 |
Thời
Sự Y Học số 136
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/CÚM A (H1N1) : OMS TIÊN
ĐOÁN 2 TỶ NGƯỜI BỆNH.
PANDEMIE. Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng trong hai năm đến sẽ có
2 tỷ người bị bệnh cúm mới.
Chúng ta vẫn đang còn ở giai đoạn đầu tiên hết của đại dịch gây nên bởi
virus A (H1N1) và khó khăn nhất có lẽ là giai đoạn sắp đến. Keiji Fukuda,
phó tổng giám đốc OMS, hôm qua ước tính rằng hai tỷ người trên thế giới
sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiễm trùng này trong hai năm đến. Những lời đoán
trước, được căn cứ trên tính chất cực kỳ nhanh chóng của sự lan truyền
của virus, chỉ 4 tháng sau khi xuất hiện ở Mễ Tây Cơ, chẳng bao lâu nữa
sẽ giáng lên toàn bộ các đất nước của hành tinh : 160 quốc gia trong số
193 các nước thành viên của OMS từ nay đều bị liên quan bởi bệnh cúm mới
này. Theo Grégory Hartl, phát ngôn viên của OMS, đã có gần 800 trường
hợp tử vong trong số hàng trăm ngàn người đã bị lây nhiễm bởi bệnh cúm
này. Mặc dầu tỷ lệ tử vong dường như thấp, nhưng tỷ lệ này chưa được đo
lường một cách chính xác, vì số lượng chính xác của những người đã bị
nhiễm trùng vẫn không rõ ràng. Virus, rất dễ gây lây nhiễm, trong đại
đa số các trường hợp chỉ gây nên những rối loạn nhẹ, có thể không được
nhận biết, tuy nhiên với một tỷ suất thấp những trường hợp nặng, đến nay
vẫn chưa được định số một cách rõ ràng.Vả lại, đó là điều mà phát ngôn
viên của OMS đã xác nhận hôm qua lúc nói rõ rằng “ càng có nhiều trường
hợp thì càng sẽ có nhiều tử vong ”, mặc dầu không có thể đưa ra một tỷ
lệ tử vong nào. “ Chúng ta không có tử số cũng không có mẫu số để có thể
tính toán ”, ông công nhận rằng “ nhiều câu hỏi vẫn luôn luôn không có
câu trả lời ”.
MỐI ĐE DỌA CỦA MỘT THỂ BỆNH NẶNG HƠN.
Hiện nay có hai mối đe dọa. Mối đe dọa đầu tiên là mối đe dọa của một
dịch bệnh hoạt động được báo trước và dường như không thể tránh được,
ngay vào tháng 9, với nguy cơ chính yếu là sự rối loạn xã hội-kinh tế
(mà tầm quan trọng vẫn còn khó để đánh giá hết) nếu nhiều người ăn lương,
công nhân viên, cán bộ bị mắc bệnh cùng lúc. Và với một tỷ lê tử vong
nào đó, mặc dầu vẫn còn được giới hạn.
Mối đe dọa khác, đó là sự biến dị của virus H1N1 thành một dạng nghiêm
trọng hơn và khi đó gây nên một số lượng người chết quan trọng hơn nhiều.
Thí dụ, trận đại dịch toàn cầu 1918 gây chết người khủng khiếp, đã được
đi trước bởi một trận dịch mùa hè tương đối hiền tính. Tuy nhiên, những
trận đại dịch năm 1957 và 1968 đã không hề biết đến một tình huống như
vậy và virus gây bệnh đã không biến dị để trở thành độc lực hơn. “ Chúng
ta phải biết rằng có thể có những thay đổi và chúng ta phải sẵn sàng đối
đầu với điều đó”, phát ngôn viên của OMS đã nói như vậy. “Đến nay, chúng
ta đã không quan sát thấy một sự thay đổi nào trong hành vi của virus.
Điều mà chúng ta đang quan sát thấy, đó là sự bành trướng về mặt địa lý
của nó”. Với giả thuyết về một sự biến dị như thế, thì tính hiệu quả của
vaccin đang được chế tạo sẽ ra sao ? Hiện nay không ai co thể đáp lại
câu hỏi này. Nhưng chúng ta biết rằng, vào trận đại dịch năm 1918, những
người, vốn đã bị lây nhiễm trong giai đoạn mùa hè và đã chỉ bị một thể
bệnh hiền tính, đã có được một khả năng miễn dịch nào đó khi virus đã
trở thành độc lực hơn. (LE FIGARO 25-26/7/2009)
2/ CÚM A (H1N1) : CÓ THỂ
LÂY NHIỄM 20 TRIỆU NGƯỜI PHÁP TỪ NAY ĐẾN CUỐI NĂM.
Đó là một dạng cúm độc lực trung bình, nhưng lan tràn với tốc độ rất cao.
Xét vì tốc độ lan tràn của virus A (H1N1), nhà cầm quyền Pháp tiên đoán
rằng 20 triệu người, hoặc gần 1/3 dân số quốc gia (65 triệu), có thể bị
lây nhiễm bởi đại dịch cúm mới từ nay đến cuối năm, thay vì 2,5 triệu
thường bị lây nhiễm hàng năm bởi cúm mùa.
Theo thông báo sau cùng của INVS (Institut national de veille sanitaire),
được xác lập hôm 21/7, 793 trường hợp cúm A (H1N1) dương tính đã được
thống kê ở Pháp cho đến nay, trong đó 103 trường hợp ở các lãnh thổ hải
ngoại.
Do việc di chuyển của hàng triệu người đi nghỉ hè, nhà cầm quyền châu
Âu dự kiến một sự lan tràn mạnh mẽ của cúm A (H1N1) trên lục địa trong
suốt mùa hè, và chuẩn bị các chiến dịch tiêm chủng có trọng điểm trong
mùa thu tới. Uỷ viên y tế, Androulla Vassiliou, đã loan báo hôm thứ tư
22/7 rằng một hội đồng bất thường các bộ trưởng của Liên Hiệp châu Âu
đã được triệu tập vào đầu tháng mười để thông qua những quyết định cần
thiết. Bà ủy viên y tế nhắc lại rằng hiện nay chưa có vaccin và yêu cầu
các người dân châu Âu hãy “giữ bình tỉnh”, rửa tay và tránh các đám đông
to lớn. Ở Pháp, chính phủ chuẩn bị ngay từ tháng chín một đội hình chiến
đấu y tế và hậu cần quan trọng.
Hôm thứ tư 22/7, nhân một cuộc họp báo, bà bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot,
đã tuyên bố không loại bỏ việc “ chuyển qua cấp 6 của kế hoạch quốc gia
phòng ngừa và chống đại dịch cúm vào tháng 9, dĩ nhiên là trừ trường hợp
chúng ta quan sát thấy một sự gia tốc nhanh chóng của dịch bệnh trong
tháng 8 ”
Mãi đến nay, chính phủ Pháp đã quyết định duy trì kế hoạch quốc gia chống
đại dịch ở cấp 5A. Việc chuyển qua cấp 5 B (sự lan tràn quan trọng của
virus) hay 6 (toàn đại dịch) hàm ý một loạt các biện pháp nặng nề hơn
(tăng cường kiểm tra ở biên giới, đình chỉ việc đi và đến của những hành
khách quốc tế, đóng cửa nhà trẻ và trường học, đình chỉ hay giảm bớt vài
phương tiện vận chuyển công cộng...). Tuy nhiên phải nhớ rằng kế hoạch
này đã được thiết lập trong bối cảnh của một đại dịch cúm gia cầm A (H5N1),
nguy hiểm hơn nhiều. Trong trường hợp chuyển qua cấp 5B hay 6 để chống
lại virus A (H1N1), một phần của những biện pháp này có lẽ có thể được
làm nhẹ bớt. (LE MONDE 24/7/2009)
3/ CÚM A (H1N1) : 200.000
NGƯỜI ANH CÓ THỂ ĐÃ MẮC NHIỄM VIRUS. MỘT KỊCH BẢN TAI ƯƠNG DỰ KIẾN 65.000
NGƯỜI CHẾT.
Mối hoảng sợ đã xâm chiếm các hòn đảo của Vương quốc Anh. Người ta đã
đếm được 30 trường hợp tử vong (26 ở Anh, 4 ở Ecosse) gây nên bởi cúm
A (H1N1). Hiện nay Anh là nước châu Âu bị ảnh hưởng nhất bởi đại dịch.
Chỉ riêng ở Anh, 840 người được nhập viện, trong đó 63 người được đưa
vào khoa điều trị tăng cường (ICU), bộ trưởng y tế hôm thứ năm 23 tháng
7 đã loan báo như vậy. Và trong 7 ngày vừa qua, 100.000 người mới đã có
những triệu chứng của bệnh cúm. Hoặc gần như gấp hai lần nhiều hơn so
với tuần trước (cũng đã thấy con số này tăng gấp hai). Vậy tính toàn bộ
đến nay có hơn 200.000 người Anh có thể đã mắc phải bệnh (nhưng chưa được
chính thức chẩn đoán như là bị nhiễm bởi virus).
Với nhịp độ này, Andy Burnham, bộ trưởng y tế Anh tiên đoán, “chúng ta
sẽ thấy hơn 100.000 trường hợp mỗi ngày từ nay đến cuối tháng tám”. Và
hơn 12% những người ăn lương buộc phải ở nhà vào tháng 9, khi 30% dân
số (và 50% các trẻ em) sẽ bị nhiễm bệnh. Do đó Sở Y tế công cộng (NHS
: National Health Service) được yêu cầu chỉnh đốn đội hình tác chiến để
đối phó với kịch bản tai họa được thể hiện bởi 65.000 người chết.
Trong một tài liệu 59 trang, nhằm cung cấp “một khung để quản lý những
trường hợp tử vong”, chính phủ đã dự kiến tất cả. Người ta dự kiến biến
đổi thành “những nhà xác tạm thời” những nơi vốn không được sử dụng vào
việc này. Chính phủ cũng đề nghị rằng các linh mục tổ chức những “lễ tang
ngắn ngủi” hơn thường lệ nhằm tránh gây ứ đọng.Và xem “có thể (đối với
các nhà hỏa táng) làm việc 24 giờ trên 24 và 7 ngày trên 7 hay không”.
Nước Anh là quốc gia “ được chuẩn bị tốt nhất ” trong cuộc đấu tranh chống
lại đại dịch, Gorgon Brown đã nhấn mạnh như thế. Nhưng trong Sở Y tế (NHS),
theo một thăm dò được thực hiện bởi chính cơ quan, chỉ 4 nhân viên y tế
trên 10 nghĩ là được trang bị để đương đầu với một sự tăng cao mới của
số lượng các bệnh nhân. Và việc mở một “ hot line ” đặc biệt về cúm A
(H1N1), nhằm làm nhẹ gánh các thầy thuốc gia đình đang bị tràn ngập, sẽ
không mang lại phép nhiệm màu. Ngoài ra 1.500 người giữ tổng đài, với
nhiệm vụ thực hiện chẩn đoán qua điện thoại trước khi cấp Tamiflu cho
các người gọi, lại không có một đào tạo y khoa nào cả. (LE
MONDE 25/7/2009)
4/ CÚM A (H1N1) : CÓ NÊN CỐ Ý TIẾP
XÚC VỚI VIRUS ?
Ở châu Âu và ở Hoa Kỳ xuất hiện một phong trào ủng hộ việc lây nhiễm tự
nhiên (contamination naturelle). Mặc dầu không được các thầy thuốc khuyến
nghị, phương cách này nhằm mắc bệnh dưới dạng đang còn hiền tính.
Ý tưởng đơn giản và có thể được thực hiện một cách thích thú. Đó là mời
tham dự dạ vũ một hay nhiều người bị cúm A (H1N1). Người ta có thể ăn
tối, bông đùa, trò chuyện thân mật. Nhưng điều chủ yếu là làm dễ việc
tiếp xúc vật lý, là ôm hôn nhau và nếu nhảy nhót, đặt ưu tiên cho điệu
nhảy chậm (slow), trong đó các người nhảy ôm sát vào nhau nhất. Bởi vì
mục tiêu là rõ ràng : nhờ các thượng khách, những người mang bệnh cúm,
buổi dạ vũ hẳn phải cho phép một sự lây nhiễm tối đa những người tham
dự.
Họ đến tự ý. Họ muốn mắc phải bệnh. Họ mong muốn bị lây nhiễm bây giờ,
trong khi virus không quá độc lực, hơn là vào mùa thu tới, khi đó có nguy
cơ nghiêm trọng hơn nhiều. Điều đó được gọi là sự lây nhiễm tự ý (contamination
volontaire), một loại tiêm chủng tự nhiên (vaccination naturelle), nhằm
sinh ra những kháng thể càng nhanh càng tốt để đề kháng tốt hơn về sau
này. Các người Anglo-Saxons gọi đó là “dạ hội cúm” (“swine flu parties”,
“soirées grippe”, “ fêtes grippe porcine ” ).
Cộng đồng khoa học đồng ý: virus phối hợp những yếu tố của cúm người,
heo và gia cầm, từ nay không có thể ngăn chặn được nữa. Không có nước
nào sẽ thoát khỏi. Đang trong mùa đông Nam cực, Úc đại lợi hiện nay là
nước bị ảnh hưởng nhất của vùng Thái bình dương. Xét rằng không gì sẽ
có thể ngăn chận được toàn đại dịch, OMS hôm 13/7 đã bật đèn xanh cho
các xí nghiệp dược phẩm để chế tạo các vaccin. Nhân viên y tế phải được
điều trị ưu tiên.
Chính để tránh dạng hoạt tính nhất của virus, được dự kiến vào mùa thu
và mùa đông sắp đến, ở Châu Âu và ở Bắc Mỹ, mà các “dạ vũ cúm” đã được
tổ chức. Báo Le Monde đã hỏi một số các chuyên gia về phương thức kỳ lạ
này. Ý kiến nhất trí : không ai khuyên đùa giỡn như vậy với virus, ngay
cả dưới dạng hiền tính nhất của nó.
“Việc tạo ra các nguy cơ cho người ta, nhất là các trẻ em là một sai lầm
to lớn”, Richard Besser, giám đốc của các trung tâm kiểm tra và phòng
ngừa các bệnh tật ở Hoa Kỳ đã nói như vậy. “Ngay khi chúng ta đã biết,
qua những dữ kiện dịch tễ học và các quan sát trong các khoa phòng bệnh
viện, rằng chúng ta đã đương đầu với một dạng cúm hiền tính, thì vấn đề
này đã ló hiện ra, GS François Bricaire, phụ trách một trong các khoa
dịch bệnh nhiễm trùng, thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã giải
thích như vậy. Nếu biết rằng chúng ta sẽ có thể phải đối đầu với một làn
sóng thứ hai nặng hơn vào mùa thu tới, thì không phải là hoàn toàn không
hợp lý khi tự bảo : “ Chúng ta hãy cứ để mắc bệnh lần này, bởi vì nếu
nhiều người có các kháng thể, thì điều đó sẽ đơn giản hóa việc tiêm chủng
trong tương lai ”.
Giám đốc Trường cao học y tế công cộng và là chuyên gia dịch tễ học, G.S
Antoine Flahaut cũng công nhận rằng “ Những người nào sẽ bị mắc bệnh cúm
A (H1N1) sớm, sẽ có nhiều lợi thế : có thể nói là họ sẽ được tiêm chủng
trước những người khác. Hơn thế nữa, nếu họ bị một bệnh cúm với các biến
chứng, thì có lẽ tốt hơn điều này nên xảy ra vào lúc mà các bệnh viện
không bị tràn ngập ”.
Nguyên tắc gây miễn dịch tự nhiên bằng cách tiếp xúc với một người mang
một virus, đã nẩy nở trong các quốc gia anglo-saxon, chung quanh bệnh
thủy đậu (varicelle) (chickenpox). Các “ chickenpox parties ” đã phát
triển cho đến những năm 1990, trong khi không có vaccin chống lại bệnh
thủy đậu : các người dự tiệc tập hợp các đứa con mình chung quanh bệnh
nhân mang các bọng nước (vésicules), dấu hiệu của nhiễm trùng bởi virus
của họ herpès.
Ý tưởng này đã tồn tại đặc biệt trong những gia đình không thích vaccin
hay nơi những người nghĩ rằng tính miễn dịch tự nhiên mạnh hơn tính miễn
dịch do một sản phẩm được chế tạo ở phòng thí nghiệm. Ý tưởng này vẫn
tiếp tục được truyền bá trên các sites Internet, kể cả đối với bệnh cúm.
Những người cổ xướng phương thức lây nhiễm tự nhiên này đặc biệt đưa ra
một cuốn sách, The Great Influenza, của John M.Barry, được công bố năm
2004, sách kể rằng những người vốn đã mắc bệnh cúm Tây Ban Nha vào năm
1918 vào lúc làn sóng đầu tiên, xảy ra vào mùa xuân, với độc lực tương
đối vừa phải, đã được che chở vào hai đợt dịch bệnh nghiêm trọng hơn nhiều,
xảy ra nối tiếp nhau vào mùa đông sau đó.
Về các “swine flu parties”, giám đốc CDS, Richard Besser xác nhận rằng
“sẽ là sai lầm to lớn khi gây các nguy cơ lên người ta và các trẻ em.
Đó là một căn bệnh mới, mới phát khởi (émergente), và mỗi ngày chúng ta
học hỏi nhiều hơn về nó ”.
“ TÔI SẼ KHÔNG LÀM ĐIỀU ĐÓ CHO TÔI ”
Trong cùng chiều hướng đó, G.S Flahault cho rằng “ chúng ta không rõ lắm
về độc lực của virus A (H1N1). Thí dụ, ở Pháp, các dữ kiện của các giấy
khai tử chỉ tường trình một phần nhỏ về số các trường hợp tử vong do bệnh
cúm, dầu đó là cúm mùa hay là virus mới ”. Phần lớn, chỉ những biến chứng
nhiễm trùng của bệnh cúm (viêm phổi, viêm phế quản..) là xuất hiện trên
hồ sơ.
Việc tự ý làm mắc bệnh cúm không phải là vô hại. Mặc dầu các chuyên gia
nhất trí nói rằng các con số chính thức các trường hợp được xác nhận và
tử vong là xa với thực tế, nhưng các dữ kiện của OMS cho thấy rằng cứ
một ngàn trường họp thì có một tử vong. “Nếu mắc bệnh cúm bất cứ giá nào
là một loại thuốc, thế thì người ta có sẽ chấp nhận rằng thứ thuốc này
sẽ dẫn đến tử vong với nhịp điệu này hay không ?, BS Jean- Marie Cohe,
điều phối viên quốc gia của Groupes régionaux d’observation de la grippe
(GROG) đã nêu câu hỏi như thế.
Ngoài lợi ích cá nhân khả dĩ mà một người có thể có được do một sự lây
nhiễm sớm với virus, cũng phải nghĩ về mặt đạo đức : một người bị nhiễm
trùng có thể truyền virus chung quanh mình và phát khởi nơi những người
có sức khỏe mỏng manh nhất, một căn bệnh có khả năng gây chết người. Cố
ý để lây nhiễm virus A (H1N1) ? “ Thú thật, tôi sẽ không làm điều đó cho
tôi hay cho gia đình tôi, BS Cohen tiếp tục nói. Ngược lại, nếu có bị
mắc phải cũng không phải là một thảm họa. Không có gì phải hoảng sợ, không
cần phải thay đổi các thói quen vốn có hay những dự định của mình, nhất
là các dự tính nghỉ hè.”
Một thái độ được xác nhận bởi G.S Bricaire : “Con gái tôi hỏi tôi nó có
phải duy trì một cuộc du lịch được dự kiến đi Argentine hay không. Sau
khi tham khảo ý kiến với các nhà nghiên cứu đồng nghiệp, tôi đã bảo nó
đừng hủy bỏ cuộc hành trình”. (LE MONDE 15/7/2009)
5/ “ SỰ GIÀ CẢ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT
CĂN BỆNH CẦN PHẢI ĐIỀU TRỊ ”
Hỏi : Ông nghĩ gì về việc tăng gia các điều
trị được gọi là chống già (traitement anti-âge) ?
Claude Jeandel : Từ ngữ chống già (anti-âge) có thể làm tin tưởng một
cách sai lạc rằng sự lão hóa là một căn bệnh cần phải chống lại, và rằng
có thể chữa được nó. Chúng ta đứng trước một vấn đề biểu tượng cá nhân
(représentation personnelle). Hình ảnh mà ta có về chính mình phải chăng
chỉ được căn cứ trên cái bề ngoài thể xác ? Chúng ta không thể cảm thấy
lành mạnh mà không cần phải trẻ và tuyệt vời hay sao ?
Hỏi : Nhiều người đã nhờ đến hormone liệu
phát tăng cường (hormonothérapie intensive), đến các chất bổ sung ăn uống
(compléments alimentaires)...Há không phải người ta đi quá xa, quá nhanh
chăng ?
Claude Jeandel : Nếu không có những thiếu hụt thật sự các vitamine hay
các vi yếu tố (oligo-éléments), thì không có chỉ định cần đến những sự
bổ sung như thế, vì nguy cơ có thể sinh ra những biến chứng do một sự
quá liều. Về các hormone, các mức độ chứng cớ về tính hiệu quả và vô hại
của chúng hiện nay không được đầy đủ.
Hỏi : Già khỏe (bien viellir) nghĩa là gì
?
Claude Jeandel : Đó là đạt đến một tuổi cao mà vẫn khỏe mạnh, với tất
cả các năng lực của mình. 20% đến 25% những người lớn tuổi đạt được điều
đó. Để được như vậy phải gìn giữ tối đa các dự trữ chức năng (réserves
fonctionnelles) của mình.
Hỏi : Ông hiểu như thế nào là “ các dự trữ
chức năng ” ?
Claude Jeandel : Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta chỉ
huy động khoảng 30% năng lực chức năng (capacités fonctionnelles) của
chúng ta và do đó, chúng ta có một giới hạn an toàn (marge de sécurité),
được đánh giá là khoảng 70% của các năng lực tối đa. Chính đó là dự trữ
chức năng (réserve fonctionnelle). Chúng ta sử dụng nguồn vốn này để đương
đầu với những cuộc tấn công vào sức khỏe của chúng ta. Tiềm năng này tạo
cho chúng ta những khả năng lấy lại sức và hồi phục. Một sự suy giảm nguồn
dự trữ này làm cho chúng ta mỏng manh yếu ớt.
Hỏi : Làm sao tối ưu hóa nguồn dự trữ chức
năng này ?
Claude Jeandel : Cốt yếu đó là sự phòng ngừa. Phòng ngừa các bệnh tim
mạch và các ung thư, bằng cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ và nhất là
một chế độ ăn uống thích nghi. Phòng ngừa tình trạng déconditionnement
physique et cognitif xảy ra lúc về hưu, bằng cách thực hiện đều đặn một
hoạt động vật lý và trí tuệ. Ngăn ngừa những thiếu hụt về cảm giác, thính
giác và thị giác, bằng sự theo dõi y tế. Nhưng cũng ngăn ngừa những mất
mát về mặt tình cảm, quan hệ, xã hội và nghề nghiệp, bằng những chiến
lược cần phải suy nghĩ đến trước khi ngừng làm việc. Đặc biệt nên duy
trì sự ham muốn, động cơ, hành động. Thiếu những cái đó, chúng ta sẽ trượt
về hướng sự lão hóa “ thông thường ”, nghĩa là buông trôi dần, mất dần
các chức năng, do mất quá trình xã hội hóa (désocialisation), sự cô đơn
cô độc.
Hỏi : Thiết lập các lớp tuổi (classes d’âge),
thứ 3, thứ 4 và cả thứ 5, có là một điều tốt hay không ?
Claude Jeandel : Không, bởi vì cuộc sống là một chuỗi liên tục không khúc
đoạn (un continuum non segmenté). Quan điểm chia thành các lớp tuổi chỉ
duy trì những bản đúc (stéréotypes) xã hội-văn hóa, chuyên chở những hình
ảnh âm tính về tiến trình cao tuổi. Cái nhìn này ngăn vách các thế hệ
và không mang lại sự gặp gỡ nhiều thế hệ (rencontre multigénérationnelle).
Tốt hơn là nên gợi ra một chuỗi liên tục từ lúc sinh ra đến lúc lìa đời,
được hỗ trợ bởi một dự kiến của cuộc sống cá nhân. Đó là một điều kiện
cần thiết để cho một sự liên đới giữa các thế hệ có thể thực hiện được.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2009)
6/ KHÔNG CÓ MỐI LIÊN HỆ GIỮA SỐC
TÂM LÝ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA MỘT KHỐI U UNG THƯ
Trái với vài niềm tin trong dân gian, một công cuộc điều tra rộng lớn
vừa cho thấy rằng không hề có một mối liên hệ nào giữa sốc tâm thần (choc
psychique) và ung thư cả.
Đó là một ý tưởng phổ biến trong công chúng và nơi các người bệnh : tang
chế, stress hay một rối loạn nhân cách, thậm chí một chứng trầm cảm có
thể là những yếu tố gây nên sự xuất hiện của một ung thư.
Ở Úc, 40 % các phụ nữ được hỏi nghĩ rằng stress có thể là nguồn gốc của
một ung thư vú. Vào đầu tháng sáu 2009, tạp chí dịch tễ học và y tế công
cộng vừa cho công bố một tổng hợp 32 công trình nghiên cứu, là một gáo
nước lạnh thật sự đối với những người bảo vệ của nguyên nhân này : 18
trong những công trình nghiên cứu này không cho thấy một mối liên hệ nào
giữa các yếu tố “ tâm thần ” và nguy cơ bị ung thư cả, 6 công trình nghiên
cứu chỉ tìm thấy sự liên kết có ý nghĩa trong một hay nhiều nhóm, và 4
điều tra cho thấy cả một mối quan hệ ngược đối với các ung thư phụ nữ
(ít nguy cơ bị ung thư hơn nơi những người bị stress).
Ngay năm 1999, một phân tích méta 11 cuộc điều tra về mối liên hệ giữa
những biến cố khó khăn của đời sống và ung thư vú, hướng vào tình trạng
tang chế và nguy cơ ung thư. “Khuynh hướng được quan sát là khuynh hướng
của một sự giảm nguy cơ ung thư vú với thời gian sống góa phụ ”, G.S Simon
Schraub, một trong những tác giả đã nhận xét như vậy. Một trong những
điều tra được thực hiện trên 4.905 góa phụ : phân tích kết luận rằng sự
vắng mặt nguy cơ tử vong do ung thư vú, cao hơn nơi các góa phụ so với
những người chứng.
Công trình nghiên cứu về stress, được cảm nhận, giữa năm 1968 và 1969,
nơi 1.462 phụ nữ Thụy Điển, tuổi từ 38 đến 60, cũng như điều tra trên
một nhóm các phụ nữ Thụy điển đã bị mất con, cũng như điều tra về stress
nghề nghiệp trên 69.886 nữ y tá Hoa Kỳ, đã không cho phép tiên đoán một
tỷ lệ gia tăng mắc phải ung thư vú.
Nhân cách (personnalité) và những rối loạn tâm lý cũng là một giả thuyết
đã được đưa ra như là có thể tạo điều kiện hay là nguyên nhân của ung
thư (nhất là ung thư vú). Sự khó khăn trong việc diễn đạt các cảm xúc
tình cảm, một sự ức chế cơn giận dữ, một thái độ mất hy vọng, một sự hy
sinh nhu cầu riêng của mình cho nhu cầu của những kẻ khác đã được đưa
ra như là nguyên nhân phát khởi ung thư.
Nhưng theo Simon Schraub, công trình nghiên cứu những nguyên nhân tử vong
nơi các người lính Hoa Kỳ được cho phục viên năm 1944 vì loạn thần kinh
(névrose), cũng như công trình nghiên cứu nhân cách (personnalité) của
những phụ nữ được gọi lại sau khi được chụp vú để phát hiện ung thư, đã
không cho những kết quả có sức thuyết phục.
Một hướng cuối cùng được phân tích : chứng trầm cảm và ung thư. Ở đây
cũng vậy, trên 7 công trình nghiên cứu được tham khảo bởi các nhà nghiên
cứu người Pháp, có 4 là âm tính, và một công trình tìm thấy một mối nguy
cơ bị ung thư ít cao hơn nơi những người bị trầm cảm ! (LE
FIGARO 14/7/2009)
7/ CÂU CHUYỆN LẠ KỲ CỦA CÔ BÉ CÓ
HAI TRÁI TIM.
TRANSPLANTATION. Sự cắt bỏ trái tim được ghép của Hannah, do bị những
biến chứng nghiêm trọng, đã đưa đến sự chữa lành kỳ lạ của trái tim tự
nhiên, bị bệnh từ lúc sinh ra đời.
Hannah Clark được 16 tuổi, và cô kiếm tiền tiêu vặt nhờ giữ các động vật
nuôi trong nhà. Mùa hè năm nay cô cùng gia đình đi biển. Xa các thầy thuốc,
các bệnh viện, xa, rất xa cái số phận bi thảm đã hứa hẹn với cô chỉ ít
lâu sau khi sinh ra đời. Bởi vì Hannah là một người được phép nhiệm màu
của nền y học hiện đại, cô được chữa lành một bệnh cơ tim của nhũ nhi
(cardiomyopathie du nourrisson), đáng lý đã phải giết chết cô.
Sinh tháng 5 năm 1993 ở Mountain Ash, gần Cardiff ở xứ Galles, Hannah
được mang đến phòng cấp cứu vào tháng giêng năm 1994, ở bệnh viện Harefield
(Middlesex), chuyên về các bệnh tim và phổi : khi đó cô có tất cả những
triệu chứng của một suy tim nặng. Hannah bị một bệnh của tim, một bệnh
cơ tim (cardiomyopathie) (thường xảy ra nhất trước tuổi 12 tháng) có tiên
lượng rất u tối.
Ngay sau khi được ghi tên lập tức lên một danh sách chờ đợi của những
trường hợp siêu cấp cứu (superurgences) để được ghép tim, Hannah được
mổ vào tháng 7 năm 1995. G.S Magdi Yacoub, thầy thuốc tiền phong người
Anh về ghép tim và phổi, đã thiết đặt trong ngực của cô bé một trái tim
của người cho (từ một em bé 5 tháng), nhưng thay vì lấy trái tim bị bệnh
ra khỏi lồng ngực của cô bé, ông để nó lại tại chỗ. Trái tim ghép tí xíu
được thiết đặt nằm song song với trái tim bệnh và đóng vai trò của một
hỗ trợ tâm thất (assistance ventriculaire) để giúp tim bị bệnh đẫy máu
trong cơ thể. Trong 4 năm trời, tim ghép này hoạt động một cách tuyệt
hảo. Dĩ nhiên, Hannah, cũng như mọi bệnh nhân được ghép khác, phải dùng
những thuốc chống thải bỏ (médicaments antirejets) để đảm bảo một sự hủy
bỏ miễn dịch đầy đủ để cơ thể không thải bỏ trái tim được ghép. Trái tim
bệnh của cô phục hồi và hoạt động trở lại một cách thỏa mãn. Nhưng vào
tháng 8 năm 2001, một vận khắc nghiệt mới : Hannah là nạn nhân của một
biến chứng cổ điển của các thuốc chống thải bỏ này. Thật vậy người ta
chẩn đoán nơi cô một dạng ung thư được mệnh danh là “hội chứng tăng sinh
tế bào lympho” (syndrome lymphoprolifératif), một khối u ác tính, được
hoạt hóa bởi virus Ebstein-Barr, đã xuất hiện trong cô nhờ tác dụng của
các thuốc làm giảm miễn dịch.
“ 12 GIỜ ĐỂ SỐNG ”
Vào lúc 8 tuổi, hai trái tim của Hannah dường như hoạt động một cách bình
thường, nhưng ung thư thứ phát này tiếp tục tiến triển. Khối u “ sáng
ngời lên ”, và đe dọa mạng sống của cô bé. Nhiều hóa học liệu pháp chống
ung thư dầu sao cũng thành công kềm chế được căn bệnh mặc dầu không làm
biến mất nó hoàn toàn. Vào tháng giêng 2003, một đợt tái phát của ung
thư đòi hỏi lần nữa một đợt điều trị chống ung thư. Trong hai năm trời,
cuộc chiến đấu của Hannah được tiếp tục không ngừng.
Như thể như thế chưa đủ, năm 2005, siêu âm tim kiểm tra làm lo ngại nhiều
thầy thuốc : trái tim tự nhiên của cô gái nhỏ tiếp tục làm việc tốt, nhưng
trái tim được ghép cho những dấu hiệu mệt mỏi không thể chối cãi. Thật
vậy, để làm ngưng sự tiến triển của ung thư, các thầy thuốc đã giảm những
liều thuốc làm suy giảm miễn dịch và trái tim ghép không còn được bảo
vệ chống lại sự thải bỏ nữa. Giải pháp duy nhất để thoát khỏi cái vòng
qủy quái này, đó là lấy đi trái tim được ghép, ngưng các loại thuốc “
nuôi dưỡng ” khối u, và hy vọng rằng trái tim nguyên thủy có khả năng
làm việc một mình.
Một toan tính lấy trái tim ghép ra đã không bao giờ được thực hiện. Tuy
vậy, vào tháng hai 2006, G.S Magdi Yacoub đã mổ lấy nó ra ở Great Ormond
Street Hospital de Londres. Paul, bố của Hannah, trong một cuộc họp báo
ngày hôm kia ở Luân Đôn, đã nhớ lại rằng, một cô y tá khi đó đã nói với
ông rằng “con gái ông chỉ còn sống 12 giờ nữa mà thôi” và ông đã trả lời
với cô ta : “Hãy tin vào điều mà cô muốn, và còn tôi, tôi tin vào điều
mà tôi muốn”. 3 năm rưỡi sau khi lấy bỏ trái tim được ghép, mà không có
nó người ta nghĩ rằng cô sẽ không còn có thể sống được nữa, nhưng Hannah
vẫn luôn luôn mạnh khỏe và sống giữa một đám bạn bè. Theo GS Yacoub, phép
nhiệm màu y khoa này chứng tỏ khả năng của những ghép tim tạm thời trong
lúc chờ đợi một sự chữa lành ngẫu nhiên của trái tim bị bệnh. (LE
FIGARO 15/7/2009)
8/ BÉO PHÌ TỪ
MẸ ĐẾN CON GÁI VÀ TỪ CHA ĐẾN CON TRAI.
SANTE. Theo một công trình nghiên cứu của đại học y khoa Plymouth, các
đứa con bắt chước thái độ ăn uống (comportement alimentaire) của những
người sinh thành cùng giới tính, nhưng không đối với người thuộc giới
tính đối lại.
Mẹ thế nào thì con gái như thế đó, cha ra sao thì còn trai như vậy. Đó
là một trong các kết luận của công trình nghiên cứu về chứng béo phì,
vừa được thực hiện bởi trường y thuộc đại học Plymouth. Công trình nghiên
cứu cho thấy rằng các phụ nữ béo phì có cơ may có những con gái béo phì
10 lần nhiều hơn so với các phụ nữ có trọng lượng bình thường và rằng
tỷ suất là 6 lần giữa cha và con trai. Và nhất là, công trình nghiên cứu
nói thêm rằng mối liên hệ này không bắt chéo nhau : một người cha bị tăng
thể trọng không ảnh hưởng gì hết lên con gái và ngược lại.
41% các cô gái nhỏ 8 tuổi có mẹ béo phì đến lượt mình cũng vậy, so với
4% trong những gia đình có mẹ không có một vấn đề nào về trọng lượng.
Ngược lại, những cậu thiếu niên có mẹ béo phì đến lượt mình không là như
vậy. Về phía đàn ông, 18% các cậu bé nhỏ có cha béo phì đều có cùng hội
chứng, trong khi không có một khác nhau nào đối với các cô gái. Được tiến
hành nơi 226 gia đình trong suốt 3 năm, công trình nghiên cứu này cho
thấy rằng trọng lượng được liên kết với một vấn đề “ giao cảm hành vi
” (sympathie comportementale) hơn là với một vấn đề di truyền, các nhà
khoa học đã xác nhận như vậy. Các cô gái bắt chước phong cách sống của
mẹ và các cậu con trai bắt chước lối sống của cha.
XEM XÉT LẠI SỰ PHÒNG NGỪA
Kết luận của các nhà nghiên cứu : phải xét lại những chiến dịch phòng
ngừa. Ở Anh, các thông điệp nhằm vào những trẻ em quá béo phì với ý nghĩ
cho rằng chúng sẽ trở nên những người trưởng thành béo phì. Nếu những
người lớn có thể trọng gia tăng là những vecteur đầu tiên của chứng béo
phì của các trẻ em, thì phải làm thay đổi các chính sách truyền đạt. “Những
thông điệp phòng ngừa vậy phải nhắm vào các bố mẹ, trái với điều đã được
thực hiện cho đến nay ”, G.S Terry Wilkin, một trong những người phụ trách
điều tra đã xác nhận như thế. Ở Pháp thì cho rằng việc chống lại chứng
béo phì cần nhiều thông điệp nhằm vào không những ở trẻ em mà cả bố mẹ
nữa. (LE FIGARO 14/7/2009)
9/ ĐỂ GIỚI HẠN CÁC NHỒI MÁU CƠ
TIM. ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CÓ HỆ THÔNG NHỮNG NGƯỜI 50 TUỔI.
1/3 các cơn đau tim (crises cardiaques) (hay nhồi máu cơ tim) xảy ra trước
tuổi 60. G. S Jean-Noel Fabiani, trưởng khoa giải phẫu tim mạch, bệnh
viện châu Âu Georges-Pompidou de Paris, nhấn mạnh đến lợi ích của một
phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire).
Hỏi : Tần số của các nhồi máu cơ tim nơi
đàn ông ?
G.S Jean- Noel Fabiani : Ở Pháp, người ta thống kê được 120.000 trường
hợp nhồi máu cơ tim mỗi năm, do xơ vữa động mạch (athérosclérose), mà
(theo những công trình nghiên cứu mới đây), trong đó 30% xảy ra nơi những
người đàn ông chưa được 60 tuổi ! Trong phần lớn các trường hợp, các tai
biến tim này đáng ra có thể tránh được chỉ với một điều tra phát hiện
(dépistage) ở tuổi ngũ tuần. Phải biết rằng, thường nhất, các nhồi máu
cơ tim xảy ra đột ngột, không có một triệu chứng nào báo trước...Do đó
lợi ích của một việc chẩn đoán sớm.
Hỏi : Tại sao ông khuyên điều tra phát hiện
ở tuổi 50 ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Loài người có một khuynh hướng rất mạnh phát triển
âm thầm nhưng chắc chắn một căn bệnh đặc biệt có hại đối với các động
mạch : chứng xơ vữa động mạch (athérosclérose). Chứng xơ vữa này dẫn đến
sự tạo thành các mảng vữa động mạch (plaques d’athérome), dần dần bít
lỗ của các huyết quản. Trong những giải phẫu tử thi, được thực hiện nơi
những người lính trẻ 20 tuổi chết vì chiến tranh, người ta đã có thể quan
sát thấy các thương tổn trên động mạch chính của tim ! Nếu những người
lính trẻ này còn sống, thì những thương tổn này sẽ trở nên nguy kịch ở
tuổi 50, là tuổi mà các huyết quản ít mềm dẻo hơn và là lúc chứng béo
phì bụng bắt đầu xuất hiện. Hai yếu tố này làm gia tăng nguy cơ xơ vữa
động mạch.
Hỏi : Những xét nghiệm nào cần thiết để điều
tra phát hiện ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Nhất thiết phải có 5 xét nghiệm ! 1. Đo huyết
áp. 2. Điện tâm đồ lúc nghỉ ngơi. 3. Điện tâm đồ lúc gắng sức.4. Định
lượng máu.5. Doppler các động mạch cổ và cẳng chân.
Hỏi : Những kết quả đầu tiên đã cho phép
xếp loại trong một loại đầu tiên, những người có “nguy cơ bị nhồi máu
cơ tim” (sujets à risque d’infarctus) bởi vì những người này mang nhiều
yếu tố làm dễ. Nơi những người này, có thể hữu ích cho thực hiện một thăm
khám sâu hơn như scintigraphie au thallium (thăm khám y học nguyên tử),
một scanner các động mạch vành hay chụp hình động mạch vành (coronographie).
Những bệnh nhân được xếp trong loại thứ hai là những người có nguy cơ
thấp (sujets à faible risque).
Hỏi : Những điều trị phòng ngừa của hai loại
bệnh nhân này là gì ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Phải phân biệt hai loại phòng ngừa : phòng ngừa
nguyên phát (prévention primaire) liên hệ đến những người có thể có nguy
cơ bị nhồi máu cơ tim nhưng đã không bao giờ bị bệnh ; phòng ngừa thứ
phát (prévention secondaire) nhằm vào những người bị bệnh tim đã chịu
một phẫu thuật chữa họ lành bệnh.
Hỏi : Phòng ngừa nguyên phát nhằm vào gì
?
G.S Jean-Noel Fabiani : Trước hết để ngăn ngừa tăng cholestérol-huyết,
với một chế độ ăn uống thích hợp không có mỡ động vật, giàu rau xanh và
trái cây. Nơi những bệnh nhân đã có những mảng xơ vữa động mạch nhỏ, người
ta cấp toa một thuốc thuộc họ statines (một chất kháng cholestérol) rất
hiệu quả có rất ít những tác dụng phụ. Sau đó được bàn đến có nên tiến
hành hay không một điều trị làm loãng máu (traitement fluidifiant), ví
dụ với aspirine liều lượng nhỏ.
Hỏi : Ở giai đoạn phòng ngừa nguyên phát
này, sự theo dõi nào cần được thực hiện ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Tôi thấy dường như hợp lý là lập lại những xét
nghiệm điều tra phát hiện (examens de dépistage) mỗi 5 năm và cho làm
một bilan máu mỗi năm.
Hỏi : Ông có thể mô tả phép điều trị của
một phòng ngừa thứ phát ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Phòng ngừa thứ phát (prévention secondaire) nhằm
thiết đặt một liệu pháp bao gồm một thuốc thuộc họ statines, một thuốc
chống kết tụ tiểu cầu (antiagrégant plaquettaire), như aspirine, và một
bêta-bloquant. Và đối với những người cao huyết áp và những người bị bệnh
đái đường : một điều trị hiệu quả chống lại căn bệnh của họ.
Hỏi : Phải chăng các phụ nữ cũng phải được
điều tra phát hiện ở tuổi 50 ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Mặc dầu các phụ nữ được bảo vệ cho đến tuổi mãn
kinh bởi các hormone, nhưng sau đó họ trở nên, như các ông, những người
có tiềm năng có nguy cơ. Vậy các phụ nữ sau tuổi 50 cũng phải chịu một
điều tra phát hiện có hệ thống (un dépistage systématique). (PARIS
MATCH 23/7-29/7/2009)
10/ DI-ANTALGIC, THUỐC CHỐNG ĐAU
BỊ RÚT RA KHỎI THỊ TRƯỜNG.
8 triệu người Pháp, những khách hàng tiêu thụ đều đặn Di-Antalgic hay
Propofan sẽ thay thế những thuốc chống đau này bằng một thuốc nào đây
? Đó là câu hỏi cụ thể từ nay làm bận tâm giới hữu trách y tế của Pháp.Thật
vậy, cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA), chống lại ý kiến của Pháp, vừa
khuyến nghị rút ra khỏi thị trường, những dược phẩm có chất dextropropoxyphène
(DXP). Theo EMEA, các nguy cơ của những dẫn xuất morphine này và đặc biệt
là nguy cơ quá liều chết người (surdosage mortel), tự ý hay hiếm hơn do
tình cờ, sẽ là cao hơn những lợi ích của chúng. Nếu Ủy Ban châu Âu theo
ý kiến của EMEA, điều này nói chung là như vậy, thì Di-Antalgic và khoảng
30 biệt dược mà chất cơ bản là DXP, sẽ biến mất khỏi các hiệu thuốc của
châu Âu, một cách không tránh khỏi, trong một thời hạn từ 12 đến 15 tháng.
Thế mà, ở Pháp, các thuốc này chiếm một khối lượng bán đáng kể: khoảng
70 triệu hộp thuốc mỗi năm.
Các thuốc chống đau cấp 2 này, thường liên kết với paracétamol, được sử
dụng rộng rãi để điều trị những đau đớn cấp tính (đau răng hay sau giải
phẫu) và để làm thuyên giảm những cơn đau mãn tính, đặc biệt là nơi các
người già. “ Chúng tôi sẽ lợi dụng vài tháng hạn định này để bàn bạc với
các thầy thuốc cho toa và các bệnh nhân để đề nghị những khuyến nghị mới
nhằm điều trị các đau đớn, Jean Marimbert, tổng giám đốc Afssaps đã đảm
bảo như thế.
CODEINE HAY TRAMADOL.
Trong thực tiễn, một phần các toa thuốc Di-Antalgic sẽ có thể được thay
thế bởi những thuốc giảm đau cấp 1, “paracétamol với liều lượng hiệu quả,
nghĩa là một gramme mỗi liều, aspirine hay thuốc chống viêm không phải
stéroide (AINS) như ibuprofène”, G.S Philippe Lechat, nhà dược lý học
đã xác nhận như thế. Nếu cần thiết, một thuốc chống đau khác cấp 2, codéine
hay tramadol, sẽ có thể được đề nghị. Nhưng còn những bệnh nhân không
thuyên giảm với những loại thuốc này hay không chịu được chúng thì sao?
“Chúng tôi đang suy nghĩ đến một thủ thuật vi pháp (procédure dérogatoire)
để các bệnh nhân này có thể tiếp tục dùng dextropropoxyphène”, Jean Marimbert
đã đảm bảo như vậy. Giám đốc Afssaps (nhấn mạnh rằng nước Pháp đã chống
lại đến cùng việc rút DXP ra khỏi thị trường), tỏ ra lo ngại. “Nếu có
sự chuyển quan trọng của các toa thuốc về phía tramadol, thì bilan có
thể âm tính đối với sức khỏe công cộng”. Theo các điều tra của pharmacovigilance
Pháp thì độc tính của tramadol là cao hơn DXP và codéine. “Đó là lần đầu
tiên một loại thuốc bị rút ra khỏi thị trường vì một độc tính xảy ra ngoài
những điều kiện sử dụng bình thường, Gs Lechat đã nêu lên như vậy. Ngoài
ra, trái với Vương Quốc Anh và Thụy Điển, là nơi DXP chịu trách nhiệm
hàng trăm trường hợp quá liều gây tử vong mỗi năm, ở Pháp, nó chỉ là nguyên
nhân của 2% tử vong do ngộ độc thuốc. Đối với chúng tôi tương quan giữa
lợi ích nguy cơ vẫn thuận lợi ”. (LE FIGARO 28/6/2009)
11/ STRESS TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ CHẾT
ĐỘT NGỘT CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH.
“Chỉ cần một stress tâm thần cũng có thể cho phép nhận diện những người
khả dĩ nhất chết vì một cơn đau tim đột ngột (crise cardiaque subite)
”, Xavier Jouven, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges-
Pompidou đã xác nhận như vậy. Ông đã theo dõi trong 23 năm, bên cạnh các
nhà dịch tễ học, một nhóm 7.746 người tuổi từ 42 đến 53, trong những năm
1970. Vào thời kỳ đó, tần số tim của những người này đã được đo lúc nghỉ
ngơi, rồi một ít lâu trước khi làm một trắc nghiệm gắng sức (test d’effort),
tức là lúc e sợ, được xem như là một stress tâm lý nhẹ. Những người mà
tần số tim lên cao nhất (gia tăng hơn 12 đập mỗi phút), đã chết vì ngừng
tim đột ngột trong 23 năm theo sau đó, hai lần nhiều hơn so với những
người mà mạch ít phản ứng hơn (ít nhanh hơn). Sự chết đột ngột của người
trưởng thành do ngừng tim là một vấn đề y tế công cộng quan trọng của
Pháp (40.000 trường hợp mỗi năm). Bắt mạch khi bị một stress nhẹ có thể
trở nên một chỉ dấu về tiên lượng (marqueur prognostique) đơn giản và
kinh tế. (SCIENCE ET VIE 7/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (26/7/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |