bất ngờ nhưng hoàn toàn nghiêm chỉnh: vài nhóm nghiên cứu trên thế
giới sử dụng ánh sáng để điều trị bệnh Parkinson. Lợi ích điều trị của
ánh sáng liệu pháp có cường độ thấp (luminothérapie de basse intensité
; LLLT : Low Level Light Therapy) vừa được chứng tỏ in vitro bởi một công
trình nghiên cứu của đại học Virginie. Trong căn bệnh thần kinh thoái
hóa này, được đặc trưng bởi một sự thiếu hụt dopamine, ta biết rằng các
thể hạt (mitochondries), nơi dự trữ năng lượng của tế bào, có một chuyển
hóa bị chậm lại. Nhóm nghiên cứu của Patricia Trimmer đã cho các tế bào
thần kinh tiếp xúc trong hai giờ với một bức xạ laser có độ dài sóng 810
(nanomètres), LLLT, theo một tần số gần giống với tia hồng ngoại (infrarouge).
Kết quả : các tác giả đã ghi nhận sự thức dậy của các thể hạt !
Một phương thức khác, lần này để chẩn đoán. Phương pháp dựa trên sự hiệu
chính một chụp hình ảnh tinh tế, đo rất chính xác hàm lượng sắt của các
vùng não bộ khác nhau, ngay trước khi xuất hiện các triệu chứng. Thật
vậy, chúng ta biết vai trò độc hại gây nên bởi sự tích tụ sắt và các hợp
chất sắt-dopamine trong não bộ. Một nhóm nghiên cứu của đại học Keele
(Anh) cố gắng tận dụng ánh sáng rất hiệu năng của synchroton Diamond Light
Source, máy gia tốc các hạt (accélérateur de particules) ở Oxfordshire.
Như thế để phát hiện sớm những rối loạn thần kinh ảnh hưởng lên 4 triệu
người trên thế giới này. (SCIENCES ET AVENIR 9/2009)
8/ TESTOSTERONE, VŨ KHÍ CỦA CÁC
NỮ THƯƠNG GIA.
WASHINGTON. Các kích thích tố nam giải thích tính táo bạo của các phụ
nữ trong lãnh vực tài chánh : theo một công trình nghiên cứu mới của Hoa
Kỳ, nồng độ testostérone của những phụ nữ này càng cao, thì hành vi của
họ về việc chấp nhận những nguy cơ về tài chánh càng gần với các người
đàn ông.
“Các phụ nữ có nồng độ testostérone cao nhất có khuynh hướng nhận lấy
các nguy cơ. Họ ít sợ hơn về điều đó”, theo Luigi Zingales, nhà nghiên
cứu của đại học Chicago và người phụ trách những công trình được công
bố trong Archives của viện hàn lâm khoa học quốc gia.
Zingales và nhóm nghiên cứu đã trắc nghiệm các nồng độ testostérone của
hơn 500 sinh viên của MBA, nam và nữ, và đã yêu cầu họ lựa chọn giữa sự
chấp nhận một khen thưởng tài chánh, mà số tiền được ấn định, hay chấp
nhận một nguy cơ nhưng được một số tiền lớn hơn. Nói chung, các nam sinh
viên có một nồng độ testostérone cao hơn nồng độ của các nữ sinh viên,
và đã chọn chấp nhận nguy cơ dễ dàng hơn các nữ sinh viên. Nhưng các nữ
sinh viên, vốn có một nồng độ testostérone cao, nhận lấy nguy cơ 7 lần
nhiều hơn so với những nữ sinh viên có nồng độ testostérone bình thuong.
Mặt khác, không có một sự khác nhau nào trong việc chấp nhận nguy cơ giữa
các nữ hay các nam sinh viên có một nồng độ testostérone tương đối thấp,
hoặc 90% các nữ sinh viên và 31% các nam sinh viên. (METRO
31/8/2009)
9/ NHỮNG TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
CỦA CÁC STATINES CÓ THỂ KÉO DÀI
Các statines, trong khi làm giảm cholestérol, có một tác dụng bảo vệ đối
với các mạch máu. Mặc dầu các thuốc statines đã cách mạng hóa các điều
trị trong tim học từ hơn 15 năm nay, tuy vậy chúng không tránh khỏi có
các tác dụng phụ. Một vài bệnh nhân phát triển các bệnh cơ, được thể hiện
bởi những đau đớn và một sự phá hủy các mô. Đối với phần lớn các bệnh
nhân phát triển các bệnh cơ (myopathies), các triệu chứng biến mất trong
vài tuần sau khi ngừng điều trị, Annette Draeger, thuộc đại học Berne
(Thụy Sĩ) đã giải thích như vậy. Nhưng hiện tượng này không hồi phục đối
với tất cả các bệnh nhân : “ Một vài người vẫn còn có những vấn đề cơ
sau hơn một tháng không sử dụng statines.” Quan sát này đến nay vẫn không
được giải thích, và không có profil bệnh nhân mà sự phá hủy cơ có thể
tiên đoán được trước khi điều trị. (SCIENCE ET VIE
9/2009)
10/ ONG CẮN CÓ THỂ ĐE DỌA CÁC TRÁI
THẬN CỦA TRẺ EM.
Người ta biết rằng ong đốt có thể gây nên choáng phản vệ (choc anaphylactique),
nhưng người ta biết ít hơn về nguy cơ thương tổn đặc biệt xảy ra nơi thận
do loại tai biến này. Sự kiểm lại 45 trường hợp xảy ra nơi các trẻ em
cho thấy rằng suy thận cấp tính đã xảy ra sau khi bị ong đốt. Sự phá hủy
các hồng cầu gây nên thiếu máu với thiểu niệu (oligurie), nhiễm toan chuyển
hóa (acidose métabolique), sụt giảm nồng độ sodium và gia tăng nồng độ
potassium và créatinine. Sự thấm tách phúc mạc (dialyse péritonéale) đã
cho phép điều trị thành công các trẻ em. (SCIENCE ET
VIE 9/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (9/9/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |