 |
Thời
Sự Y Học số 133
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A (H1N1) : THIẾU
NHỮNG DỮ KIỆN KHOA HỌC VỀ NHỮNG THỂ BỆNH NẶNG
PANDEMIE. Mặc dầu virus có vẻ hiền tính, nhưng sự thông báo quốc tế về
những trường hợp tử vong vẫn còn giới hạn.
Chúng ta biết tất cả hoặc gần như tất cả về cấu trúc di truyền của virus
mới của bệnh cúm, được nhận diện ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư, và đã đi vòng
quanh thế giới. Các gène của nó đã được nhận diện nhanh chóng và được
đặt dưới quyền sử dụng của cộng đồng khoa học thế giới. Ngược lại vẫn
thiếu nhiều thông tin về những thể nặng, những nguyên nhân khả dĩ gây
tử vong...“ Tổ chức y tế thế giới trong tình hình hiện nay, chỉ có một
khả năng vừa phải trong việc chia sẻ thông tin về vấn đề này, hôm qua
G.S Jean-Claude Desenclos, giám đốc khoa học của Viện theo dõi y tế, nhân
một cuộc họp báo đã nhấn mạnh như vậy. Đặc biệt là chúng ta không có khá
nhiều thông tin về những thể nặng. ”. Theo những con số sau cùng của OMS,
trong số 58.867 trường hợp trên thế giới đã được ghi nhận, có 238 trường
hợp tử vong. Ở Pháp, 171 những trường hợp đã được thống kê nhưng không
có một tử vong nào. Biết những nguyên nhân của các tử vong sẽ cung cấp
những thông tin quan trọng để phòng ngừa chúng trong phạm vi có thể được.
NHỮNG NGƯỜI 20-30 TUỔI DƯỜNG NHƯ DỄ BỊ MẮC BỆNH
HƠN
Virus H1N1 này thuờng nhất là gây nên một bệnh cúm hiền tính, với những
dấu hiệu nhẹ, sốt vừa phải, ho. Có lẽ một số các trường hợp đã qua đi
mà không được nhận biết. Cúm được gọi là cúm mùa (grippe saisonnière)
đưa đến một tỷ lệ tử vong 1/1000. Nói chung đó là những người lớn tuổi
hay những người bị một bệnh lý mãn tính liên kết (đái đường, suy hô hấp).
Trong trường hợp hiện nay (cúm A H1N1), các nhà khoa học đưa ra con số
2 đến 3 trường hợp tử vong đối với 1.000 người, hoặc nhiều hơn so với
cúm cổ điển. Nhưng những trường hợp tử vong này, với H1N1, liên quan đến
những lứa tuổi khác nhau. Theo những thông tin tiếc thay còn tản mạn,
những người già dường như hơi được bảo vệ chống lại virus này, có lẽ do
được miễn dịch trước đây bởi các bệnh cúm đã bị mắc phải. Ngược lại, lứa
tuổi 20-30 dường như nhạy cảm hơn. Vậy nguyên nhân tử vong trong dạng
cúm này là gi ? Đối với các nhà nghiên cứu, nếu cúm Tây Ban Nha năm 1918
đã gây nên hàng triệu người chết, đó chủ yếu là bởi vì hồi đó các thuốc
kháng sinh chưa hiện hữu. Virus của cúm gây nên một sự kích thích phế
quản, thể địa thuận lợi cho sự phát triển của một bệnh phổi có tiềm năng
nghiêm trọng, nhất là nơi những người già. Trong vài trường hợp đặc biệt,
virus cũng có thể gây nên một bệnh phổi đột mạnh do virus, đưa đến một
tình trạng suy hô hấp cấp tính chết người. Vậy cơ chế trong những trường
hợp tử vong hiện nay là gì ? Hiện nay không ai có thể trả lời.
Virus mới, (A) H1N1, nhin toàn bộ dường như hiền tính, đến độ các người
Mỹ, đi ngược lại ý kiến của chính quyền, đã tổ chức các Swine flu parties
quanh những người bị nhiễm trùng, để làm cho họ được mắc phải bệnh cúm
nhằm tạo sự miễn dịch ; họ biết rằng vài chuyên gia lo ngại, mặc dầu không
chắc chắn, rằng virus vào mùa thu sắp đến sẽ trở nên hung dữ hơn. (LE
FIGARO 25/6/2009)
2/ H1N1 : NHỮNG NGƯỜI DƯỚI
59 TUỔI ĐỂ BỊ THƯƠNG TỔN HƠN
PANDEMIE. Một công trình nghiên cứu, được công bố hôm qua trong “New England
Journal of Medicine”, tiết lộ rằng những trường hợp tử vong đặc biệt xảy
ra hơn nơi những người dưới 59 tuổi.
Cúm A (H1N1) phải chăng là nguy hiểm ? Nó gây nên bao nhiêu trường hợp
tử vong ? Ai là các nạn nhân ? Hôm qua, site Internet của New England
Journal of Medicine, lần đầu tiên công bố, một cuộc điều tra, được thực
hiện bởi các thầy thuốc Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ, về những thể nặng và những
trường hợp tử vong liên quan với virus mới H1N1, được khám phá ở Mễ Tây
Cơ vào tháng tư 2009 và đã đi vòng quanh thế giới.
Công cuộc điều tra, nhằm vào hơn 2.150 trường hợp viêm phổi nặng và hơn
100 trường hợp tử vong, chứng tỏ rằng những thể nặng chủ yếu xảy ra nơi
những người dưới 60 tuổi, trong khi những người già hơn, thường là những
nạn nhân chính của bệnh cúm, lại được bảo vệ hơn, có lẽ nhờ những nhiễm
trùng mắc phải trong quá khứ.
Tài liệu xuất bản này là quan trọng, bởi vì nó chỉ định những người dưới
60 tuổi, như là những người ưu tiên cần phải được tiêm chủng một khi có
vaccin. Một cuộc điều tra thứ hai, với một quy mô nhỏ hơn, trên site của
NEJM, xác nhận những kết quả rất quan trọng này về mặt y tế cộng đồng.
Tuy nhiên phải ghi nhớ rằng những thể nặng vẫn rất là thiểu số, vì lẽ
tỷ lệ tử vong được ước tính là 2-3 trên 1.000 người, và trong đại đa số
các trường hợp, những người bị lây nhiễm chỉ bị những rối loạn hiền tính
và tạm thời.
NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA BỔ SUNG
Vào đầu tháng tư 2008, một sự gia tăng những trường hợp nhập viện đối
với bệnh viêm phổi, xảy ra một cách không bình thường đối với mùa và một
loạt các tử vong được báo cáo khiến Bộ Y tế Mễ Tây Cơ đã rất nhanh chóng
phát khởi báo động. Viêm phổi là một trong những biến chứng nghiêm trọng
của bệnh cúm. Hệ thống theo dõi dịch tễ học Mễ Tây Cơ (Sonave) khi đó
đã phát động một cuộc điều tra về tất cả những trường hợp viêm phổi được
nhập viện trong một tháng, từ 24/3 đến 24/4.
Trái với điều thường xảy ra vào các đợt cúm mùa (grippe saisonnière),
những kết quả của cuộc điều tra này phát hiện những viêm phổi nặng và
đại đa số những trường hợp tử vong ở đây liên hệ đến những người tuổi
từ 5 đến 59. Trong khi, vào lúc cúm mùa, những người từ 5 đến 59 tuổi
chiếm 17% những trường hợp tử vong, thì những đồi tượng này đã chiếm 87%
những trường hợp tử vong của cúm A giữa tháng 3 và tháng 4 năm 2009. Cũng
vậy, những thể nặng không gây tử vong, trong 75% những trường hợp có liên
quan đến những người từ 5-59 tuổi, so sánh với 32% khi bị cúm cổ điển.
Viện quốc gia các bệnh hô hấp của Mexico, giữa 24/3 và 24/4, đã nhập viện
cấp cứu 18 người bị viêm phổi và bị nhiễm bởi virus H1N1. Hơn một nửa
những bệnh nhân này ở trong lứa tuổi từ 13 đến 47 và 90% dưới 52 tuổi.
Hơn một nửa cần phải đặt ống thông nội khí quản và máy hô hấp nhân tạo,
và tất cả đã được điều trị với tamiflu (một thuốc kháng virus) và kháng
sinh. Mặc dầu được điều trị như thế, 7 người đã tử vong. 11 người khác
được chữa lành, đã ra viện sau khi nhập viện từ 10 đến 23 ngày.
Làm sao giải thích những biến chứng trầm trọng và những tử vong ? Chúng
do bội nhiễm vi khuẩn hay do tác dụng độc lực của virus ? “ Đối với hầu
hết các bệnh nhân của chúng tôi, những thương tổn phổi được liên kết với
tác dụng trực tiếp của virus của bệnh cúm, các tác giả đã viết như vậy.
Trong thời kỳ này, 22 trong số 190 người phục vụ điều trị đã bị lây nhiễm
bởi virus và đã được điều trị với Tamiflu. Sau đợt dịch bệnh này, các
biện pháp bổ sung để phòng ngừa các nhân viên y tế, được thực hiện và
đã cho phép tránh những lây nhiễm mới do nghề nghiệp.
Hôm qua, Thông báo dịch tễ hàng tuần đã phân tích những biểu hiện lâm
sàng được quan sát trong những trường hợp cúm A đầu tiên. Kết quả cho
thấy trên 2.000 trường hợp được xác nhận đầu tiên ở Mễ Tây Cơ, hơn một
nửa dưới 20 tuổi, ¾ dưới 30 tuổi và chỉ 7% trên 40 tuổi. Thời gian tiềm
phục là 2 đến 7 ngày. Hai triệu chứng thường thấy nhất là sốt và ho, mặc
dầu 10% đến 50% các bệnh nhân cũng có những rối loạn tiêu hóa. (LE
FIGARO 30/6/2009)
3/ CÚM A H1N1 : MỘT TRIỆU NGƯỜI
MỸ CÓ THỂ ĐÃ MẮC PHẢI NHIỄM TRÙNG.
Những đánh giá mới đây của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ xác nhận rằng virus
A H1N1 là khá hiền tính. Một trường hợp đề kháng với Tamiflu đầu tiên
đã được xác thực ở Đan Mạch.
Từ mùa xuân năm nay, hơn một triệu người Mỹ đã mắc bệnh cúm A. Đó là đánh
giá được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của CDC. Một nửa trong số những
người đã bị hoặc đang bị nhiễm virus là những người dân của thành phố
New York. Virus, hiện đang lưu hành trong nước, là khá hiền tính. Đến
nay, ở Hoa Kỳ, người ta tính được hơn 3.000 trường hợp nhập viện và chỉ
127 trường hợp tử vong.
Con số 1 triệu người Mỹ đã bị nhiễm trùng vượt rất xa tất cả những con
số các trường hợp được xác nhận, được thống kê chính thức tính đến nay
ở Hoa Kỳ. OMS tính sổ được 21.499 trường hợp được xác nhận, hoặc khoảng
gần một nửa của các trường hợp trên thế giới. Về phía CDC, 27.717 các
trường hợp đếm được trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Để so sánh, cúm mùa trung bình
gây bệnh gần 36 triệu người Mỹ mỗi năm.
Con số này được tính toán từ những dữ kiện dịch tễ học hiện nay về H1N1
và từ những mô hình phân tán của virus cúm. Lyn Finelli, phụ trách phòng
cảnh giác của CDC, tuần qua đã trình bày công trình nghiên cứu trong hội
nghị về vaccin chống H1N1, được tổ chức bởi CDC. Hầu hết các quyết định
y tế cộng đồng dựa trên những mô hình toán học, những mô hình này không
ngừng được làm cho tinh tế và thích ứng tùy theo những đợt cúm khác nhau
xảy ra trên thế giới.
“Số các trường hợp được xác nhận, mà OMS đếm được, chỉ là đỉnh của tảng
băng hà”, G.S Patrick Berche, trưởng khoa vi trùng học của bệnh viện Necker,
Paris đã nhấn mạnh như thế. Một trường hợp chỉ được xác nhận khi có cấy
máu và phân tích vi khuẩn học. Tham số này đánh giá thấp, với những quy
mô đáng kể, số những người thật sự bị nhiễm trùng, cũng như những người
đã có những triệu chứng hiền tính và không có một điều trị đặc biệt nào
và tất cả những người không có triệu chứng và đã không biết rằng họ đã
mắc phải bệnh cúm.
Sự hiện diện của các kháng thể chống H1N1 trong nhiều xét nghiệm được
thực hiện hiện nay ở Hoa Kỳ, cho thấy rằng nhiều người Mỹ thật sự đã gặp
phải virus. Ở Mễ Tây Cơ một loại mức chênh lệch như vậy đã được ghi nhận
vào lúc bắt đầu trận dịch. Các nhà nghiên cứu đã tính toán rằng, khi 500
trường hợp dương tính đã được ghi nhận, thì trên thực tế hẳn phải có từ
20.000 đến 40.000 người bệnh.
ĐỘC LỰC HƠN VÀO MÙA THU ĐẾN.
Ở Pháp hẳn cũng có cùng tình trạng chênh lệch như vậy. Ở đây con số các
trường hợp được xác nhận làm tập trung sự chú ý của nhà cầm quyền và báo
chí như thể chỉ có con số là đáng phải chú ý mà thôi. Ở Hoa Kỳ và Anh,
chiến lược khác hẳn. “Họ thực tiễn hơn nhiều“, Patrick Berthe đã phát
biểu như vậy. Không có biện pháp thận trọng đặc biệt nào phải được thực
hiện cả. Thật vậy, hiện nay, vì lẽ virus khá hiền tính, nên có thể là
tốt hơn nếu mắc phải bệnh cúm để được miễn dịch chống lại virus H1N1,
mà vào mùa thu tới có khả năng trở nên độc lực hơn. Kinh nghiệm của cúm
Tây Ban Nha đã cho thấy rằng những kẻ đã bị cúm vào mùa xuân, khi virus
hiền tính, đã đề kháng tốt hơn với làn sóng cúm thứ hai (độc lực hơn nhiều),
so với những kẻ đã không mắc phải cúm trong đợt đầu.
Cũng vậy, việc kê đơn Tamiflu một cách hệ thống nơi mọi người có những
triệu chứng cúm hay đã tiếp xúc với những người bệnh, như đang được thực
hiện ở Pháp, có lẽ cũng không đúng đắn, Patrick Berthe đã đánh giá như
vậy. Nguy cơ virus phát triển đề kháng với Tamiflu là điều có thật và
ta có thể cần nhiều điều trị với thuốc này hơn trong mùa thu đến nếu virus
trở nên độc lực hơn. Mặt khác một trường hợp đề kháng đã được xác nhận
ở Đan Mạch, bởi Viện huyết thanh học .“Kế hoạch chống cúm hiện nay vốn
đã được lập ra để chống lại virus H5N1 (có tỷ lệ tử vong 60%), Patrick
Berte đã nhắc lại như thế. Kế hoạch này phải uyển chuyển hơn. Phải thích
ứng với tình hình.” (LE FIGARO 30/6/2009)
ANH TIÊN ĐOÁN DỊCH BỆNH BÙNG NỔ TRONG NHỮNG TUẦN
TỚI.
Chính phủ Anh dự kiến một sự lan rộng rất nhanh và rất quan trọng của
cúm A (H1N1) trong những tuần tới. Andi Burnham, Bộ trưởng y tế của Vương
Quốc Anh đã tuyên bố hôm qua rằng, theo dự kiến, có thể có hơn 100.000
trường hợp mới mỗi ngày từ nay đến cuối tháng 8. Trong những ngày qua,
dịch bệnh khuếch đại. “Virus theo con đường có thể tiên đoán được. Nó
ở ngoài vòng kiểm soát, nhưng người ta không thể đặt virus vào trở lại
trong chiếc hộp một khi nó đã thoát ra ngoài”, Liam Donaldson, cố vấn
y tế của chính phủ Anh đã giải thích như vậy. Với hàng trăm những trường
hợp mới được khai báo mỗi ngày và 3 tử vong (một người đàn ông 73, một
phụ nữ 38 tuổi vừa mới sinh và một bé gái 9 tuổi), sự lan tràn của virus
ở Anh là nhanh hơn nhiều so với trên lục địa. Điều này có thể được giải
thích bởi những mối liên lạc rất quan trọng giữa Vương quốc Anh và Hoa
Kỳ, nơi đây cúm đã gây bệnh cho 1 triệu người Mỹ, theo những tính toán
của CDC.
Tính đến nay, OMS thống kê được 6.538 trường hợp được xác nhận ở Anh.
Nhưng những con số này dễ đánh lừa vì đó chỉ là những trường hợp được
xác nhận. Số những người thật sự bị nhiễm trùng hẳn phải quan trọng hơn.
Chính phủ Anh tỏ ra rất uyển chuyển trong việc theo dõi, từ khi họ đã
chứng thực rằng virus hiện nay khá hiền tính. Trong những vùng Londres,
Birmingham và Glasgow, những vùng bị ảnh hưởng nhất, từ nay phần lớn các
bệnh nhân được chẩn đoán bằng điện thoại và không phải xét nghiệm máu.
Đứng trước tình hình này, kế hoạch đại dịch được xét hạ cấp, theo đó một
bệnh nhân khi nghĩ rằng mình bị bệnh cúm A, gọi một số điện thoại đặc
biệt và nhận, nếu cần, một toa thuốc Tamiflu, mà một người thân hay người
bạn có thể mua ở hiệu thuốc. “Ý tưởng là không còn phải cần đến các thầy
thuốc nữa”, Richard Jacvis, người phụ trách hiệp hội y khoa Anh đã giải
thích như vậy. Chính phủ dự kiến một giai đoạn, trong đó những bệnh nhân
bị cúm A sẽ không nhất thiết phải nhận điều trị kháng virus. Điều trị
này có thể được dành cho những nhóm người có nguy cơ nhất. “ Vấn đề quan
trọng nhất là biết ai sẽ đích thực có các vấn đề ”, Hugh Pennington, thuộc
đại học Aberdeen đã nhấn mạnh như vậy.
Bộ trưởng y tế Anh cũng đã loan báo việc ký kết các hợp đồng với các nhóm
dược phẩm, đảm bảo rằng toàn thể dân chúng Anh sẽ nhận vaccin tương lai
chống cúm A. Vaccin sẽ có sẵn để sử dụng ngay trong tháng tới. Đến 30
triệu người sẽ được tiêm chủng từ nay đến cuối năm. (LE
FIGARO 3/7/2009)
4 / VIRUS CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM
SỢ LẠNH
Từ lúc xuất hiện vào năm 2003, virus của cúm gia cầm, H5N1, đã gây bệnh
cho 424 người và gây tử vong 261 nạn nhân, theo các thông kế của OMS (tháng
năm 2009). Tại sao trận đại dịch đáng sợ như thế đã không xảy ra. Lời
giải thích là do sự nhạy cảm virus cúm H5N1 với nhiệt độ. Thật vậy, vì
lạnh rét, virus không thể tăng sinh và do đó khong thể sống sót ở nhiệt
độ 32 độ C nơi mũi chúng ta, là nơi nhiễm truyền của virus nơi người,
trong khi đó nó hoàn toàn thích ứng với nhiệt độ 40 độ C của các loài
chim. Đó là điều vừa được chứng tỏ bởi các nhà nghiên cứu của Imperial
College de Londres, đã khám phá rằng tính nhạy cảm này là do một bộ phận
của polymérase, một enzyme cho phép virus nhân đôi chất liệu di truyền
của nó. Theo các nhà khoa học, mặc dầu một giống gốc mới của cúm người,
kết quả của sự phối hợp của virus cúm người với virus của cúm gia cầm,
xuất hiện, nhưng cần phải nhiều hơn để gây nhiễm nơi người và do đó tao
nên một vấn đề y tế cộng đồng có tầm mức quan trọng. Cái nhiều hơn này
? Là những biến dị di truyền cho phép polymérase của virus đóng vai trò
mặc dầu nhiệt độ thấp. Các nhà nghiên cứu bây giờ sẽ theo dõi một cách
thận trọng những biến dị như thế. (SCIENCE ET VIE 7/2009)
5/ VACCIN CHỐNG UNG THƯ PHỔI :
MỘT NIỀM HY VỌNG
Một điều trị giúp hệ miễn dịch chống lại các tế bào ung thư đang được
trắc nghiệm. Những kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi.
Một phương pháp điều trị mới đã được đề cập trong hội nghị thế giới lần
thứ 45 về ung thư của Hiệp Hội Ung Thư Lâm Sàng Hoa Kỳ (Asco : American
Society of Clinical Oncology), đã quy tụ gần 30.000 người tham dự vào
đầu tháng 6 ở Orlando (Hoa Kỳ). Phương pháp điều trị này nhằm vào ung
thư phổi, nguyên nhân gây tử vong đứng đầu trên thế giới nơi người do
ung thư, với 1,3 triệu người chết mỗi năm. Trong 10 năm, tần số mắc bệnh
ung thư phổi đã được nhân lên gấp 4 lần nơi các phụ nữ từ 35 đến 45 tuổi.
Những kết quả đầy hứa hẹn của thử nghiệm vaccin điều trị Stimuvax, được
tiến hành bởi phòng thí nghiệm Merck-Serono, đã được trình bày tại hội
nghị này. Chúng mở đuờng cho một thế hệ điều trị mới nhằm chống lại với
các ung thư phổi mà tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm không vượt quá 15%, đứng
xa sau tỷ lệ của ung thư vú (75%).
Mặc dầu tên gọi là vaccin, mục tiêu của Stimuvax không phải là ngăn ngừa
sự xuất hiện của ung thư mà là phá hủy nó một khi ung thư được tạo nên.
“ Vaccin được cho nơi những bệnh nhân không thể mổ được, đã được điều
trị trước đó bởi liệu pháp tia X và hóa học trị liệu và nơi những người
này, vaccin sẽ kích thích hệ miễn dịch để hệ thống này nhận biết những
tế bào ung thư của chính mình nhằm phá hủy chúng, G.S Maurice Pérol, phụ
trách khoa Ung thư ngực ở CHU de Lyon đã nói rõ như vậy. Được trắc nghiệm
nơi những bệnh nhân bị một loại ung thư phổi được gọi là không phải các
tế bào nhỏ (cancer à non petites cellules), không thể mổ được nhưng không
có di căn, vaccin này dựa trên một protéine, MUC1, được quá biểu hiện
trong loại ung thư này. Được tiêm đều đặn dưới da, vaccin đã cho phép
một tỷ lệ sinh tồn quá sức mong đợi, từ hai đến 8 năm nơi những bệnh nhân
có tiên lượng rất dè dặt. Những kết quả này cho phép chuyển qua nấc thang
cao hơn với việc khởi đầu thử nghiệm Start giai đoạn 3 nơi hơn 1.000 bệnh
nhân trên thế giới, trong đó có nước Pháp. Và có lẽ cũng cho phép dự kiến
mở rộng thử nghiệm đối với những ung thư khác. Hầu hết các chuyên gia
ung thư học, thận trọng trước những kết quả chỉ mới còn sơ khởi, đang
chờ đợi những kết luận xác định của công trình nghiên cứu. Những kết luận
này sẽ được trình bày trong hai năm nữa ở hội nghị kỳ đến của Asco. (SCIENCES
ET AVENIR 7/2009)
6/ BỆNH ALZHEIMER: LÀM VIỆC LÂU
HƠN SẼ LÀM CHẬM BỆNH LẠI
G.S Françoise Forette, nữ giám đốc Fondation nationale de gérontologie,
bình luận công trình nghiên cứu mới đây, chứng tỏ rằng những người kéo
dài hoạt động nghề nghiệp, có một thương tổn xảy ra muộn hơn so với những
người về hưu non.
Hỏi : Ở Pháp, hiện nay có bao nhiêu người
bị bệnh Alzheimer ?
G.S Françoise Forette : Theo những nghiên cứu dịch tễ học, như công trình
nghiên cứu “ Paquid ”, thì hiện có khoảng 850.000 người bị bệnh Alzheimer
hay bị những bệnh tương tự. Nhưng chỉ một nửa trong số những bệnh nhân
này là đã có thể được hưởng một chẩn đoán sớm và, trong số những bệnh
nhân này, khoảng 17% nhận một điều trị thích hợp.
Hỏi : Có cha hoặc mẹ bị bệnh có làm dễ mắc
phải bệnh này hơn hay không ?
G.S Françoise Forette : Có hai loại bệnh Alzheimer. 1. Những bệnh Alzheimer
gia đình (duới 5%), có nguồn gốc di truyền. 2. Những bệnh Alzheimer xảy
ra lẻ tẻ. Sự việc trong gia đình có cha hoặc mẹ bị bệnh Alzheimer làm
gia tăng nguy cơ, nhưng sau 85 tuổi, nguy cơ này trở nên y hệt với nguy
cơ của dân chúng nói chung.
Hỏi : Ngày này người ta có thể có được một
chẩn đoán đáng tin cậy hay không ?
G.S Françoise Forette : Trong những năm vừa qua đã có những tiến bộ đáng
kể. Thí dụ, trong các thăm khám “ trí nhớ ”, các trắc nghiệm tâm lý-thần
kinh (tests neuropsychologiques) (được thực hiện bởi các neuropsychologue)
đã được cải thiện nhiều. Trong quang tuyến thần kinh (neurodiagnostic),
các xét nghiệm chụp hình ảnh bằng IRM hay scanner (được liên kết với một
logiciel tính toán các thể tích), cho phép thấy được những cấu trúc đặc
trưng của bệnh Alzheimer ; như thế ta có thể theo dõi rất tốt tiến triển
của một quá trình teo dần dần của thùy trán hay của hạnh nhân (amygdale)
của não bộ.
Hỏi : Các nhà khoa học của King’s College
de Londres vừa thực hiện một công trình nghiên cứu chứng minh một mối
liên hệ chắc chắn giữa việc về hưu muộn và sự xuất hiện các triệu chứng
được lùi lại. Làm sao giải thích mối tương quan này ?
G.S Françoise Forette: Rất nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ một
mối liên hệ giữa các kích thích trí tuệ trong suốt cuộc đời, làm gia tăng
các dự trữ nhận thức (réserves cognitives) và thời điểm xuất hiện của
một bệnh não thoái hóa (maladie cérébrale dégénérative). Các năng lực
trí tuệ (capacités intellectuelles) được tích lũy cho phép não bộ hoạt
động bình thường mặc dầu bị thương tổn. Rất đáng lưu ý là công trình nghiên
cứu vừa qua của Anh đã nghiên cứu xem, nơi những người bị bệnh Alzheimer
hay những bệnh tương tự khác, có một mối tương quan giữa tuổi về hưu và
sự xuất hiện của những triệu chứng đầu tiên hay không. Những kết quả (có
được trên một nhóm 382 bệnh nhân nam) đã chứng minh rằng làm việc lâu
hơn (trên 60 tuổi) làm lùi lại sự xuất hiện của những dấu hiệu của bệnh
; rằng hoạt động trí tuệ, do kích thích sự vận hành chức năng của các
nối kết của những tế bào thần kinh (connexions neuronales), cho phép làm
gia tăng khả năng chống lại những sự giảm sút của tuổi tác. Thế mà người
ta biết rằng sau khi về hưu, các chức năng nhận thức thường ít được khai
thác hơn.
Hỏi : Tất cả các nghề nghiệp không phải đều
mang lại sự thỏa mãn, vậy khi nào phải khuyến khích làm việc kéo dài ?
G.S Françoise Forette : Tiếp tục một hoạt động nghề nghiệp chỉ có thể
được khuyên nếu như hoạt động này được thực hiện trong những điều kiện
tốt, bởi vì stress nơi văn phòng là xấu đối với các neurone! Chính vì
vậy, chúng ta phải nghĩ đến sự cải thiện những điều kiện làm việc của
các xí nghiệp. Đối với những kẻ đã phải ngừng làm việc quá sớm, nhất thiết
phải giữ một hoạt động tinh thần mạnh hoặc qua vài công việc lúc rỗi rảnh
(làm việc vặt trong nhà, làm vườn..) rất tốt đối với não bộ, hoặc bằng
việc dấn thân xã hội trong gia đình mình hay trong các hội từ thiện. Hoạt
động vật lý cũng cần thiết: hoạt động này đi đôi với việc bảo tồn những
chức năng nhận thức, nhờ làm giảm những nguy cơ tim mạch, rất có hại đối
với các neurone.
Hỏi : Người ta có thể hy vọng gì với những
người sau 60 tuổi vẫn gìn giữ tốt những hoạt động trí tuệ và vật lý ?
G.S Françoise Forette : Ngày nay người ta biết rằng nếu làm lùi lại 5
năm sự xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của bệnh Alzheimer, người
ta sẽ chia hai tần số mắc bệnh Alzheimer, điều này là đáng kể. (PARIS
MATCH 25/6- 1/7/2009)
7/ MỘT MŨI TIỀM TESTOSTERONE CÓ
THỂ LÀ MỘT PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI NAM GIỚI
Đó là kết luận của nhóm nghiên cứu của Yiqun Gu, thuộc Viện nghiên cứu
quốc gia cho kế hoạch hóa gia đình (Bắc Kinh). Trong 30 tháng, các nhà
nghiên cứu đã tiêm cho một ngàn người đàn ông sống đôi lứa một liều testostérone
(50mg mỗi tháng), như thế làm ngưng sự sản xuất các tinh trùng. Chỉ 1,1
thai nghén đối với 100 người đàn ông đã được chứng thực. “ Chiến lược
này không phải là mới, nhưng ở đây tần số của những mũi tiêm ít hơn, mỗi
tháng tiêm một lần so với 2 lần mỗi tuần như trước đây, điều này sẽ tạo
nên một phương pháp được dung nạp tốt hơn ”, Sylvain Mimoum, andrologue
thuộc bệnh viện Cochin, Paris đã giải thích như vậy. (SCIENCE
ET VIE 7/2009)
8/ MUCOVISCIDOSE : CHẲNG BAO LÂU
SẼ CÓ NHỮNG THUỐC ĐẶC HIỆU
Liệu pháp gène (thérapie génique) đã chưa giữ những lời hứa hẹn nhưng
nhiều thứ thuốc đang được thử nghiệm.
20 năm sau khi nhận diện gène gây bệnh mucoviscidose, các nhà nghiên cứu
hy vọng có thể chẳng bao lâu nữa có được những điều trị tấn công vào căn
nguyên của căn bệnh di truyền này. Được trình bày trong một cuộc họp báo
của hiệp hội Vaincre la Mucoviscidose (VLM), những khám phá này sẽ là
trọng điểm của hội nghị lần thứ 32 châu Âu về mucoviscidose, được tổ chức
tuần này ở Brest.
Ở Pháp, 6.000 người bị bệnh mucoviscidose, làm phá hủy dần dần phổi và
đôi khi tụy tạng. Nguồn gốc của căn bệnh, đó là một biến dị của gène CFTR,
mã hóa cho một protéine chủ yếu trong sự điều hòa việc vận chuyển các
ion chlore ra ngoài các tế bào. Do thiếu một protéine CFTR bình thường,
nên các dịch tiết niêm mạc, quá dày và dính, làm tắc nghẽn các đường hô
hấp và tiêu hóa. Mới đây, điều trị triệu chứng (kinésithérapie, kháng
sinh…) đã cho phép cải thiện đáng kể tỷ lệ sinh tồn và đời sống hàng ngày
của các bệnh nhân. Nhưng tuổi tử vong trung bình vẫn rất còn trẻ : 24
tuổi.
Ngay sau khi nhận diện gène CFTR vào năm 1989, các nhà nghiên cứu đã mơ
tưởng đến liệu pháp gène (thérapie génique), thay thế gène bị hỏng bằng
một gène lành mạnh. Đến nay, những niềm hy vọng này đã không thành. Việc
cho các gène, được mang bởi vecteur virus, đã chứng tỏ một hiệu quả nào
đó lúc tiến hành những thử nghiệm lâm sàng, nhưng bù lại gây nên những
phản ứng viêm khó chịu. Từ nay các chuyên gia hướng mắt về nước Anh, nơi
đây được trắc nghiệm một liệu pháp gène độc đáo với một vecteur tổng hợp,
được dung nạp tốt hơn bởi cơ thể. Gène được cho bằng khí dung (aérosol).
“ Một công trình nghiên cứu tiền phoêng vừa được tiến hành trên khoảng
20 bệnh nhân ở trong tình trạng ổn định, G.S Pierre Lehn, chủ tịch của
hội đồng khoa học của Hiệp hội VLM đã chỉ rõ như vậy. Nếu những kết quả
của nó, được chờ đợi vào cuối tháng 7, được chứng rõ, nhóm nghiên cứu
người Anh sẽ chuyển qua giai đoạn tiếp theo, cho gène hàng tháng trong
một năm.”
NHỮNG THỬ NGHIỆM GIAI ĐOẠN III.
Nhũng nhà nghiên cứu khác tin chắc vào các liệu pháp gène, nhằm, tuy theo
loại biến dị là nguyên nhân, hoạt hóa và điều chỉnh protéine CFTR bị bệnh.
“ Đó là traitement à la carte, có thể liên kết với một liệu pháp gène
”, Franck Dufour, giám đốc khoa học của VLM đã xác nhận như thế. Theo
ông, một trong những thứ thuốc tiến bộ nhất là VX770 (hãng bào chế Vertex),
một chất hoạt hóa CFTR. Một thử nghiệm giai đoạn III sẽ bắt đầu ở Hoa
Kỳ và châu Âu. Những kết quả sẽ được biết đến vào năm 2010. Trong những
tháng sắp đến, các chuyên gia cũng nôn nóng chờ đợi những kết luận của
những công trình nghiên cứu lâm sàng giai đoạn II với hai correcteurs
de CFTR : VX 809 (Vertex) và Miglustat (hãng bào chế Actelion, một loại
thuốc đã được sử dụng trong một bệnh hiếm khác, maladie de Gaucher). Ý
nghĩa càng quan trọng khi hai loại thuốc này hiệu quả lên một loại biến
dị hiện diện nơi 70% các bệnh nhân. Sau cùng, một liệu pháp đầy hứa hẹn
khác, PTC124, cũng đang tiến triển tốt đẹp. Dành cho các bệnh nhân với
một biến dị đặc biệt được gọi là “codons stop” (15% các mucoviscidose),
thuốc uống này vừa được đánh giá trên 30 bệnh nhân nhỏ tuổi người Pháp
và thử nghiệm giai đoạn III đang tiếp diễn. Trong trường hợp thành công,
PTC124 có thể được thương mãi hóa trong 3 năm đến để điều trị mucoviscidose
à codons stop. Nhưng thuốc này, không phải đặc hiệu cho một bệnh mà là
cho một biến dị, do đó có thể có những chỉ định khác. Các bệnh cơ (myopathies),
bệnh ưa chảy máu (hémophilie)... hơn 2.000 bệnh di truyền hiếm trong 10
đến 15% các trường hợp là do một biến dị được gọi là codons stop. (LE
FIGARO 9/6/2009)
9/ VI KHUẨN LAO TRỐN THOÁT.
Trực khuẩn Koch gây bệnh lao để bị bắt giam ...nhằm trốn thoát tốt hơn!
Thierry Soldati, thuộc đại học Genève, đã xem xét cơ chế cho phép trực
khuẩn lao đi ra khỏi một tế bào bị nhiễm trùng trước khi sẽ tạo nên một
nạn nhân mới. Nhờ một chất chỉ dấu huỳnh quang, nhà nghiên cứu lần đầu
tiên đã quan sát thấy vi trùng chiếm đoạt một protéine của ký chủ bị nhiễm
trùng, actine, để chế tạo một thiết bị đâm thủng (perforateur) màng tế
bào, éjectosome. Điều đặc sắc, éjectosome này cho phép tác nhân gây nhiễm
trốn thoát mà không làm tan vỡ tế bào. Quan sát này, được thực hiện trên
một amibe, một sinh vật đơn bào, sẽ phải được xác nhận nơi người. “ Tạo
các loại thuốc nhằm vào épisotome sẽ cho phép giam cầm trực khuẩn lao
và ngăn cản sự lan tràn của nó từ tế bào này qua tế bào khác ”, nhà nghiên
cứu đã xác nhận như vậy. Một khám phá sẽ có tầm quan trọng trong việc
kiểm soát bệnh lao. (SCIENCE ET VIE 6/2009)
10/ VAI TRÒ MẬP MỜ CỦA NHỮNG TẾ
BÀO TỤY TẠNG.
BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG. Nơi một vài bệnh nhân bị bệnh đái đường, các tế bào tiết
insuline, những nạn nhân của hệ miễn dịch, cũng tỏ ra có khả năng kích
thích các tế bào bạch cầu.
Hơn 150.000 người ở Pháp bị bệnh đái đường loại 1. Dạng đái đường này,
thường xuất hiện trước năm 20 tuổi, là một bệnh tự miễn dịch, trong đó
hệ thống miễn dịch tấn công và phá hủy những tế bào được gọi là bêta của
tụy tạng, tiết insuline. Khi đó có thể không còn chế tạo đủ insuline để
cho phép các tế bào sử dụng. Glucose vẫn ở lại trong máu, gây nên tăng
glucose-huyết (hyperglycémie).
Từ lâu, các nhà khoa học đã quy cho hệ miễn dịch trách nhiệm gây nên loại
đái đường này. Nhưng, từ vài năm nay, nảy sinh ý nghĩ cho rằng các tế
bào sản xuất insuline cũng đóng một vài trò gây bệnh. Các tế bào này kích
thích đáp ứng miễn dịch. Sự khám phá mới đây, bởi một nhóm nghiên cứu
người Bỉ, một gène bị hỏng trong các tế bào bêta của vài bệnh nhân bị
đái đường, xác nhận ý tưởng này.
Khi hệ miễn dịch tấn công các tế bào tụy tạng, các bạch cầu phóng thích
các chất chimiokine và cytokine, tăng cường đáp ứng miễn dịch. Những chất
này lôi kéo và hoạt hóa những bạch cầu khác. Thế mà những chất này cũng
tác động lên những tế bào bêta : các tế bào này bắt đầu chế tạo chimiokine.
Những chất này hoạt hóa các tế bào miễn dịch và thúc chúng ...tấn công
những tế bào bêta ! Như thế một vòng luẩn quẩn được thiết lập. Nhóm nghiên
cứu của Decio Eizirik, thuộc ULB (Université libre de Bruxelles), đã xác
định một trong những thành phần của vòng luẩn quẩn này : gène PTPN2. Khi
gène này hoạt động, những tế bào bêta sản xuất rất ít chimiokine để phản
ứng lại với phản ứng viêm. Khi gène này bị hỏng, như xảy ra nơi vài bệnh
nhân, các tế bào bêta tổng hợp nhiều chimiokine.
“Ngày nay rõ ràng rằng trong bệnh đái đường, các tế bào tiết insuline
không phai là những nạn nhân thụ động của hệ miễn dịch”, Decio Eizirik
đã giải thích như vậy. Một chứng thực đáng quan tâm trên bình diện điều
trị. Mãi đến nay, các trục nghiên cứu chính về điều trị bệnh đái đường
chỉ quanh chung quanh việc kiểm soát hệ miễn dịch. Từ nay người ta có
thể dự kiến nhằm vào cơ chế này trong tế bào tụy tạng. (LA
RECHERCHE 6/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/7/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |