 |
Thời
Sự Y Học số 141
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ NHỮNG TRẬN ĐẠI DỊCH LỚN THỜI
TRUNG CỔ.
Đại dịch (Pandémie)... Cái chữ chứa đầy sự đe doạ này đã tái xuất hiện
với bệnh cúm mexico, như vậy chứng minh rằng loài người mặc dầu đã đạt
được những tiến bộ khó tin trong lãnh vực y khoa và vệ sinh, vẫn không
tránh được các tai ương mà người ta tưởng là đã vĩnh viễn chế ngự được.
Từ khi sự sống xuất hiện trên trái đất, từ khi con người, theo sơ đồ của
Darwin, là phát triển cuối cùng, các bệnh tật vẫn hiện diện cùng với sự
lây nhiễm được gây nên bởi nhiều trong số các chứng bệnh này. Thời sự
làm chúng ta hồi tưởng lại những tai ương lớn đã giáng xuống châu Âu trong
một phần lớn của thời kỳ Trung Cổ, ngăn cản như thế mọi sự tiến triển
dân số, còn tệ hơn là trong vài thời kỳ lịch sử, đã gây nên một sự thoái
lui ngoạn mục. Có lẽ trong số những bệnh dịch mạnh mẽ nhất mà hành tinh
đã trải qua, có trận dịch của bệnh dịch hạch đen (peste noire), xuất hiện
vào năm 1346 và đạt đến tuyệt đỉnh của nó hai năm sau đó. Những tàn phá
như thế đã được biết rõ suốt trong thời kỳ Thượng Cổ, nhưng hiện tượng
các thành phố xuất hiện ngay thế kỷ thứ X sẽ làm dễ sự lan tràn nhanh
chóng của bệnh dịch.
SỰ BẤT LỰC LÀ THUỐC ĐIỀU TRỊ DUY NHẤT.
Từ Phương đông, dịch hạch xâm chiếm Sicile ngay năm 1346, Constantinople,
Hy Lạp và một phần của Ý vào đầu năm 1347. Dịch hạch đã gây nhiều tử vong
đến độ nó buộc giáo hoàng phải thừa nhận sông Rhône như là nơi an nghỉ
cuối cùng của những xác chết, mà người ta không biết phải làm gì với chúng.
Một lời chứng đặc biệt hùng hồn cho chúng ta biết tất cả hoặc hầu như
tất cả những biểu hiện của căn bệnh này. Lời chứng này xảy ra cùng thời
và là tác phẩm của một học giả vì lẽ được ký bởi tu sĩ dòng franciscain
Michel di Piazza : “ Vào đầu tháng 10 của năm 1347, hai thuyền chiến (galères)
thuộc những người dân của thành Gênes, trốn sự nổi giận lôi đình của trời
mà họ đã nhen nhúm lên do những hành động gian ác của họ, đã đi vào trong
hải cảng Messine. Những người dân thành Gênes này mang nơi họ một căn
bệnh độc lực đến độ, những người vô phước ngỏ lời với họ đã mắc phải một
căn bệnh chết người, vô phương cứu chữa … họ cảm thấy những cơn đau nhói
đi xuyên qua thân thể, không còn sức lực. Chẳng bao lâu sau đó, trên đùi
hay phần trên của cánh tay xuất hiện một hạch xoài (bubon) có kích thước
của một đậu lăng (lentille), mà những người bình dân gọi là “ hạch xoài
lửa ” (bubon de feu). Áp-xe này gây nhiễm trùng toàn cơ thể đến độ bệnh
nhân mửa ra máu, với một sức mạnh phi thường. Những cơn mửa này kéo dài
trong 3 ngày bởi vì không có cách gì làm ngừng lại được, trong khi người
bệnh thở hắt ra và chết. Sau khi những người dân của thành Messine khám
phá ra rằng sự chết đột ngột này phát xuất từ những người dân thành Gênes,
thì họ vội vàng tống xuất những người này ra khỏi thành phố và hải cảng
của họ. Nhưng căn bệnh vẫn tồn tại và là nguyên nhân của một số lượng
người chết khủng khiếp. Chẳng bao lâu, người ta thù hằn nhau đến độ nếu
một đứa con trai bị bệnh, thì bố từ chối săn sóc nó. Dẫu sao, nếu người
cha dám đến gần người bệnh, thì ông ta bị lây nhiễm ngay và không thể
thoát tử vong xảy ra trong vòng 3 ngày. Chưa phải là hết : những người
bà con thân thuộc, tất cả những kẻ sống trong cùng nhà người bệnh và ngay
cả mèo và những gia súc khác cũng chết theo người bệnh.” Sự mô tả thật
khủng khiếp khi ta biết rằng những nạn nhân của căn bệnh đã không có thì
giờ để sắp xếp công việc trước khi chết, cũng như không kịp nhận lễ xức
dầu thánh (onction), điều này là điều không thể tưởng tượng được ở Tây
phương Cơ đốc giáo. Michel di Piazza tâm sự với chúng ta rằng, vài vị
linh mục, sau khi chỉ kịp nghe xong lời thú tội cuối cùng của người hấp
hối, thì đã bị quật ngã tức thời bởi căn bệnh và chết gần như lập tức
bên cạnh bệnh nhân. Đến độ dân chúng của thành Messine phải quyết định
rời bỏ thành phố để đi tị nạn và cắm trại giữa những khu vườn nhỏ, còn
những người dân khác thì thích lánh mình ở Catane hơn.
Hai thuyền chiến, bị đuổi ra khỏi thành Messine, tiếp tục gieo chết chóc
xuyên qua nước Ý. Pise và Toscane đến lượt bị dịch bệnh, bị phá hủy đến
tận tổ chức xã hội, mà Boccace sẽ kể lại như sau : “ Người ta không còn
giúp đỡ cho nhau nữa, người ta chẳng bận tâm đi thông báo cho những thành
viên của gia đình. Các người bệnh bị bỏ rơi, tai ương này làm chai cứng
các trái tim đến độ anh bỏ em , chú bỏ cháu , vợ bỏ chồng ; lại còn tệ
hại hơn và gần như khó tin, cha và mẹ bỏ chạy trốn khỏi con cái.”
Vậy y khoa và các thầy thuốc đã có thể mang lại những phương thuốc nào
? Họ chỉ có một câu trả lời duy nhất, đó là sự bất lực. Họ không thể hành
nghề vi sợ đến lượt mình sẽ bị lây nhiễm và do đó sẽ chẳng nhận được một
lợi tức nào. Tuy nhiên người thầy thuốc của giáo hoàng Clément VI đã chứng
thực rằng vài người bệnh sống sót vì lẽ các hạch xoài của họ đã có thể
chín mùi. Những phương thuốc duy nhất được biết là từ đại học y khoa Paris
và tuy vậy đó chỉ là những điều cấm chỉ : không được ăn thức ăn lạnh và
cá bởi vì cá sống dưới nước. Sự kích động, sự giận dữ và sự say sưa có
tiếng là nguy hiểm. Vài thầy thuốc, dám mạo hiểm đến gần các bệnh nhân
của họ, mặc một chiếc áo choàng dài, tận cùng bởi một đôi gant và một
mặt nạ, ở đầu mặt nạ có một máy hô hấp với các cỏ thơm nhằm thanh lọc
không khí. Đó cũng là những bát sữa tươi, được đặt trong các phòng ngủ
và cực chẳng đã, người ta đặt lên môi của người hấp hối bánh mì nóng,
hy vọng như thế xua đuổi căn bệnh ra khỏi người hấp hối. Còn lạ kỳ hơn
nữa, người ta mang các đàn cừu ra các đường phố và hy vọng rằng hơi thở
của chúng sẽ làm thanh khiết không khí khỏi các chướng khí. Lại còn lạ
lùng hơn, một triết gia khác khuyên đem gió đóng chai. Không phải là điều
dễ thực hiện. Và sau cùng, mặc dầu danh sách còn chưa đầy đủ, lời khuyến
nghị của một đồ đệ của Esculape, yêu cầu trộn vào nước tiểu của mình đủ
loại cây cỏ, trong đó có cây ngải đắng và cứ mỗi sáng uống một liều nhỏ
!
Sau cùng, sẽ phải đợi đến năm 1374 để thấy chính quyền áp dụng những biện
pháp hiệu quả để chống lại bệnh dịch hạch. Một đạo luật đầu tiên được
thông qua ở Reggio de Calabre với những lời lẽ như sau : “ Mọi người bị
bệnh dịch hạch sẽ được đưa ra khỏi thành phố, vào trong các cánh đồng
để chết hoặc lành bệnh ở đó. Những người đã săn sóc những người bị dịch
hạch sẽ phải bị cấm cung trong 10 ngày trước khi có thể tái tiếp xúc với
những người đồng loại. Giới giáo sĩ sẽ có bổn phận thăm khám các bệnh
nhân và tố cáo họ với chính quyền nếu không sẽ bị hỏa thiêu và tịch thu
tài sản. Những người truyền bệnh dịch hạch sẽ bị nhà nước tịch thu tài
sản. Ngoại trừ những người được cách ly trong mục đích này, không ai có
thể săn sóc những người bị bệnh dịch hạch mà không bị tử hình và tịch
thu tài sản.” Sự cách ly kiểm dịch (mise en quarantaine) được sinh ra
đời, hay ít ra là sự giữ cách xa (mise à l’écart), bởi vì quarantaine
chỉ thời gian 40 ngày, trong đó những người di dân mới đến, vừa đổ bộ
từ một con tàu và được giữ ở cach xa thành phố, thời gian cần thiết để
xem những người nhập cư này có phát triển căn bệnh rùng rợn đó hay không.
Trong tương lai, chính những biện pháp cách ly này sẽ cho phép ngăn chặn
tốt hơn bệnh dịch. Và, ngoài hình phạt thánh thần, vì còn cần phải chỉ
định xem ai là những người chịu trách nhiệm bệnh dịch này, nên một lần
nữa chính những người Do thái đã bị chỉ định và bị thiêu trên giàn hỏa,
đặc biệt ở Narbonne và Bourgogne, những pogrom (những cuộc tàn sát người
Do thái) báo hiệu những cuộc tàn sát khác còn tệ hại hơn. Người ta trách
họ làm nhiễm độc các giếng nước. Những lời buộc tội phi lý vì lẽ cũng
như những người dân còn lại khác, họ bị trừng phạt thật nặng nề.
BỆNH SỐT NHIỀU MỒ HÔI (SUETTE)
Trong số các bệnh dịch ít được nhắc nhớ đến bởi vì đến nay vẫn còn không
được biết rõ, đó là dịch sốt ra nhiều mồ hôi được gây nên bởi sốt cao
và nổi ban da. Dịch bệnh mà ta goi là suée hay suette anglaise bởi vì
người ta đã tưởng tượng rằng dịch bệnh này sinh ra đời ở Anh, có nguồn
gốc trong cái khí hậu ẩm ướt đã bị chế giễu ngay ở thời Trung cổ, vì lẽ
tiếng đồn muốn rằng ở đây mưa 5 năm liền mà không có một chút trời quang
đãng. Vậy chính trong cái khí hậu sầu thảm này và những điều kiện vệ sinh
tệ hại mà căn bệnh mới này sẽ phát sinh. Những tình trạng phóng đãng đủ
loại, dầu giai cấp xã hội là gì, làm cho căn bệnh tấn công những người
khỏe mạnh, có khuynh hướng chè chén, hơn là vào các phụ nữ và những người
già. Bệnh dịch bắt đầu năm 1485 và được mô tả như sau bởi nhà biên niên
sử thời đó : “ Đột ngột, một thứ mồ hôi gây chết người và nóng bỏng xâm
chiếm toàn thân thể, kích thích máu, làm dạ dày và đầu nóng như lửa. Những
nỗi đau đớn này kinh khủng đến độ các bệnh nhân phải nằm liệt giường.
Không chịu được cái nóng quấy nhiễu này, các người bệnh vứt bỏ các khăn
trải giường và mền chiếu.” Bệnh dịch biến mất nhanh cũng như lúc đến nhưng
đã tái xuất hiện nhiều lần vào đầu thế kỷ 16. Thế thì làm sao giải thích
lịch sử y học đã thường không đề cập đến bệnh dịch trong những thế kỷ
tiếp theo sau đó ? Chúng ta sẽ được cho lời giải thích vào thế kỷ thứ
19 : đơn giản là bởi vì căn bệnh đã không được liệt kê bởi những người
Hy Lạp và Latin, nên nó không thể hiện hữu trong tâm trí của những thầy
thuốc chỉ lấy kiến thức cổ đại như là tài liệu tham khảo duy nhất. Về
phần mình, Erasme đã hoàn toàn nắm vững, mặc dầu sự im lặng của những
người đương thời, những lý do của sự xuất hiện của bệnh sốt mồ hôi. (LA
SEMAINE MEDICALE 1/6/2009)
2/ “ VIRUS H1N1 LAN TRÀN VỚI MỘT
TỐC ĐỘ KHÔNG TUỞNG TƯỢNG ĐƯỢC ”.
Theo bilan toàn bộ được công bố hôm thứ sáu 28/8 bởi OMS, cúm A (H1N1)
đã giết chết ít nhất 2.185 người. Số các người bị nhiễm bệnh vào thời
điểm này lên đến ít nhất 209.438, trong hơn 177 nước. H1N1 đã trở nên
virus cúm thống trị trên thế giới. Nó thay thế virus của cúm mùa. Ngày
24 tháng 4, OMS đã phát ra một báo động trên thế giới, loan báo rằng hàng
trăm trường hợp cúm đã được ghi nhận ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ.
Ngày 1 tháng sáu, tổng giám đốc OMS, BS Magaret Chan, đã tuyên bố cúm
A (H1N1) là đại dịch đầu tiên của thế kỷ XXI. Trong cuộc nói chuyện đặc
biệt dành cho báo Le Monde, bà điểm lại tình hình và giải thích về chiến
lược của OMS.
Hỏi : Đại dịch hiện nay
thách thức tất cả các dấu mốc của chúng ta.
BS Magaret Chan : Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta thấy một
đại dịch diễn biến dưới mắt của chúng ta. Ngày xưa, thế giới luôn luôn
bị bất ngờ, không có thời gian bàn bạc về những phương tiện để đương đầu
với căn bệnh. Cách nay vài năm, từ lúc phát khởi virus của cúm gia cầm
H5N1, được thể hiện bởi một căn bệnh cực kỳ nghiêm trọng, với 50% đến
60% những trường hợp tử vong, các bộ trưởng y tế đã thảo luận với OMS
về phương cách hoạch định công tác chuẩn bị đối với mối đe dọa đại dịch,
lấy cúm Tây Ban Nha 1918 làm quy chiếu. Virus 2009 A (H1N1) hoàn toàn
khác. Đó là virus mới, và hầu như không có ai đã được miễn dịch chống
lại nó. Virus này lan tràn rất dễ dàng, nhưng không gây bệnh nặng nơi
hầu hết những người mắc bệnh. Những yếu tố này không thích hợp với những
kế hoạch đã được chuẩn bị, và cần phải thích ứng chúng. Vậy, không có
gì phải ngạc nhiên khi người ta tự hỏi tại sao đại dịch hiện nay không
tương ứng với điều mà họ đang chờ đợi, và nhận thấy rằng người ta đang
làm thái quá. Nhưng tôi không đồng ý với quan điểm này.
Hỏi : Đại dịch hiện nay
tạo nên những mối đe dọa nào ?
BS Magaret Chan : Trước hết, virus này du hành với một tốc độ không tưởng
tượng nổi, chưa từng có. Trong vòng 6 tuần, nó vượt qua cùng khoảng cách
với những virus khác trong 6 tháng ! Số người bị nhiễm khuẩn cũng chưa
từng có. Đến 30% những người dân của những nước có mật độ cao về dân số
có nguy cơ bị nhiễm khuẩn. Không có những kế hoạch chuẩn bị, chúng ta
sẽ không có khả năng có một đáp ứng có tổ chức.
60% các tử vong xảy ra nơi những người vốn có những vấn đề về sức khỏe.
Điều này có nghĩa là 40% những trường hợp tử vong xảy ra nơi những người
trưởng thành trẻ tuổi, mạnh khỏe, chết trong vòng 5-6 ngày sau một viêm
phổi do virus. Đó là sự kiện đáng lo ngại nhất. Công tác điều trị những
người này rất nặng nề và khó khăn.
Trong nhiều quốc gia, những phòng cấp cứu và những đơn vị hồi sức tăng
cường cực kỳ được đòi hỏi, thậm chí quá tải. Trong thế giới 6,8 tỷ người
của chúng ta, điều gì sẽ xảy ra nếu nhiễm trùng ảnh hưởng lên 20% đến
30% dân số ? Điều gì sẽ xảy ra nếu căn bệnh trở nên nghiêm trọng hơn,
nhưng chúng ta lại không được chuẩn bị ? Nhiều phương tiện nhân vật lực
sẽ được sử dụng dành cho những người bệnh bị bệnh ung thư, các bệnh tim
mạch...
Hỏi : Đúng thế, bà sẽ trả
lời gì đối với những kẻ e sợ rằng việc chống lại H1N1 được thực hiện với
ảnh hưởng lên sự chống những bệnh chết người khác ?
BS Magaret Chan : Câu hỏi hợp lý. Cần thiết phải quy tụ những nguồn bổ
sung. Không nên cởi quần áo Pierre để rồi mặc vào cho Paul. Mỗi chính
phủ có trách nhiệm phải chuẩn bị cho điều tệ hại nhất, và hy vọng cái
tốt nhất. Nó là kế toán về cách bảo vệ các công dân. Theo định nghĩa,
các đại dịch cúm không thể dự kiến được. Đúng vây, căn bệnh hiền tính,
và chúng ta hy vọng rằng nó sẽ là như vậy khi làn sóng thứ hai sẽ xảy
đến vào mùa thu này. Nếu không phải là như thế, thì các chính phủ làm
sao có thể biện minh trước công luận của họ nếu không làm những điều cần
thiết để chuẩn bị ?
Hỏi : Cuộc chạy đua sản
xuất vaccin chống cúm A (H1N1) đã được phát động. Giống gốc đầu tiên được
OMS gởi cho các nhà chế tạo đã cho những năng suất làm thất vọng. Chúng
ta có nguy cơ bị chậm lại so với lịch trình được dự kiến hay không ?
BS Magaret Chan : Chúng tôi đã nói rằng phải cần 5-6 tháng để hiệu chính
những lô vaccin đầu tiên. Hiện nay, chúng ta đang còn trong thời gian
chờ đợi.
Hỏi : Chúng ta sẽ có những
vaccin này đúng lúc và với lượng đầy đủ không ?
BS Magaret Chan : Không phải trong những tháng đến. Trước khi thiết lập
kế hoạch chống virus cúm gia cầm H5N1, năng suất sản xuất hàng năm trên
thế giới là 450 triệu liều, và chủ yếu trong những nước phát triển. Năng
suất này đã tăng lên 900 triệu liều. Mặc dầu cho số lượng này vẫn không
đủ đi nữa, nhưng điều đó đã không xảy ra đối với những đại dịch trước
đây.
Hỏi : Còn đối với các nước
đang phát triển thì sao ?
BS Magaret Chan : Chúng tôi đã nhận những cam kết biếu không với một số
lượng tổng cộng 150 triệu liều. Chúng tôi tiếp tục đối thoại để làm gia
tăng số lượng, nhưng cũng để thương thuyết việc mua những liều bổ sung.
Nhưng không nên quên những can thiệp không phải thuốc : rửa tay, ở tại
nhà nếu đau bệnh... Tôi mới đi Ouganda về, tôi đã viếng thăm một ngôi
làng trong đó phương tiện truyền tin duy nhất là radio, và ở đó những
người tình nguyện tham dự những công tác y tế. Chủ tịch làng là người
duy nhất có điện thoại di động. Chúng ta phải suy nghĩ phương cách phổ
biến tin tức bằng SMS.
Hỏi : Vẫn có những nghi
vấn về chất lượng và mức độ an toàn của những thuốc chủng tương lai chống
lại H1N1…
BS Magaret Chan : Nhà chức trách điều hòa đang gia tốc quá trình để vaccin
được phép đưa ra thị trường, nhưng chỉ với những gì liên quan dến các
thủ tục hành chánh. Không có vấn đề làm phương hại mức độ an toàn và hiệu
quả của các vaccin. Các thử nghiệm lâm sàng cho chúng ta những giải đáp
về các tác dụng phụ dương tính của các vaccin này, nhưng chúng ta phải
rõ ràng : vì lẽ số người được trắc nghiệm có giới hạn, nên các tác dụng
phụ vô cùng hiếm không phải luôn luôn xuất hiện. Hội chứng Guillain Barré
(một biến chứng thần kinh khả dĩ) xảy ra theo tần số một trường hợp trên
một triệu người được tiêm chủng. Vậy chúng ta có nguy cơ bị mắc phải biến
chứng này.
Ngay cả với những sản phẩm có chất lượng, vẫn luôn luôn có những tác dụng
phụ. Vì lẽ đó, OMS đã đưa ra những lời khuyến nghị về việc theo dõi y
tế cần phải đảm bảo, một khi vaccin được sử dụng. Nhưng phải phân biệt
những tác dụng thật sự liên kết với vaccin và những tác dụng trùng hợp
trong thời gian mà không có mối liên hệ nhân quả. Nếu chúng ta chứng thực
những tác dụng đặc biệt liên kết với vaccin, chúng ta sẽ báo cáo và các
chính phủ cũng sẽ phải làm như vậy. Giới truyền thông phải đóng vai trò
của họ : lưu ý công chúng những tin tức quan trọng nhất, cũng như họ phải
theo dõi công tác của chúng ta.
Hỏi : Chúng ta cần gì nhất
trong cuộc đấu tranh chống lại H1N1 ?
BS Magaret Chan : Chúng ta cần sự lãnh đạo về chính trị, những kế hoạch
tốt chống lại bệnh, một sự điều hòa tốt và một sự thực hiện tốt. Điều
đó không chỉ thuộc trách nhiệm của các bộ y tế. Một vài can thiệp có những
ý nghĩa kinh tế và xã hội lớn, ví dụ đóng cửa các trường học.
Phải xét đến tất cả các khía cạnh của vấn đề. Sau cùng, sự ủng hộ của
công luận là cần thiết. Đầu tư tốt nhất có thể có được đối với một chính
phủ là sự truyền tin đại dịch (communication pandémique) : nhận diện những
cơ chế truyền tin thích hợp cho mỗi quốc gia, để dân chúng tiếp nhận thông
tin đúng lúc và một cách minh bạch. (LE MONDE 31/8/2009)
3/ CÚM A : CHỦNG NGỪA CÓ THỂ NGAY
GIỮA THÁNG MƯỜI.
SANTE. Ủy ban khủng hoảng liên bộ “ Đại dịch cúm ” đã tiết lộ hôm qua
những chi tiết của chiến dịch được dự kiến để ngăn chặn sự lan tràn của
virus H1N1.
Tất cả những người Pháp nào mong muốn đều sẽ có quyền nhận tiêm chủng
miễn phí, được đề nghị bắt đầu từ tháng mười. Chiến dịch này sẽ được phát
động nếu tình hình và những lời khuyến nghị của các chuyên gia biện minh
điều đó. “ Chúng ta gặp phải một virus có độc lực ở mức độ trung bình,
nghĩa là tương đương với hoặc hơi cao hơn cúm mùa, nhưng với một khả năng
lây truyền mạnh mẽ ”, hôm qua Roselyne Bachelot, bộ trưởng y tế Pháp đã
chỉ rõ như thế.
Theo bảng thông báo mới nhất của Viện theo dõi y tế, ở Pháp sự lưu hành
của virus “ được xác nhận nhưng vẫn còn được giới hạn ”.
a/ Ai sẽ được tiêm chủng
? Sự tiêm chủng sẽ không bắt buộc. Tuy nhiên, bà bộ trưởng y tế, muốn
đề nghị vaccin chống cúm H1N1 “ cho tất cả những người nào mong muốn ”,
đã gởi đơn đặt hàng 94 triệu liều nơi 4 phòng bào chế dược phẩm với tổng
phí 1 tỷ euro. Hôm qua những lô vaccin đầu tiên đã được tiếp nhận, với
số lượng hạn chế. Hiện nay, các vaccin này được bảo quản trong một nơi
được giữ kín, do biện pháp an ninh. Chiến dịch chủng ngừa sẽ không bắt
đầu trước khi nhận giấy phép cho lưu hành trên thị trường, được dự kiến
vào giữa tháng 10. Một danh sách những người ưu tiên sẽ được căn cứ trên
những chỉ dẫn của OMS, các phân tích của Viện theo dõi y tế và của tổng
giám đốc y tế. Những nhân viên y tế (trong đó các thầy thuốc và y tá làm
trong khoa sơ sinh học và hồi sức nhi đồng (néonatologie và réanimation
pédiatrique), các phụ nữ có thai và những người có sức khỏe yếu ớt là
những người được ưu tiên tiêm chủng.
b/ Chiến dịch tiêm chủng
sẽ diễn ra như thế nào ? Chiến dịch tiêm chủng sẽ trải ra trong 4 tháng
và sẽ diễn ra trong các trung tâm tiêm chủng (centre de vaccination),
được thành lập trong các nhà tập thể dục hay các phòng đa năng, để không
làm ứ đọng các bệnh viện. Thông tư dự kiến tối thiểu 3 địa điểm cho mỗi
tỉnh, những địa điểm quan trọng nhất có thể tiếp nhận đến 2.100 người
mỗi ngày theo chế độ tăng cường.Việc tiêm chủng các học sinh và của tất
cả cộng đồng giáo dục sẽ được đảm bảo bởi những toán di động trong các
trường học. Các thầy thuốc gia đình, các sinh viên hay những người hưu
trí sẽ được mời tham dự.
c/ Sẽ có theo dõi về mặt
y tế hay không? Những phiếu tiêm chủng sẽ được phân phát bởi Assurance-maladie.
Hai liều thuốc chủng, được tiêm mông cách nhau tối thiểu 3 tuần, sau đó
sẽ được giao. Về điểm này chính phủ nhấn mạnh về “yêu cầu có thể truy
tìm những người được tiêm chủng”, để bảo đảm rằng hai liều tiêm sẽ được
thực hiện với cùng vaccin. Sự theo dõi này cũng sẽ cho phép nghiên cứu
những tác dụng phụ gây nên bởi thuốc mới.
d/ Những thử nghiệm đã cho
thấy rằng các vaccin là hiệu quả và an toàn hay không ? Nhiều nghiên cứu
lâm sàng còn đang được tiến hành trên thế giới để xác nhận tính hiệu quả
và độ dung nạp tốt của các vccin chống H1N1 trong những loại dân khác
nhau (những người trưởng thành, những người già, trẻ em…).
Những kết quả của những thử nghiệm này, đang còn được tiến hành bởi mỗi
hãng dược phẩm với thuốc chủng do mỗi hãng chế tạo, sẽ được chờ đón trong
những tuần đến. Tuy nhiên các hãng bào chế đã có những dữ kiện an lòng,
thu được với các vaccins “ maquettes ” (cùng thành phần nhưng trên cơ
sở của một giống gốc H5N1). Các chuyên gia không lo ngại về tính hiệu
quả của vaccin, trừ phi giống gốc H1N1 biến dị. Còn về những tác dụng
phụ ? Các vaccin chống cúm mùa có thể gây nên những phản ứng tại chỗ nhưng
thường được dung nạp tốt. Nguy cơ của một tiêm chủng đại quy mô là nguy
cơ thấy xuất hiện những tác dụng phụ hiếm, đặc biệt là những phản ứng
miễn dịch-dị ứng (réactions immunoallergiques). Vào năm 1976, các người
Mỹ, đã tiêm chủng vội vàng cho 40 triệu người chống lại bệnh cúm và đã
gây nên hơn 500 trường hợp hội chứng Guillain-Barré (một bệnh thần kinh
thường thoái biến), trong đó 32 tử vong. Ngoài ra, để sản xuất các vaccin
H1N1 này, vài hãng bào chế đã sử dụng những kỹ thuật học chưa từng có
(cấy tế bào, các tá dược mới) mà người ta chưa có nhiều kinh nghiệm. (LE
FIGARO 28/8/2009)
4/ ROSELYNE BACHELOT : “ CHÚNG
TA PHẢI CHUẨN BỊ CHO TRƯỜNG HỢP TỆ HẠI NHẤT ”
Tiến triển của đại dịch, kế hoạch của chính phủ, vaccin... bộ trưởng y
tế Pháp Roselyne Bachelot trả lời phỏng vấn báo L’Express. Và bào chữa
là đã không “ làm thái quá ”.
Hỏi : Có phải bà luôn luôn
cho rằng nước Pháp là nước được trang bị tốt nhất để đương đầu với đại
dịch ?
Roselyne Bachelot : Sự đánh giá tán dương này không phát xuất từ tôi,
mà từ OMS ! Kế hoạch của chúng tôi chống đại dịch đã được trắc nghiệm
và cải thiện, nó được củng cố bởi sự tạo thành những dự trữ thuốc và các
mặt nạ, và chúng tôi có nhũng hợp đồng giữ trước vaccin với nhiều nhà
công nghiệp, điều này làm đa dạng hóa nguồn cung cấp cho chúng tôi. Chúng
tôi đang có một “ hộp dụng cụ ” (boite à outil) thật sự, nhưng chúng tôi
chỉ dùng mỗi một dụng cụ trong trường hợp thật sự cần thiết : tôi không
muốn rơi vào trong tinh thần hệ thống.
Hỏi : Các trung tâm cách
ly được dự kiến trong kế hoạch Đại Dịch (plan Pandémie) vẫn luôn luôn
hoạt động chứ ? Cũng như khả năng truy tìm các hành khách (traçabilité
des voyageurs) lúc đến Pháp ?
Roselyne Bachelot : Không : lại nữa chúng tôi là những người thực tiễn.
Kế hoạch Đại dịch của chúng tôi đã được phát thảo để đương đầu với virus
H5N1, một virus rất độc lực nhưng ít gây lây nhiễm. Dĩ nhiên chúng tôi
thích nghi sự đáp ứng của chúng tôi đối với H1N1, là một virus ít độc
lực và rất lây nhiễm.
Hỏi : Hiện nay chúng ta
có xác định tốt hơn số các bệnh nhân và những trường hợp tử vong có thể
dự kiến được hay không ?
Roselyne Bachelot : Các chuyên gia mà tôi hỏi hầu như mỗi ngày đều nói
với tôi rằng đặc điểm chính của virus là không thể tiên đoán đoán được.
Virus cúm mùa trung bình gây nên 2,5 triệu bệnh nhân và khoảng 2.000-2.500
người chết mỗi năm. Vài kịch bản của Viện theo dõi y tế (InVS : institut
de veille sanitaire) dự kiến, đối với cúm A, 20 triệu người bị bệnh. Vậy
thì chúng ta có thể lo sợ một số tương đương 20.000 tử vong nếu tỷ lệ
tử vong (taux de létalité) cũng giống với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Nhưng,
tôi nhắc lại, đó là một kịch bản không tính đến những biện pháp mà chúng
tôi đã dự kiến, trong đó có sự chủng ngừa.
Hỏi : Việc đếm số bệnh nhân
có còn một ý nghĩa hay không ?
Roselyne Bachelot : Vào giai đoạn này, chúng tôi không còn đếm số cá nhân
một cách hệ thống (comptage individuel systématique), mà đếm số nhân dân
(comptage populationnel). Theo mạng Sentinelles của Inserm, tuần lễ đầu
tiên của tháng tám, số thăm bệnh nơi các thầy thuốc vì những triệu chứng
cúm được ước tính là 37 trên 100.000 dân. Tuần trước con số này là 48
trên 100.000 dân. Tiến triển không đáng kể. Hai con số này, hơn trên mức
trung bình của cúm mùa (bởi vì có cúm quanh năm), nhưng vẫn dưới ngưỡng
dịch bệnh (seuil d’épidémie), là 70 trên 100.000 dân. Nói như vậy, những
thăm khám vì những triệu chứng cúm không nhất thiết là do bệnh cúm và
lại còn ít hơn là do cúm A .
Hỏi : Chúng ta có phải sợ
một tỷ lệ tử vong cao hơn đối với các phụ nữ có thai ?
Roselyne Bachelot : Về các phụ nữ có thai, chúng tôi theo dõi các diễn
biến của các trường hợp ở Nam ban cầu. Những trường hợp này xác nhận rằng
các phụ nữ có thai phải được ưu tiên che chở.
Hỏi : Nước Pháp có những
trường hợp đáng lo ngại không ?
Roselyne Bachelot : Vâng, năm trường hợp cúm trên 10 vẫn đáng quan ngại.
Nhưng dĩ nhiên, những con số này có thể tiến triển thường trực.
Hỏi : Nếu các trường học
bị đóng cửa, có nguy cơ sự vắng mặt phụ nữ làm gia trọng sự khan hiếm
các nhân viên điều dưỡng của bệnh viện hay không ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi có thể dự kiến rằng các trẻ em của nhân
viên bệnh viện sẽ được chăm lo để không ảnh hưởng lên túc số nhân viên
y tế.
Hỏi : Chúng ta há không
phải là đã mua quá nhiều Tamiflu ? Vài bệnh nhân không cần đến nó, và
thuốc này ngay cả nguy hiểm cho các trẻ em... Nếu tính đến phí tổn, phải
chăng đó thật sự là một giải pháp ?
Roselyne Bachelot : Tamiflu, đó không phải là giải pháp, nhưng là một
trong những yếu tố của đáp ứng. Tamiflu này không được sử dụng một cách
hệ thống.Thuốc này được dành cho những trường hợp nặng và cho những người
có nguy cơ. Chúng ta biết rằng virus cúm A nhạy cảm với nó, điều này là
một tin vui : lúc đầu không hiển nhiên như thế. Tuy nhiên chúng ta cũng
biết rằng Tamiflu gây nên những tác dụng phụ, đó là lý đó tại sao không
nên sử dụng dụng nó nếu không có toa của thầy thuốc.
Hỏi : Chúng ta có thể sử
dụng Tamiflu quá hạn hay không ?
Roselyne Bachelot : Các công trình nghiên cứu cho thấy khả năng kéo dài
thời gian sống của thuốc 2 năm, điều mà chúng ta sẽ làm. Ngược lại, các
lô thuốc uống trẻ em quá hạn. Các viên thuốc sẽ cho phép bù thiếu sót
này.
Hỏi : Việc tiêm chủng bắt
buộc (vaccination obligatoire) đi đến đâu rồi ?
Roselyne Bachelot : Sự tiêm chủng được đề nghị cho tất cả các công dân
sẽ không bắt buộc, nhưng được khuyến nghị, qua một chiến dịch thông tin
lớn. Chúng ta sẽ chuẩn bị thực hiện, nếu cần, cái sẽ có thể là chiến dịch
tiêm chủng quan trọng nhất trong đất nước của chúng ta.
Hỏi : Người ta sẽ được tiêm
chủng ở đâu ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi đang làm việc tích cực để tạo lập các trung
tâm được dành cho tiêm chủng. Mỗi tỉnh sẽ làm tốt nhất tùy theo hệ thống
loại hình của lãnh thổ mình...
Hỏi : Khi nào bà hy vọng
nhận những vaccin đầu tiên ? Các vaccin này có thể được thương mãi hóa
cấp bách , ngay cả trước khi được chuẩn y ?
Roselyne Bachelot : Còn có nhiều điều không chắc chắn về năng suất của
giống gốc và quá trình conditionnement của vaccin. Có thể những lô đầu
tiên sẽ đến vào cuối tam cá nguyệt thứ ba. Nhưng tôi không dự kiến sẽ
sử dụng một vaccin không thỏa mãn những yêu cầu trước khi được giấy phép
lưu hành trên thị trường. Và nếu người ta tìm thấy những sản phẩm như
thế trên Internet, tôi chỉ có thể khuyên những người tư nhân không nên
mua chúng.
Hỏi : Chính phủ há đã chẳng
phải lầm khi chỉ đặt hàng 16 triệu liều ở Novartis, phòng bào chế dường
như tiến bước nhất trong phát triển một vaccin ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi đã gởi đơn đặt hàng cho nhiều hãng bào chế,
sẽ cho phép trải việc cung cấp các vaccin ra suốt trong mùa thu và chủng
ngừa toàn thể dân chung. Một số nước đã ưu tiên mua các vaccin. Chúng
tôi cũng đã giữ trước (pré-réservations), mà cách nay vài năm, điều này
không được căn cứ trên quốc tịch của các hãng bào chế.
Hỏi : Những ai sẽ được tiêm
chủng ưu tiên ?
Roselyne Bachelot : Những bệnh nhân mang những bệnh nhiễm trùng mãn tính,
đặc biệt là đường hô hấp.
Hỏi : Chúng ta há không
phải làm thái quá ? Chính phủ há không phải là nạn nhân của hội chứng
máu bị ô nhiễm (syndrome du sang contaminé) ?
Roselyne Bachelot : Tôi ưa thích rằng người ta trách chúng tôi hôm nay
làm quá nhiều thay vì sẽ trách chúng tôi trong 3 tháng nữa không làm khá
đủ … Đó không phải là một động tác thông tin. Đứng trước loại đe dọa như
thế này, chừng nào chúng ta không được chuẩn bị cho cái điều tệ hại nhất,
nghĩa là chúng ta không được chuẩn bị. (EXPRESS 20-25/8/2009)
5/ 8 CÂU HỎI TRONG LÚC CHỜ ĐỢI
VACCIN.
1/ Tôi có phải giao con tôi cho những nơi tập thể?
Nếu chính quyền quyết định đóng cửa các trường học và các nhà trẻ thì
câu hỏi này sẽ không được đặt ra. Nhưng nếu không phải vậy, sự lựa chọn
đối với mỗi cá nhân thật là hóc búa. “Chúng ta biết rằng những nơi này
là những phương tiện hiệu quả nhất để làm lây nhiễm các trẻ em (và bố
mẹ chúng) với bất cứ vi trùng nào”, Vincent Racaniello, chuyên viên vi
trùng học ở đại học Columbia, Hoa Kỳ, đã giải thích một cách không quanh
co như vậy. Lý do? Sự tập trung các trẻ em làm các vi trùng sinh sản dễ
dàng và khuynh hướng các trẻ em sờ mó các đồ vật và đưa tay lên miệng.
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng nguy cơ mắc phải một bệnh nhiễm
trùng ở nhà trẻ (viêm tai, viêm dạ dày-ruột, viêm màng não) được nhân
lên gấp 3 đến 12 tùy theo tuổi và bệnh lý. Vậy thì, nếu câu hỏi là “tránh
những nơi tập thể có sẽ bảo vệ tôi chống lại virus A/H1N1 hay không?,
về mặt thống kê câu trả lời là không. Nhưng nếu câu hỏi là : “có đáng
bỏ công hay không?”, câu trả lời tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm của virus.
Các bố mẹ có phải lo sợ, khi biết rằng gần 60% các trường hợp cúm A trên
thế giới có liên quan đến những trẻ dưới 18 tuổi ? Đối với Arnault Pfersdorff,
thầy thuốc nhi khoa của bệnh viện Sainte-Anne de Strasbourg, nguy cơ lây
nhiễm không đáng lo ngại, vì lẽ thoạt đầu cúm A không nguy hiểm hơn cúm
cổ điển. Các trẻ em vẫn có thể đến trường, như thế quá trình sinh miễn
dịch của mỗi cá thể sẽ được thực hiện một cách tự nhiên, ông đã giải thích
như vậy. Mối âu lo hướng nhiều hơn vào các nhũ nhi dưới 1 tuổi và nhất
là dưới 6 tháng : người ta nghĩ rằng lứa tuổi này sẽ nhạy cảm hơn, nhưng
hôm nay chúng ta không chắc điều đó.” Thật vậy, các nhà nghiên cứu Hoa
Kỳ và Nhật Bản, vào tháng 7, đã khám phá ra rằng virus A (H1N1) gây nhiều
viêm phổi nặng hơn so với các virus gây cúm mùa. Thế mà, do hệ miễn dịch
của chúng chưa được thành thục, các trẻ em dưới 2 tuổi dễ bị mắc bệnh
hơn. Mặc dầu việc không mang con đến nhà trẻ là vô ích, nhưng tốt hơn
vẫn phải luôn luôn cảnh giác.
2/ Loại khăn tay nào nên dùng : giấy hay vải ?
Chính bởi vì chúng ta không vứt bỏ khăn tay bằng vải (mouchoirs en tissu)
mà loại khăn tay này bị cấm chỉ. Ví dụ, vào năm 2003, một công trình nghiên
cứu về virus của cúm gia cầm H7N7 (đã làm lây nhiễm các công nhân của
một trại nuôi công nghiệp ở Hòa Lan) đã cho phép xác định rằng việc dùng
những khăn tay bằng vải đã góp phần làm lan truyền virus hơn là dùng các
khăn tay bằng giấy (mouchoirs en papier). Thật vậy, các virus, vốn bị
giam trong các dịch tiết, nằm trong bọc quần áo và làm lây nhiễm các đồng
tiền, các chiếc chìa khóa, và nhất là các bàn tay của người sử dụng. Vậy,
các khăn tay bằng giấy dường như hiệu quả hơn, với điều kiện được vứt
bỏ sau khi dùng... nếu không, vấn đề vẫn như nhau ! Về các khăn tay “chống
virus” (mouchoirs antiviraux) được thương mãi hóa ở Pháp cách nay ít lâu,
lợi ích của chúng vẫn còn hạn chế. Nguyên tắc? Các khăn tay này được bao
bọc bởi những chất diệt virus, loại bỏ hầu hết các virus lúc được tiếp
xúc. Những nếu lượng dịch tiết mũi quan trọng, thì chỉ có một phần là
thật sự bị hủy diệt. Biện pháp hiệu quả nhất vẫn là rửa tay sau khi hỉ
mũi, nhà vi trùng học Vincent Racaniello đã nhắc lại như vậy.
3/ Có nên tránh những phương tiện giao thông công
cộng hay không ?
Nếu anh bị bệnh, thì đó là điều hiển nhiên. Ngược lại, vô ích tránh chúng
chỉ do biện pháp thận trọng. “ Một ít lương tri là đủ, Vincent Racaniello
đã trấn an như vậy. Nếu anh đụng vào các nắm cửa, đừng đưa tay lên mặt
trước khi rửa chúng. Và nếu ai đó ho và hách xì gần anh, thì tốt hơn hãy
thay đổi toa xe. ” Mặc dầu xe bus và xe lửa có thể làm dễ sự lây nhiễm,
tuy nhiên chúng đóng một vai trò hạn chế trong sự lan truyền toàn bộ của
dịch bệnh. Ở Nhật Bản, là nơi mối liên hệ giữa dịch bệnh và các phương
tiện giao thông công cộng được nghiên cứu nhiều nhất, người ta đã cho
thấy rằng việc đóng các xe lửa đô thị (train de banlieue) chỉ cho phép
giảm 5% số trường hợp toàn thể lúc có một dịch bệnh do virus.
4/ Có nên để mắc cúm bây giờ để thoát khỏi một dạng
độc lực hơn vào mùa đông này ?
Tin đồn đã lan truyền suốt mùa hè : tốt hơn là để bị lây nhiễm bởi virus
A (H1N1) hiện nay, tương đối vô hại, hơn là sẽ bị nguy cơ mắc phải bệnh
vào mùa thu hay vào mùa đông, khi virus có khả năng nguy hiểm hơn. Nhất
là khi đó các phòng mạch và các bệnh viện sẽ bị tràn ngập. “Có một phần
sự thật trong đó, nhưng đối với một chánh phủ, khó mà cho những lời khuyên
như vậy”, Arnault Pfersdorff đã công nhận như thế. Cúm nổi tiếng năm 1918
đã xảy ra thành hai đợt. Vào làn sóng thứ hai, virus bị biến đổi và đã
trở nên gây chết người hơn. Và một công trình nghiên cứu năm 2008 đã cho
thấy rằng những người đã được tiếp xúc với virus trong làn sóng đầu, vào
mùa xuân và mùa hè năm 1918, đã được bảo vệ vào lúc xảy ra làn sóng thứ
hai, vào mùa thu. Nói như vậy, không có nghĩa là virus A (H1N1) sẽ trở
nên độc hại hơn : vào trong hầu hết các dịch bệnh cúm trước đây, độc lực
đã không tiến triển với thời gian.
5/ Có cần thiết phải mang mặt nạ hay không ?
Cho mãi đến ngày nay, không có một công trình nghiên cứu khoa học nào
đã chứng minh được một cách rõ ràng tính hiệu quả đặc hiệu của mặt nạ
này. Mặc dầu một thí nghiệm được tiến hành trên hàng ngàn sinh viên của
đại học Michigan (Hoa Kỳ), vào năm 2006 và 2007, vào lúc cúm mùa, cho
thấy rằng việc mang mặt nạ “ ngoại khoa ”, kết hợp với rửa tay thường
xuyên, cho phép thu giảm 50% tỷ lệ mắc phải các hội chứng cúm. “Nhưng
những kết quả thu được không cho phép phân tách các tác dụng của mặt nạ
và những tác dụng của rửa tay”, Allison Aiello, nhà nghiên cứu chỉ đạo
cuộc điều tra đã muốn xác nhận như vậy. Một sự mập mờ càng gây băn khoăn
hơn khi ta biết rằng các mô hình ngoại khoa, được trao cho đại chúng trong
các hiệu thuốc, chỉ bảo vệ những hạt lớn tích chứa virus, bồng bềnh trong
không khí, nhưng không bảo vệ những khí dung” (aérosols) bé xíu, cũng
có khả năng truyền bệnh. Chỉ có những mặt nạ thuộc loại FFP2 mới có thể
ngăn chặn chúng.
6/ Có nên hoãn lại dự định có thai không ?
Vào tháng bảy, một hội phụ huynh ở Anh đã khuyến nghị các phụ nữ chờ đợi
cho dịch cúm đi qua rồi mới có thai. Lý lẽ ? Virus A (H1N1) làm gia tăng
nguy cơ bị các biến chứng (sẩy thai, sinh non, viêm phổi). Thai nghén
làm gia tăng nhịp tim và sự tiêu thụ oxy và làm giảm năng suất của phổi,
làm phổi yếu đi. Về hệ miễn dịch, nó mất tính hiệu quả. “Nhưng tất cả
các bệnh cúm khả dĩ nghiêm trọng nơi các phụ nữ có thai ”, thầy thuốc
chuyên khoa bệnh nhiễm trùng Hoa Kỳ Julia McMillan đã nhấn mạnh như vậy.
Vậy, hiện nay không có gì là cần thiết phải hoãn lại một thai nghén. Ngoại
trừ một chi tiết là xác suất mắc phải cúm sẽ cao hơn nhiều lúc đại dịch.
7/ Những đồ vật nào là dễ truyền virus nhất trong
đời sống hàng ngày ?
Các tay nắm cửa, điện thoại cầm tay, các robinet, cac bàn chữ computer
... Trong y khoa, các bề mặt, các chất hay đồ vật bị lây nhiễm với một
vi trùng gây bệnh và đóng một vai trò trong việc gây lan tràn một bệnh
mang một tên : các formites. Các bệnh viện, trong cuộc đấu tranh chống
lại những nhiễm trùng bệnh viện (infections nosocomiales), đã trở thành
các chuyên gia truy đuổi các formites. Các công trình nghiên cứu bệnh
viện đã cho thấy rằng virus cúm vẫn tồn tại ở bên ngoài cơ thể con người.
Từ vài giờ đến vài ngày tùy theo bề mặt và lớp niêm dịch bảo vệ nó ! Các
vật liệu cứng và không xốp (plastique, kim loại hay gỗ) là thuận lợi nhất
cho sự sống còn của virus cúm, trung bình được ước tính là hai ngày, so
với chỉ vài giờ trên da, trên vải hay giấy. Tại sao có một sự khác nhau
như thế ? Các nhà vi trùng học cho rằng tính không xốp của bề mặt khiến
virus bị khô đi nhanh chóng hơn, điều này gây nên sự tiêu huỷ lớp vỏ bọc
bảo vệ nó.Vậy nếu như tất cả các đồ vật đều có một mối nguy cơ, thì những
đồ vật không xốp mà ta sờ mò thường trực là những nhà vô địch tích chứa
các mầm bệnh. Cũng coi chừng các đồng tiền. Vào năm 2008, một công trình
nghiên cứu đã cho thấy rằng virus cúm, bị giam giữ trong niêm dịch, có
thể sống còn ở đó cho đến 17 ngày ! Dầu thế nào đi nữa, vecteur cuối cùng
vẫn là những bàn tay, mà ta đưa lên mặt sau khi đã sờ mó các đồ vật bị
lây nhiễm, và trên đó virus tồn tại ít nhất một giờ. Chúng ta sẽ không
bao giờ lặp đi lặp lại điều đó khá đủ : để tránh mắc phải bệnh cúm, phải
thường xuyên rửa tay. Hơn 10 lần mỗi ngày, theo các chuyen gia bệnh nhiễm
trùng.
8/ Tôi có được bảo vệ nếu như tôi đã bị bệnh cúm
vào mùa đông vừa qua ?
Mặc dầu virus A (H1N1) hoành hành hiện nay là một phối hợp chưa từng có
của các phần tử siêu vi trùng (particules virales), nó vẫn có những điểm
tương tự với các virus cúm khác. Có thể là những người, đã bị bệnh cúm
năm vừa rồi hay đã được chủng ngừa một phần, được bảo vệ chống lại nó.
Nhưng chỉ một phần mà thôi. Và các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết tầm cỡ
của “ khả năng bảo vệ chéo ” này, có thể chỉ là tối thiểu. Theo các dữ
kiện được công bố vào tháng năm bởi CDC, 33% những người trên 60 tuổi
một phần được bảo vệ, bởi vì họ đã được tiếp xúc với các dạng khác của
virus A (H1N1) trong những năm 1950 khi bị nhiễm trùng hay khi được tiêm
chủng. Một “ bảo vệ chéo ” mà từ 6 đến 9% những người từ 18 đến 64 tuổi
cũng được hưởng. Ngược lại, những trẻ em từ 0 đến 10 tuổi sẽ dễ nhạy cảm
nhất bởi vì chúng đã không bao giờ gặp phải dạng virus này. (SCIENCES
ET VIE 9/2009)
6/ VITAMINE D CÓ CHO PHÉP ĐỀ KHÁNG
TỐT HƠN CHỐNG LẠI VIRUS MỚI H1N1 ?
Trong lúc phân tích những nồng độ trong máu của vitamine D của những nạn
nhân bị bệnh cúm, các nhà nghiên cứu Canada hy vọng tìm thấy một phương
cách mới bảo vệ chống lại virus cúm, và đặc biệt là bảo vệ chống lại biến
dị mới H1N1.
Ở Canada, Cơ quan y tế công cộng (Agence de santé publique) đã phát động
một công trình nghiên cứu rộng lớn để xác định mối liên hệ giữa vitamine
D và mức độ nghiêm trọng của những triệu chứng của cúm. Globe and Mail
(26/7/2009) đã giải thích rằng các người Canada đã thiết lập dự án này
ngay từ năm qua và họ đã làm thích ứng nó tùy theo loai virus biến dị
mới xuất hiện.
Đó là kiểm tra xem những người, đã bị một bệnh cúm thể nhẹ, có những nồng
độ vitamine D trong máu cao hơn hay không, so với những người đã phát
triển những biến chứng, thậm chí tử vong gây nên bởi cùng virus H1N1.
Công trình nghiên cứu này là một bộ phận của một dự án nghiên cứu rộng
rãi hơn, đặc biệt quan tâm đến tuổi tác, giới tính, trọng lượng, các bệnh
tật tiềm tàng và các tiền sử tiêm chủng của những người mắc phải cúm,
trong mục đích làm dễ sự chống lại đại dịch.
Cách nay đã lâu các nhà khoa học đã nêu câu hỏi về mối liên kết khả dĩ
giữa vitamine D và bệnh cúm, đặc biệt là bởi vì trong hai bán cầu, bệnh
cúm là một bệnh chủ yếu xây vào mùa đông : “những nồng độ thấp của chất
dinh dưỡng vitamine D dường như tương ứng với sự xuất hiện của virus influenza.”,
Cơ quan liên bang đã giải thích như thế và báo trước rằng còn phải chứng
tỏ xem có một mối liên hệ nhân quả giữa một nồng độ thấp vitamine D và
nguy cơ mắc phải bệnh cúm hay không, nhưng cơ quan nghĩ rằng phương cách
này là khá hứa hẹn để làm giảm mức độ nghiêm trọng của của các nhiễm trùng.Thí
dụ trong những năm 40, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các con chuột
nhận một chế độ ăn uống nghèo vitamine D thi nhạy cảm với bệnh cúm hơn
so với những con chuột có nồng độ vitamine D bình thường
“Bằng cớ cho rằng vitamine D dường như giúp hệ miễn dịch chống lại những
vật lạ là gần như rõ ràng, GS Reinhold Vieth (Đại học Toronto) đã xác
nhận như thế. Việc nghiên cứu về mức độ nghiêm trọng của bệnh cúm và các
nồng độ vitamine D sẽ cho phép xác định xem những yếu tố dinh dưỡng có
thể được sử dụng để giúp chống lại các virus ”.
Lý thuyết hiện nay là vitamine D tăng cường hệ miễn dịch: ví dụ chúng
ta thấy rằng vitamine D có một bảo vệ nào đó chống lại bệnh lao. Cơ quan
y tế công cộng nói rõ rằng mặc dầu cơ chế chưa được biết rõ nhưng những
nghiên cứu mới đây gợi ý rằng vitamine D gây nên sự sản xuất các chất
chống vi trùng có khả năng vô hiệu hóa nhiều tác nhân nhiễm khuẩn, trong
đó có virus influenza.
Ngoài ra, một chủ đề nghiên cứu đầy hứa hẹn liên quan đến một phương pháp
phòng ngứa và/hoặc điều trị ít tốn kém. Đối với Cedric Garland (Đại học
Californie), có thể ta không cần phải chờ đợi các kết quả : theo ông,
mọi người sống trên vĩ tuyến 30 mỗi năm phải cho kiểm tra nồng độ vitamine
D trong máu của mình và dùng các bổ sung nếu cần. Đó là chưa kể đến trong
những năm qua nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất những lợi ích để
ngăn ngừa một sự thiếu hụt vitaline D và những tác dụng tốt của vitamine
này lên sức khỏe nói chung. Trong nhiều nước, các chuyên gia đề nghị tăng
cao cac nguồn dinh dưỡng đối với vitamine này. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 28/8/2009)
7/ MỘT PROTEINE PHÁT ĐỘNG SỰ TU
SỮA MÔ TIM.
Tái tạo một trái tim bị thương tổn sau một nhồi máu cơ tim (infarctus
du myocarde) phải chăng chẳng bao lâu nữa là điều có thể thực hiện được
? Mãi đến nay, các thương tổn được cho là không thể sửa chữa được, bởi
vì những tế bào cơ tim (myocarde) cùa người trưởng thành không còn phân
chia được nữa và do đó không có thể tái sinh những vùng bị hư hỏng. Thế
mà, một phân tử, có khả năng khởi động lại sự tăng trưởng của chúng, vừa
được khám phá bởi các nhà nghiên cứu của bệnh viện nhi đồng Boston (Hoa
Kỳ). Neuréguline-1 là một protéine đóng một vai trò trong sự tăng trưởng
của tim và của hệ thần kinh. In vitro, các tế bào tim trưởng thành của
chuột đã phản ứng với yếu tố tăng trưởng : chúng bắt đầu phân chia, tăng
trưởng và tăng sinh trở lại. Sau đó các nhà nghiên cứu quyết định tiêm
phân tử neuréguline-1 này vào các con chuột đã bị một nhồi máu cơ tim.
12 tuần sau, 46% của phần tim bị thương tổn đã tái sinh và các chức năng
tim đã được cải thiện. Cách nay hai năm, cùng nhóm nghiên cứu đã khám
phá một phân tử có những tính chất tái sinh y hệt, nhưng phải được đưa
vào trong tim. Đây không phải là trường hợp đối với neuréguline-1, được
tiêm vào trong máu. Nếu những thử nghiệm tương lai nơi người tỏ ra chứng
thực, thì protéine này sẽ cho phép không phải chỉ duy nhất nhờ vào các
tế bào gốc (cellules souches), đường lối nghiên cứu đầy hứa hẹn khác về
sự tái sinh của mô tim. (SCIENCE ET VIE 9/2009)
8/ MỘT HƯỚNG MỚI CHỐNG UNG THƯ
ĐẠI TRÀNG.
RECHERCHE. Một vi khuẩn hiện diện trong khuẩn chí
ruột (flore intestinale) có thể làm dễ sự phát triển của các khối u đại-trực
tràng.
10.000 đến 100.000 tỷ vi khuẩn tạo nên khuẩn chí ruột càng ngày càng làm
quan tâm các nhà nghiên cứu. Các ký chủ thông thường này của ống tiếu
hóa người mặc dầu có nhiều tác dụng thuận lợi lên sức khỏe, nhưng chúng
cũng dường như có liên hệ trong số gia tăng các bệnh lý : các bệnh viêm
mãn tính của ruột, chứng béo phì, và từ nay…ung thư đại-trực tràng, mà
người ta ghi nhận đuợc 37.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp. Theo một
công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được thực hiện nơi chuột bởi Cynthia
Sears (đại học John Hopkins, Baltimore), một trực khuẩn của khuẩn chí
ruột này có thể làm dễ sự phát triển của những khối u rất thường xảy ra.
Những kết quả này đã được công bố hôm qua trên site của tạp chí Nature
Medicine.
Giả thuyết về vai trò gây ung thư của vài vi trùng tiêu hóa đã được gợi
lên ngay những năm 1970. Từ đó, những công trình của người Úc Barry Marshall
đã cho phép kiểm tra giả thuyết này nơi dạ dày, bằng cách cho thấy vai
trò chủ chốt của vi khuẩn Helicobacter pylori trong sự xuất hiện của các
viêm dạ dày mãn tính, lót đường cho các ung thư dạ dày xảy ra sau đó.
Điều trị bằng kháng sinh những loét và viêm dạ dày như thế đã cho phép
làm giảm sút tần số của những khối u này trong nhiều nước. Đến nầy, không
có một vi khuẩn sinh bệnh nào được nhận diện ở đại-trực tràng.
Nhóm nghiên cứu của Cynthia Sears đã quan tâm đến một vi khuẩn ruột đặc
biệt, một Bacteroides fragilis tiết một độc tố, được gọi là ETBF. Chịu
trách nhiệm gảy ỉa chảy cấp tính nơi người lớn và trẻ em, vi khuẩn này
sinh sống không gây triệu chứng trong ruột của một bộ phận không phải
là nhỏ của dân chúng, lên đến 35% theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ.
VIÊM MÃN TÍNH
Nơi các con chuột nhạy cảm với các ung thư đại-trực tràng về mặt di truyền,
sự hiện diện của nó trong ông tiêu hóa đã gây nên một sự viêm nhiễm mãn
tính của niêm mạc, làm gia tăng tần số xuất hiện của các khối u. Các tác
giả cũng đã chứng minh rằng sự viêm nhiễm gây nên bởi giống gốc Bacteroides
này dựa trên một dân số các bạch cầu đặc biệt : vài tế bào lympho CD4
sản xuất một yếu tố hoà tan được gọi là IL 17. Nơi các động vật mà yếu
tố này đã có thể được vô hiệu hóa, sự viêm nhiễm và quá trình sinh ung
thư đã được thu giảm, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. Ngược lại
tiến triển hướng về một viêm đại tràng rồi một ung thư đã không được quan
sát thấy nơi những động vật mang Bacteroides fragilis không biểu hiện
độc tố.
“ Độc tố này có tác dụng làm chẻ đôi một protéine, cadhérine, cần thiết
cho tính chất kín (étanchéité) của hàng rào tiêu hóa, Nadine Cerf-Bensussan,
nữ giám đốc của đơn vị Inserm 793, nghiên cứu về sự tương tác giữa biểu
mô ruột và hệ miễn dịch đã giải thích như vậy. Thế mà, tính chất toàn
vẹn của hàng rào này là cần thiết để giới hạn sự đi vào của các vi khuẩn
hiện diện trong lòng ruột và tránh một phản ứng viêm mãn tính quá mức
trong ruột, mà ta biết là sẽ làm dễ sự phát sinh ung thư tại chỗ.”
“ KHỞI ĐẦU CỦA MỘT KỶ NGUYÊN MỚI ”
Bacteroides fragilis tiết độc tố phải chăng sẽ có thể là một tương đương
của các Helicobacter pylori trong trường hợp của những ung thư đại tràng?
“Giả thuyết này thật là quyến rũ, nhưng nhiều công trình nghiên cứu, đặc
biệt dịch tễ học, vẫn cần thiết để làm nòng cốt cho nó khi áp dụng trên
người và xác định xem vi khuẩn này có đáp ứng đúng những định đề của Koch,
xác lập một mối liên quan nhân quả giữa một vi trùng và một căn bệnh,
Nadine Cerf-Bensussan đã đánh giá như vậy. “Bacteroides fragilis có lẽ
là một yếu tố, nhưng có thể không phải là yếu tố duy nhất”, BS Thierry
Piche, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa của CHU de Nice đã nói thêm vào
như vậy. Theo nhà chuyện gia về các probiotiques này, chính trong lúc
nghiên cứu các bộ gènes vi khuẩn (génomes bactériens) mà những profil
của khuẩn chí ruột liên kết với ung thư đại-trực tràng sẽ có thể được
nhận diện.
“Chủ đề là phức tạp và kiến thức của chúng ta thì rất hạn chế, nhưng chúng
ta ở trong giai đoạn đầu của một kỷ nguyên mới của những mối tương quan
giữa chúng ta với những vi trùng mà chúng ta tàng chứa”, BS Didier Raoult,
chuyên khoa vì trùng học của CHU de Marseille đã đánh giá như vậy. Nhiên
hậu, mục tiêu sẽ là tìm cách kiểm soát chúng để khai thác những tính chất
có lợi và ngăn ngừa những tác dụng có hại của chúng đối với sức khỏe của
chúng ta.” (LE FIGARO 24/8/2009)
9/ CHỬI THỀ GIÚP CHỊU ĐỰNG
ĐAU ĐỚN.
Phát ra một lời nguyền rủa làm giảm sự cảm nhận đau đớn và làm gia tăng
mức độ chịu đựng. Richard Stephens và các đồng nghiệp của đại học Keele,
Anh Quốc, đã quan sát thái độ và nhịp tim của những người tình nguyện
nhúng cánh tay vào nước lạnh 5 độ C. Kết quả thật là kỳ lạ : họ có thể
để chi bị nhúng trong nước lạnh với thời gian gần như hai lần lâu hơn
nếu họ cứ lặp đi lặp lại tùy thích một lời chửi rủa do họ chọn lựa, so
với khi họ chỉ dùng một chữ có tính cách trung lập hơn, dùng để mô tả
một cái bàn. Mặt khác, nhịp tim đập của họ gia tăng, dấu hiệu của một
phản ứng sinh tồn tự nhiên. Theo các nhà nghiên cứu, chửi thề cắt đứt
mối liên hệ giữa sự sợ hãi và sự cảm nhận đau đớn, mang lại những lợi
ích tâm lý lẫn vật lý. Một phản xạ phổ biến chỉ được dùng trong trường
hợp đau đớn, các nhà nghiên cứu chủ xướng như vậy. Bởi vì trong trường
hợp lạm dụng, phản xạ sẽ mất đi tính hiệu quả. Còn phải biết xem, ngoài
việc chịu đựng lâu hơn, nó có cho phép chịu được một đau đớn mạnh mẽ hơn
không. (SCIENCE ET VIE 9/2009)
10/ MỘT XÉT NGHIỆM NƯỚC MIẾNG
PHÁT HIỆN SINH NON.
Chẳng bao lâu nữa, một xét nghiệm đơn giản và không xâm nhập có thể phát
hiện bằng nước miếng những phụ nữ có nguy cơ sinh non. Chúng ta biết rằng
progestérone đóng một vai trò trong khởi đầu chuyển dạ bằng cách làm dễ
sự căng của tử cung trong thời kỳ thai nghén. Các nhà khoa học Anh của
University College de Londres đã quan tâm đến việc hiệu chính một xét
nghiệm đơn giản để đo nồng độ hormone này. Đó là điều mà họ đã thực hiện
thành công trong nước miếng của những bà mẹ tương lai. Họ đã thu thập
các mẫu nghiệm của khoảng một trăm phụ nữ được biết là có nguy cơ sinh
non và đã có những tiền sử sẩy thai.
Kết quả của các phân tích : các phụ nữ sinh con trước 34 tuần thai nghén
(thời gian thai nghén bình thường là 37 tuần) có một nước miếng chứa một
nồng độ progestérone thấp. Mà progestérone cũng được biết là có tính chất
kháng viêm. Điều này gợi ý rằng một nồng độ thấp của hormone này có thể
góp phần làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng vi khuẩn, yếu tố của sinh non.
(SCIENCE ET AVENIR 9/ 2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (2/9/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |