 |
Thời
Sự Y Học số 140
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ Ở CHÂU ÂU MỘT LÀN SÓNG
CÚM MỚI CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI HƠN.
Với mùa thu đến, vaccin được cung cấp giới hạn cho những tháng còn lại.
Mối lo âu về một giống cúm mới có thể bớt căng trong mùa hè, nhưng hàng
triệu người châu Âu chẳng bao lâu nữa sẽ đón nhận một lời nhắc nhở rõ
ràng về tính độc lực của cúm khi các chính phủ đang sửa soạn cho một chiến
dịch tiêm chủng đại quy mô nhằm tránh xa một làn sóng nhiễm trùng thứ
hai, và có thể gây chết người hơn.
Với một làn sóng các trường hợp virus H1N1 khác, được dự kiến ngay vào
tháng chín, các chuyên gia y tế nói rằng cuộc chiến đấu để chế ngự cúm
đại dịch đầu tiên trong 4 thập niên qua đang vừa mới diễn ra ở Châu Âu.
Các viên chức y tế của Liên Hiệp Châu Âu nhấn mạnh rằng hầu hết các trường
hợp cúm xảy ra nơi người là nhẹ và rằng các bệnh nhân hồi phục mà không
cần điều trị gì đặc biệt. Trong một dấu hiệu bình thường khác, một ủy
ban của Liên Hiệp Châu Âu tuần qua đã khuyến nghị các trường mở lại như
thường sau kỳ nghỉ hè. Nhưng với lượng vaccin giới hạn, được dự kiến sẽ
có để sử dụng năm nay, các giới hữu trách y tế đang chuẩn bị cho nhiều
trường hợp cúm hơn cho mùa thu và mùa đông sắp đến, là khi virus sẽ lan
tràn dễ dàng hon.
“Nếu chúng ta bị nhiều nhiễm trùng hơn, thì sẽ có nhiều biến chứng hơn
nhiều xảy ra nơi những người có tình trạng bệnh lý và điều này có nghĩa
là sẽ có nhiều tử vong hơn nhiều ”, Nigel Dimmock, giáo sư danh dự của
khoa sinh học, thuộc Đại Học Warwick ở Anh, và là một chuyên viên về cúm
đã nói như vậy.
Cho đến hôm chủ nhật, Trung tâm châu Âu Ngăn ngừa và Kiểm tra Bệnh tật,
một cơ quan của Liên Hiệp Châu Âu có căn cứ ở Thụy Điển, đã báo cáo 38.187
các trường hợp được xác nhận và 60 trường hợp tử vong trong các nước châu
Âu, so với một tổng số toàn bộ 228.921 các trường hợp được xác nhận và
2.084 trường hợp tử vong trên khắp thế giới. Những con số thống kê này
cho thấy rằng châu Âu đã bị một số tương đối nhỏ các trường hợp. Theo
Tổ chức y tế thế giới, các nước ở Bắc và Nam Mỹ đã báo cáo đại đa số các
trường hợp nhiễm trùng và tử vong. Nhưng đây đúng là lúc, các chuyên gia
tin tưởng như thế, các người Âu Châu nên chuẩn bị cho một cuộc bộc phát
lan tràn hơn.
Mô hình toàn bộ của sự lan tràn của virus chỉ rõ rằng “ đại dịch chỉ mới
bắt đầu ở châu Âu ”, Nikki Shindo, một nữ phát ngôn viên về cúm của OMS
đã nói như vậy. Đến 30% dân chúng Anh có thể bị nhiễm trùng trong mùa
cúm đến, theo một nữ phát ngôn viên của Bộ Y Tế Anh. Trong một mùa cúm
bình thường, từ 2 đến 15% dân chúng bị gây nhiễm, bà đã nói như vậy. Cho
đến hôm chủ nhật, nước Anh đã có 12.903 những trường hợp được xác nhận
và 44 trường hợp tử vong được báo cáo, nhiều nhất trong bất cứ nước châu
Âu nào, theo ECDC. Cuối tuần qua, 39 người bị nghi cúm heo được đưa vào
phòng hồi sức ở Anh.
Tháng 8 này, các xét nghiệm đã xác nhận những triệu chứng của virus H1N1,
không có trường hợp nặng, trên 59 sinh viên và 5 cán bộ giảng dạy của
trung tâm ngôn ngữ cho các sinh viên nước ngoài ở Pháp, gần Monaco. Trường
xác nhận rằng đã có những trường hợp cúm heo được xác nhận nhưng từ chối
cho thêm những bình luận.
Những trường ngoại ngữ khác ở Pháp đã áp dụng những biện pháp thận trọng.
Accent Français ở Montpellier, có khoảng 150 sinh viên tuổi 16 hoặc hơn,
từ các nước Đức, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh và Hoa Kỳ, đã dự trù mặt nạ
và yết thị những thông báo về vệ sinh.
Đến hôm chủ nhật, đã có 1.125 các trường hợp cúm heo được xác nhận và
một tử vong được báo cáo ở Pháp, theo E.C.D.C. “ Virus hiện giờ không
có vẻ hung hãn thái quá, Odile Launay, giám đốc của Trung tâm tiêm chủng
học Cochi-Pasteur ở Paris đã nói như vậy, “nhưng nó có thể trở nên độc
lực hơn.” Bà ta nói rằng các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đã ngạc
nhiên về sự xuất hiện liên tục của các trường hợp mới trong suốt mùa hè,
là khi các virus cúm, nói chung, vẫn ít được thấy hơn.
Theo E.C.D.C, Tây Ban Nha đã báo cáo 11 trường hợp tử vong, con số cao
thứ hai trong Liên Hiệp Châu Âu, nhưng đã báo cáo 1.538 các trường hợp
được xác nhận, ít hơn nhiều so với Anh. Đức đã báo cáo 1.493 những trường
hợp được xác nhận, theo ECDC, nhưng không có trường hợp tử vong.Viện Robert
Koch, một cơ quan của Đức phụ trách kiểm tra và ngăn ngừa bệnh tật, mới
đây đã nói rằng số các trường hợp đã gia tăng đều đặn, với nhiều trường
hợp có nguồn gốc bản xứ hơn là từ các công dân trở về từ những chuyến
du lịch ra nước ngoài.
OMS đã nói rằng khoảng 1/3 của dân chúng thế giới có thể sẽ bị nhiễm trùng
vào lúc đại dịch được xác lập và có thể được xem như là một virus cúm
mùa (seasonal flu virus), trong vòng hai đến ba năm. Thông thường quá
trình phát triển vaccin cần thời gian lâu, vì vậy giới hữu trách ở châu
Âu đã áp dụng những thủ tục nhanh để có được vaccin càng nhanh càng tốt.
Các công ty dược phẩm như Baxter, GlaxoSmithKline và Novartis đang thích
ứng những vaccin hiện có với giống gốc H1N1, theo European Medicines Agency
ở Luân Đôn. GlaxoSmithKline và Sanofi Pasteur cũng đang phát triển những
vaccin khác “ trên một cơ sở gia tốc ”, cơ quan đã nói như vậy.
Vấn đề cấp bách nhất hiện nay mà các chỉnh phủ đang đương đầu là chọn
những nhóm có nguy cơ nhất trong các nước của họ để các tiêm chủng được
thực hiện ưu tiên một cách đúng đắn một khi khi chúng trở nên được phổ
biến rộng rãi.
“ Sẽ có những quyết định rất phức tạp phải được thực hiện, BS Shinto của
OMS đã nói như vậy. “ Không một nước nào sẽ có một cách đúng lúc những
lượng vaccin được yêu cầu.”
Bà đã nói rằng bà hy vọng virus sẽ theo một mô hình giống với mô hình
của một cúm mùa bình thường, hơn là tiếp tục theo một mô hình được thấy
trong vài tháng qua, trong đó những người trưởng thành trẻ, tuổi từ 17
đến 19, là nhóm tuổi thông thường nhất bị bệnh bởi virus.
Có thể có “ một bức tranh hoàn toàn khác với bức tranh mà chúng ta đã
thấy trong làn sóng đầu tiên ”, BS Shinto đã nói như vậy. Bà nói thêm
rằng virus có thể lan tràn với số lượng lớn hơn nơi những thành viên ít
hoạt động hơn của nhóm dân chúng như những người già, những trẻ em nhỏ
tuổi và các phụ nữ có thai.
Quan điểm của BS Shinto phản ánh rộng rãi các kế hoạch của chính phủ Anh,
được phát họa hôm thứ năm, đặt ưu tiên tiêm chủng cho khoảng 5 triệu người
ở Anh, lớn hơn 6 tháng và dưới 65 tuổi, là những đối tượng dễ bị thương
tổn hơn đối với cúm mùa do những tình trạng bệnh như bệnh tim và bệnh
đái đường. Hai triệu nhân viên y tế cũng sẽ nằm trong danh sách ưu tiên.
Bộ trưởng y tế Pháp, Roselyne Bachelot, vào cuối tháng 7 đã nói rằng ưu
tiên sẽ dành cho các viên chức cao cấp chính phủ và cho những người tiếp
xúc nhất với virus qua công việc, như các nhân viên y tế và những người
tiếp xúc với trẻ em. Ở Pháp và ở Anh, các phụ nữ có thai và những người
có hệ miễn dịch suy yếu cũng sẽ nhận ưu tiên. Nhưng cả hai chính phủ Anh
và Pháp sẽ không thực hiện một chương trình tiêm chủng tổng quát đối với
các trẻ ở lứa tuổi học đường.
Mario Vaillo de Mingo, một phát ngôn viên của Bộ y tế Tây Ban Nha, đã
nói hôm thứ hai rằng chính phủ của ông đã gởi đơn đặt hàng 57 triệu liều
vaccin từ những công ty dược phẩm Novartis và GlaxoSmithKline, và sẽ chuẩn
bị tiêm chủng cho 40% dân chúng. Ông nói rằng kế hoạch của Tây Ban Nha
cũng đã dự kiến tiêm chủng cho tất cả các trẻ đến tuổi 14 nếu cần. (INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 18/8/2009)
2/ CÚM A (H1N) : NHỮNG GIAI ĐOẠN
CỦA CUỘC CHẠY ĐUA VACCIN.
Chúng ta sẽ có một sự bảo vệ hiệu quả chống virus cúm mới vào mùa thu
này hay không ? Các thử nghiệm đang được tiến hành. Sự hiệu chính các
vaccin đặc hiệu chống lại virus cúm mới A (H1N1) là một cuộc chạy đua
với thời gian : căn bệnh đã lan truyền trong 170 nước, với một sự gia
tăng các trường hợp, đặc biệt ở Nam bán cầu. Những cuộc chạy đua này sẽ
được đánh dấu bởi những giai đoạn cần thiết, mà thời gian không thu giảm
được, để đảm bảo khả năng của vaccin gây nên một đáp ứng có hiệu quả của
hệ miễn dịch, cũng như để phát hiện những tác dụng phụ có thể xảy ra.
Hỏi : Ai chế tạo những vaccin
mới ?
Đáp : OMS kiểm kê được khoảng 20 nhà công nghiệp có giấy phép đưa ra thị
trường đối với một vaccin chống cúm mùa (vaccin antigrippal saisonnier).
3 phòng bào chế chi phối sự sản xuất vaccin trên thế giới : GlaxoSmithKline
(GSK) của Anh, Novartis của Thụy Sĩ và Sanofi Pasteur của Pháp.
Hỏi : Việc hiệu chính hiện
đang đến đâu rồi ?
Đáp : Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên với các vaccin thí nghiệm đã
bắt đầu. BS Marie-Paule Kieny, nữ giám đốc của Initiative pour la recherche
vaccinale của OMS, kiểm kê được “ 7 nhà chế tạo đã bắt đầu những thử nghiệm
lâm sàng ”, đang được tiến hành “ trong ít nhất 5 nước : Trung Quốc, Úc
Đại Lợi, Vương Quốc Anh, Đức và Hoa Kỳ ”.
Thử nghiệm tại châu Âu của Sanofi Pasteur (sẽ diễn ra ở Pháp và Phần Lan)
sẽ khởi đầu trong các tuần tới, Benoit Rungeard, giám đốc thông báo sản
phẩm của hãng đã chỉ rõ như vậy. Thử nghiệm tại Hoa Kỳ của Sanofi Pasteur
đã đang được tiến hành. Cũng vậy, phòng bào chế GSK sẽ tiến hành thử nghiệm
châu Âu trong nhiều nước, “ đặc biệt ở Đức, Tây Ban Nha, Bỉ và Pháp ”,
BS Soizic Courcier, diecteur médical của GSK đã xác nhận như thế.
Hỏi : Những thử nghiệm này
có mục đích gì ?
Đáp : Những thử nghiệm này là cần thiết để xác định liều lượng tối ưu
phải tiêm để gây nên một đáp ứng hiệu quả của hệ miễn dịch chống virus.
Chúng sẽ cho phép đánh giá sự cần thiết hay không liên kết một chất hỗ
trợ (adjuvant), nhằm tăng cường tính hiệu quả của vaccin. Sau cùng những
thử nghiệm này sẽ cho phép xác định xem một liều duy nhất là đủ hay phải
tiêm hai liều. Vấn đề này là căn bản bởi vì, đối với cùng một số lượng
vaccin được sản xuất, số người sẽ có thể được tiêm chủng khi đó thay đổi
từ liều đơn hay liều kép.
Hỏi : Các vaccin được chế
tạo như thế nào ?
Đáp : Tất cả các hãng bào chế sản xuất từ cùng giống gốc virus, được gởi
vào hồi cuối tháng năm bởi những trung tâm công tác của OMS. Những trung
tâm này cũng đã gởi những thuốc thử dùng trắc nghiệm tính hiệu quả của
vaccin. Chúng được sản xuất từ các protéine bề mặt của virus (mà những
chữ đầu là H và N) và từ một giống gốc virus cúm được làm vô hại. Do đó
“ virus thuốc chủng ” (virus vaccinal) này là một hybride không sinh bệnh,
mang những kháng nguyên đặc hiệu của giống gốc A (H1N1) mà người ta muốn
gây miễn dịch chống lại nó. Sự cấy thường được thực hiện trên lòng trắng
trứng gà, nhưng cũng trên các tế bào.
Hỏi : Người ta có chắc chắn
là các thuốc chủng sẽ có hiệu quả khi cần đến không ?
Đáp : Nếu virus A (H1N1) biến dị nhiều vào mùa thu tới, thì tính hiệu
quả của các vaccin có thể bị xét lại. Hiện nay, những biến dị như thế
đã không được quan sát thấy.
Hỏi : Sự an toàn của các
vaccin được đánh giá như thế nào ?
Đáp : Cũng như mọi thử nghiệm với các sản phẩm y tế, các nghiên cứu được
kiểm tra nghiêm ngặt (ủy ban éthique, sự cần thiết của một sự thoả thuận
được soi sáng...). Phòng bào chế sẽ nhờ đến một thầy thuốc, trong một
bệnh viện hay một trung tâm tiêm chủng. Người thầy thuốc này sẽ là người
thăm dò (investigateur) chính, BS Courcier đã giải thích như vậy. Chính
trách nhiệm của người thầy thuốc này là tuyển mộ những người tình nguyện,
tiến hành thử nghiệm và thu thập các dữ kiện. Số người tham dự (khoảng
1.500 đến 2.000 người) không luôn luôn cho phép phát hiện những tác dụng
phụ hiếm hoi. Một theo dõi được dự kiến vào lúc các chiến dịch tiêm chủng.
Hỏi : Ai tham dự vào những
thử nghiệm lâm sàng và trong những điều kiện nào ?
Đáp : Đó là những người tình nguyện lành mạnh, đã được đăng ký trên các
hồ sơ của những trung tâm thực hiện những thử nghiệm lâm sàng hay được
tuyển mộ theo nhu cầu. Ở Pháp, tiền thù lao của một người tham dự những
thử nghiệm lâm sàng không thể vượt quá 4.500 euro mỗi năm. Những thử nghiệm
của Sanofi Pasteur được tiến hành trên 3 nhóm tuổi (không có thù lao,
với sự thoả thuận của bố mẹ), những người trưởng thành và những người
già.
Hỏi : Trong những thời hạn
nào các thuốc chủng sẽ có để sử dụng ?
Đáp : Theo OMS, một khi một giống gốc mới của virus cúm đại dịch đã được
xác nhận, phải cần 5 đến 6 tháng trước khi một vaccin, đã nhận giấy phép
đưa ra thị trường, được giao hàng. Sự điều chế và sự kiểm tra giống gốc
được sử dụng cho vaccin cần đến hai tháng. Sự chế tạo và sự kiểm tra chất
lượng của những lô đầu tiên, dành cho những thử nghiệm lâm sàng, cần 9
tuần. Những thử nghiệm lâm sàng cần ít nhất 4 tuần. Tiếp theo là thời
hạn để xin giấy phép, mà thời gian thay đổi tùy theo cấp điều hòa xem
đó là một vaccin mới hay là một sự thay đổi giống gốc đối với một vaccin
đã được cho phép. Ngoài ra, trong khung cảnh chuẩn bị vaccin chống virus
cúm gà H5N1, các phòng bào chế đã cho đăng ký các “prototypes”, điều này
làm tăng nhanh thủ tục xin phép.
Dẫu sao, Sanofi Pasteur nghĩ là sẽ có được những kết quả đầu tiên của
những thử nghiệm lâm sàng trong vòng tháng mười. Sự sản xuất sau đó sẽ
bắt đầu, không phải chờ đợi sự cho phép sau cùng đưa thuốc ra thị trường.
Những nhà chế tạo khác có thể đi nhanh hơn : vào đầu tháng tám, bộ trưởng
y tế Pháp Roselyne Bachelot đã tuyên bố là muốn tiêm chủng bắt đầu vào
cuối tháng chín. (LE MONDE 16/8-17/8/2009)
3/ MỘT VIRUS BIẾN DỊ TÊN GỌI LÀ
LAZARE.
Một sự thất thoát từ phòng thí nghiệm có thể đã làm tái xuất hiện virus
cúm Tây ban Nha. Một tổ tiên của H1N1, chịu trách nhiệm đại dịch hiện
nay.
Và nếu như cúm đã được gây nên do một sai lầm của con người ? Điều đó
có thể giống với một trong những lý thuyết đồng mưu (théorie conspirationniste)
đang nảy nở trên Internet. Và tuy vậy, giả thuyết này không có gì là kỳ
cục : theo một công trình nghiên cứu được công bố ngày 16 tháng sáu trong
tạp chí rất đứng đắn New England Journal of Medicine, virus chịu trách
nhiệm dịch cúm hiện nay phát xuất từ một giống gốc của cúm Tây Ban Nha
năm 1918, được thả ra trong thiên nhiên sau một tai nạn phòng thí nghiệm,
xảy ra trong những năm 1970. Các nhà nghiên cứu của đại học Pittsburgh
(Pensylvanie) đã thực hiện một cuộc điều tra cảnh sát thật sự để đi đến
kết luận này, bằng cách tái tạo lịch sử của virus từ một thế kỷ, xuyên
qua các biến dị và tái phối hợp của bộ gène của nó. Một giống gốc xứng
đáng với tên gọi Lazare, bởi vì nó không ngừng biến mất rồi tái xuất hiện.
Sau khi đã gây nên 50 triệu nạn nhân vào đầu thế kỷ XX, virus H1N1 đã
tiếp tục lưu hành có tính cách dịch địa phương (endémie) cho đến năm 1957,
rồi im đi hoàn toàn, được thay thế bởi những giống gốc cúm mùa khác. Không
còn ai nghe nói nữa về nó trong 20 năm, cho đến khi một bệnh dịch kỳ lạ
khởi phát vào tháng giêng năm 1976, trong số các binh sĩ của một căn cứ
quân sự Mỹ, ở Fort Dix (New Jersey) : 230 quân nhân ngã bệnh, một trong
số này tử vong. Các phân tích cho thấy rằng đó là một loại H1N1 mới, phát
xuất từ một giống gốc của sốt heo (fièvre porcine), lưu hành một cách
dịch địa phương trong những trại chăn nuôi của vùng. Chính phủ của Gerald
Ford hoảng hồn và phát động một chiến dịch tiêm chủng : 40 triệu người
Mỹ nhận các mũi tiêm, nhưng 532 người phát triển một hội chứng Guillain
Barré, một bệnh tự miễn dịch gây nên do những tác dụng phụ của vaccin,
và 32 người chết vì biến chứng này. Chiến dịch được quyết định vội vàng
là một tai họa vô ích : giống gốc thì ra ít độc lực hơn một cúm mùa và
nó không có vẻ lan tràn ra ngoài căn cứ quân sự của New Jersey.
Tuy vậy, vài tháng sau đó, vào tháng 1/1977, một bệnh dịch cúm khác xảy
ra ở Liên Sô, Hồng kông và miền bắc Trung Quốc. Ngạc nhiên : đó lại là
virus H1N1, khác với virus H1N1 của căn cứ quân sự Mỹ ở Fort Dix, nhưng
rất gần với H1N1 của đại dịch toàn cầu 1918, mà người ta tin là đã được
dập tắt ! Những bệnh dịch gây nên bởi các virus tương tự nhau đến độ đó
chỉ có thể là một giống gốc từng đuợc bảo quản trong một máy đông lạnh.
Những virus được đông lạnh này có lẽ đã không hoạt động trong suốt hai
thập niên. “ Chúng tôi không thể nhận diện thủ phạm, nhưng sự tái xuất
hiện của H1N1 trong năm 1977 dường như được gây nên bởi con người ”, Shanta
Zimmer, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận
như vậy. Từ thời điểm này (1977), virus đã không ngừng lưu hành, dưới
rất nhiều biến thể, động vật hay người. Gần một nửa bộ gène của giống
gốc 2009 bao gồm những phần tử của cúm Tây Bạn Nha nổi tiếng của cuối
Đệ Nhất Thế Chiến. Ai có thể đã đưa nó lưu hành trở lại ? Các mối nghi
ngờ hướng về phía Nga hay Trung Quốc, là nơi đại dịch 1977 đã khởi phát,
nhưng các giới hữu trách y tế của hai nước này cực lực đính chính. Các
người Mỹ cũng có thể có phần trách nhiệm. Bệnh dịch Fort Dix đã gây nên
một nỗi hoảng sợ, trong nhiều tháng trời đã chiếm các trang đầu của các
tờ báo bên kia Đại Tây Dương. Biến cố đã lôi kéo sự chú ý của các nhà
dịch tễ học trên toàn thế giới và đã gây nên một làn sóng nghiên cứu khoa
học về H1N1, thúc đẩy các nhà sinh học mở hộp Pandore, bằng cách mang
ra trở lại các mẫu nghiệm của giống gốc năm 1918, vốn được bảo quản trong
các máy lạnh của phòng thí nghiệm. (EXPRESS 20-26/8/2009)
4/ TẠI SAO VÀI NGƯỜI LÀ NHỮNG NGƯỜI
DẬY SỚM.
NEUROLOGIE. Một biến dạng di truyền (mutation génétique) hiếm giải thích
rằng vài người chỉ cần ngủ 4 đến 6 giờ.
Đại đa số cần ngủ 8 giờ mỗi đêm. Một số nhỏ, không uống cà phê lẫn các
chất kích thích, chỉ ngủ 6 thậm chí 4 giờ mỗi đêm. Những người này, ngủ
vào lúc 22 giờ và thức dậy, tươi mát như một đóa hoa hồng vào 4 giờ sáng
và bắt đầu làm việc, trong khi những người đồng loại vẫn còn nằm trên
giường, say sưa trong một giấc ngủ không kìm hãm được. Những người dậy
sớm (lève-tôt) này, làm thèm muốn những người không hài lòng rằng ngày
của họ không đủ dài để có thể hoàn thành các dự án, thật ra là những người
có các gène biến dị (mutants). Họ có một sự biến dị lên một gène (DE2),
mà những người khác không có.
Nhóm của các chuyên gia thần kinh, được lãnh đạo bởi Ying Hui-fu, thuộc
đại học Californie ở San Francisco, có một con chủ bài lớn trong nghiên
cứu : ngân hàng ADN của 60 gia đình người Mỹ có những rối loạn về giấc
ngủ, đã chấp nhận cho họ một mẫu nghiệm máu. Thật vậy vào năm 2001 và
2005, các nhà nghiên cứu California đã nổi danh do nhận diện một sự biến
dị trên một gène (Per2), can thiệp trong những chu kỳ của giấc ngủ, nguồn
gốc của một rối loạn rất đặc biệt : hội chứng gia đình giai đoạn giấc
ngủ tiến triển (Syndrome familial de phase de sommeil avancé, tiếng Anh
là FASPS). Những người bị bệnh này có một thời gian ngủ 8 giờ giống hệt
với thời gian trung bình của con người, nhưng giấc ngủ này hoàn toàn bị
xê xích trong thời gian. Thật vậy, những bệnh nhân này ngủ vào khoảng
18 giờ hay 19 giờ và thức dậy lúc 3 giờ hay 4 giờ sáng, khi mọi người
đang còn ngủ. Từ lúc có được khám phá này, các nhà nghiên cứu khai thác
các dữ kiện ADN mà họ có được. Công trình của họ tiến từng bước nhỏ, nhưng
tiến triển. Chính như thế mà họ vừa nhận diện được một sự biến dị trên
một gène (DEC2) nơi một bà mẹ và đứa con gái chỉ cần ngủ 6 giờ mỗi ngày.
Thế mà sự biến dị này không xảy ra nơi 5 thành viên khác của cùng gia
đình ; những người này như đại đa số dân chúng cần ngủ 8 giờ mỗi ngày.
Gène DEC2 can thiệp trong nhịp sinh học (rythme circadien), điều hòa sự
phân chia tế bào, can thiệp vào lúc ngủ và oxygénation.
MỘT HỆ THỐNG PHỨC TẠP.
Sự biến dị được khám phá bởi Ying Hui-fu và nhóm nghiên cứu của ông rất
là hiếm. Họ đã chỉ tìm thấy điều đó trong ADN của hơn 250 người mà họ
đã phân tích vào dịp này. Tuy vậy họ đã có thể kiểm tra tính hiệu quả
của nó lúc đưa vào gène bị biến dị (gène muté) nơi các con chuột chuyển
di truyền (souris transgénique), mô hình động vật tốt nhất để nghiên cứu
giấc ngủ. Họ đã quan sát thấy rằng các con chuột bị biến đổi này ngủ ít
hơn và cần hồi sức ít hơn lúc chúng bị làm mất ngủ. Cũng vậy nơi các drosophiles
bị biến đổi về mặt di truyền.
“ Câu hỏi muốn biết người ta cần ngủ bao nhiêu không những chỉ có lợi
ích thực tiễn mà nó còn giúp chúng ta hiểu tốt hơn giấc ngủ vận hành như
thế nào ”, Mehdi Tafti thuộc đại học Lausane đã phân tích như vậy. Thật
vậy, giấc ngủ là một hệ thống phức tạp mà các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa
hiểu được. Đặc biệt họ có nhiều khó khăn trong việc làm sáng tỏ những
mối tương tác giữ các nhịp sinh học (rythme circadien), con lắc (balancier)
thức (veille) và ngủ (sommeil) (homéostasie: hằng nội môi), môi trường
và các gène mà ngày nay người ta còn đo lường vai trò chủ chốt. (LE
FIGARO 17/8/2009)
5/ “ ĐỒNG HỒ SINH HỌC CHỐNG LẠI
GIẤC NGỦ ”.
COGNITION. Những người ngủ muộn (couche-tard) vẫn tỉnh táo lâu hơn những
người ngủ sớm (lève-tôt), một công trình nghiên cứu chụp hình ảnh não
bộ tiết lộ như vậy. Lúc thực hiện như thế, công trình này chứng minh vai
trò chủ chốt của đồng hồ sinh học (horloge circadien) trong sự đề kháng
của chúng ta chống lại giấc ngủ.
Hỏi : Sự cảnh giác (vigilance)
của chúng ta tiến triển trong ngày. Tại sao ?
Pierre Maquet : Chúng ta biết rằng hiện tượng này liên kết với hai yếu
tố, đồng hồ sinh học nội tại (horloge circadien interne), mà trung tâm
là một nhân nhỏ nằm trong vùng dưới đồi (hypothalamus) ở trung tâm não
bộ, và nội hằng định (homéostasie) hay áp lực ngủ (pression de sommeil),
nghĩa là nhu cầu ngủ gia tăng với thời gian trôi qua trong ngày. Nhưng
người ta không biết hai yếu tổ này tương tác với nhau như thế nào. Chúng
tôi đã muốn hiểu điều đó bằng cách nhờ đến chụp hình ảnh não bộ (imagerie
cérébrale).
Hỏi : Ông đã tiến hành như
thế nào ?
Pierre Maquet : Chúng tôi đã quyết định nghiên cứu hiện tượng này nơi
những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt) (ngày mẫu : 5 giờ –20 giờ)
và những người ngủ rất trễ (extrêmes couche-tard) (11 giờ-2 giờ) bởi vì
những yếu tố đồng hồ sinh học (circadien) và nội hằng định (homéostasie)
rất khác nhau nơi hai loại người này. Chúng tôi đã thực hiện hai buổi
chụp hình ảnh bằng résonance fonctionnelle với họ, một vào buổi sáng,
1 giờ 30 sau khi thức dậy và một vào buổi chiều, 10 giờ 30 sau khi thức
dậy, trong suốt những thời gian này họ phải thực hiện một công tác rất
đơn giản được gọi là thời gian phản ứng (temps de réaction) : nhìn một
đồng hồ bấm giờ (chronomètre) được điều chỉnh ở mức zero và làm dừng lại
ngay khi đồng hồ khởi động. Chúng tôi muốn phân biệt giữa những đáp ứng
não bộ của chúng, chịu trách nhiệm thời gian phản ứng trung bình và nhanh.
Hỏi : Ông đã nhận thấy gì
?
Pierre Maquet : Không có một sự khác nhau nào giữa hai nhóm vào buổi sáng.
Ngược lại vào buổi tối, những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt), để
duy trì một hiệu nang trung bình, hoạt hóa vùng đồi thị (thalamus), một
vùng thường được kích thích nơi những người bình thường, khi họ bị thiếu
ngủ. Những người ngủ muộn (couche-tard) không cần điều đó. Ngoài ra, những
người ngủ muộn đã thành công phản ứng nhanh bằng cách hoạt hóa đồng hồ
sinh học nơi não bộ, điều mà những người dậy sớm không thực hiện được.
Nói một cách khác, sau một ngày 10 giờ 30 , những người ngủ muộn thức
tỉnh hơn những người ngủ sớm, và họ cưỡng lại tốt hơn áp lực ngủ nhờ đồng
hồ sinh học của họ.
Hỏi : Chúng
ta có thể kết luận điều gì ?
Pierre Maquet : Chúng ta phải tôn trọng nhịp sinh học (rythme biologique)
của chúng ta : để làm việc buổi tối, một người dậy sớm sẽ rút từ kho dự
trữ của mình trong khi một người ngủ muộn sẽ được giúp đỡ bởi đồng hồ
sinh học (horloge circadienne) của họ. (LA RECHERCHE
7-8/2009)
6/ MỘT ĐIỀU TRỊ CHỐNG LẠI CÁC TAI
BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Bằng cách phối hợp hai kỹ thuật, thần kinh học can thiệp (neurologie interventionnelle)
tỏ ra rất hiệu quả chống lại những tai biến mạch máu não. Một thủ thuật
mới điều trị cấp cứu các tai biến mạch máu não vừa được hiệu chính ở bệnh
viện Bichat. Được tiến hành phối hợp với Samu, lính cứu hỏa và các trung
tâm tiếp nhận thần kinh-mạch máu (centre d’accueil neurovasculaire) (có
8 trung tâm ở nội thành Paris), thủ thuật mới này tỏ ra quyết định trong
việc khai thông và tái thông dòng (recanaliser) động mạch hay các động
mạch não bị bít tắc bởi một cục máu đông và cải thiện một cách đáng kể
tỷ lệ sinh tồn. Hiện nay, đó chỉ là một kinh nghiệm nghiên cứu lâm sàng,
chỉ được tiến hành trong bệnh viện này, và trên vài chục bệnh nhân. Công
trình nghiên cứu Recanalise, được lãnh đạo bởi G.S Pierre Amarenco ở trung
tâm tiếp đón và và điều trị tai biến mạch máu não (centre d’accueil et
de traitement de l’attaque cérébrale) của bệnh viện Bichat, vừa được công
bố bởi tạp chí The Lancet.
Trên 150.000 các tai biến mạch máu não (AVC) xảy ra mỗi năm ở Pháp, 30.000
xảy ra nơi những người dưới 50 tuổi. Một sự yếu vận động đột ngột hay
một sự bại liệt bán thân, một rối loạn đột ngột vận ngôn, một sự chóng
mặt, rối loạn thị giác, một sự tê cóng của một phần của cơ thể phải được
thăm khám tức thời, bởi vì đó là một cấp cứu tuyệt đối (urgence absolue).
Từ 15 năm nay, điều trị chuẩn được công nhận bởi Afssaps (Agence française
de sécurité sanitaire des produits da santé), đối với những bệnh nhân
có một tai biến mạch máu não do tắc nghẽn một động mạch não, là một điều
trị tĩnh mạch (traitement intraveineux), căn cứ trên một thuốc enzyme,
RTPA (activateur de plasminogène tissulaire), làm tan cục máu đông. Điều
trị này chữa lành bệnh nhân trong 40% các trường hợp nhưng chỉ với điều
kiện thuốc được tiêm duới 3 giờ sau những triệu chứng đầu tiên. Và RTPA
chỉ khai thông động mạch bị bít tắc của não bộ trong 25 đến 60% các trường
hợp (và 30% các bệnh nhân có động mạch bị bịt tắc trở lại).
Có một phương cách khác : đưa thuốc trực tiếp vào tiếp xúc với cục máu
đông (caillot) : đầu mút của một cathéter nhỏ xíu được đưa lên qua động
mạch đùi, động mạch chậu, động mạch chủ, và động mạch cảnh. RTPA được
tiêm lúc tiếp xúc với cục máu đông (kissing the clot). Được thực hiện
trong 6 giờ, kỹ thuật này cho phép khai thông động mạch trong 60 đến 70
% các trường hợp.
ĐƯỢC TIÊM TIẾP XÚC VỚI CỤC MÁU ĐÔNG.
Sau cùng, các thầy thuốc đã tưởng tượng ra (và sử dụng một cách thí nghiệm)
các dây thòng lọng (lasso), các rổ (panier) hay các mở nút chai (tire-bouchons)
bé xíu, được đưa vào đầu của các cathéter để lấy cục máu đông đi một cách
cơ học.
Công trình nghiên cứu Renalise phối hợp hai phép điều trị : ngay khi chẩn
đoán tai biến mạch máu não được thực hiện bằng hình ảnh ở bệnh viện, RTPA
được tiêm truyền tĩnh mạch. Không để mất thời gian, bệnh nhân được mang
đến salle de cathétérisme. Người ta đưa một ống thông lên trong động mạch
của bệnh nhân và RTPA được tiêm vào lúc cathéter tiếp xúc với cục máu
đông.
Trong thời gian đầu, nhóm nghiên cứu của bệnh viện Bichat đã điều trị
bằng RTPA tiêm tĩnh mạch nơi chỉ 107 bệnh nhân trong số 173 trường hợp
tai biến mạch máu não giữa tháng hai 2002 và tháng tư 2007. Kết quả :
52% các động mạch đã được “ khai thông ”. Rồi giữa tháng năm 2007 và tháng
10 năm 2008, kỹ thuật tiêm trong động mạch (technique intra-artérielle)
đã được thêm vào cho 53 bệnh nhân trong số 122 người bệnh được đưa vào
trong nhóm này : sự khai thông trở lại đã có hiệu quả trong 87% các trường
hợp. Tác động lên số trường hợp được chữa lành là quan trọng: 60% các
bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới đã thấy các triệu chứng được
cải thiện hay biến mất, so với 39% các bệnh nhân được điều trị bằng đường
tĩnh mạch quy ước.
Động mạch được khai thông càng nhanh thì kết quả càng tốt : nếu can thiệp
xảy ra dưới 3 giờ 30 sau khởi đầu của các triệu chứng tai biến mạch máu
não, 93% các bệnh nhân được chữa lành tức thời và vẫn như vậy sau 3 tháng
theo dõi. Chỉ có vấn đề là cuộc chạy đua với thời gian này sẽ tốn kém
về mặt nhân lực và sự vận hành chức năng của các khoa cấp cứu thần kinh-mạch
máu (urgences neurovasculaires), được huy động đồng thời với các thầy
thuốc chuyên khoa thần kinh quang tuyến (neuroradiologie). (LE
FIGARO 21/8/2009)
7/ HẦU HẾT CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU
NÃO (AVC) TÁI PHÁT XẢY RA TRONG 24 GIỜ SAU MỘT TAI BIẾN THIẾU MÁU NÃO
CỤC BỘ TẠM THỜI (AIT).
Gần một nửa các tai biến mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral),
xảy ra trong 7 ngày sau một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT :
accident ischémique transitoire), được khởi phát trong 24 giờ đầu. Chính
vì thế việc đánh giá những bệnh nhân này phải được xem như là vô cùng
khẩn cấp (extrêmement urgent) chứ không chỉ đơn thuần là nhanh chóng.
Đó là điều mà các nhà nghiên cứu người Anh đã giải thích trong Neurology.
Vài khuyến nghị mới đây khuyên đánh giá các bệnh nhân bị một tai biến
thiếu máu não cục bộ tạm thời (AIT : accident ischémique transitoire)
hay một thiếu máu não cục bộ tạm thời (ischémie cérébrale transitoire)
trong vòng 24 giờ, nhưng người ta không biết bao nhiêu tai biến mạch máu
não tái phát xảy ra trong những giờ đầu này, cũng như không biết điểm
số ABCD2 có xác định một cách đáng tin cậy các tái phát trong giai đoạn
này hay không.
Peter Rothwell và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên
cứu về các tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời (AIT) và các tai biến
mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral) (Oxford Vascular Study).
Họ đã xác định nguy cơ tai biến mạch máu não tái phát vào lúc 6, 12 và
24 giờ, được định nghĩa như là sự xuất hiện đột ngột những triệu chứng
thần kinh sau một hồi phục ban đầu.
Trong số 1.247 bệnh nhân đầu tiên bị AIT hay AVC, 35 bệnh nhân đã bị những
tai biến mạch máu não tái phát trong 24 giờ, tất cả trong cùng vùng chi
phối bởi động mạch. Những nguy cơ AVC vào lúc 6, 12 và 24 giờ sau 488
AIT đầu tiên là 1,2%, với 42% các AVC trong 30 ngày sau một AIT xảy ra
trong 24 giờ đầu. Nguy cơ vào lúc 12 và 24 giờ được liên kết mạnh với
điểm số ABCD2. Vài trong số các bệnh nhân đã tham gia một thử nghiệm đánh
giá cấp cứu sau một AIT và ngay những người đã hướng một đánh giá tương
đối cấp cứu đã bị những đợt mới trước đánh giá này. Đối với các tác giả,
sự kiện khoảng một nửa các AVC tái phát trong 7 ngày sau một AIT xảy ra
trong 24 giờ đầu nhấn mạnh sự cần thiết một đánh giá cấp cứu. Các chuyên
gia nhấn mạnh, và rất đúng : sau một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời
(AIT), bệnh nhân phải được nhập viện càng nhanh càng tốt, để cho phép
tìm kiếm và điều trị những yếu tố nguy cơ có can dự trong trường hợp của
mỗi cá thể.
Những khuyến nghị hiện nay xác lập rằng một tai biến thiếu máu cục bộ
tạm thời (AIT) phải được thăm dò bởi một thầy thuốc chuyên khoa trong
vòng 24 giờ. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng 64% các bệnh nhân đã
bị một cơn mới trong 24 giờ sau AIT, đã thăm khám thầy thuốc trước cơn
mới này. Nhưng không có bệnh nhân nào đã được cho aspirine. Thật vậy,
tất cả những nạn nhân của AIT phải nhận aspirine và phải được thăm dò
càng nhanh càng tốt. Trong mục đích xác định mức độ cấp cứu của sự thăm
dò cần được thực hiện, một algorithme căn cứ trên thang ABCD2 được xác
lập. Người ta xét đến tuổi trên 60 (1 điểm), cao huyết áp tâm thu (1 điểm),
cao huyết áp tâm trương (1 điểm), liệt nhẹ một bên (2 điểm) hay rối loạn
lời nói không do vận động (1 điểm), các triệu chứng kéo dài dưới 60 phút
(1 điểm), và bệnh đái đường (1 điểm). Một thầy thuốc chuyên khoa phải
nhất thiết được hội chẩn trong 24 giờ khi điểm số > hoặc = 4, một thời
hạn tối đa một tuần có thể dành cho những trường hợp khác. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 9/6/2009) (LE GENERALISTE 25/6/2008)
8/ BỆNH LAO ĐỀ KHÁNG THUỐC ĐANG
THẮNG THẾ.
Các nhà nghiên cứu từng hy vọng rằng các vị khuẩn lao kháng thuốc ít lay
truyền hơn. Nhưng không phải như vậy. Tin xấu trên mặt trận chống lao,
bệnh giết chết mỗi năm khoảng 1,6 triệu người trên thế giới. Các giống
gốc vi khuẩn của căn bệnh hô hấp này càng lúc càng tỏ ra có khả năng đề
kháng đối với các kháng sinh hiện có và đang thắng thế. Khuynh hướng này
phải chăng là do một sự theo dõi điều trị kém, cho phép các vi khuẩn biến
dị xuất hiện và lấn át các vị khuẩn nhạy cảm với thuốc ? Hay là do khả
năng tự nhiên của các “ siêu vi khuẩn ” mới làm lây nhiễm con người ?
Giả thuyết thứ hai này, khiến giới y khoa lo sợ, dường như được xác nhận
bởi hai công trình nghiên cứu mới đây. Công trình thứ nhất, do một nhóm
nghiên cứu người Úc thực hiện, cho thấy rằng cái giá phải trả của chuyển
hóa không ảnh hưởng lên khả năng của trực khuẩn Koch truyền từ người này
qua người khác. Hy vọng là những giống gốc không đề kháng (souches non
résistantes) sẽ giữ ưu thế trong ổ sinh thái (niche écologique) của chúng,
đó là 2/3 nhân loại bị nhiễm một cách tiềm tàng, ở đó các vi khuẩn yên
ngủ trong lúc chờ đợi chuyển qua tấn công khi hệ phòng thủ miễn dịch bị
suy giảm. Trong trường hợp phát bệnh, các thuốc lúc đó sẽ có hiệu quả.
Tiếc thay, sơ do này dường như bị công kích kịch liệt. Mark Tanaka (đại
học Nouvelle-Galles-du Sud, Kensington, Úc ) và các đồng nghiệp đã phác
họa những mô hình toán học, từ các vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes)
được lấy ở Venezuela (từ năm 1936 được tiếp nhận một kế hoạch có hiệu
quả chống bệnh lao), ở Cuba và ở Estonie, ở đây nhưng cố gắng dự phòng
được thực hiện lẻ tẻ hơn nhiều.
Những mô hình này cho thấy rằng sự thịnh hành của những giống gốc đề kháng
(souches résistantes) phát sinh ở Cu Ba và Estonie không còn do việc cho
thuốc nữa, mà từ nay nó có thể được quy cho sự lan truyền giữa các cá
thể. Tình hình khác với Venezuela, ở đây các giống gốc đề kháng ít có
thời gian hơn để tiến triển và có được, do biến dị, nhưng khả năng lan
truyền tốt hơn. (LE MONDE 17/8/2009)
9/ CÁC THUỐC CHỒNG TRẦM CẢM LÀM
GIA TĂNG NGUY CƠ TỰ TỬ NƠI CÁC NGƯỜI TRẺ TUỔI
Những thanh niên dưới 25 tuổi tiêu thụ các thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs)
có nguy cơ có những ý nghĩ tự tử (pensées suicidaires) hai lần nhiều hơn
những người sử dụng một placebo. Như thế các người trẻ tuổi có cùng nguy
cơ với các thiếu niên và các trẻ em muốn kết liễu cuộc đời.
Tác dụng nổi bật nhất nơi các thiếu niên uống những viên thuốc này nhưng
bị một rối loạn tâm thần khác với bệnh trầm cảm (dépression). Đó là kết
luận của một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được công bố trong tạp
chí y học British Medical Journal.
Công cuộc điều tra đã phân tích 372 công trình nghiên cứu, trong đó 12
loại thuốc chống trầm cảm khác nhau đã được trắc nghiệm. Những người trưởng
thành trên 25 tuổi không còn có nữa những ý nghĩ tự tử và các lão niên
trên 65 tuổi có ít hơn những ý nghĩ này khi họ sử dụng các thuốc chống
trầm cảm.
“ Rõ ràng là các thuốc chống trầm cảm được đặc trưng bởi hiệu năng và
những tác dụng phụ khác nhau ”, giáo sư John Geddes (đại học Oxford) đã
chỉ rõ như vậy. Ông khuyên các thầy thuốc giới hạn việc cho toa các thuốc
chống trầm cảm nơi các người dưới 18 tuổi và khuyến nghị liệu pháp nhận
thức (thérapie cognitive).
Nhà nghiên cứu Marc Stone nói thêm rằng các kết quả của công trình nghiên
cứu bảo vệ ý tưởng cho rằng các thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những
tác dụng độc lập : những tác dụng phụ bao gồm những tư tưởng và hành vi
tự tử và tác dụng bảo vệ làm giảm sự trầm cảm và do đó làm giảm các nguy
cơ tự tử. (LE GENERALISTE 20/8/2009)
10/ CÁI BỤNG BỰ CỦA NGƯỜI UỐNG
BIA : MỘT HUYỀN THOẠI ?
Niềm tin dân gian cho rằng người uống bia mang những dấu hiệu nghiện nơi
chiếc bụng bự của minh. Nhưng có chính xác là việc uống bia xác định một
cách trực tiếp vòng thân (tour de taille) ? Các nhà nghiên cứu người Đức
và Thụy Điển đã nghiên cứu sự liên kết của hai yếu tố này. Trong công
trình nghiên cứu Epic (European Prospective Investigation into Cancer
and Nutrition), được thực hiện ở Potsdam (7.876 đàn ông, 12.749 phụ nữ),
M. Schutze đã ghi nhận việc uống bia vào lúc bắt đầu công trình nghiên
cứu và đã theo dõi tiến triển của vòng thân trong 8,5 năm.
Sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với sự tiến triển của thể trọng và
của vòng háng (tour de hanche), các nhà nghiên cứu đã nhận thấy một sự
liên kết duong tính nơi đàn ông, nhưng không nơi phụ nữ, giữa sự tiêu
thụ bia và vòng thân (tour de taille) vào lúc đầu công trình nghiên cứu.
So với những người uống rất ít, những người đàn ông uống một lít bia mỗi
ngày có thêm 17% nguy cơ thấy vong thân gia tăng.
Đối với các tác giả, uống bia làm gia tăng vòng thân, nhung vòng thân
này liên kết mật thiết với sự lên cân đồng thời nói chung. Kết luận, các
kết quả của công trình nghiên cứu không xác nhận niềm tin dân gian thông
thường cho rằng bia có tác dụng đặc biệt lên bụng. Đối với một vài người,
nếu mỡ bụng tích tụ ở đó, điều này đúng hơn là do sự nhàn rỗi không hoạt
động, vệ sinh ăn uống kém, chứng nghiện thuốc lá... (LE
JOURNAL DU MEDECIN 21/8/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (24/8/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |