 |
Thời
Sự Y Học số 134
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/H1N1 : VACCIN SẼ CHƯA
CÓ TRƯỚC MÙA THU.
PANDEMIE. Mặc dầu Pháp cũng như các nước khác đã thương lượng một số liều
vaccin nào đó, nhưng để có được một vaccin có hiệu quả và được dung nạp
tốt cần phải có một thời gian không thể giảm bớt được.
Vaccin chống cúm A (H1N1) sẽ sẵn sàng vào mùa thu tới, nếu tất cả diễn
ra như dự kiến. Đến nay, tất cả các hãng dược phẩm đã nhận, vào ngày 27
tháng 5 vừa qua, giống gốc của virus do OMS chuyển đến. Sau đó các hãng
dược phẩm đã “ bào chế ” giống gốc đó.
Thật vậy, vaccin được chế tạo từ virus cúm bị giết chết. Trước hết phải
cấy virus này để có được nhiều tỷ hạt, thường là trên trứng phôi thai
(vài hãng dược phẩm đã loan báo sử dụng các canh cấy tế bào). Rồi thì
phải tiêu hủy những virus này, hợp cách hóa các liều vaccin, có hoặc không
có chất bổ trợ (adjuvant : một chất để tăng cường tính miễn dịch), trắc
nghiệm những liều lượng khác nhau…sau cùng có một giai đoạn phân tích
với thời gian không thể giảm bớt được và những điều kiện đúng quy chế
cần được tôn trọng.
“ Tác động của vaccin này lên đại dịch sẽ tùy thuộc vào lúc vaccin sẽ
có để sử dụng ”, giáo sư Jean-Claude Manuguerra (chuyên gia virus học,
Viện Pasteur Paris) đã đoan chắc như vậy. Những hiện nay, không ai có
thể nói trước lúc nào vaccin sẽ có mặt trên thị trường. Điều chắc chắn
là các công tác chuẩn bị được thực hiện cách nay vài năm, với vaccin tiền
đại dịch chống H5N, đã cho phép chúng ta tiến bước với những thủ thuật
nhanh chóng hơn.”
NHỮNG THỬ NGHIỆM LÀM SÀNG BẮT ĐẦU VÀO THÁNG 8.
Thách thức đầu tiên là có được những canh cấy virus có năng suất cao.
Hiện nay, năng suất này dường như ở mức độ trung bình, theo một vài chuyên
gia của OMS. “ Nhưng đó là điều bình thường, trong những giai đoạn sơ
khởi của một quá trình với một virus mới, BS Albert Garcia (Sanofi-Pasteur)
đã đảm bảo như vậy. Các năng suất nói chung sau cùng sẽ được cải thiện.”
Quá trình sản xuất đã được phát động ngày 20 tháng 6 và các hãng dược
phẩm đã bắt đầu làm bất hoạt virus và sản xuất những liều đầu tiên, sẽ
được sử dụng cho những thử nghiệm lâm sàng. Những thử nghiệm này “ sẽ
có thể bắt đầu ngay vào đầu tháng 8 ”, Albert Garcia đã đoan chắc như
vậy. Nhưng sẽ còn phải một loạt các trắc nghiệm, với các liều khác nhau,
có hoặc không có chất bổ trợ (adjuvant), thực hiện trên các loại dân chúng
tuổi tác khác nhau. Thoạt đầu, để có được một khả năng miễn dịch tốt,
sẽ cần hai liều vaccin, được cho cách nhau 3 tuần. “ Vậy sẽ phải tiêm
chủng những người tình nguyện, thực hiện một trắc nghiệm sau 3 tuần, tiêm
cho họ một liều thứ hai và còn chờ đợi thêm 3 tuần, trước khi đánh giá
nồng độ kháng thể để đo lường mức độ miễn dịch có được ”, nhà chuyên gia
đã nói thêm như vậy. Sau cùng còn có một thời gian không thể thu giảm
được, để phân tích các kết quả, kiểm tra sự vắng mặt của các tác dụng
phụ và quyết định về liều lượng tốt nhất và chiến lược tối ưu. Không có
vấn đề đưa ra thị trường một vaccin không được đánh giá theo đúng những
quy tắc của nghệ thuật. (LE FIGARO 10/7/2009)
2/ ARGENTINE, QUỐC GIA Ở NAM MỸ
BỊ ẢNH HƯỞNG NHẤT BỞI CÚM H1N1, ĐANG SỐNG TRONG GIỜ GIỚI NGHIÊM.
Hơn 100.000 người bị nhiễm bệnh và 79 trường hợp tử vong đã được thống
kê. Chính trong một bầu không khí âu sầu ảm đạm mà hôm qua dân Argentine
đã cử hành ngày lễ quốc khánh. Dân Buenos Aires (các Portenos), đã dự
kiến cấm cung ở nhà vì sợ virus cúm A (H1N1). Trong vòng vài tuần, Argentine
đã trở thành quốc gia Nam Mỹ bị ảnh hưởng nhất bởi virus, và đứng hàng
thứ ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ (là nơi bệnh đã xuất hiện
vào cuối tháng 4 ). Hôm qua, tổng kết chính thức là 79 người chết. Nhà
cầm quyền đã chính thức ghi nhận 2.845 trường hợp. Tuy nhiên, theo Bộ
trưởng y tế Juan Manzur, đến nay có hơn 100.000 người bị nhiễm virus cúm,
vài trường hợp xảy ra một cách “âm thầm lặng lẽ” và không có các triệu
chứng.
Việc sụt giảm nhiệt độ, hậu quả của mùa đông Nam cực, không thuận lợi
gì. Nhà cầm quyền đã cho biết rằng 90% các virus cúm đang được các người
bệnh lưu hành trong nước là thuộc loại A. Mặt khác chính phủ đã lợi dụng
ngày lễ, được kéo dài đến hôm nay, nhằm cố gắng làm ngưng hoạt động trong
nước. Lãnh vực ngân hàng cũng vậy : các cửa giao dịch sẽ đóng lại cho
đến thứ hai. Các chủ nhà hát vào đầu tuấn đã loan báo đóng cửa tạm thời.
TRONG CÁC XÍ NGHIỆP, TÌNH TRẠNG VẮNG MẶT BÙNG NỔ.
Tình trạng sợ virus được tăng cao lên một nấc. Theo một cuộc điều tra,
được thực hiện bởi Viện Livra trong nhiều nước trong vùng, tỷ lệ dân Argentine
sợ bị lây nhiễm, chuyển từ 22,7% cách nay hai tháng (vào lúc những trường
hợp đầu tiên xuất hiện) lên 53,4% hôm nay. Khoảng 78% người được thăm
dò tuyên bố rửa tay suốt ngày và 14% mang một mặt nạ bảo vệ. Trong các
xí nghiệp, tỷ lệ vắng mặt bùng nổ, được ước tính là hơn 30%. Đó là những
người dễ bị nhiễm trùng, hay phải ở nhà để lo cho những người thân bị
bệnh hay các trẻ em, bởi vì trường học được lệnh đóng cửa trong một tháng.
Giới chủ tỏ ra hoà giải : “ Thà 30% vắng mặt hơn là 60% bị nhiễm bệnh
”. Hậu quả lên ngành du lịch thật tai hại. Công ty hành không Gol của
Brésil đã loan báo một sự sụt giảm 50% vé máy bay bán đi Argentine.
Tuy nhiên, nhiều Portenos (dân Buenos Aires) vẫn giữ bình tĩnh. “Thật
là cuồng loạn (hystérie), chính giới truyền thông duy trì tình trạng hoang
tưởng bộ phận (paranoia)”, Esteban Schmidt, một nhà văn ở Buenos Aires
đã tố cáo như vậy. Ông ta nêu lên những rời rạc trong các quyết định của
chính phủ. Người ta đóng cửa các trường học, nhưng hôm thứ tư này có 40.000
người tập trung ở sân vận động La Plata, gần Buenos Aires, để tham dự
giải chung kết coupe Libertadores, trận thi đấu chính của bóng đá châu
Mỹ Latin. Quen làm việc trong các quán rượu của khu phố, Esteban Schmidt
đã thấy tất cả các phục dịch viên cà phê đến với một mặt nạ trên mặt.
“ Với thời gian càng trôi qua, họ hạ mặt nạ xuống, cũng gần giống như
một viên chức làm như vậy với chiếc cravatte của mình. Và rồi thì chiếc
mặt nạ đã hoàn toàn biến mất ”, nhà văn vừa kể như thế vừa cười. Tuy nhiên
ông thú nhận một thói quen mới, thói quen sử dụng thường trực cồn dưới
dạng gel (gel d’alcool) mà số doanh thu thật sự bùng nổ.
NHỮNG BIỆN PHÁP BÔNG LÔNG.
“ Sự lo âu được duy trì là do không có sự điều hòa giữa Nhà nước liên
bang và các vùng, và sự thông báo zigzag của chính quyền ”, Gabriel Puricelli,
thuộc Laboratoire de politiques publiques, Buenos Aires đã phân tích như
vậy. Lần đầu tiên, từ lúc bắt đầu trận dịch, chính phủ đã họp các vị bộ
trưởng y tế của tất cả các tỉnh, vào ngày 6/7 này, ở Buenos Aires, để
thống nhất các biện pháp y tế. Các thầy thuốc phàn nàn không có các chỉ
thị, ví dụ về việc phân phát Tamiflu. Mục tiêu của cuộc họp là chấm dứt
tình trạng hỗn loạn, vì lẽ mỗi tỉnh, thậm chí mỗi vùng, áp dụng những
biện pháp bông lông nhất. Ở San Isidro, ngoại ô của Buenos Aires, viên
thị trưởng đã cấm các thiếu niên dưới 18 tuổi không được vào các trung
tâm thương mãi vì được cho là dễ bị nhiễm virus hơn. (LE
FIGARO 10/7/2009)
3/ NHỮNG MỐI ĐE DOẠ ĐẠI DỊCH :
LÀM SAO CHUẨN BỊ ?
G.S François Bricaire, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện
la Pitié-Salpetrière, đồng tác giả với BS Frédéric Saldmann của “ Những
bệnh dịch mới. Làm sao bảo vệ ? ” (Nouvelles épidémies. Comment se protéger),
đề nghị những giải pháp thực tiễn.
Hỏi : Tại sao OMS chuyển qua giai đoạn báo
động cấp 6, công nhận sự hiện diện của một đại dịch toàn cầu của bệnh
cúm A (virus H1N1).
G.S François Bricaire : Không nên xem biện pháp này (không có liên quan
với mức độ nghiêm trọng của bệnh) như là một yếu tố bổ sung gây lo ngại.
Quyết định này đã được thông qua bởi vì nó phù hợp với định nghĩa của
giai đoạn 6, bao gồm sự hiện diện của một virus mới và sự lan rộng về
mặt địa lý. Biện pháp này có hai ưu điểm. 1. Các nước có thể thiết lập
chiến lược riêng của mỗi nước với nhiều tự do hành động. 2. Nó cho phép
các nhà công nghiệp bào chế nhanh hơn các vaccin.
Hỏi : Ông viết : “ Trong những năm sắp đến,
chúng ta sẽ phải sống với một nguy cơ thường xuyên bị đại dịch ”. Đâu
là các mối nguy hiểm ?
G.S François Bricaire : Các hiện tượng đại dịch luôn luôn có. Từ trước
đến nay chúng ta đã chịu đựng chúng ; hôm nay, có một ý chí quốc tế muốn
ngăn ngừa chúng để chống lại chúng. Vì sự vận chuyển hàng không làm dễ
sự di chuyển con người, nên virus tiến triển và lan tràn với tốc độ nhanh.
Vô số các tác nhân gây nhiễm ra đời một cách đều đặn. Tôi sẽ không kể
ra hết với anh tất cả những tác nhân có khả năng xuất hiện trên hành tinh,
như thế sẽ nhàm chán. Trong số những tác nhân này, người ta sợ một vài
virus châu Phi, như Ebola và Lassa, rất lây nhiễm, hoành hành trong vùng
của Zaire, gây nên sốt xuất huyết và đưa đến tử vong. Vài trường hợp đã
được quan sát ở châu Âu. Người ta cũng sợ vài arbovirus rất hiện diện
ở châu Á, gây nên những trường hợp chikungunya với đau khớp rất dữ dội.
Mối đe dọa khác : đe dọa của virus West Nile, ở Bắc Mỹ, gây nên một hội
chứng cúm với sốt rất cao và đôi khi những rối loạn thần kinh. Ở Nam Mỹ,
người ta cũng chứng kiến một sự trổi dậy của sốt vàng (fièvre jaune).
Hỏi : Nơi người, ông có thể nhắc lại cho
chúng tôi những đường gây nhiễm khác nhau ?
G.S François Bricaire : Có hai loại đường gây nhiễm : trực tiếp và gián
tiếp. Trong những trường hợp đầu, thường người ta bị gây nhiễm bằng đường
hô hấp (những giọt nước bọt bắn ra khi nói), đường tiêu hóa (ăn thức ăn
bị ô nhiễm), đường máu (truyền máu). Người ta cũng bị gây nhiễm do tiếp
xúc trực tiếp giữa người với người (qua mồ hôi, lúc bắt tay, hay do tiếp
xúc sinh dục). Người ta cũng có thể bị lây nhiễm lúc sờ mó một động vật
bị nhiễm trùng. Trong những trường hợp truyền gián tiếp, con người có
thể bị gây nhiễm trùng do muỗi.
Hỏi : Người ta có thể tự bảo vệ như thế nào
?
G.S François Bricaire : Vài biện pháp đơn giản đã tạo nên một thành lũy
chống lại các vi trùng. 1. Rửa tay trước khi ăn và mỗi khi đi ra khỏi
nhà cầu (bằng cách sử dụng xà phòng lỏng và một khăn lau khô, vì sự ẩm
ướt tạo nên một canh cấy cho các vi trùng). 2. Khi người ta ho hay hách
xì, che miệng với khăn tay sử dụng một lần và quăng đi ngay sau đó. 3.
Lúc về nhà, cởi bỏ giày (là những vecteur thật sự mang vi trùng, chúng
có thể tạo nên một mối nguy cơ !). 4. Lau chùi đều đặn với thuốc khử trùng
điện thoại cầm tay và các kính đeo mắt, những vật dụng đặc biệt được tiếp
xúc với các giọt nước bọt được bắn ra. Các virus cúm rất thường ẩn náu
trong những giọt nước bọt này. Vào năm 2008, một công trình nghiên cứu
trên 23 người, được thực hiện bởi các BS Squinazi và Saldmann, đã cho
thấy rằng các kính đeo của 21 trong số những người tham dự này là một
canh cấy của vi khuẩn ! 5. Giữ sẵn ở nhà vài hộp mặt nạ là điều hữu ích,
bởi vì trong trường hợp đại dịch, các mặt nạ có thể chịu chế độ phân phối.
6. Trong trường hợp đe dọa dịch bệnh được truyền bởi muỗi, điều quan trọng
là chăm lo làm sao cho nhà ở không bị quá ẩm ướt. Rò nước và các máy điều
hòa không khí chảy giọt cần phải được sửa chữa khẩn cấp ! Chính nhờ học
tập một loạt các phản xạ mới mà chúng ta sẽ thành công trong việc thích
ứng với môi trường đang nảy sinh. (PARIS MATCH 2/7-8/7/2009)
4/ XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU ĐỂ PHÁT
HIỆN VIÊM RUỘT THỪA.
Nồng độ của protéine LRG (glycoprotéine alpha-2 riche en leucine) tăng
rất cao trong nước tiểu của những bệnh nhân bị ruột thừa viêm. LRG có
thể trở nên một chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) quan trọng của bệnh
viêm ruột thừa, thường là một thách thức chẩn đoán nơi các trẻ em.
Ruột thừa viêm là lý do thường nhất của một can thiệp ngoại khoa nơi các
trẻ em. Những chẩn đoán bệnh không phải luôn luôn dễ dàng, Richard Bachur
của Children’s Hospital (Boston) đã đánh giá như vậy. Nhiều công trình
nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng 3 đến 30% các trẻ em được mổ, đã chịu
một phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa vô ích, trong khi nơi các trẻ em được
chẩn đoán đúng, 30 đến 45% đã có một ruột thừa bị rách vào lúc phẫu thuật.
Những kỹ thuật chẩn đoán mới như CT-scan hay siêu âm hẳn sẽ có thể cải
thiện các con số, nhưng vẫn luôn luôn thiếu một xét nghiệm nhanh và đáng
tin cậy, có khả năng phát hiện một ruột thừa viêm, Richard Bachur đã giải
thích như vậy.
Richard Bachur đã trình bày vấn đề ở Proteomic Center của Bệnh Viện Nhi
Đồng và bệnh viện quyết định triển khai những phương tiện tài chánh lớn.
Trong giai đoạn đầu tiên, 12 mẫu nghiệm nước tiểu đã được xem xét nhờ
một spectrométrie de masse. 6 trong những mẫu nghiệm này phát xuất từ
những bệnh nhân bị ruột thừa viêm và 6 từ những bệnh nhân kiểm chứng.
Spectrométrie de masse cho phép xác định đặc điểm của các protéine và
định lượng chúng. Như vậy spectrométrie đã phát hiện được 32 chỉ dấu sinh
học (biomarqueur) tiềm năng của ruột thừa viêm.
Với một độ nhạy cảm và độ đặc hiệu 97%, protéine LRG có vẻ có khả năng
tốt nhất để trở thành chất chỉ dấu của ruột thừa viêm. Ngay cả ở những
bệnh nhân mà ruột thừa có vẻ bình thường lúc chụp CT scan hay siêu âm,
nồng độ LRG đã tăng cao.
Do đó, Richard Bachur hy vọng rằng LRG sẽ là công cụ chẩn đoán tốt nhất.
Phương pháp phát hiện cùng đã được thích ứng : spectrométrie de masse,
thủ thuật phức tạp, đã được thay thế bởi phương pháp immuno-essai. Do
đó, chúng ta có thể trông chờ một dải phản ứng (bandelette réactive) nhạy
cảm với LRG, sẽ là một khả năng trong tương lai.
Vào lúc này, Richard Bachur đang hiệu chính trắc nghiệm, còn phải được
xác nhận nơi những nhóm bệnh nhân khác. Thật vậy, đến nay, trắc nghiệm
chỉ có thể được sử dụng nơi các trẻ em. Theo các nhà nghiên cứu, profil
protéine của nước tiểu người lớn sẽ hoàn toàn khác hẳn, đó là lý do nó
sẽ ảnh hưởng nhiều lên trắc nghiệm. Do đó những xét nghiệm bổ sung vẫn
luôn luôn cần thiết nơi người lớn. (LE JOURNAL DU MEDECIN
30/6/2009)
5/ CAFEINE, VŨ KHÍ MỚI CHỐNG BỆNH
ALZHEIMER.
NEUROLOGIE. Nơi chuột, caféine cải thiện trí nhớ và làm giảm những thương
tổn não bộ của bệnh Alzheimer.
Bệnh Alzheimer gây bệnh cho 15% những người trên 80 tuổi. Ở nước Pháp,
850.000 người bị bệnh này, vì vậy những người trên 65 tuổi sống trong
nỗi ám ảnh của cái bệnh lý sẽ dẫn đến đến tình trạng phụ thuộc trong vòng
6 đến 10 năm. Có cách nào để dự phòng hay không ? Mặc dầu những công trình
mới đây đã phát hiện tác động thuận lợi của sự hoạt động vật lý và trí
tuệ, cũng như việc điều trị bệnh cao huyết áp, bệnh đái đường và chứng
béo phì, nhưng hiện nay không có một điều trị phòng ngừa nào cả. Trong
bối cảnh như thế, trên site Internet của Journal of Amzheimer Disease,
việc công bố một công trình nghiên cứu, cho thấy những tác dụng rất thuận
lợi của cà phê lên chuột, quả gợi lên những niềm hy vọng thật sự, mặc
dầu những kết quả nơi động vật gặm nhấm này không thể luôn luôn có thể
loại suy lên người.
Giáo sư Gary Arendash của Đại học Floride từ lâu quan tâm đến mối liên
hệ giữa caféine và chứng sa sút trí tuệ (démence). Nhất là từ khi một
công trình nghiên cứu Bồ đào nha đã phát hiện, cách nay vài năm, rằng
trong suốt 20 năm trước khi chẩn đoán, những người bị bệnh Alzheimer đã
uống cà phê ít hơn nhiều so với những người đã không bị bệnh này. Những
công cuộc điều tra khác khá nghiêm túc đã kết luận rằng một sự tiêu thụ
có mức độ cà phê tạo một tác dụng bảo vệ chống lại chứng sa sút trí tuệ
này.
Chính trong bối cảnh này mà Gary Arendash mới đây đã lao vào trong một
công trình nghiên cứu thí nghiệm phức tạp hơn trên chuột. Ông đã tạo được
55 chú chuột nhỏ, được chương trình hóa về mặt di truyền để phát triển
những rối loạn trí nhớ giống bệnh Alzheimer và đã chia những con chuột
này thành hai nhóm. Sau khi các trắc nghiệm đã xác nhận rằng những con
cobaye này đúng là có những rối loạn trí nhớ vào khoảng 18-19 tháng tuổi
(tương đương với 70 tuổi ở người), một nửa các con vật này đã nhận caféine
trong khẩu phần nước hàng ngày của chúng (tương đương với 8 tách cà phê
mỗi ngày và 14 tách trà) trong khi một nửa kia chỉ uống nước thuần chất.
NHỮNG HIỆU NĂNG RÕ RỆT TỐT HƠN.
Sau hai tháng, các chú chuột được cho uống caféine đã tỏ ra có những hiệu
năng rõ rệt tốt hơn những chú chuột khác, khi thực hiện những trắc nghiệm
khác nhau về trí nhớ. Theo các tác giả, các khả năng của chúng đã trở
nên giống hệt với các khả năng của những chú chuột già nhưng không bị
chứng sa sút trí tuệ. Các động vật chỉ uống nước vẫn giữ những kết quả
xấu vào lúc trắc nghiệm. Lại còn đáng ngạc nhiên hơn vì vài tuần sau đó,
cuộc giải phẫu tử thi của não bộ của những chú chuột đã cho phép nhận
xét rằng những con chuột được cho uống caféine có nồng độ protéine bêta-amyloide
chỉ còn một nửa trong não bộ của chúng, so với những con chuột khác. Thế
mà, sự tích tụ protéine này dưới dạng các mảng (plaques) là một trong
những thương tổn mô học chính yếu đặc trưng cho bệnh Alzheimer. Theo vài
nhà nghiên cứu, caféine phục hồi trí nhớ bằng cách làm giảm vài enzyme
cần thiết cho sự sản xuất protéine bêta-amyloide. Những nhà nghiên cứu
khác cho rằng caféine có một tác dụng kháng viêm, vì thế làm cho số lượng
các mảng protéine này bị giảm xuống. Mặt khác, caféine cải thiện các hiệu
năng, chỉ nơi các con chuột đã có những rối loạn trí nhớ, nhưng không
cải thiện hiệu năng của những chú chuột lành mạnh.
Các nhà nghiên cứu, rất phấn khởi, đã hoạch định những thử nghiệm lâm
sàng trên người, nhằm xác nhận hay phủ nhận những tác dụng của caféine
lên nhưng rối loạn đầu tiên của bệnh Alzheimer. (LE
FIGARO 7/7/2009)
6/ UNG THƯ PHỔI : XÉT NGHIỆM MÁU
SẼ THAY THẾ SCANNER ?
Ung thư phổi và vài con số :
- 30.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp.
- 27.500 tử vong mỗi năm.
- 10% tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm.
Có lẽ sắp đến đây người ta sẽ phát hiện ung thư phổi trong máu. Dầu sao,
đó là hướng rất đổi mới, được các nhà nghiên cứu của Pensylvanie theo
đuổi và được trình bày vào tháng năm vừa qua ở hội nghị của American Thoracic
Society để đương đầu với bệnh ung thư giết chết 800.000 người mỗi năm
trên thế giới này. Thật vậy, cho đến hôm nay không có một xét nghiệm nào
để phát hiện ung phổi cả. Ngoài ra, chỉ 30% các ung thư phổi được phát
hiện ở một giai đoạn sớm mới có thể mổ được. Bởi vì, công cụ duy nhất
hiện có, scanner, chỉ có thể phát hiện những hòn phổi (nodule pulmonaire)
có một kích thước đủ lớn. Nét độc đáo của những nghiên cứu của G.S Anil
Vachani là ở chất chỉ dấu (marqueur) được sử dụng.Trái với các nhóm nghiên
cứu, như nhóm của BS William Jacot, thuộc bệnh viện Arnaud-de-Villeneuve
ở Montpellier, G.S Anil Vachani đã không đi theo con đường (hiện nay không
lối thoát) của các protéine được tiết ra bởi khối u ung thư, mà ông đã
chọn các bạch cầu. Thật vậy, một vài loại bạch cầu trong các bạch cầu
này, những tế bào lympho, là những bạch cầu đầu tiên tấn công vào khối
u ngay khi nó phát triển trong cơ thể. Các gène hiện diện trên các tế
bào lympho này sẽ chỉ một cách chính xác sự hiện diện của một khối u.
Qua trung gian của các puces ADN, các nhà nghiên cứu đã khảo sát các gène
được biểu hiện bởi các bạch cầu của hai nhóm 44 bệnh nhân, nhóm đầu gồm
những bệnh nhận được phát hiện sớm, nhóm thứ hai tạo thành nhóm chứng.
Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập, với một độ chính xác 87%,
một sự phối hợp của nhiều gène phát hiện sự hiện diện của một ung thư.
Còn cần phải kiểm tra xem profil di truyền này có chung cho những ung
thư khác không. Một công trình sẽ cần đến nhiều năm. Hướng khác : khí
thở ra bởi các bệnh nhân. Nhóm nghiên cứu của BS Michael Philips ở New
Jersey, đã nhận diện vài thành phần trong không khí. Công trình nghiên
cứu, được hưởng một tài trợ 3 triệu dollars của National Institutes of
Health, sẽ được theo đuổi thêm 3 năm nữa trước khi chứng minh rằng xét
nghiệm phát hiện độc đáo này, có một tác động thật sự lên tỷ lệ tử vong.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2007)
7/ MỘT KHÁNG SINH ĐẦY HỨA HẸN CHỐNG
BỆNH LAO.
Một nhóm nghiên cứu quốc tế khám phá ra một kháng sinh có hiệu quả chống
lại tất cả các dạng của trực khuẩn gây bệnh lao. Cách tác dụng của loại
kháng sinh này là mới lạ.
Là bệnh nhiễm trùng trong số những bệnh gây tử vong nhất trên thế giới,
bệnh lao được gây nên bởi trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis.Trực khuẩn
lao đã gây nên 1,7 triệu nạn nhân vào năm 2007. Và bức tranh này có thể
còn trở nên u tối hơn với sự phát triển gia tăng của các giống gốc của
trực khuẩn lao đề kháng, không nhạy cảm đối với các thuốc kháng lao hiện
có. Do đó cần thiết phải khám phá những loại thuốc có khả năng tấn công
trực khuẩn lao, một cách khác với những kháng sinh cổ điển. Đó là điều
vừa được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu quốc tế. Được dẫn dắt bởi Stewart
Cole, thuộc Trường Bách Khoa liên bang (Lausane), nhóm nghiên cứu này
đã đi từ điều chứng thực rằng nhiều thuốc kháng sinh chứa chất lưu huỳnh.
Các nhà nghiên cứu sau đó đã tổng hợp một loạt các loại thuốc thuộc họ
các dị vòng chứa nguyên tố hóa học lưu huỳnh. Một vài trong các chất này
tỏ ra đặc biệt có hoạt tính trên trực khuẩn lao : các nitro-benzothiazinones
(BTZ). Nhóm nghiên cứu đã biến đổi cấu trúc của chúng để cải thiện thêm
hơn hoạt tính, đồng thời trắc nghiệm những tác dụng độc có thể xảy ra
trên các tế bào người.Trên 50 chất ứng viên, chỉ có BTZ043 là có được
sự thỏa hiệp tốt nhất giữa tính hiệu quả và độ dung nạp thuốc. In vitro,
BTZ043 có một hiệu quả hơn hiệu quả của tất cả các thuốc kháng lao có
trên thị trường. Được thử nghiệm trên các con chuột bị nhiễm lao, thuốc
làm giảm số các trực khuẩn không đề kháng, hiện diện trong phổi và lá
lách của chúng, cùng hiệu quả như hai loại thuốc chính hiện nay ; tất
cả mà không gây những tác dụng phụ sau một tháng điều trị. (LA
RECHERCHE 7-8/2009)
8/ MỘT KHÁNG THẾ MỚI BẢO VỆ CHỒNG
LẠI NHIỄM TRÙNG BỞI VIRUS CỦA VIÊM GAN C
Kháng thể mới này vô hiệu hóa virus trong canh cấy và ngăn cản sự lây
nhiễm. MBL-HCV1, được phát triển bởi nhóm nghiên cứu của Donna Ambrosino,
thuộc đại học y khoa Massachusetts, dường như rất hứa hẹn. Để tìm được
kháng thể MBL-HCV1 này, các nhà sinh học đã tiêm những yếu tố của virus
vào các con chuột được nhân hóa (souris humanisés) (được biến đổi về mặt
di truyền để có thể sản xuất những kháng thể người). Sau khi đã phân lập
trong máu những kháng thể có khả năng nhận biết và liên kết với virus,
các nhà sinh học đã trắc nghiệm tác dụng của chúng lên các canh cấy của
các mô đuợc lấy nơi những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn. Rồi thì hiệu quả của
chúng đã được trắc nghiệm trên các động vật linh trưởng (primates) không
phải người, được cho tiếp xúc với virus. Các kháng thể MBL-HCV1 đã lần
lượt trung hòa virus và đã bảo vệ các động vật linh trưởng chống lại nhiễm
trùng. Một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 theo dự kiến sẽ được bắt đầu
trong vòng năm nay. Theo OMS, có 3 đến 4 triệu người bị nhiễm bởi viêm
gan C mỗi năm. Hiện tại không có một vaccin nào. (SCIENCE
ET VIE 7/2009)
9/ VITAMINE C SẼ ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI
LOẠN THẦN KINH-CƠ?
Vitamine C có thể sẽ trở nên một thuốc để điều trị bệnh hiếm (maladie
orpheline). Thuốc nổi tiếng vitamine C đã được trình tòa để được thương
mãi hóa trong hướng điều trị này, nơi Cơ quan dược phẩm châu Âu (Agence
européenne du médicament) : thật vậy, acide ascorbique lần đầu tiên vừa
được trắc nghiêm nơi người, và thành công, trong điều trị bệnh Charcot-Marie-Tooth.
Bệnh di truyền thần kinh cơ này, đừng lầm với bệnh Charcot hay Sclérose
latérale amyotrophique, đưa đến teo cơ, chuột rút (crampes) và đau đớn.
Bệnh ảnh hưởng lên khoảng 30.000 người ở Pháp và hiện nay không có liệu
pháp điều trị.
Nhóm nghiên cứu của Bs Joelle Micaleff-Roll (CHU de la Timone, Marseille)
đã theo dõi 180 bệnh nhân ở Marseille, Paris và Lyon. Những kết quả đầu
tiên cho thấy rằng “ việc cho thuốc vitamine C, 3g mỗi ngày trong một
năm, được liên kết với một sự cải thiện các triệu chứng, BS Micaleff-Roll
đã xác nhận như vậy. Thật rất đáng phấn khởi, nhưng điều này cần được
xác nhận trên một thời gian dùng thuốc dài lâu hơn và trong khung cảnh
của một hợp tác quốc tế. ”
Những công trình khác đã cho thấy rằng vitamine C làm giảm biểu hiện của
gène PMP 22, có liên quan trong các quá trình myéline hóa các dây thần
kinh. (SCIENCES ET AVENIR 6/2009)
10/ GIẢI MẪN CẢM KHÔNG PHẢI LÀ
GIẢI PHÁP NHIỆM MẦU.
SANTE PUBLIQUE. Kỹ thuật này tạo nên một phép trị liệu hữu hiệu, nhưng
phải được áp dụng theo từng trường hợp và không phản ứng với tất cả những
dị ứng nguyên. Mũi chảy, hách xì liên tiếp, ngứa ngáy ở mắt, chừng ấy
các triệu chứng dị ứng bùng nổ trong mùa này, là lúc cây cối và các graminée
trổ hoa. Phải nói rằng các phấn hoa (pollen) chịu trách nhiệm một nửa
các bệnh viêm mũi dị ứng. Theo Hiệp Hội Hen và Dị Ứng, 15% đến 25% dân
châu Âu bị bệnh này. Viêm mũi dị ứng xảy ra theo mùa (rhinite allergique
saisonnière) (từng cơn) tái phát mỗi năm vào gần như cùng thời kỳ, nhưng
vài người cũng có thể bị viêm mũi kéo dài (rhinite persistante).
Mặc dầu có thuốc (các thuốc kháng histamine, corticoides, các thuốc co
mạch), nhưng sự giải mẫn cảm (désensibilisation) đến nay là phương tiện
duy nhất để điều trị căn nguyên của bệnh này. Mục đích là nhằm làm giảm
tính mẫn cảm của cơ thể đối với dị ứng nguyên (allergène). Chỉ có một
thầy thuốc chuyên khoa dị ứng học (allerlogue) mới có khả năng xác định
loại dị ứng và thực hiện liệu pháp miễn dịch (immunothérapie) này, phép
điều trị thực sự “theo từng người” (traitement sur mesure). Cần thăm khám
nếu các triệu chứng của viêm mũi dị ứng tái diễn và xảy ra đều đặn. Người
thầy thuốc xác định sự nhạy cảm đối với một dị ứng nguyên nào đó bằng
cách trắc nghiệm các chất khác nhau trên những vùng nhỏ của da. Những
chất, đưa đến một phản ứng da, được xác nhận như là nguyên nhân của các
rối loạn. Sau đó người thầy thuốc xác lập sự lợi ích hay không của một
liệu pháp giải mẫn cảm (désensibilisation), kéo dài từ ba đến năm năm.
CẢI TẠO HỆ THỐNG MIỄN DỊCH.
Đợt điều trị nhằm cho dưới da hay dưới lưỡi một liều tăng dần các dị ứng
nguyên để cải tạo hệ thống miễn dịch. Đường cho thuốc dưới da, bằng những
mũi tiêm, hàm ý rằng bệnh nhân trung bình mỗi tháng phải đến phòng khám
của thầy thuốc chuyên khoa dị ứng, và cứ như vậy suốt cả năm. Sau khi
được tiêm, bệnh nhân phải chờ đợi tại chỗ, ít nhất ½ giờ, thời gian cần
thiết để kiểm tra rằng không có một phản ứng với điều trị. Mặt khác thầy
thuốc luôn luôn có sẵn bên mình một ống tiêm chứa adrénaline để phòng
trong trường hợp có phản ứng.
Đơn giản và ít bó buộc hơn, ngày nay, đường dưới lưỡi (hiện nay không
có thể thực hiện cho tất cả mọi loại dị ứng nguyên) được sử dụng đối với
80% các dị ứng đối với phấn hoa (pollen). Bệnh nhân có thể tự mình cho
thuốc ở tại nhà, bằng cách đặt các giọt dung dịch dị ứng nguyên dưới lưỡi.
Ưu điểm của phương pháp này, đó là “ không có một phản ứng phụ nghiêm
trọng nào, như có thể xảy ra trong trường hợp tiêm dưới da ”, Daniel Vervloet,
thầy thuốc chuyên khoa dị ứng và chủ tịch của Liên đoàn dị ứng học Pháp
đã giải thích như vậy.
Mặc dầu 3 năm sau khi điều trị, nói chung, một sự giảm rõ rệt tính nhạy
cảm dị ứng được ghi nhận, tuy nhiên liệu pháp giải mẫn cảm không được
các thầy thuốc nhất trí. Thật vậy, có thể giải mẫn cảm đồng thời một thậm
chí hai dị ứng nguyên, nhưng không thể nhiều hơn, do đó, “25% các bệnh
nhân không được giải mẫn cảm bởi vì đa nhạy cảm (polysensible)”, Daniel
Vervloet đã bình luận như thế.
Mặt khác ông cho rằng nếu ta phải chịu đựng nỗi khó chịu do dị ứng chỉ
hai tuần một năm, thì không cần thiết phải lao vào trong kỹ thuật giải
mẫn cảm làm gì.
Nhưng sự điều trị viêm mũi dị ứng không chỉ giới hạn trong việc sử dụng
thuốc men. BS Marc Sapene, thầy thuốc chuyên khoa phổi-dị ứng ở Bordeaux,
tin chắc rằng “ sự làm chủ môi trường sống có thể cho phép tránh khỏi
phải giải mẫn cảm. Dị ứng là một sự tương quan giữa các yếu tố, liên kết
một phần di truyền và môi trường ”. Đó cũng là ý kiến của BS Gérald Fain,
nhắc lại rằng “ dị ứng là một sự tăng phản ứng (hyperactivité) đối với
môi trường ”. Đối với ông, yếu tố liên hệ đến cảm xúc không phải là nhỏ.
Phấn hoa, lông mèo và bụi bặm không có thể được tách biệt ra khỏi trạng
thái cảm xúc của cá nhân : nếu không thì làm sao giải thích rằng vào một
lúc nào đó chúng ta nhạy cảm hơn, chứ không phải vào những lúc nào khác
?
Ở Pháp, nhiều bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng không đi khám bệnh : người
ta ước tính rằng cứ hai trường hợp có một trường hợp không được chẩn đoán.
Thế mà những bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng phải được thăm khám một cách
hệ thống, bởi vì khoảng 20% những người bị viêm mũi dị ứng cũng bị bệnh
hen phế quản. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để xác lập
lợi ích của sự giải mẫn cảm một số lượng tối đa các trẻ nhỏ, nhằm bảo
vệ chúng chống lại những rối loạn hô hấp trong tương lai. (LE
FIGARO 26/5/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/7/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |