 |
Thời
Sự Y Học số 139
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A : KẾ HOẠCH CHO
BUỔI TỰU TRƯỜNG.
Chính các ông tỉnh trưởng sẽ lấy quyết định đóng cửa các cơ sở bị lây
nhiễm bởi đại dịch.
Trong khi bảng tổng kết sau cùng báo cáo 180.000 bệnh nhân và 1.462 người
chết trên thế giới, thì nước Pháp và các trường học chuẩn bị đối đầu với
cúm A (H1N1). Để ngày tựu trường không biến thành cơn ác mộng và để ngày
nhập học không phải là dấu hiệu của sự bành trướng đột ngột của đại dịch,
ông Bộ trưởng Giáo dục quốc gia chuẩn bị và dự kiến “đóng cửa phòng ngừa
tất cả các trường học”, nếu virus cúm trở nên độc lực hơn.
Học thuyết đóng cửa các trường học là một chủ đề nhạy cảm. Vì lẽ các bố
mẹ vừa lo lắng khi thấy con em mình bị lây nhiễm, đồng thời ngập ngừng
khi thấy trường học bị đóng cửa nhiều ngày, thậm chí trong 12 tuần, thời
điểm của đỉnh cao đại dịch. Trong tình trạng hiện nay của virus, không
quá độc lực, sự đóng cửa các trường học bị lây nhiễm trong vòng một tuần
được dự kiến, như điều đó đã được thấy trong tháng sáu. “ Điều đó đã là
hiệu quả ”, Claude Wachtel, chuyên viên về cúm đã đánh giá như vậy. Theo
ông, ở Pháp dịch bệnh ít tiến triển hơn so với Anh, là nơi chính sách
ít hà khắc hơn và những kỳ nghỉ hè xảy ra muộn hơn. Trên thực tế, các
học sinh có thể gây nhiễm ngay cả trước khi các triệu chứng xuất hiện.
Và cúm lan tràn cực kỳ nhanh trong các trẻ em. “ Những trẻ nhỏ là những
ổ chứa virus, Claude Wachtel đã giải thích như vậy. Chúng dễ bị mắc bệnh
hơn, dễ gây nhiễm hơn và lâu hơn những người trưởng thành.”
NHỮNG CÂN NHẮC KINH TẾ.
Sự đóng cửa trường kềm hãm sự lây nhiễm này. Mỗi năm, vào tháng hai, những
kỳ nghỉ học tác động như một coupe-grippe. Số các trường hợp cúm mùa (grippe
saisonnière) giảm 15% trong khi đại dịch được cầm lại. Do đó việc đóng
cửa các trường học có những ưu điểm của nó trong việc quản lý gánh nặng
của các cơ sở y tế, đồng thời cùng lúc tránh cho tất cả các trẻ em khỏi
bị bệnh. Tuy nhiên, trong The Lancet, một nhóm nghiên cứu Pháp-Anh đã
cho thấy rằng sự đóng cửa trường 3 tháng đưa đến tỷ lệ vắng mặt bổ sung
18%, các bố mẹ phải giữ con cái, và một sự thất thu từ 0,2 đến 1% của
PIB.
Tuy nhiên việc quyết định đóng cửa toàn bộ, nếu có tính đến những cân
nhắc kinh tế, sẽ được thúc bách bởi khả năng biến dị của virus, diễn biến
một cách không tiên đoán được. “ Trong trường hợp không có sự can thiệp
y tế, bilan của Pháp có thể được xác lập trong khoảng giữa 9 và 21 triệu
người bệnh, những tử vong giáng vào từ 91.000 đến 212.000 người vào cuối
đại dịch. 500.000 đến 1 triệu người có thể phát triển những biến chứng
cần phải nhập viện, ta có thể đọc được những dữ kiện này trong kế hoạch
quốc gia phòng ngừa và chống đại dịch cúm của SGDN. (LE
FIGARO 12/8/2009)
2/ CÁC TRẺ EM : NHỮNG MỤC TIÊU
ƯU TIÊN CỦA H1N1.
Chính các trẻ em là những đối tượng bị ảnh hưởng nhất bởi cúm A, ở Âu
Châu và trên thế giới. Từ khi xuất hiện vào tháng 4 vừa rồi ở Mexico,
chúng ta biết rằng virus H1N1 của cúm A không tương ứng với sơ đồ cổ điển
của cúm mùa (grippe saisonnière). Thật vậy, cúm mùa chủ yếu gây bệnh cho
người già trong khi cúm A đánh vào nhiều trẻ em mạnh khỏe, tuổi từ 10
đến 19 tuổi. Ở Âu Châu, theo những thống kê của ECDC (European Center
for Disease prevention and Control), lứa tuổi này là bị ảnh hưởng nhất
với gần 35% các trường hợp không nhập viện và đứng hàng thứ hai đối với
các trường hợp được nhập viện với 25%, sau lứa tuổi 20-29. Những công
trình nghiên cứu được thực hiện ở Hoa Kỳ, Canada, Chili, Nhật Bản, Anh
đều chứng tỏ như vậy.
OMS hiện nay đang thiết lập profil dịch tễ của những nhóm dân nguy cơ
của đại dịch cúm. Chúng ta sẽ xem các trẻ em có thuộc vào trong các nhóm
nguy cơ hay không. Tuy nhiên chúng ta có thể nghĩ như vậy, bởi vì, dầu
cho cúm A ít nghiêm trọng chăng nữa, các trẻ nhỏ vẫn mẫn cảm đối với cúm
và có thể có những biến chứng như co giật hay viêm tai. Tuy nhiên, hiện
nay, cơ quan OMS có căn cứ ở Genève, cho rằng các nhân viên y tế sẽ phải
được chủng ngừa ưu tiên để không làm xáo trộn các tổ chức y tế.
NGHIÊN CỨU CỦA ANH
Ở phòng liên lạc của OMS, người ta nhấn mạnh rằng, dẫu sao, chính mỗi
nước sẽ lấy những biện pháp thích ứng. Chiến lược này được giải thích
vì những lý do cầm quyền, nhưng cũng bởi vì mức độ nghiêm trọng của cúm
A thay đổi nhiều từ nước này qua nước khác.
Trong lúc chờ đợi vaccin (còn sẽ phải chờ nhiều tuần) và những quyết định
của các chính quyền quốc gia, các bố mẹ quan tâm nhận được thông tin.
Hôm kia, người ta đã nói nhiều về một công trình nghiên cứu của Anh, được
công bố trong British Medical Journal, cho rằng các trẻ em bị cúm A không
được điều trị bằng Tamiflu. Hôm qua, Cơ quan Afssaps đã giải thích trong
một thông báo rằng lời khuyến nghị này không áp dụng ở Pháp, ở đây Tamiflu
phải được kê toa, nhưng ở Anh, là nơi chẩn đoán được thực hiện bằng điện
thoại, các trẻ em không bị cúm cũng có thể sử dụng loại thuốc này. (LE
FIGARO 12/8/2009)
3/ CÁC BỆNH THOÁI HÓA THẦN KINH
: HY VỌNG CỦA ĐA LIỆU PHÁP (PLEOTHERAPIE)
G.S Daniel Cohen, nhà khám phá bộ gène (génome) người, giải thích chiến
lược điều trị mới này, nhằm đồng thời nhiều tác nhân chịu trách nhiệm
của bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative).
Hỏi : Đa liệu pháp (pléothérapie) là gì ?
G.S Daniel Cohen : Phương pháp mới này nhằm điều trị các bệnh nhân theo
3 nguyên tắc. 1. Sử dụng những hỗn hợp thuốc. 2. Các thuốc đã phải được
thương mãi hóa (được chấp thuận bởi chánh quyền y tế). 3. Sự hiệu chính
cocktail thuốc được thực hiện với những liều lượng dành cho em bé.
Hỏi : Tại sao phương thức mới này ?
G.S Daniel Cohen : Chúng ta đang chịu một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng
: hầu như không còn thuốc mới nữa, nhất là đối với những bệnh thoái hóa
thần kinh (maladies neurodégénératives). Chúng ta đang bị kẹt máy. Bệnh
Alzheimer, Parkinson và những bệnh lý tương cận khác vẫn luôn luôn không
có điều trị chữa lành... Có một lỗ trống lớn ở đó ! Cho đến mãi ngày nay,
phương pháp thông thường là tìm cách nhắm đích vào một yếu tố gây rối
loạn duy nhất, nguồn gốc của một căn bệnh. Thường thường chúng ta thành
đạt được, nhưng ngày nay chúng ta đã đi đến giới hạn : số những bệnh nhân
có thể chữa lành với một phương thuốc duy nhất đang ở bên bờ cạn kiệt.
Vậy thì phải phát minh một thế hệ những thuốc mới.
Hỏi : Chiến lược điều trị đa liệu pháp (pléothérapie)
này nhằm vào cái gì ?
G.S Daniel Cohen : Một bệnh thần kinh hiếm khi là do một phân tử duy nhất
(một protéine), mà thường do nhiều phân tử tạo thành một hệ thống. Thay
vì nhắm vào một đích duy nhất như thường lệ, chúng tôi đã quyết định tấn
công đồng thời nhiều đích. Nhưng để được như thế, trước hết phải nhận
diện chúng. Sự nhận biết này đã có thể thực hiện nhờ một phương pháp phân
tích di truyền rất phức tạp, mà chúng tôi đã hiệu chính và đặt tên là
“ Nexus ”. Phương thức phức tạp này cho phép, từ những mẩu nghiệm máu,
kiểm kê những protéine gây rối loạn, là nguồn gốc của một căn bệnh, bằng
cách nhận diện trước hết những gène “ chế tạo ” chúng (ghi mã chúng).
Hỏi : Làm sao người ta trung hòa được những
phân tử chịu trách nhiệm này ?
G.S Daniel Cohen : Phương cách của chúng tôi trước hết nhằm tìm kiếm trong
số các thuốc có sẵn trên thị trường, những thuốc nào khả dĩ có một hiệu
quả lên các mạng protéine bị rối loạn. Rồi thì phối hợp chúng, với những
liều lượng nhỏ, thành một cocktail điều trị hiệu quả. Đó là một ý tưởng
rất đơn giản : người ta tạo cái mới từ cái cũ.
Hỏi : Đến nay, những thử nghiệm nào đã được
thực hiện ?
G.S Daniel Cohen : Chúng tôi đã áp dụng phương pháp này cho 3 loại bệnh
thoái hóa thần kinh (neurodégénérescence) : bệnh Charcot-Marie-Tooth (gốc
di truyền), một bệnh khác do độc chất và bệnh Alzheimer. Trước hết trong
phòng thí nghiệm, chúng tôi đã có thể quan sát một hiệu quả rất rõ rệt
của những cocktail các phân tử, nhắm vào các mạng protéine, được nhận
diện bởi phương pháp phân tích Nexus. Trong một giai đoạn hai, chúng tôi
đã chuyển qua nghiên cứu động vật đối với bệnh Charcot-Marie-Tooth và
đối với bệnh thần kinh do độc chất. Trong hai trường hợp, hàng trăm con
chuột, mang cùng những bệnh thoái hóa thần kinh như người, đã được chữa
lành mà không có những tác dụng phụ. Đối với bệnh Alzheimer, được cổ võ
bởi những kết quả thu được trong phòng thí nghiệm, sắp đến chúng tôi sẽ
bắt đầu những nghiên cứu của chúng tôi nơi động vật.
Hỏi : Khi nào ông sẽ bắt đầu những thử nghiệm
trên người ?
G.S Daniel Cohen : Ngay năm 2010, chúng tôi sẽ bắt đầu điều trị những
bệnh nhân bị bệnh Charcot-Marie-Tooth đặc biệt gây tật nguyền. Đối với
công trình nghiên cứu quốc tế này, chúng tôi đang chọn lọc 200 bệnh nhân
ở Châu Âu và ở Hoa Kỳ. Nếu những thử nghiệm trên người chứng rõ, các thuốc
được sử dụng bằng phương pháp đa liệu pháp (pléothérapie) sẽ xuất hiện
trên thị trường 3 hay 4 năm sau đó.
Hỏi : Những bệnh lý nào khác sẽ có thể được
điều trị bởi đa liệu pháp (pléothérapie) ?
G.S Daniel Cohen : Trên nguyên tắc người ta sẽ có thể điều trị tất cả
các nhu cầu y khoa : các rối loạn tâm thần, như các loạn tâm thần, Toc,
chứng bỏ ăn (anorexie), bệnh tự kỷ (autisme), nhưng cũng những bệnh hiếm
quan trọng. (PARIS MATCH 9/7-15/7/2009)
4/ NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÓ VỢ LÔI
KÉO NHỮNG PHỤ NỮ ĐỘC THÂN
Theo một công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Jessica Parker và
Melissa Burkley, thì đại đa số những phụ nữ độc thân bị lôi kéo bởi những
người đàn ông đã có gia đình. Những phụ nữ độc thân này đã đọc các bản
văn mô tả những người đàn ông, được trình bày như là độc thân hay sống
lứa đôi, và phải chỉ rõ với loại đàn ông nào họ ước muốn làm quen và làm
nhân tình. Những phụ nữ này đại đa số đã chọn người đàn ông đã có gia
đình. Còn các người đàn ông thì thường thích những phụ nữ độc thân hơn.
Có một giải thích (sinh học) cho tất cả những điều này : các phụ nữ ở
tuổi sinh đẻ muốn tìm kiếm một nguoi bạn đường đã có thử thách trên hai
bình diện, đó là khả năng sinh đẻ và khả năng chăm lo con cái. Hai lãnh
vực mà những người đàn ông đã có gia đình thường có một lợi thế. (CERVEAU
et PSYCHO 7-8/2009)
5/ ĐỂ SỐNG LÂU HƠN, HÃY ĂN ÍT HƠN
Một sự giảm cung cấp calo làm chậm lại sự lão hóa và làm giảm rõ rệt nguy
cơ mắc phải ung thư, bệnh đái đường và teo não bộ của... các con khỉ,
tạp chí Science đã báo cáo như vậy.
Những kết quả của công trình nghiên cứu này, được tiến hành trong 20 năm
trên nhiều chục con khỉ (các macaque rhésus) có thể mang lại cách nhìn
chi tiết nhất về tác động của hiện tượng này và những ý nghĩa của nó trên
người, các tác giả của những công trình này đã nhấn mạnh như thế.
“Chúng tôi đã có thể cho thấy rằng sự giảm calo có thể làm chậm lại sự
lão hóa trong một loài của các con linh trưởng ”, BS Richard Weindruch,
giáo sư y khoa thuộc Đại Học Wisconsin, tác giả chính của công trình nghiên
cứu, được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ ngày 10/7, đã phát biểu như vậy.
“ Chúng tôi đã quan sát thấy rằng việc giảm cung cấp calo làm giảm 3 lần
nguy cơ phát triển những căn bệnh liên quan với tuổi và làm gia tăng tỷ
lệ sống thêm ”, ông nói như vậy. Vào lúc kết thúc công trình nghiên cứu,
một nửa (50%) các động vật được để cho tự do ăn uống thỏa thuê vẫn còn
sống, so sánh với tỷ lệ 80% những động vật trong nhóm tiêu thụ 30% ít
hơn cùng những thức ăn.
76 macaque rhésus được chọn lọc cho công trình nghiên cứu này là những
con khỉ trưởng thành tuổi từ 7 đến 14 tuổi. Ngày nay, chỉ còn 33 con,
trong đó 11 con ăn xã láng và 20 con chịu một chế độ giảm calo. Tuổi thọ
trung bình của những con khỉ này là 27 tuổi. Động vật lớn tuổi nhất của
công trình nghiên cứu là 29 tuổi.
“ Sự giảm calo có một tác động mạnh lên sự gia tăng tuổi thọ nếu chúng
ta xem tỷ lệ tử vong là do những bệnh liên kết với tuổi tác, BS Weindruch
đã nhấn mạnh như vậy.Tỷ lệ các khối u ung thư và các bệnh tim mạch nơi
những động vật của công trình nghiên cứu là một nửa ít hơn nơi những con
khỉ chịu một sự hạn chế calo, so với nhóm chứng ăn uống tự do không giới
hạn ”, ông đã xác nhận như thế.
Lại còn đặc sắc hơn, bệnh đái đường hoàn toàn vắng mặt nơi những động
vật chịu một sự giảm calo trong khi bệnh này thường xảy ra nơi những con
khỉ tiêu thụ mọi thức ăn mà chúng muốn . “ Đến nay, chúng tôi đã quan
sát thấy một sự vắng bóng hoàn toàn bệnh đái đường trong nhóm có cung
cấp calo được thu giảm ”, BS Weinbruch đã nhấn mạnh như vậy. “ Ngoài ra
sức khỏe não bộ của những động vật chịu sự giảm calo rõ rệt tốt hơn ”,
BS Sterling Johnson, một thầy thuốc khoa thần kinh của Đại Học Wisconsin
đã ghi nhận như vậy.
“ Công trình nghiên cứu này có thể giúp chúng ta hiểu những tác dụng của
một sự giảm calo lên sự mất các tế bào thần kinh với quá trình lão hóa
”, ông đã giải thích như vậy. Các nhà khoa học quan tâm những tác dụng
được chứng minh của việc giảm calo lên sự kéo dài tuổi thọ từ những công
trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện trong những năm 30 trên chuột.
(LE SOIR 12/7/2009)
6/ ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI Ở THỤY SĨ : MỔ NÃO BẰNG
SIÊU ÂM.
TECHNOLOGIES. Các nhà ngoại thần kinh Thụy Sĩ lần đầu tiên trên thế giới
đã có thể thực hiện các can thiệp ngoại khoa của não bộ mà không cần phải
mở hộp sọ nhờ sử dụng siêu âm, đại học Zurich đã loan báo như vậy hôm
thứ hai. Các BS Daniel Jeanmonod và Ernst Martin đã áp dụng vào ngoại
khoa trong sọ (chirurgie intracranienne) kỹ thuật siêu áp điều tiêu có
năng lượng cao (technique des ultrasons focalisés de haute énergie) (UFHE),
đã được sử dụng từ nhiều năm nay trong niệu khoa để chống lại các ung
thư tuyến tiền liệt.
Trong một công trình nghiên cứu lâm sàng bắt đầu tháng 9 năm 2008, mười
người trưởng thành đã chịu những phẫu thuật với kết qua thành công và
không có biến chứng. Những cuộc phẫu thuật đã được thực hiện không cần
gây mê, trên những bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo.
Trong các phẫu thuật, 1.024 máy phát (émetteur) gởi những làn sóng siêu
âm xuyên qua hộp sọ. Sự tăng cao nhiệt đó được sinh ra như thế, thường
xuyên nằm dưới sự kiểm soát.
Những bệnh nhân được điều trị bị những cơn đau bệnh thần kinh (douleurs
neuropathiques), BS Martin đã xác nhận như vậy. Bệnh lý này đặc biệt đánh
vào những người bị liệt 4 chi (tétraplégiques) hay đã bị cắt cụt chi.
Não bộ không còn tiếp nhận những tín hiệu từ các chi nữa, các dây thần
kinh của các chi gởi những kích thích gây nên sự đau đớn. Các siêu âm
đã cho phép làm im những kích thích này.
Các nhà khoa học của Zurich hy vọng có thể mở rộng trường sử dụng của
các siêu âm đến các khối u của não bộ hay đến các can thiệp sau các tai
biến mạch máu não. (LE SOIR 23/6/2009)
7/ HƯỚNG VỀ MỘT PHÁT HIỆN SỚM CỦA
UNG THƯ BUỒNG TRỨNG.
Một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa nhận diện một chất chỉ dấu di truyền
(marqueur génétique) có liên hệ trong bệnh này.
Một ngày nào đó, người ta sẽ có thể nhận diện được rất sớm những phụ nữ
có những nguy cơ sẽ phát triển ung thư buồng trứng đáng sợ nhờ những trắc
nghiệm di truyền hay không ? Một nhóm những nhà nghiên cứu quốc tế, được
lãnh đạo bởi các người Anh Paul Pharoah (đại học Cambridge) và Simon Gayther
(University College de Londres), vừa vượt qua bước đầu tiên khi khám phá
ra một đột biến di truyền (variant génétique) thường gặp, làm gia tăng
20 đến 40 % nguy cơ xuất hiện những ung thư buồng trứng. Những kết quả
của công trình nghiên cứu to lớn này, bao gồm gần 10.000 phụ nữ bị ung
thư buồng trứng và 13.000 người chứng, vừa được công bố trong Nature Genetics.
Mặc dầu tương đối hiếm (6.800 những trường hợp mới mỗi năm ở Anh, 4.400
ở Pháp), các ung thư buồng trứng có một tiên lượng u tối bởi vì chúng
thường được chẩn đoán muộn, ở một giai đoạn mà khối u đã có một kích thước
lớn và đã di căn đi nơi khác. Ở Pháp, các ung thư buồng trứng đứng hàng
thứ 5 gây tử vong do ung thư nơi phụ nữ, với hơn 3.000 người chết mỗi
năm. Trong 10% các trường hợp, một yếu tố gia đình được tìm thấy có liên
hệ, cứ một trường hợp trên hai, với sự biến dị của vài loại gène, cũng
có liên hệ trong những ung thư vú gia đình.
CHIẾN LƯỢC MỚI
Để xác định những yếu tố di truyền khác làm dễ phát triển những ung thư
buồng trứng, Paul Pharoah và các cộng tác viên đã thực hiện một công trình
nghiên cứu di truyền nhằm vào một số lượng lớn đối tượng. Rất được thịnh
hành để nhận diện những tố bẩm gây những bệnh đa gène (maladies polygéniques)
(như bệnh đái đường hay những bệnh tim mạch), chiến lược mới này nhằm
so sánh các bộ gène (génome) của hàng ngàn người bệnh và của những người
chứng. Nhờ các puces à ADN, các nhà nghiên cứu thăm dò những biến dị của
các dãy gène (séquence des gènes).
Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể phân lập được một đột biến di truyền
(un variant génétique) nằm trên một đoạn của nhiễm sắc thế số 9, đặc biệt
liên hệ với ung thư buồng trứng. Theo các tính toán của họ, nguy cơ phát
triển khối u này là 40% cao hơn nơi những phụ nữ mang một bản sao kép
của sự “ khác nhau ” này so sánh với những phụ nữ không có nó.
Các tác giả của công trình nghiên cứu tin chắc rằng, nhiên hậu, phương
thức này sẽ cho phép phát hiện những phụ nữ có khả năng nhất bị ung thư
buồng trứng, để theo dõi họ sát hơn. Điều đó sẽ cải thiện kiến thức của
chúng ta về sinh học của những ung thư này, và dẫn đến phát triển những
điều trị hiệu quả hơn, họ đã nói thêm như thế. “Đó là một công trình vững
chắc và rất đáng quan tâm, nhưng vẫn phải thận trọng về những dấu hiệu
lâm sàng ”, G.S Dominique Stoppa-Lyonnet, trưởng khoa di truyền ung thư
thuộc Viện Curie đã phát biểu như vậy. Theo nhà nghiên cứu này, chúng
ta còn rất xa mới có được những trắc nghiệm về yếu tố tố bẩm này. “ Vẫn
còn phải nhận diện nhiều yếu tố nhạy cảm di truyền. Chính các tác giả
cho rằng đột biến của chúng chỉ giải thích 0,7% của thành phần đa di truyền
của các ung thư buồng trứng. Sự khác nhau di truyền này làm nguy cơ mắc
phải ung thư buồng trứng chuyển từ 1% lên 1,4 %. Không phân biệt lắm so
với các gène tố bẩm gia đình (BRCA1 và BRCa2), nhân nguy cơ lên 10 đến
40 ”. (LE FIGARO 7/8/2009)
8/ CÁC THUỐC ĐUỔI MUỖI CÓ ĐỘC KHÔNG
?
Một cách ngắn gọn, thuốc đuổi muỗi (répulsif anti-moustiques) được gọi
là DEET (thay cho chữ diéthyltoluamide). Ngày nay đó là thuốc đuổi muỗi
được sử dụng nhất trên thế giới để xua đuổi những con muỗi cái, khi chích
động vật hay người để nuôi dưỡng, có thể truyền những bệnh nghiêm trọng
như chikungunya, bệnh dengue, hay sốt rét. Bệnh sốt rét gây nên 400 đến
900 triệu truờng hợp sốt, và một đến 3 triệu tử vong. Việc sử dụng một
thuốc đuổi muỗi không đủ để bảo vệ chống lại muỗi chích và được sử dụng
kèm với các thuốc dự phòng. DEET phổ biến đến độ (200 triệu người dùng
mỗi năm) nồng độ của nó thường được chỉ rõ trên các gói thuốc đuổi muỗi
vì những liều lượng của nó là một lý lẽ bán : thật vậy các thuốc có nồng
độ từ 25 đến 30% DEET có hiệu quả hơn và thời gian tác dụng dài hơn (3
đến 5 giờ chống lại muỗi anophèle).Những lời khuyến nghị hiện hành khuyên
không nên dùng DEET nơi những phụ nữ có thai.
Nhưng những công trình mới, được công bố tuần này trong tờ báo chuyên
môn BMC Biology gieo một mối nghi ngờ về tính vô hại của thuốc đối với
con người. Vincent Corbel của Viện Nghiên Cứu Phát triển Montpellier và
Bruno Lapied của đại học Angers (Pháp) và các đồng nghiệp chứng minh rằng
thuốc đuổi muỗi này ức chế một enzyme chủ chốt của hệ thần kinh trung
ương, acétylcholinestérase, cùng cách với các thuốc trừ sâu carbamate.
Thế mà những thuốc trừ sâu độc cho thần kinh này thường được sử dụng phối
hợp với DEET và những nhà nghiên cứu đã khám phá rằng DEET tương tác với
các carbamate và làm gia tăng độc tính của chúng.“ Chúng tôi không nói
rằng sự sử dụng bình thường của DEET sẽ giết chết người ta. Nhưng rằng
ở một vài nồng độ và lúc dùng phối hợp, nó có thể nguy hiểm, đặc biệt
là đối với các phụ nữ có thai và các trẻ em ”, Vincent Corbel đã chỉ rõ
như vậy.
Các tác giả chủ trương “ thăm dò hơn nữa độc tính của hợp chất này, nhất
là sự tương tác của nó với những thuốc khác hay với những thuốc trừ sâu
khác có cùng tác dụng ”. Hơn nữa, một trong những giải thích khả dĩ của
“ hội chứng của Chiến tranh Vùng Vịnh ” (syndrome de la Guerre du Golfe)
là sự sử dụng phối hợp bởi các binh sĩ Hoa Kỳ các thuốc đuổi muỗi này
với những nồng độ cao pyridostigmine như chất đối kháng chống lại sự nhiễm
độc thần kinh của khí như sarin. Mối liên hệ giữa hội chứng này với một
sự tiếp xúc với các chất ức chế acétylcholinestérase dầu sao được xác
lập.
Thế thì có nên do dự sử dụng những thuốc đuổi muỗi này hay không ? “ Đó
là một phản ứng quá đáng đối với nội dung của công trình nghiên cứu, vốn
chỉ phác họa ra một giả thuyết ”, G.S Alfred Bernard, nhà chuyên gia độc
chất học của UCL đã giải thích như vậy. Thật vậy cần phải tiếp tục kiểm
tra giả thuyết, nhưng ở giai đoạn nghiên cứu này không vì thế chịu bỏ
những lợi ích của thuốc chống lại các nguy cơ của các bệnh gây nên bởi
muỗi này. So với DDT nổi tiếng, một thuốc trừ sâu organochloré với hậu
quả tai hại do độc tính của nó, các organophosphorés không gây những tác
dụng mãn tính. Ví dụ chúng không thể đi qua hàng rào nhau nơi người mẹ
mang thai. Dĩ nhiên cần phải tôn trọng liều lượng, nhưng những triệu chứng
ngộ độc (chảy nước dãi ngẫu nhiên, đống tử khép lại) chỉ đạt được với
những nồng độ quan trọng hơn nhiều những nồng độ được sử dụng với các
thuốc đuổi muỗi này. Sự đi qua hàng rào da đã bị giới hạn nhờ tính chất
thích mỡ (lipophilie) được làm giảm nhiều hơn ”. (LE
SOIR 7/8/2009)
9/ MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ĐỂ
PHÁT HIỆN NHỮNG BẤT THƯỜNG THAI NHI.
Chẳng bao lâu nữa, chỉ cần lấy máu nơi người mẹ tương lai sẽ cho phép
phát hiện nhiều bệnh di truyền trầm trọng của phôi thai. Chẩn đoán tiền
sinh (diagnostic prénatal) của chứng thể ba 21 (trisomie 21), của bệnh
mucoviscidose, của những bệnh cơ (myopathies) nặng và của những bệnh di
truyền gây tật nguyền nghiêm trọng khác, chẳng bao lâu nữa có thể dựa
trên một xét nghiệm máu đơn giản nơi người mẹ. Chính một tờ báo Anh, The
Guardian, tiết lộ báo cáo của những công trình nghiên cứu, được tài trợ
bởi giới hữu trách y tế Anh (National Health Service) lên đến 2,2 triệu
Euro.
Ngày nay, hai kỹ thuật “xâm nhập”, được thực hiện giữa tuần lễ thứ 10
và 16 của thai nghén, cho phép chẩn đoán tiền sinh nhiều bệnh di truyền
hay nhiễm sắc thể : chọc dò màng ối (amniocentèse) (lấy dịch màng ối và
những tế bào mà nó chứa, xuyên qua bọc ối) và sinh thiết lá nuôi (biopsie
de trophoblastes, nhau tương lai). Tiếc thay hai kỹ thuật này gây nên
các sẩy thai trong khoảng 1% các trường hợp đối với lần đầu và đến 2%
các trường hợp đối với lần thứ hai.
Lynn Chitty, thuộc University College Hospital de Londres, đã điều khiển
chương trình nghiên cứu này, tỏ ra rất phấn khởi : “ Thật thích thú bởi
vì, trong tương lai, để chẩn đoán những bệnh di truyền và những bất thường
nhiễm sắc thể nơi các em bé sẽ được sinh ra đời, hàng ngàn phu nữ sẽ không
còn phải chịu những phương pháp xâm nhập với nguy cơ gây sẩy thai nữa
”.
TỪ 250 ĐẾN 265 EM BÉ ANH ĐƯỢC CỨU THOÁT.
Chỉ riêng ở Anh, kỹ thuật mới này sẽ cứu mỗi năm 250 đến 265 em bé mạnh
khỏe, mà hiện nay chúng phải trả giá cho những kỹ thuật hiện hành. Phương
pháp đã hoàn toàn thay thế thủ thuật chọc dò màng ối (amniocentèse) để
tìm kiếm những bất tương hợp thai nhi-mẹ của nhóm máu Rhésus (incompatibilités
foetomaternelles). Những bất tương hợp này làm các em bé sẽ được sinh
ra đời chịu một nguy cơ quan trọng bị chứng thiếu máu chết người.
Nhà tiên phong thật sự của chẩn đoán tiền sinh (diagnostic prénatal) là
Dennis Lo, một nhà sinh học, đã chứng minh cách nay khoảng một chục năm
rằng ADN lưu thông một cách tự do trong máu người mẹ và có thể được trích
ra. Nhưng những tế bào thai nhi lưu thông trong máu là rất hiếm, khoảng
1 trên 10 triệu các bạch cầu và 5 tỷ hồng cầu mỗi ml máu.
Nhiều tiến bộ từ tháng chín năm 2006 đã chuẩn bị địa bàn cho những nghiên
cứu người Anh : ví dụ kỹ thuật Iset, được hiệu chính bởi Patrizia Paterlini-Bréchot
(đơn vị Inserm 807), đã cho phép tập trung những tế bào thai nhi và phát
hiện những biến dị di truyền và những bất thương nhiễm sắc thể với một
độ tin cậy bằng với chọc dò màng ối hay sinh thiết lá nuôi (biopsie de
trophoblastes). Ví dụ bệnh mucoviscidose, căn bệnh nghiêm trọng phá hủy
dần dần các lá phổi của những đứa trẻ bị bệnh, có thể được phát hiện trên
thai nhi nhờ tìm kiếm sự biến dị của gène CFTR, chịu trách nhiệm bệnh
trong máu của người mẹ.
Tiến bộ khác năm 2008 : các nhà nghiên cứu của đại học Standford cũng
đã phát hiện trong máu người mẹ sự hiện diện của nhiễm sắc thể thừa (chromosomes
surnuméraires), đặc trưng cho bệnh trisomie. (LE FIGARO
1/8/2009)
10/ CHỌC DÒ MÀNG ỐI, MỘT KỸ THUẬT
CHẨN ĐOÁN TIỀN SINH ĐANG CÀNG NGÀY CÀNG ÍT SỬ DỤNG.
Được thực hiện chủ yếu để xác nhận bệnh thể ba 21 (trisomie 21) nơi một
thai nhi, xét nghiệm này càng ngày càng thuờng được tránh sử dụng.
Đó là một thăm khám chuẩn mà nhiều phụ nữ có thai sẽ không cần đến nữa.
Khoảng 90.000 thủ thuật chọc dò màng ối được thực hiện mỗi năm ở Pháp
(hơn một thai nghén trên 10), một con số theo dự kiến sẽ giảm một nửa
trong những năm đến, nhờ một chiến lược mới phát hiện bệnh thể ba 21 (trisomie
21):.
Được thực hiện dưới sự kiểm tra của siêu âm vào đầu đệ nhị tam cá nguyệt
của thai nghén (giữa tuần lễ mất kinh 15 và 18), thủ thuật này nhằm lấy
dịch ối, trong đó thai nhi ngâm mình. Trong hầu hết các trường hợp, mục
tiêu là nghiên cứu các nhiễm sắc thể của nó (caryotype) : chủ yếu là để
xác nhận hay phủ nhận bất thường nhiễm sắc thế thường gặp nhất : trisomie
21. Thật vậy, một thai nghén trên 700 bị liên hệ bởi nhiễm sắc thể thừa
này, một trên 100 khi người mẹ tuổi hơn 40. Với những kỹ thuật cổ điển,
caryotype có được trong khoảng 10 ngày. Những phương pháp nhanh hơn, được
sử dụng trong vài khoa sản, cho một kết quả đầu tiên trong 48 giờ. Hiếm
hơn, một chọc dò màng ối là cần thiết để tìm kiếm một khuyết tật đóng
của tube neural (Spina bifida), những biến dị di truyền (như mucoviscidose
hay một bệnh cơ) hay một nhiễm trùng (toxoplasmose, bệnh thủy đậu, rubéole..).
Ngoài chấn thương tâm lý đối với phụ nữ có thai, nguy cơ chính của thủ
thuật xâm nhập này là phát khởi một sẩy thai. Tuy nhiên biến chứng này
vẫn hiếm : 0,5 đến 1% các trường hợp, và còn ít hơn đối với những người
thao tác được huấn luyện.
CÁC PHỤ NỮ LO LẮNG KHÔNG ĐÚNG CHỖ.
Trong trường hợp cổ điển, sự phát hiện bệnh trisomie 21 dựa vào siêu âm
của tam cá nguyệt đầu và phân tích các chất chỉ dấu máu vào đầu tam cá
nguyệt thứ hai. Trong trường hợp nghi ngờ, một chọc dò màng ối được đề
nghị. Khám nghiệm chuẩn này cho phép quyết định, nhưng nhiều phụ nữ (đến
20%) bị lo lắng, nhưng caryotype sau cùng lại hóa ra bình thường.
Vào tháng sáu 2007, Haute Autorité de santé đã khuyến nghị một điều tra
phát hiện vào tam cá nguyệt đầu, phối hợp siêu âm và đo nồng độ các chất
chỉ dấu mới trong máu, sớm hơn và hiệu quả hơn. Được áp dụng từ nhiều
năm nay trong nhiều nước khác, kỹ thuật mới thực hiện trong một thì này
cho phép giảm khoảng 7% so những dương tính giả. Ở Pháp, chiến lược này
đã được thiết đặt thành công trong vài khoa sản, đặc biệt là ở Necker
(Paris) và ở Hôpital américain de Neuilly.
“ Phương pháp điều tra phát hiện mới này sẽ được phổ biến dần dần kể từ
tháng 10 ”, G.S Yves Villes, trưởng khoa Sản Phụ Khoa của bệnh viện Necker
đã đánh giá như vậy. Trong một công trình nghiên cứu sơ khởi trên 22.000
phụ nữ được thực hiện bởi vị thầy thuốc này, việc điều tra phát hiện của
tam cá nguyệt đầu đã cho phép chia ba số các trường hợp chọc dò màng ối.
Các thầy thuốc sản khoa dự kiến ít nhất một sự sụt giảm một nửa số các
trường hợp. (LE FIGARO 1/8/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (16/8/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |