 |
Thời
Sự Y Học số 138
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CUỘC CHẠY ĐUA SẢN XUẤT
VACCIN H1N1 GIA TỐC GIỮA CÁC PHÒNG BÀO CHẾ
Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên đã bắt đầu. Và “The Lancet” tự hỏi
về việc sử dụng các thuốc kháng virus.
Trong khi tuần qua, các xí nghiệp sản suất vaccin lớn như Sanofi Pasteur,
Novartis hay Baxter đua nhau kín đáo về bước tiến trong sự sản xuất vaccin
đại dịch, thì bổng đột ngột các nhà công nghiệp dược phẩm bắt đầu truyền
đạt thông tin cởi mở hơn. Đến độ OMS nêu lên khả năng rằng vaccin có thể
sẽ có để sử dụng trong vài nước vào cuối tháng 9 đến.
Đầu tiên, hãng bào chế dược phẩm Baxter loan báo hôm thứ tư là đã hoàn
tất hồi tháng 7 sự sản xuất những lô vaccin đầu tiên. Hãng chỉ cần 12
tuần là đủ, bắt đầu từ “ hạt giống ”, giống gốc virus được phân phát bởi
OMS. Và những trắc nghiệm cuối cùng (được gọi là “ giai đoạn 3 ”) trên
3.500 người đã được hoàn thành.
Novartis đã phản ứng lại tức thời bằng cách loan báo là đã bắt đầu tiêm
vaccin riêng của hãng cho 6.000 người ở Vương Quốc Anh, ở Đức và ở Hoa
Kỳ. Ngay tức khắc, Sanofi Pasteur loan báo chính thức là đã bắt đầu trắc
nghiệm, ngay từ 6/8, những thử nghiệm lâm sàng trên 2.000 người ở Hoa
Kỳ để trắc nghiệm tính sinh miễn dịch (immunogénicité) và mức độ dung
nạp của vaccin này.
Sự thay đổi chiến lược truyền đạt thông tin diễn ra đột ngột : tuấn vừa
rồi, nhiều hãng bào chế vaccin (trong đó có Sanofi Pasteur) đã bác bỏ
dứt khoát, “ vì lý do an ninh ”, những yêu cầu phóng sự của báo Figaro
về những nơi chế tạo vaccin. Tuy vậy, bài diễn văn chính thức của OMS
(đã gặp gỡ hai lần liên tiếp những đại diện của 30 nhà chế tạo) hướng
về một sự hợp tác quốc tế. Đó là xác lập một chiến lược toàn bộ nhằm sản
xuất điều hợp vaccin cúm đại dịch H1N1.
Theo Margaret Chan, tổng giám đốc OMS, một sự đóng góp rất nghiêm chỉnh
của các xí nghiệp dược phẩm của các nước phía bắc và phia Nam để huy động
nguồn vốn nhằm sản xuất 4,9 tỷ liều vaccin.
Ngoài những hợp đồng đã được ký kết với các chính phủ, những hợp đồng
bảo đảm một khối lượng bán đã được ấn định trước, những dữ kiện khoa học
mới có lẽ làm gia tăng nhu cầu vaccin : công trình phân tích méta, được
thực hiện bởi National Institute for Health and Clinical Excellence ở
Vương quốc Anh, được công bố hôm nay trong The Lancet, xác lập rằng các
thuốc kháng virus Tamiflu và Relenza chỉ làm giảm vừa phải thời gian của
các triệu chứng nơi những người khỏe mạnh hay có nguy cơ. Kết luận của
The Lancet : những chiến lược tiêm chủng, hay sự thực hiện những xét nghiệm
chẩn đoán nhanh, là hiệu quả và chắc chắn hơn, kinh tế hơn việc sử dụng
các thuốc kháng virus một cách đại trà. (LE FIGARO
8/8-9/8/2009)
2/ ANH CHUẨN BỊ KẾ HOẠCH CHIẾN
ĐẤU CHO BUỔI TỰU TRƯỜNG.
Londres. Gần 8,5 triệu liều có thể được phân phát trong các trường học.
Trong khi làn sóng thứ hai của virus A (H1N1) được loan báo vào mùa thu
đến, nhật báo The Guadian tiết lộ rằng chính phủ Anh có thể thiết đặt
chiến dịch chủng ngừa quan trọng nhất kể từ 1964, năm của chiến dịch chủng
ngừa chống bệnh đậu mùa. Ngoài các thầy thuốc gia đình, các y tá trong
các trường học sẽ được góp phần để chủng ngừa tất cả những thiếu niên
giữa 5 và 16 tuổi, trong 33.700 trường học mà nước Anh hiện có. “Ý tưởng
nhằm trước tiên vào các trường học là hợp lý”, một nguồn thân cận của
The Guadian đã giải thích như vậy.
Department for Children, Schools and Families đã xác nhận hôm qua rằng
chính phủ đang xem xét một kế hoạch chủng ngừa như vậy. Còn Bộ y tế Anh
thì đã từ chối xác nhận nguồn tin và chỉ rõ rằng hiện nay chiến lược đã
không hoàn toàn được xác định. “ Chưa có một quyết định rõ ràng nào đã
được thông qua về cách thức phân phát vaccin ”. Các phòng mạch của các
thầy thuốc gia đình vẫn là những nơi chính yếu cho mọi yêu cầu tiêm chủng,
một phát ngôn viên của Bộ y tế đã giải thích như vậy. Nếu vaccin vượt
qua không trở ngại các trắc nghiệm lâm sàng, thì yêu cầu tiêm chủng sẽ
rất cao ở Anh, là nước ở Châu Âu bị ảnh hưởng nhất bởi virus. Nhưng còn
phải xem những người nghiệp vụ y tế có đủ nhiều để thực hiện tiêm chủng
vaccin cho toàn thể các trường học hay không : trên 25.000 trường học
mà nước Anh hiện có, người ta chỉ đếm được 1.447 y tá mà thôi.
SỐ TRƯỜNG HỢP GIẢM XUỐNG.
Tin tức này xảy ra vào ngày hôm sau của những lời tuyên bố của OMS. BS
Marie-Paul Kieny, nữ giám đốc của đơn vị vaccins của OMS, đã chỉ rõ rằng
các vaccin có lẽ sẽ không được sẵn sàng trước tháng 9. Do đó chương trình
tiêm chủng sẽ không bắt đầu trước đầu tháng 10 đối với những người lạc
quan nhất.
Làn sóng đại dịch đầu tiên ở Anh đang chấm dứt. Số các trường hợp cúm
A mới ở Ecosse và Anh đã giảm nhiều, theo những thống kê sau cùng, được
công bố hôm thứ năm bởi Cơ quan bảo vệ sức khỏe. Tuần qua, nước Anh đã
thống kê được 30.000 trường hợp mới, so với 110.000 tuần trước. 9 người
tử vong do hậu quả của virus, nâng tổng số người chết trong nước lên 36
người.
Đến nay, không có một dấu hiệu nào cho thấy virus đang biến dị thành một
giống gốc nghiêm trọng hơn, theo Bộ y tế Anh. Nhưng còn quá sớm để vui
mừng. Cố vấn y tế chính của chính phủ, Sir Liam Donaldson báo trước :
“Chúng tôi hầu như chắc chắn rằng một làn sóng dịch mới sẽ tác động lên
chúng ta. Chúng tôi dự kiến rằng, vào lúc tựu trường, điều đó sẽ gia tăng
trở lại”. (LE FIGARO 8/8-9/8/2009)
3/ VIRUS A (H1N1) ĐÃ GÂY
NHIỄM HEO TỪ NHIỀU NĂM QUA.
Virus (H1N1) đúng là một virus của heo. Thẻ căn cước di truyền (carte
d’identité génétique) của nó, được giải mã bởi một nhóm nghiên cứu quốc
tế, tiết lộ rằng virus này phát xuất từ một sự kết hợp chưa từng có của
hai virus heo đã được biết, kết quả của một sự pha trộn của các virus
người, heo và gia cầm. Sự “ tạp giao ” (croisement) cuối cùng, đã đưa
đến bản hiện nay của virus, được thực hiện vào lúc vận chuyển heo giữa
Bắc Mỹ và Eurasie. Sự truyền đầu tiên cho người xảy ra nhiều tháng trước
khi trường hợp đầu tiên được chính thức công nhận. Để vạch lại nguồn gốc
của virus, nhóm nghiên cứu đã so sánh các gène của virus (H1N1) với các
gène của 796 virus cúm và như vậy có thể định ngày tháng virus xuất hiện.
Và rất đáng ngạc nhiên : một giống gốc virus y hệt đến hơn 90% với loại
virus đang lưu hành hiện nay, đã hiện diện nơi heo từ 9 ….17 năm nay !
Mà không ai lo lắng gì cả ! Theo các nhà nghiên cứu, một sự thiếu cảnh
giác là nguyên nhân của sự lan tràn của virus. Thật vậy heo là một “ melting-pot
” trong đó, các virus người, gia cầm và heo thường xuyên tái phối hợp
với nhau, một cách thường xuyên và rất kín đáo. (SCIENCE
ET VIE 9/2009)
4/ CÚM : 8 CHỮ ĐỂ BIẾT TẤT CẢ VỀ
VIRUS MỚI.
A (H1N1): Virus này được xem như là mới bởi vì đó
là một cocktail chưa từng có của những thông tin di truyền phát xuất từ
cúm heo, chim và người. Tên của nó? “A”, bởi vì nó thuộc vào loại nguy
hiểm nhất về mặt y học, đứng trước các virus của cúm B hay C. H để chỉ
hémagglutinine và N để chỉ neuraminidase, hoặc hai protéine nằm ở bề mặt
của virus. Hémagglutinine cho phép virus thâm nhập vào trong các tế bào
đích (cellules cibles) ; neuraminidase cho phép phóng thích virus để nó
có thể gây nhiễm những tế bào khác. Có nhiều loại hémagglutinine và neuraminidase
khác nhau. Do đó thể có nhiều loại kết hợp khả dĩ, như virus lịch sử của
cúm Tây Ban Nha, cũng thuộc loại H1N, hay virus của cúm gà H5N1 đáng sợ.
ĐẠI DỊCH : Chính vào ngày 11/6 mà
OMS đã gọi cúm A (H1N1) là cúm “đại dịch” (pandémie). Khi một căn bệnh
lan tràn một cách rất nhanh chóng trong một tập thể hay một lãnh thổ trong
một thời kỳ giới hạn, thì người ta gọi là dịch bệnh (épidémie). Nếu dịch
bệnh này lan rộng trên một vùng bao gồm nhiều nước, khi đó người ta chuyển
qua giai đoạn đại dịch. Thế mà, vào đầu tháng sáu, 30.000 trường hợp đã
được thông báo trong 74 nước. Nhưng chính sự lan rộng của căn bệnh, chứ
không phải mức độ nghiêm trọng của nó, đã biện minh cho việc nâng cấp
đại dịch này : theo các dữ kiện có được khi đó, trong phần lớn các trường
hợp, các bệnh nhân chỉ có những triệu chứng hiền tính và họ thường lành
bệnh mà không cần một điều trị nào
TỶ LỆ TẤN CÔNG (TAUX D’ATTAQUE).
Đó là tỷ lệ dân chúng khả dĩ bị nhiễm trùng bởi virus. Với virus A
(H1N1), điều đó có khả năng liên quan đến toàn thể dân chúng, không
có phòng vệ miễn dịch chống lại virus mới này. Trong thực tế, sự quan
sát các dịch bệnh trong quá khứ chỉ cho thấy rằng chỉ một nửa dân chúng
là thật sự bị nhiễm bởi virus cúm mới. Hơn nữa, vì nhiều người bị nhiễm
trùng không có một triệu chứng nào, tỷ lệ tấn công có thể xác nhận được
bởi các thầy thuốc là khoảng 35% đối với virus này. Hoặc khoảng 20 triệu
người ở Pháp.
TỶ LỆ SINH SẢN (TAUX DE REPRODUCTION).
Đó cũng như là thang Richter của các nhà virus học. Tỷ lệ này biểu hiện
số người bị lây nhiễm bởi một người bệnh duy nhất ở một nơi xác định nào
đó. Ví dụ, người ta biết rằng trong một chiếc máy bay, một hành khách
bị cúm cổ điển làm lây nhiễm trung bình hai người. Đối với cúm A (H1N1),
tỷ lệ này đang còn đang được xác định, mặc dầu người ta biết rằng bình
thường nó ít thay đổi từ virus cúm này qua virus khác. Tuy nhiên tỷ lệ
có thể dao động tùy theo các loại dân chúng. Nói chung nó cao hơn đối
với các trẻ em, bởi vì các nhà trẻ và các trường học là những nơi tiếp
xúc được lặp đi lặp lại.
LÀN SÓNG THỨ HAI (DEUXIEME VAGUE) : từ ngữ này minh
họa một điều chứng thực vẫn không được giải thích rõ : việc gần như biến
mất được tiếp theo sau bởi một sự tái xuất hiện đột ngột của các đại dịch
cúm. Ví dụ, cúm Tây Ban Nha đã gây nên 3 làn sóng nối tiếp nhau. Nhưng
ở mỗi đại dịch có một kịch bản của nó. Đối với cúm A (H1N1), các mô hình
(modèles) của các chuyên gia cũng tiên đoán ba làn sóng dịch. Làn sóng
đầu tiên vào mùa hè này (tháng bảy và tháng tám) trong Nam bán cầu ; làn
sóng thứ hai vào mùa thu này ở Bắc bán cầu, có khả năng quan trọng nhất
bởi vì có liên quan phần lớn dân chúng thế giới ; sau cùng, làn sóng thứ
ba lại xuất hiện ở Nam bán cầu vào tháng bảy và tháng tám năm 2010.
TÍNH ĐỘC LỰC (VIRULENCE). Tính độc
lực được đo tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh gây nên bởi một vi trùng.
Đối với cúm, chỉ có sự đo tỷ lệ tử vong (létalité) (số các người chết
trong số các trường hợp cúm được khai báo) mới cho phép giải thích tính
độc lực. Tuy nhiên là một tiêu chuẩn gián tiếp, bởi vì nói chung không
phải virus cúm giết người, mà những nhiễm trùng khác đã hiện diện hay
lợi dụng virus để tấn công cơ thể. Trong lịch sử của các trận dịch cúm,
có một tý lệ tử vong trung bình : khoảng một tử vong trên 1.000 người
bị nhiễm trùng. Nếu virus A (H1N1) đại dịch có thể gây chết nhiều hơn
virus cúm mùa, không phải vì nó độc lực hơn, mà bởi vì nó là virus mới
và tấn công những người không có phòng vệ miễn dịch thật sự chống lại
nó.
VACCIN : Vaccin chống virus cúm mùa gồm có
một virus H1N1 nhưng thuộc một loại khác với virus A (H1N1) đại dịch.
Theo những dữ kiện được công bố vào tháng năm bởi CDC (trung tâm kiểm
soát bệnh tật Atlanta) và vẫn còn được tranh cãi, thì 33% những người
trên 60 tuổi được bảo vệ một phần bởi vì họ đã được tiếp xúc với những
dạng H1N1 khác nhau, lưu hành trong những năm 1950, vào lúc được chủng
ngừa trước đây hay đã bị một nhiễm trùng. Đó là điều mà người ta gọi là
“ bảo vệ chéo ”, mà 6 đến 9% những nguời từ 18 đến 64 tuổi cùng được thừa
hưởng. Ngược lại, những trẻ từ 0 đến 10 tuổi là dễ bị thương tổn nhất
bởi vì đã không bao giờ gặp những dạng virus này. Đó là lý đó tại sao
việc chế tạo một vaccin đặc hiệu chống lại A (H1N1) được thực hiện bắt
đầu mùa hè này.
TÁI PHỐI HỢP DI TRUYỀN (REASSORTIMENT GENETIQUE):
Virus cúm có một tính chất độc đáo : hai virus khác nhau có thể trao đổi
một phần vật liệu di truyền của chúng (ARN) khi chúng gây nhiễm cùng lúc
nơi cùng ký chủ. Virus A (H1N1) có thể còn được biến đổi hay không ? Vâng,
bởi vì nó còn có thể tái phối hợp với một virus khác, ví dụ với virus
của cúm mùa vào mùa đông này. Điều này có thể gây phiền phức, bởi vì virus
H1N1 cúm mùa lưu hành hiện nay đề kháng với một trong những thuốc kháng
virus chính (Tamiflu) và có thể truyền sự đề kháng này cho virus A (H1N1)
đại dịch. (SCIENCE ET VIE 8/2009)
5/ RƯỢU TỐT VÀ XẤU CHỐNG BỆNH ALZHEIMER
PREVENTION. Theo một công trình nghiên cứu được
công bố mới đây, uống một hoặc hai ly rượu vang mỗi ngày làm giảm bớt
nguy cơ bị bệnh Alzheimer nơi những người già.
Về rượu, dường như không bao giờ có gì là quyết định và lý tưởng cả. Trong
khi cuốn sách mỏng của viện quốc gia ung thư (Inca) cách nay vài tháng
chỉ rõ rằng việc uống chỉ một ly rượu mỗi ngày làm gia tăng một ít nguy
cơ mắc phải ung thư, thì một công trình nghiên cứu mới đây, được trình
bày vào đầu tuần này, nhấn mạnh rằng cũng sự uống rượu có mức độ này làm
giảm xác suất trở thành nạn nhân của bệnh Alzheimer.Tài liệu xuất bản
sau cùng này, được trình bày nhân hội nghị các chuyên gia ở Vienne, Áo,
dành cho căn bệnh thoái hóa thần kinh Alzheimer, dựa trên một cuộc điều
tra, được tiến hành nơi 3.079 người tuổi từ 75 và hơn. Những người này
đã được quan sát trong 6 năm và đã được yêu cầu ghi chú một cách chính
xác việc uống rượu của họ. Rồi họ được chia thành 4 loại: không hề uống
rượu, từ 1 đến 7 ly rượu mỗi tuần, 8 đến 14 ly mỗi tuần và hơn 14 ly được
uống trong cùng thời gian, theo Kaycee Sink, một trong các tác giả của
công trình nghiên cứu được thực hiện bởi đại học Hoa Kỳ Wake Forest de
Winston-Salem (Bắc Carolina). Sau khi xem xét các bệnh nhân mỗi 6 tháng,
thì ra trong số những người chỉ uống giới hạn mỗi ngày một hay hai ly
rượu, nhất là rượu vang, thì nguy cơ bị bệnh Alzheimer được giảm 37%.
Ngược lại, trong số những người vốn đã có những rối loạn nhẹ về trí nhớ
và đã uống hơn 14 ly mỗi tuần, nguy cơ bị bệnh Alzheimer tăng cao đến
2 lần nhiều hơn so với những người kiêng uống bất cứ loại rượu nào.
MỘT LỰA CHỌN “ CORNELIEN ”
Trong một báo cáo, được xuất bản năm 2007, đối chiếu một số lớn các công
trình được thực hiện trên toàn thế giới, Inca kết luận rằng “ việc uống
rượu đều đặn không được khuyến nghị. Sự gia tăng nguy cơ là đáng kể ngay
cả đối với một sự tiêu thụ rượu có mức độ với một nguy cơ càng cao khi
sự tiêu thụ càng lớn”. Ý niệm này hiển nhiên gây nên sự la ó phản đối
nơi những nhà làm rượu và những nhà trồng nho, nhưng cũng nơi vài thầy
thuốc, xác nhận rằng tiêu thụ rượu mức độ thấp là có lợi, đặc biệt là
chống lại các bệnh tim mạch. G.S Dominique Marininchi, tổng giám đốc Inca,
đã tìm cách làm giảm bớt cuộc luận chiếm : “Chúng tôi đã muốn cho một
thông tin. Và nói rằng, về rượu, ngưỡng tiêu thụ không nguy cơ, nghĩa
là ngưỡng mà người ta không quan sát thấy tác dụng có hại về mặt ung thư,
là rất thấp. Lời phát biểu của chúng tôi không phải là cấm đoán, nhưng
là để thông tin.” Thực ra, tất cả vấn đề là muốn biết chúng ta có muốn
một cuộc sống với một nguy cơ zero hay không : bởi vì uống rượu có mức
độ cũng có những lợi ích khác (cảm thấy thoải mái và làm dễ đời sống xã
hội). Ở Vienne, người ta nhắc lại rằng với sự gia tăng tuổi thọ, khoảng
16 triệu người sẽ bị bệnh Alzheimer ở Châu Âu vào năm 2050, so với 7 triệu
được thống kê năm 2.000. Bị một ung thư hay mất trí nhớ : một lựa chọn
cornélien. (LE FIGARO 6/8/2009) Đọc thêm
:
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr119.htm
(TSYH số 119, bài số 1)
6/ MỘT THÀNH PHẦN CỦA NHO
CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI NHỮNG NHIỄM TRÙNG GÂY CHẾT NGƯỜI
Những thí nghiệm trên chuột đã cho thấy rằng resvératrol có thể ngăn cản
các nhiễm trùng huyết (septicémie).
Rượu vang đỏ tiếp tục làm say mê mọi loại nhà khoa học.Và một công trình
nghiên cứu mới phát hiện những lợi ích mới của một vài thành phần của
rượu vang đỏ, có thể góp phần vào tác dụng có lợi của nó đối với sức khỏe
khi được tiêu thụ có mức độ. Những nhà nghiên cứu của Ecosse và Singapour
đã quan tâm đến những tính chất chống viêm của một phân tử có nhiều trong
rượu vang, resvératrol. Và trên các con chuột phòng thí nghiệm, họ đã
có thể chứng tỏ rằng những tính chất chống viêm của resvératrol là có
thực, và tìm một lời giải thích.
Resvératrol là một hydrocarbure (polyphénol của lớp stilbènes), được sản
xuất bởi thực vật để bảo vệ chúng chống lại những tác nhân gây bệnh, các
côn trùng hay vi khuẩn. Nho, các quả dâu tằm hay lạc sản xuất resvératrol
với số lượng nhiều. Cũng như vài loại cây, thông hay cây bạch đàn. Và
đầu những năm 1990, các công trình nghiên cứu có khuynh hướng chứng tỏ
rằng resvératrol là tác nhân chịu trách nhiệm của “ French paradox ” (“
nghịch lý Pháp ”), được liên kết với một sự nhạy cảm ít hơn với các bệnh
tim mạch.
TÍNH CHẤT CHỐNG VIÊM
Ngày nay, chính những tính chất chống viêm của resvératrol đã được nêu
lên. Các nhà nghiên cứu đã lấy hai nhóm chuột. Ở nhóm thứ nhất họ đã cho
resvératrol. Ở nhóm thứ hai, họ không cho gì cả. Rồi họ tiêm vào cả hai
nhóm chuột những tác nhân gây viêm mạnh, có khả năng làm phát khởi nhiễm
trùng huyết, có thể gây nên tử vong.
Những con chuột, đã được nhận resvératrol, vẫn tiếp tục hoàn toàn mạnh
khỏe, trong khi những con chuột không được cho resvératrol đã phát triển
những triệu chứng viêm mạnh. Và những nhà nghiên cứu đã có thể chứng tỏ
rằng resvératrol tác dụng bằng cách ngăn cản sự tạo thành của 2 enzyme,
vốn đóng một vai trò thiết yếu trong các quá trình viêm. Mặc dầu rất còn
sơ khởi, những kết quả này có thể mở đường cho những phép điều trị hiệu
quả hơn chống lại các bệnh nhiễm trùng. Thật ra mục tiêu của công trình
nghiên cứu của chúng tôi là nhận diện một hướng liệu pháp để giúp điều
trị những bệnh viêm nặng, Alirio Alendez, thuộc đại học Glasgow đã giải
thích như thế.Bây giờ phải cụ thể hoá tất cả những điều đó trên người.
(LE FIGARO 6/8/2009)
7/ POLYPILL : TIẾN BỘ ĐIỀU TRỊ
HAY ĐIỀU LẠ MẮT ?
Sự phối hợp của nhiều loại thuốc trong cùng một viên thuốc duy nhất, nhằm
kiểm soát nguy cơ tim mạch, là một triển vọng hấp dẫn. Giáo sư Olivier
Gurné (Cliniques Universitaires Saint-Luc, Bruxelles) điểm tình hình về
điều mới lạ này và yêu cầu chúng ta có một cái nhìn khá phê phán. “ Polypill
” phải chăng thật sự là “ viên thuốc diệu kỳ ” (wonder pill).
Hỏi : Giáo sư Gurné, ý niệm về viên thuốc
phối hợp (pilule combinée) đã sinh ra đời như thế nào ?
Olivier Gurné : ý niệm viên thuốc phối hợp (pilule combinée) hay “ polypill
”, như các người Anglo-Saxons thường gọi, đã có từ cách nay vài năm.
Ngay vào năm 2003, sự tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý rằng
sự phối hợp của nhiều loại thuốc nhằm vào tim mạch, trong cùng một viên
thuốc duy nhất, làm giảm khoảng 80% tỷ lệ mắc phải những biến cố tim mạch
hay những biến cố mới, nơi những người 55 tuổi hoặc hơn và nơi những người
đã có một bệnh tim mạch.
Hỏi : Những dữ kiện mới đây có khuynh hướng
xác nhận nó…
Olivier Gurné : Thật vậy, đó là công trình nghiên cứu TIPS (The Indian
Polycap Study), đã được trình bày nhân một hội nghị Tim học quan trọng
ở Hoa Kỳ và đã đưa đến sự công bố một bài viết trong một tờ báo y học
nổi tiếng.
Công trình nghiên cứu này, được tiến hành ở Ấn Độ, nơi 2053 người tuổi
từ 45 đến 80, không bị bệnh tim mạch, nhưng có ít nhất một yếu tố nguy
cơ. Công trình đã so sánh một viên thuốc phối hợp (pilule combinée) chứa
5 loại thuốc (3 thuốc chống cao áp, một thuốc làm giảm nồng độ mỡ trong
máu và aspirine) với cùng các thuốc loại thuốc này nhưng được cho riêng
rẻ, dưới dạng đơn liệu pháp (monothérapie) hay dưới dạng kết hợp khác
nhau các viên thuốc.
Hỏi : Các kết quả cho chúng ta biết những
gì ?
Olivier Gurmé : Các kết quả cho thấy rằng hiệu quả của “ polypill ” lên
huyết áp, mỡ và sự làm loảng máu (fluidification du sang) gần như tương
đương với hiệu quả có được bởi một điều trị có tác dụng đặc hiệu lên một
trong các tham số này. Nói một cách khác, quy tụ năm loại thuốc trong
cùng một viên thuốc không làm biến đổi hiệu quả của những loại thuốc này
khi chúng được cho một cách riêng rẻ. Phát xuất từ những nhận xét này,
các tác giả của công trình nghiên cứu cho rằng “ polypill ” có thể làm
giảm 62% các biến cố tim mạch.
Tính dung nạp cũng y hệt nhau : sự chịu thuốc không bị biến đổi bởi sự
gia tăng số các loại thuốc trong “ polypill ”. Tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân
bỏ điều trị không phải là không đáng kể vì lẽ tỷ lệ này là 10 đến 15%.
Hỏi : Nếu tính hiệu quả và độ dung nạp của
“ polypill ” là giống với các điều trị được cho riêng rẻ, thế thì đâu
là lợi ích của nó ?
Olivier Gurné : Chủ yếu là sự dễ sử dụng. Mục đích của viên thuốc phối
hợp là làm dễ sự tuân thủ điều trị. Sự tuân thủ này có khuynh hướng giảm
với số các viên thuốc được uống vào mỗi ngày. Vậy chúng ta có thể tưởng
tượng rằng sự quy tụ của 5 loại thuốc trong một viên thuốc duy nhất là
có lợi trên quan điểm này.
Hỏi : Ông nghĩ thế nào ?
Olivier Gurné : Dầu cho triễn vọng này có hấp dẫn thế nào chăng nữa, nó
cũng khiến tôi phải bày tỏ vài điều dè dặt.Việc đánh giá của viên thuốc
phối hợp đã chỉ được nhắm vào những yếu tố nguy cơ, chứ không phải vào
những biến cố tim mạch.
Có thể rằng một sự kiểm soát thích hợp của những yếu tố này làm giảm các
biến chứng, nhưng điều đó còn cần được chứng minh. Việc giảm 62% được
các nhà nghiên cứu nói đến không gì khác hơn là một sự suy diễn. Sẽ cần
phải xác nhận điều đó bằng những nghiên cứu bổ sung. Sau đó, nếu “polypill”
có thể cải thiện sự tuân thủ điều trị, thì đồng thời nó làm giảm khả năng
theo một điều trị nhắm đích và cá thể hóa (traitement ciblé et individualisé),
hoàn toàn tương ứng với profil nguy cơ riêng cho mỗi người.
Sau cùng, và nhất là, vài người đi đến chỗ xem “ polypill ” như là một
viên thuốc nhiệm màu cho phép họ coi thường những quy tắc vệ sinh cơ bản
: cóc cần một chế độ ăn uống quân bình, luyện tập thể dục hay cai thuốc
lá vì lẽ “ viên thuốc nhiệm màu ” bảo vệ tôi.
Lý luận đơn giản này thật đặc biệt nguy hiểm. Thật vậy chúng ta vẫn phải
là những tác nhân của nền y tế của chúng ta. Nếu viên thuốc phối hợp đưa
đến một loại thụ động thỏa mãn, thì nó phải được cấm chỉ không một phán
xét nào khác.
Hỏi : Sau hết những ứng viên tốt nhất của
sự sử dụng viên thuốc phối hợp là những ai ?
Olivier Gurné : “ polypill ” có thể tỏ ra hữu ích nơi những bệnh nhân
kiêm nhiệm các yếu tố nguy cơ và cảm thấy khó khăn buộc phải uống nhiều
loại thuốc.
Thật vậy, sự tuân thủ điều trị của một liệu pháp cá thể hóa buộc phải
đáp ứng với những cố gắng giáo dục được triển khai bởi thầy thuốc gia
đình hay thầy thuốc chuyên khoa tim. Polypill có thể có một lợi ích nơi
những người ít nhạy cảm hay tiếp thu với khía cạnh giáo dục vốn gắn liền
với công tác của chúng ta. (CŒUR ET ARTERE 6/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/5-5LeVNhan_VienDaDuoc_TimMach.htm
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr120.htm
(TSYH số 120 bài số 1)
8/ MÁY BAY : NHỮNG LỜI KHUYÊN ĐỐI
VỚI CÁC HÀNH KHÁCH
Những chuyến đi bằng đường hàng không, mà số lượng rất gia tăng vào mùa
hè, có liên hệ đến gần hai tỷ người mỗi năm. Thời gian kéo dài của vài
chuyến bay, kết hợp với sự lão hóa của dân số, đã làm dễ sự xuất hiện
những vấn đề về sức khỏe, mới đây đã được xem xét lại bởi một nhóm nghiên
cứu người Mỹ trong một bài báo của Lancet. Áp lực bên trong các cabine
tương ứng với một độ cao từ 1.524 đến 2.438 mét, làm giảm áp suất oxy
trong không khí thở từ 95 xuống 60 mmHg. Do đó, sự hạ hàm lượng oxy trong
máu có thể tạo nên nơi những người bị viêm phế quản tắc mãn tính những
suy hô hấp trong lúc bay. Do đó trước khi đi máy bay cần thăm khám. Nguy
cơ huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse) với biến chứng nghẽn mạch
phổi (embolie pulmonaire) đã được biết rõ đã xảy ra sau 8 giờ bay. Phương
pháp phòng ngừa tốt nhất : cử động các cẳng chân một cách đều đặn, uống
nhiều nước và nơi những người có tố bẩm, mang tất chun dài (bas de contention)..
hoặc tiêm héparine dưới da trước khi đi. Đối với nguy cơ nhiễm khuẩn trong
trường hợp dịch, phương pháp phòng ngừa là mang mặt nạ. (PARIS
MATCH 12/8/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr119.htm
(TSYH số 119 bài số 7)
9/ MỘT PHỤ NỮ CÓ THAI KHÔNG NÊN
CỬ ĂN.
Michael Symonds, trưởng phòng sức khỏe trẻ em của đại học Nottingham.
Càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn
uống của một phụ nữ có thai có một tác động lên sức khỏe về sau của đứa
bé.
Hỏi : Hai cơ quan y tế Hoa Kỳ yêu cầu các
phụ nữ bị tăng thể trọng chỉ được lên cân 4 đến 8 kg trong thời kỳ thai
nghén, điều này cần một chế độ ăn uống kiêng cữ. Ông nghĩ thế nào ?
Michael Symonds : Khó mà cho những lời khuyến nghị chung chung. Bởi vì
chứng béo phì là một yếu tố nguy cơ đối với phụ nữ cũng như đối với em
bé, nên các phụ nữ này phải là đối tượng của một sự theo dõi. Tuy nhiên,
sự kiêng cữ ăn uống trong thời kỳ thai nghén không phải là điều tốt. Nó
có thể gây nên sự xuất hiện những vấn đề sức khỏe nơi trẻ em, lúc trở
thành người lớn : cao huyết áp, bệnh đái đường, các bệnh thận...Những
thí nghiệm của chúng tôi trên cừu đã chứng tỏ điều đó một cách rõ ràng.
Hỏi : Những thí nghiệm này diễn ra như thế
nào ?
Michael Symonds : Chúng tôi đã theo dõi hai nhóm cừu cái trong thời kỳ
thai nghén. Nhóm thứ nhất ăn uống bình thường. Nhóm thứ hai buộc phải
theo một chế độ ăn uống trong 1/3 thời kỳ thai nghén (giảm bớt 50% calories).
Những con cừu non của hai nhóm sau đó được đặt vào trong một môi trường
làm dễ sự béo phì (ít khả năng hoạt động vật lý, ăn uống thỏa thuê). Tất
cả đã trở nên béo phì. Nhưng những con cừu non mà cừu mẹ vốn đã theo một
chế độ kiêng khem bị có thêm những vấn đề : loạn chức năng của mô mỡ và
đề kháng insuline, mà ta biết là dẫn đến các biến chứng của béo phì (đái
đường, các bệnh tim mạch). Như thế chế độ ăn uống kiêng khem của cừu mẹ
đã làm cho các cừu non dễ bị thương tổn hơn.
Hỏi : Cừu há chẳng phải quá cách xa với người
để có thể suy diễn những kết quả này ?
Michael Symonds : Trái lại đó là một mô hình tốt để nghiên cứu tác dụng
của hạn chế calories. Sự phát triển thai nhi của cừu gần giống với sự
phát triển thai nhi người ; mỡ của nó có tính chất tương tự với mỡ của
chúng ta. Mặt khác những kết quả mà chúng tôi có được trên cừu phù hợp
với những nghiên cứu dịch tễ học trên người. Những công trình nghiên cứu
này đặc biệt cho thấy rằng, sau nạn đói mà những người Hòa Lan đã chịu
đựng trong Đệ Nhị Thế Chiến, thì những đứa con của họ ngày nay bị nhiều
bệnh tim mạch và đái đường hơn so với những phụ nữ đã không hề biết đến
những hạn chế ăn uống. (LA RECHERCHE 7-8/2009)
10/ LÀM VIỆC BAN ĐÊM VÀ GIỜ GIẤC
KHÔNG ĐIỂN HÌNH : KHI ĐỒNG HỒ SINH HỌC BỊ RỐI LOẠN
Làm việc ban đêm, giờ giấc thay đổi, trực gác, đó là những bó buộc mà
vài người làm việc đã trải qua, với những hậu quả trên sức khỏe.
Những nhịp sinh học (rythmes circadiens) được ghi trong các gènes có lẽ
từ hơn hai tỷ năm và hiện diện ngay cả ở cyanobactérie. Nơi những động
vật có vú, chim và loài bò sát, những nhịp sinh học này được xác định
bởi một mô não biệt hóa, các nhân trên giao thoa thị giác (noyaux suprachiasmatiques).
Các nhân này tiếp nhận những thông tin ánh sáng từ những tế bào hạch (cellules
ganglionnaires) của võng mạc, qua dây thần kinh thị giác. Hệ thống rất
phức tạp này, dưới sự phụ thuộc vào khoảng 12 gène, điều khiển cả một
loạt các tham số, diễn biến theo một chu kỳ khoảng 24 giờ : sự luân phiên
thức ngủ (alternance veille sommeil), sự tiết các hormone khác nhau, thân
nhiệt, huyết áp, sự phân chia tế bào...
RỐI LOẠN NHỊP, RỐI LOẠN SỨC KHOẺ.
Chúng ta là những động vật sống ban ngày và được chương trình hóa để ngủ
vào ban đêm. Nhưng những yêu cầu của vài nghề nghiệp (những nghề y tế
và cứu thương, những người điều khiển tổng đài …) và những bức thiết kinh
tế của các xã hội hậu công nghiệp của chúng ta, buộc nhiều người phải
theo những giờ giấc làm việc không điển hình (horaires atypiques). Hậu
quả khả dĩ đầu tiên của công tác trực gác là shiftwork sleep disorder,
được đặc trưng bởi một sự mất ngủ vào các giai đoạn của giấc ngủ, với
một hậu quả lên món nợ ngủ (dette de sommeil), vì lẽ những người bị rối
loạn này ngủ 1-4 giờ ít hơn so với những người làm việc ban ngày. Điều
này dẫn đến một tình trạng ngủ gà vào những thời kỳ thức tỉnh. Những yếu
tố nguy cơ cá nhân là những nhu cầu căn bản giấc ngủ, typologie (những
người “ buổi sáng ” nhạy cảm hơn), giới tính (rối loạn thường xảy ra hơn
nơi các phụ nữ) và tuổi (những người có tuổi hơn ít dung nạp hơn công
việc trực gác). Công việc trực gác (travail posté) cũng là một yếu tố
nguy cơ của những rối loạn dạ dày-ruột (sự ngon miệng, rối loạn transit,
loét dạ dày-ruột) và chuyển hóa (thặng dư thể trọng, hội chứng chuyển
hóa và bệnh đái đường). Công việc trực gác cũng được liên kết với cao
huyết áp. Đặc biệt người ta đã phát hiện sự hủy bỏ nhịp ngày đêm của huyết
áp trong những thời kỳ làm việc ban đêm, trong khi lúc làm việc ban ngày
một sự hạ các trị số vào ban đêm từ 10 đến 20% đã được quan sát. Các phụ
nữ cũng không được miễn trừ bởi vấn đề này : người ta đặc biệt ghi nhận
ảnh hưởng của làm việc trực gác lên tính không đều của kinh kỳ và giảm
khả năng sinh đẻ. Về mặt sản khoa, sự liên kết với một sự gia tăng tần
số các sinh non và trọng lượng thấp của thai nhi lúc sinh đã được nhận
thấy. Cơ quan quốc tế nghiên cứu về ung thư đã thực hiện một duyệt xét
tư liệu và đã kết luận rằng làm việc trực gác gảy nên sự hủy bỏ nhịp ngày
đêm, có lẽ có khả năng sinh ung thư nơi người. Nhiều cơ chế có thể giải
thích hiệu quả này.
Thật vậy, một loạt các chức năng bị ảnh hưởng bởi nhịp ngày đêm : sự giải
độc các độc chất bởi gan, sự phân chia tế bào, sự tăng sinh tế bào. Những
ung thư liên hệ là những ung thư vú, nội mạc tử cung, đại tràng và tuyến
tiền liệt.Thời gian chịu trên 20 năm dường như có tính chất quyết định,
cũng như những yếu tố nhạy cảm cá nhân.
Trên bình diện cá nhân, những hậu quả của việc làm trực gác cũng có tính
chất xã hội và gia đình : cuộc sống xã hội và gia đình không được thỏa
mãn, đời sống tình dục bị rối loạn, nguy cơ ly dị gia tăng. Nguy cơ bị
tai nạn cũng gia tăng dầu đó đang lúc công tác hay lúc cầm lái. Những
tai nạn này cũng có những hậu quả quan trọng trên bình diện tập thể và
y tế cộng đồng. Phải biết rằng 4 tai họa quan trọng của thế kỷ XX (chìm
tàu Titanic, Three Mile Island, Bhopal, Tchernobyl) đã xảy ra vào giữa
đêm từ 1 giờ 30 đến 4 giờ sáng. (LE GENERALISTE 21/5/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (9/8/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |