 |
Thời
Sự Y Học số 131
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ DỰ
PHÒNG CHỐNG CÚM.
Theo các chuyên gia, sự tôn trọng một số nguyên tắc vệ sinh cho phép làm
giảm sự lây truyền.
Hỏi : Làm sao có thể dự phòng trong trường hợp tiếp xúc
với một người bị cúm A ?
Mọi tiếp xúc với một bệnh nhân bị bệnh cúm mới này đòi hỏi điều trị dự
phòng với Tamiflu (một viên mỗi ngày trong 7 đến 10 ngày). Ngoài ra cũng
cần những “ biện pháp rào chắn ” (mesures barrière) : bệnh nhân phải mang
một mặt nạ ngoại khoa để không làm lây nhiễm chung quanh, tránh ôm hôn
và bắt tay bệnh nhân. Đối với mọi tiếp xúc, phải rửa tay bằng xà phòng,
Paul Léophonte, vừa xuất bản cuốn “ Les Grippes en question ”, đã xác
nhận như thế. Dầu sao, loại tiếp xúc này không nên để xảy ra : bình thường,
một người bị bệnh cúm phải ở cách ly tại nhà. Nếu ta ở cách xa bệnh nhân
trên 2 m, thì khó mà bị lây nhiễm, Jean-Philippe Derenne, trưởng khoa
bệnh phổi, bệnh viện Pitié-Salpêtrière đã xác nhận như thế.
Hỏi : Có phải áp dụng những biện pháp thận trọng đối
với một người chỉ bị nghi là có bệnh cúm hay không?
Cái khó khăn là ở chỗ những triệu chứng của bệnh cúm rất là thông thường.
Nếu một người bị sốt, đau đầu, ho, và đến từ một nước mà tình trạng đại
dịch đã được tuyên bố (mức 6), thì những thận trọng nêu trên phải được
tuân thủ, trong lúc chờ đợi sự xác nhận của chẩn đoán, theo Paul Léophonte.
Hỏi : Có bị nguy hiểm hay không khi tiếp đón tại nhà
những người đến từ những vùng bị lây nhiễm ?
Nếu những người này không có một triệu chứng nào (mặc dầu họ có thể là
những “ người lành mang ” virus), không nên hoảng sợ. Thời gian tiềm phục
của bệnh cúm là từ 4 đến 6 ngày. Chỉ cần chờ đợi hết kỳ hạn này thì có
thể chắc là các khách thăm viếng không phải là những người bệnh. Hôm nay,
nhiều người đến từ Hoa Kỳ tham gia các hội nghị của đất nước chúng ta.
Chúng ta sẽ không tẩy chay họ. Hiện nay chúng ta trong một thời kỳ trung
gian. Nước Pháp hiện không ở mức báo động đại dịch toàn cầu cấp 6. Khi
sẽ là như vậy, thì tất cả mọi cuộc hội họp công cộng sẽ bị cấm chỉ. Theo
G.S Derenne, nếu tất cả mọi người đều ở tại nhà trong một tuần, thì sẽ
không có bệnh cúm A nữa, virus sẽ biến mất. Đó cũng hơi giống điều mà
các người Mễ đã làm trong những weekend vào cuối tháng tư.
Hỏi : Chúng ta có thể đi nghỉ hè trong những nước có
một số lượng cao các trường hợp cúm A, như Mễ Tây Cơ hay Hoa Kỳ ?
Vâng, không có vần đề tránh không đi nghỉ hè trong tình hình hiện nay,
kể cả để đi Mễ Tây Cơ hay Hoa Kỳ. Vì lý do thận trọng, chúng ta có thể
mang theo trong hành lý một điều trị bằng thuốc Tamiflu. Nếu không, với
sự xuất hiện bất cứ triệu chứng cúm nào, phải đi khám nhanh chóng một
thầy thuốc, bởi vì thuốc Tamiflu chống virus này, để được hiệu quả, phải
được cho trong 48 giờ đầu sau khi bắt đầu các triệu chứng.
Hỏi : Có phải những người đã bị lây nhiễm bây giờ, sẽ
được bảo vệ về sau hay không, mặc dầu virus có thể độc lực hơn ?
Chúng tôi không thể trả lời câu hỏi này, Jean Philipp-Derenne đã đánh
giá như vậy. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cúm Tây Ban Nha đã chứng
tỏ rằng, các quân nhân của Hải Quân quốc gia, bị ảnh hưởng ít nghiêm trọng
nhất bởi làn sóng dịch thứ hai, vốn là những người đã bị cúm vào làn sóng
đầu tiên của dịch bệnh. Nếu như virus không bị quá nhiều biến dị, ta có
tất cả các lý lẽ để nghĩ rằng những người này sẽ có được một mức độ bảo
vệ nào đó. Đó là điều đã xảy ra vào lúc làn sóng cúm Tây Ban Nha lần thứ
hai : những người già, vốn đã bị mắc phải một loại virus khác hẳn (cúm
Á Châu) vào năm 1890, đã được bảo vệ hơn những kẻ khác. Các kháng thể
vẫn hiện diện rất lâu trong cơ thể. Mới đây, người ta đã tìm thấy các
kháng thể của cúm Tây Ban Nha nơi những người bách niên.
Hỏi : Ngay từ bây giờ có nên thực hiện các chiến dịch
thông tin lớn về những phương pháp phòng ngừa tốt hay không ?
Đó là một điểm thiết yếu, theo Patrick Berche, giáo sư vi trùng học (Paris-V)
: phải báo cho dân chúng biết rằng sẽ có một làn sóng dịch cúm quan trọng,
trong 6 đến 10 tuần, với nhiều bệnh nhân. Thông báo về các triệu chứng
và cách xử trí là rất quan trọng. Phải nhắc lại rằng, trong trường hợp
bị cúm thì phải ở tại nhà và báo với thầy thuốc gia đình. Việc thông tin
về các mặt nạ và cách sử dụng chúng, về các điều trị kháng virus, về thái
độ khi đứng trước một bệnh nhân, là rất quan trọng để làm giảm nguy cơ
lây truyền. Đối với Paul Léophonte, dân chúng ở Pháp bắt đầu được thông
tin khá tốt, mặc dầu những chiến dịch thông tin vẫn là cần thiết.
(LE FIGARO 16/6/2009)
2/ CÚM : LÀM SAO CHUẨN BỊ VỚI CÁC
ĐỀ KHÁNG ?
Một vài thuốc kháng virus hiện có hiệu quả chống lại virus cúm A (H1N1).
Nhưng những giống gốc đề kháng sẽ xuất hiện, đó là điều không thể tránh
được. Tất cả các điều trị chống lại các bệnh nhiễm khuẩn đều có một mối
nguy cơ : làm dễ sự chọn lọc của các giống gốc đề kháng với các thuốc
hiện có. Virus cúm cũng không thoát khỏi quy tắc tiến hóa này : con người
hiệu chính những thuốc kháng virus mới, nhưng vài giống gốc có những biến
dị thuận lợi, cho phép chúng đề kháng với những thuốc kháng virus này
và tăng sinh.
Một vài trong những nghiên cứu đang được tiến hành nhằm vào protéine M2,
một trong những protéine của vỏ của virus cúm A, cần thiết cho sự tăng
sinh của siêu vi trùng. Protéine này bị ức chế bởi các adamantane, mà
amantadine là một bộ phận (do tính chất kháng khuẩn, amantadine đôi khi
được sử dụng để điều trị và dự phòng bệnh cúm, nhưng ngày nay amantadine
chỉ có một vai trò hạn chế). Protéine M2 chịu những biến dị, trong đó
một vài biến dị cho phép nó thoát khỏi tác dụng của các adamantane kháng
virus. Như thế, hơn 90% của các giống gốc thuộc sous-type A (H3N2) của
virus cúm mùa và A (H5N1) của cúm gia cầm, đều đề kháng với adamantane.
Người ta đã chứng tỏ rằng giống gốc mới đây, A (H1N1), có nguồn gốc từ
heo, cũng đề kháng với điều trị bởi các adamantane. Ngược lại, hiện nay
nó lại nhạy cảm với những thuốc khác, như oseltamivir (Tamiflu).
Làm sao chống lại các đề kháng đối với adamantane ? Các nhà sinh học Hoa
Kỳ đã nghiên cứu nguồn gốc của sự biến dị là nguyên nhân của các đề kháng
này. Bằng cách so sánh các bộ gène (génome) và các protéine của hàng trăm
giống gốc H3N2 được phân lập từ năm 1997, họ cho thấy rằng đại đa số các
virus H3N2 đề kháng, phát xuất từ một giống gốc bị biến dị, được phát
hiện lần đầu tiên ở Hồng Kông vào mùa hè 2003, và protéine M2 của giống
gốc này đã bị biến đổi.
Protéine M2 là một kênh proton (canal à protons), nghĩa là nó điều hòa
sự đi qua của các ion H+. Protéine này được tạo thành bởi 4 phó đơn vị
dưới dạng hélice. Khi virus đi vào trong một tế bào, kênh được mở ra và
các proton đi vào trong virus, điều này làm phát khỏi sự phân ly của vỏ
virus, cho phép các ARN của virus được tự do phiên thành protéine virus.
Hai nhóm nghiên cứu, nhóm của William DeGrado, thuộc Đại học Pennsylvanie,
và nhóm của James-Chou, ở Havard, đã làm sáng tỏ một sự biến dị của M2
gây nên sự đề kháng như thế nào.
Mặt khác, từ mười năm nay, protéine M2 là đối tượng của các nghiên cứu
nhằm tìm ra một vaccin “ vạn ứng ”, hiệu quả chống lại nhiều giống gốc
của virus cúm, điều này sẽ tránh phải bào chế mỗi năm vaccin cúm mùa hay
vaccin chống đại dịch. Thật vậy, đoạn ngoài (fragment externe) của M2
được bảo tồn trong tất cả các virus loại A. Bằng cách đưa đoạn ngoài vào
bề mặt của một protéine, người ta hy vọng gây nên sự sản xuất các kháng
thể có tác dụng chống lại tất cả các giống gốc.
Những nhóm nghiên cứu đã tiến xa nhất trong địa hạt này là nhóm của Walter
Fiers và Xavier Saelens, thuộc Đại Học Gand (Bỉ) và nhóm của Robert Belshe,
thuộc Đại Học Saint Louis, Missouri . Hai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn
I đã cho thấy rằng vaccin gây nên sự sản xuất các kháng thể chống lại
protéine M2 nơi hơn 90% những người được tiêm chủng. Nhưng người ta không
biết những kháng thể này có bảo vệ những người được tiêm chủng chống cúm
hay không ; chỉ một thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn mới có thể chứng tỏ
điều đó. (POUR LA SCIENCE 6/2009)
3/ NHỮNG TAI NẠN GIAO THÔNG GÂY
NÊN HƠN 1 TRIỆU NGƯỜI CHẾT TRÊN THẾ GIỚI
SANTE PUBLIQUE. OMS công bố báo cáo lần đầu tiên về an ninh đường xá của
178 nước, với 20-50 triệu chấn thương không tử vong mỗi năm.
Trên đường từ Kampala và Gulu, phía bắc Ouganda, thường thường xe bus
qua mặt anh với tốc độ 100 km/giờ. Ở Vientiane (Lào), 70% dân số dưới
20 tuổi và lái xe hai bánh ở giữa các chiếc xe tải to tướng. Trên tất
cả các lục địa, cùng các nguyên nhân có cùng những hậu quả : các tai nạn
lưu thông mỗi năm gây tử vong cho 1,2 triệu người, và 20 đến 50 triệu
chấn thương không gây chết người.
OMS lần đầu tiên công bố một báo cáo về sự ngăn ngừa các chấn thương do
các tai nạn giao thông trong 178 nước, được thiết lập từ các dữ kiện của
một công cuộc điều tra chuẩn, được tiến hành vào năm 2008. Hơn 90% các
tai nạn đường xá chết người xảy ra trong những nước có lợi tức thấp hoặc
trung bình. Tỷ lệ tử vong được quy cho các tai nạn đường xá là 21,5 trên
100.000 người đối với những nước có lợi tức thấp, và 19,5 trên 100.000
người trong những nước có lợi tức trung bình.
GIỚI HẠN TỐC ĐỘ CÓ HIỆU QUẢ TRONG 10% CÁC QUỐC
GIA.
49% các trường hợp tử vong là những khách bộ hành, những người lái xe
đạp hay những người sử dụng xe hai bánh có động cơ. Tỷ lệ của những người
sử dụng dễ bị thương tổn này lại còn cao hơn trong những nước nghèo :
thí dụ, ở Đông Nam Á, tỷ lệ này vượt quá 90% của toàn bộ các tử vong.
Đứng trước một bảng tổng kết như thế, những cố gắng phòng ngừa rõ ràng
không đủ và nhiều nước không có pháp luật đường sá tương xứng để chống
lại việc lái xe trong khi say, tốc độ quá mức hay để buộc phải mang mũ
sắt, đeo dây an toàn, các ghế ngồi dành cho trẻ em.
Chỉ 29% các nước đã giảm tốc độ xuống 50 km/giờ hay ít hơn trong thành
phố (trong khi tốc độ là một trong những yếu tố nguy cơ chính của tai
nạn nơi những khách bộ hành và những người lái xe đạp). Dưới 10% các nước
cho rằng, những giới hạn tốc độ được áp dụng một cách có hiệu quả : việc
thiếu radar cố định hay di động và thiếu nhân viên công lực được đào tạo
để kiểm soát, là rõ rệt ở Châu Phi. Mặt khác, chỉ 1/3 dân số thế giới
sống trong một đất nước có một chính sách quốc gia khuyến khích việc đi
bộ hay những đi lại bằng xe đạp.
Về việc lái xe trong khi say rượu, mặc dầu hơn 90% các nước đều có một
đạo luật quốc gia, nhưng chỉ có 49% là đã định một ngưỡng nồng độ rượu
hợp pháp dưới 0,5 g/L. Và chỉ có 11% các quốc gia là đã ấn định một ngưỡng
nồng độ cồn trong máu thấp hơn đối với các người lái trẻ tuổi hay những
người mới lái xe.
Đối với những người đi mô tô, 74% các nước buộc phải thường trực đội mũ
sắt, nhưng không có một tiêu chuẩn an ninh nào trong 43% các quốc gia.
Việt Nam, đã có một đạo luật về việc mang mũ sắt, đã thu được các kết
quả. 95% những người lái xe hai bánh từ nay phải mang mũ sắt và tỷ lệ
tử vong đã giảm xuống.
Về những hành khách xe hơi, việc mang dây an toàn (làm giảm nguy cơ tử
vong 40-50% đối với những người ngồi ở phía trước) chỉ bắt buộc trong
38% các nước có lợi tức thấp.
Lần đầu tiên, bảng báo cáo này cho mỗi nước những bản đồ về tỷ lệ bệnh
tật và tử vong. “ Chúng tôi hy vọng rằng điều xác nhận này sẽ giúp những
người hữu trách mỗi nước kêu gọi những nhà lập pháp cải thiện các đạo
luật ” đối với an ninh và phòng ngừa đường sá, OMS đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 16/6/2009)
4/ PHẪU THUẬT HIỆU QUẢ CHỐNG BỆNH
RUNG NHĨ
CARDIOLOGIE. Cắt bỏ các vùng của tim chịu trách nhiệm các rối loạn nhịp
là hiệu quả hơn thuốc men.
Jean-Marc là một trưởng bộ môn lâm sàng, chỉ mới 27 tuổi : anh tham gia
trực gác ngoại khoa chỉnh hình 9 lần mỗi tháng, làm việc 15 giờ mỗi ngày
và uống cà phê cùng chừng ấy số lượng ! Từ ba ngày nay, thầy thuốc bệnh
viện tương lai và xuất sắc này bị những cơn hồi hộp rất khó chịu, cảm
giác như có một “ tổ ong ” trong lồng ngực, hay có cảm giác như tim bị
dừng lại. Anh thăm khám thầy thuốc chuyên về nhịp tim. Chẩn đoán : Jean-Marc
bị rung nhĩ cấp tính kịch phát (fibrillation auriculaire aigue paroxystique).
Nói một cách khác, hệ thống tạo nhịp vốn tạo nên sự co cơ của tim, đã
trở nên hỗn loạn một cách đột ngột.
Thật vậy, một vài tế bào của thành tâm nhĩ, được tập trung lại trong “
nút xoang ” (noeud sinusal), khử cực theo chu kỳ (những tế bào này làm
đảo tính đối cực điện của màng tế bào). Sự khử cực này tiến từ gần đến
xa, từ cao xuống thấp, đến chỗ nối (jonction) với tâm thất phải. Chính
sự khử cực này đảm bảo một sự co thắt đồng bộ, điều hòa, có hiệu quả của
những tế bào cơ của tâm nhĩ.
Trong trường hợp rung nhĩ, sự khử cực này trở nên hỗn loạn và sự co bóp
của tâm nhĩ trở nên không hiệu quả (mặc dầu một nhịp rất nhanh trên 300
mỗi phút). Có hai loại điều trị : hoặc là những thuốc chống loạn nhịp,
hoặc là những kỹ thuật can thiệp với các ống thông dò tim (sondes cardiaques).
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN 167 BỆNH NHÂN
Một công trình nghiên cứu, được trình bày ở hội nghị chuyên đề Heart Rythm
2009 ở Boston (Hoa Kỳ), lần đầu tiên, vừa so sánh điều trị dược học và
can thiệp ngoại khoa. Kết quả : các thiệp ngoại khoa hiệu quả hơn nhiều.
B.S David Wilber (giám đốc của Viện tim mạch của loyola University, Illinois)
đã điều khiển một công trình nghiên cứu nhiều trung tâm, quy tụ 167 bệnh
nhân thuộc 15 bệnh viện Hoa Kỳ, Một năm sau khi được cắt bỏ ngoại khoa
(ablation chirurgicale), 63% các bệnh nhân vốn bị rung nhĩ không còn có
triệu chứng nữa. Ngược lại, chỉ có 17% trong số những bệnh nhân này, chỉ
được điều trị bằng thuốc chống loạn nhịp, là được chữa lành mà thôi.
Từ những bước đầu, cách nay 40 năm, kỹ thuật cắt bỏ (technique d’ablation)
đã tiến triển tốt, nhưng phương thức căn bản vẫn như nhau : trước hết
người ta thiết lập một bản đồ điện (carte électrique) của những vùng cần
phải đốt, bằng cách thu những phóng điện ngẫu nhiên từ các ổ lạc chỗ (foyers
ectopiques) chịu trách nhiệm loạn nhịp, ở chỗ nối với các tĩnh mạch phổi,
nhờ một ống thông dò (sonde de mesure) được đặt ở đầu một cathéter.
Sau đó, người ta đưa vào, qua chọc dò một tĩnh mạch đùi lớn, đầu mút của
một cathéter mảnh, rồi người ta đưa lên, ngược dòng, vào trong tĩnh mạch
chủ, rồi vào tâm nhĩ phải.
Cũng có những hệ thống từ hành (navigation magnétique), có thể được kết
hợp với chụp hình ảnh tim (imagerie médicale) và cho phép xác định, một
cách thường trực, vị trí đầu mút của cathéter, để tiến đến càng gần mục
tiêu càng tốt. Một khi đã đến được mục tiêu, người thầy thuốc phát một
dòng tần số phong xạ (courant de radiofréquence) ở đầu mút của cathéter.
Dòng tần số phóng xạ này chính xác hơn và dễ kiểm soát hơn những dòng
điện liên tục có điện thế cao (courants continus de haut voltage), được
sử dụng cách nay nhiều thập niên. Dòng tần số phóng xạ này phá hủy ổ bất
thường gây loạn nhịp, và thường mang lại sự chữa lành vĩnh viễn.
“Có một “dịch bệnh” rung nhĩ ở Pháp, phải được quy cho sự gia tăng tần
số của bệnh suy tim. Ngày nay, hiếm khi ta chết vì những bệnh tim này,
do đó càng ngày càng có nhiều bệnh tim già (cardiopathies vieilles), trong
một dân số lão hóa”, BS Arnaud Lazarus của trung tâm nhịp tim học Bizet,
Paris, đã giải thích như vậy. Dầu sao, cũng không nên quên rằng kỹ thuật
cắt bỏ ngoại khoa này, được phát minh bởi trường phái tim học của Pháp,
cũng có những nguy cơ như các nguy cơ của “ngoại khoa tim mở” (“chirurgie
à coeur ouvert”), B.S Lazarus đã đánh giá như vậy. Cần phải e sợ những
biến chứng huyết khối nghẽn mạch (thromboembolies), các tai biến mạch
máu não, thủng các xoang tim.
Đó là một trong những lý do thúc đẩy các thầy thuốc, tùy theo tuổi tác
của bệnh nhân, mức độ thâm niên của bệnh rung nhĩ, của trái tim cần phải
mổ, đặt ưu tiên một chiến lược hai kỳ. Trước hết, thử dùng các thuốc chống
loạn nhịp, và chỉ trong những trường hợp thất bại của những thuốc này
mà sự can thiệp ngoại khoa mới có thể được quyết định.
Sau cùng, hãng Biosense Webster, đã tài trợ công trình nghiên cứu của
BS David Wilber, vừa được Cơ quan FDA cấp giấy phép lưu hành các dụng
cụ cắt bỏ : vậy đối với hãng này, không phải là vô ích khi có một thầy
thuốc Hoa Kỳ trình bày, nhân hội nghị lớn nhất về nhịp tim học, những
kết quả hiệu quả của kỹ thuật cắt bỏ này...Ở Hoa Kỳ có 2 triệu trường
hợp rung nhĩ được xác nhận. (LE FIGARO 15/5/2009)
5/ MƠ MỘNG KÍCH THÍCH NÃO BỘ
NEUROSCIENCES. Các nhà nghiên cứu Canada vừa cho thấy rằng vỏ não trước
trán (cortex préfrontal) hoạt động hơn khi người ta nghỉ ngơi.
Có lẽ đây là điều làm cho vài giáo viên phải suy nghĩ, khi họ cho rằng
các hoc sinh lơ đảng và mơ mộng của họ đều là những học sinh lười. Thế
mà chắc chắn rằng chính những học sinh này lại là những kẻ suy nghĩ nhiều
nhất ! Một công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí của Viện
hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, PNAS, cho thấy rằng, trái với những thành kiến,
sự mơ mộng kích thích não bộ.
Những công trình nghiên cứu này được thực hiện từ những hình ảnh nhận
được nhờ IRM. Các nhà nghiên cứu Canada đã quan sát thấy rằng sự kiện
mơ mộng không những đã không “ làm chậm lại ” não bộ, mà trái lại còn
cho phép nó giải quyết những vấn đề phức tạp. Một dữ kiện đáng quan tâm
khi chúng ta biết rằng con người trải qua khoảng 2/3 thời gian của đời
mình để lơ đãng trên mây. “ Khi không được kích thích bởi các nhu cầu
bên ngoài, não bộ con người thường làm việc rất là nghiêm chỉnh.”, BS
Kalina Christoff, giám đốc của Laboratoire de sciences neurologiques,
thuộc đại học British Columbia, Vancouver, đã nhận xét như thế. Sự kiện
vài vùng của não bộ “ làm việc nhiều hơn khi cá nhân không tập trung vào
một công việc nào đó là một trong những khám phá khoa học-thần kinh mới
nhất của thập niên qua. Phần não bộ được nói đến được gọi là vỏ não trước
trán giữa (cortex préfrontal moyen). Đó là phần trước của thùy trán não
bộ, nằm ở phía trước của những vùng tiền vận động (régions prémotrices).
Phần này của não bộ là nơi của những chức năng nhận thức được gọi là cao
cấp khác nhau, như ngôn ngữ, trí nhớ, lý luận, và nói chung hon là những
chức năng chấp hành (fonctions exécutives).
NHIỀU GIẢ THUYẾT.
“Cách nay hơn 10 năm, Marcus Raichle, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh
nổi tiếng và là một trong các cha đẻ của IRM, đã cho thấy rằng, khi người
ta ở trong trạng thái nghỉ ngơi, vài vùng của não bộ được kích thích hoạt
động ”, Angela Sirigu, nhà nghiên cứu thuộc centre de neurosciences cognitives
của CNRS, Lyon, đã giải thích như vậy. Câu hỏi lớn là làm sao biết tại
sao vài vùng của não bộ được hoạt hóa, còn những khác thì lại không. “
Có nhiều giả thuyết, nhà nghiên cứu đã ghi nhận như thế. Một trong những
giả thuyết này chỉ rõ rằng người ta, lúc nghỉ ngơi, hướng sự chú ý vào
nội tâm nhiều nhiều hơn ra ngoại giới.” Nhưng giả thuyết đã chưa được
xác nhận. Cái mới của công trình nghiên cứu Canada là đã nhận diện vùng
vỏ nào trước trán giữa (cortex préfrontal moyen) như là vùng được kich
thích nhiều nhất khi người ta đi từ y tưởng này qua ý tưởng khác. Nói
một cách khác khi người ta mơ mộng ... (LE FIGARO 15/5/2009)
6/
PHÁ HUỶ CÁC KHỐI U HIỀN TÍNH KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT KHÔNG CẦN GÂY MÊ
IMAGERIE MEDICALE : Một chiếc máy của Israel, sử dụng các siêu âm được
hướng dẫn bởi chụp hình ảnh, cho phép loại bỏ các khối u, đặc biệt là
các u xơ tử cung (fibromes utérins), mà bệnh nhân không phải nghỉ việc
và không bị biến chứng.
Một chiếc máy chụp hình ảnh bằng IRM, kết hợp với các siêu âm, đang cách
mạng hóa việc điều trị các u xơ tử cung, những khối u hiền tính rất thường
xảy ra, buộc 70.000 phụ nữ ở Pháp mỗi năm phải chịu phẫu thuật. Công nghệ
học mới này cho phép phá hủy các u xơ tử cung mà không cần gây mê, không
cần nhập viện và không cần phẫu thuật. Mặt khác, kỹ thuật này đang được
đánh giá đối với những bệnh lý khác, như những di căn xương, các ung thư
vú, gan… Ở Pháp, hiện nay, chỉ có CHU de Tours là được trang bị bởi một
máy như thế, được gọi là Exablate. Bảng tổng kết của công nghệ học này
đã được trình bày bên lề hội nghị của Hiệp hội hình ảnh Pháp-Israel, vừa
được tổ chức ở Tel-Avis, ở bệnh viện Tel HaShomer. Kỹ thuật này đã được
phát minh bởi một start-up israel InSighttec có trụ sở ở Haifa, được tạo
lập bởi các kỹ sư trẻ tuổi đã từng làm việc trong quân đội, và đã nghĩ
ra việc kết hợp sự chụp hình ảnh bằng IRM với các siêu âm được điều tiêu,
để phá hủy các khối u dưới sự kiểm soát thường trực của thị giác.
63 BỆNH NHÂN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Ở TOURS.
Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính của tử cung, được mồ trong
trường hợp có biến chứng như chảy máu, đè ép, đau đớn. Để làm giảm việc
phải nhờ đến phẫu thuật, nhóm nghiên cứu Israel đã nghĩ ra một thiết bị
đổi mới, cho phép phá hủy u xơ bằng các siêu âm. Các siêu âm này có thể
nói là “ nung nóng ” hoàn toàn khối u. Các bệnh nhân đến vào buổi sáng,
chịu một an thần nhẹ nhưng vẫn tỉnh táo, được điều trị và trở về nhà vào
buổi chiều. Một cách cụ thể, bệnh nhân được đặt nằm sấp, một nửa dưới
của thân mình ở trong một ống trụ (cylindre). “ Dưới sự kiểm soát thường
trực của chụp hình ảnh, chúng tôi phát ra một loạt các tia bắn siêu âm
(tirs d’ultrasons), chỉ nhắm vào khối u mà thôi, G.S Pata đã giải thích
như vậy. Nhờ IRM, chúng tôi có một biểu đồ thường trực về nhiệt độ của
các cơ quan lân cận và của da, như thế cho phép chúng tôi một sự kiểm
soát hoàn toàn. Bệnh nhân, nếu cảm thấy bị bỏng, thì chính bệnh nhân này
có thể làm ngưng các tia bắn siêu âm.”
Như thế, tính đến hôm nay, bệnh viện Tours đã điều trị 63 bệnh nhân bị
u xơ tử cung, không có biến chứng, không có phản ứng phụ và với kết quả
thành công. Thủ tục kéo dài khoảng 3 giờ, nhưng các nhà nghiên cứu đang
thu giảm thời gian can thiệp. Tuy nhiên, một vài khối u rất to tướng hay
có vị trí không tốt, không thể hưởng tiến bộ kỹ thuật này.
Tạp chí Obstetrics and Gynevology đã công bố cách nay vài tháng, một tổng
kết về 359 bệnh nhân, với những kết quả hoàn toàn đáng lưu ý về mặt hiệu
quả và chất lượng sống 2 năm sau thủ thuật và một tỷ lệ tối thiểu xảy
ra các biến chứng.
Những nhà phát minh máy ExAblate đã phát động hơn 40 thử nghiệm lâm sàng
đối với những bệnh lý khác với u xơ tử cung. Nhiều tài liệu xuất bản báo
cáo những kết quả sơ khởi đáng lưu ý trong sự phá hủy các di căn xương
gây đau đớn của những bệnh nhân bị ung thư. “ Chúng tôi đã điều trị một
bệnh nhân bị tàn phế bởi những con đau đớn này và không còn có thể bước
đi được nữa, G.S Pata nói thêm như vậy, và ông ta đã có thể đứng dậy lại
và di chuyển. Đó là một bước tiến, mặc dầu căn bệnh ung thư của ông đã
không được chữa lành.” Nhiều chục bệnh nhân bị di căn xương đã được điều
trị. Những thử nghiệm cũng đang được tiến hành trong ung thư vú, trong
ung thư gan và một thủ tục được dự kiến đối với các khối u não bộ. Mặc
dầu kỹ thuật có ưu điểm to lớn là có thể nhắm các tia siêu âm một cách
rất chính xác vào khối u, mà không làm biến đổi môi trường chung quanh,
nhưng còn cần phải chứng tỏ rằng kỹ thuật này phải cho phép phá hủy tất
cả, tuyệt đối tất cả mô ung thư. (LE FIGARO 5/6/2009)
7// VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ (RETINITE
PIGMENTAIRE) : MỘT NIỀM HY VỌNG ĐIỀU TRỊ
G.S José-Alain Sahel, giám đốc của Viện thị giác (Inserm-đại học Pierre-et-Marie-curie)
giải thích sự tiến bộ, được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của ông, với
việc tiêm protéine RdCVF.
Hỏi : Những đặc điểm nào xác định một viêm
võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ?
G.S José-Alain Sahel : Đó là một bệnh của võng mạc, có nguồn gốc di truyền,
tác động lên (ở mọi lứa tuổi của đời sống) 1,5 triệu người trên thế giới,
trong đó có 30.000 đến 40.000 người ở Pháp. Bệnh được đặc trưng bởi sự
chết được chương trình hóa của những tế bào thụ thể ánh sáng (cellules
photoréceptrices). Những tế bào này tiếp nhận ánh sáng và biến đổi nó
thành một tín hiệu là nguồn gốc của thị giác. Bệnh viêm võng mạc sắc tố,
có thể tiến triển đến biến chứng mù mất, là do một bất thường của các
gènes, mà 2/3 đã được nhận diện.
Hỏi : Những dấu hiệu đầu tiên của viêm võng
mạc sắc tố là gì ?
G.S José-Alain Sahel : Viêm võng mạc sắc tố khởi đầu bằng cách gây nên
một thị giác kém vào ban đêm cũng như trong tranh tối tranh sáng. Sau
đó, thị trường bị thu hẹp lại cho đến khi gây nên một thi giác đường hầm
(vision en tunnel). Trong 15 đến 20 năm, chính thị giác trung tâm (vision
centrale) cuối cùng biến mất.
Hỏi : Ngay từ đầu, làm sao chắc chắn về chẩn
đoán ?
G.S José-Alain Sahel : Bằng một phương pháp rất đáng tin cậy : một điện
võng đồ (électrorétinogramme), ghi hoạt động của các tế bào võng mạc,
và một thăm khám thị trường bằng một máy đặc biệt, thị trường kế (périmètre).
Hopital des Quinze-Vingts là một trung tâm chuẩn đối với những viêm võng
mạc sắc tố.
Hỏi : Bởi vì không có liệu pháp thật sự đối
với các bệnh nhân bị bệnh này, thế thì các bệnh nhân được điều trị như
thế nào ?
G.S José-Alain Sahel : Ngay khi giai đoạn đầu đã được chẩn đoán, ta có
những lời khuyên trong mục đích làm chậm lại tiến triển của bệnh. Những
lời khuyên là đơn giản : mang kính có gương đặc biệt, màu da cam hay vàng,
để bảo vệ võng mạc chống lại ánh sáng và mặt trời, sử dụng mỗi ngày các
chất chống oxy-hòa như vitamine C, lutéine và oméga 3. Trong vài trường
hợp, người ta cũng khuyên dùng vitamine A. Dĩ nhiên, để điều trị các viêm
võng mạc sắc tố, chúng ta chờ đợi nhiều về công trình nghiên cứu và đặc
biệt là liệu pháp gène (thérapie génique).Việc đặt các võng mạc giả (prothèse
de rétine) cũng là một niềm hy vọng lớn lao.
Hỏi : Điều trị mới được thử nghiệm trên động
vật có mục đích gì ?
G.S José-Alain Sahel : Nhóm nghiên cứu của chúng tôi, với các BS Léveillard
và Mohand-Said, làm việc nghiên cứu liệu pháp này từ gần 15 năm nay. Liệu
pháp có mục đích bảo vệ thị giác trung tâm (vision centrale), dầu cho
gène chịu trách nhiệm viêm võng mạc là gì đi nữa. Trong thì đầu, chúng
tôi đã cho thấy rằng các tế bào thụ cảm ánh sáng (cellules photoréceptrices),
bị những bất thường di truyền khác nhau, thường nhất là những tế bào hình
que (batonnets). Những tế bào này cho phép chúng ta nhìn thấy vào ban
đêm. Thế mà, những tế bào hình que này chế tạo RdCVF, một protéine duy
trì sự sống sót của những tế bào khác của võng mạc, các tế bào hình nón
(cones) ; các tế bào này cho phép thị giác trung tâm (vision centrale).
Thế thì chúng ta hiểu tại sao khi những tế bào hình que bi chết, protéine
RdCVF sẽ biến mất và, do đó, thị giác trung tâm cũng biến mất ! Sau khi
đã nhận diện được protéine này, người ta đã tổng hợp nó trong phòng thí
nghiệm để có thể sau đó tiêm vào trong mắt của chuột mang cùng những bất
thường di truyền với người. Với phép điều trị này, chúng tôi đã rất thỏa
mãn khi quan sát thấy một sự cải thiệt rất rõ rệt sự sống còn của các
tế bào hình nón và nhất là, của chức năng thị giác, hai lần cao hơn trong
nhóm động vật được điều trị so với nhóm chứng.
Hỏi : Khi nào ông sẽ áp dụng phép điều trị
này cho người ?
G.S José-Alain Sahel : Việc chuẩn bị đối với các bệnh nhân đã rất là tiến
triển. Chúng tôi hy vọng bắt đầu các thử nghiệm nơi người trong hai năm
sắp đến. (PARIS MATCH 4/6- 10/6/2009)
8/ CHÈ XANH ĐƯỢC DÙNG NHƯ
RÀO CHẮN CHỐNG LẠI SIDA
Một dung dịch polyphénol ức chế một protéine của tinh dịch, vecteur của
nhiễm trùng.
Một thành phần của chè xanh có thể tỏ ra hiệu quả để tránh sự lây nhiễm
bởi virus của sida trong lúc giao hợp, một công trình nghiên cứu được
công bố trong Proceedings of the National Academy of Sciences đã xác nhận
như vậy.
Công trình nghiên cứu này của đại học Heibelberg và của Viện virus học
thực nghiệm của Hamburg đã cho thấy rằng gallate d’epigallocatechin (EGCG),
một polyphénol hay tanin thực vật của chè xanh, có khả năng ức chế một
protéine của tinh dịch có khuynh hướng dùng làm vecteur và tác nhân làm
lan truyền của virus của sida.
“ Một phần của peptide, được chứa trong tinh dịch người, làm tăng cường
sự nhiễm trùng bởi HIV một cách hằng định. Các sợi nhỏ làm lan truyền
(fibrilles propagatrices) nhiễm trùng của virus HIV bởi tinh dịch, bắt
giữ các yếu tố của virus và móc chúng và các tế bào bia của chúng, làm
lan tràn sự hợp nhất của virus trong những tế bào này ”, các nhà nghiên
cứu của Heinrich-Pette-Institute de Hambourg đã viết như vậy. “Vì những
lý do này, chúng tôi đã cho rằng việc đưa vào một chất ức chế các sợi
nhỏ này, như là chất diệt trùng, có thể ngăn ngừa sự lan truyền của bệnh
sida qua những giao hợp ”, các nhà nghiên cứu chứng mình rằng nơi các
phụ nữ, việc sử dụng tại chỗ một dung dịch có liều lượng thấp polyphénol
của chè xanh có thể “hủy bỏ một cách hiệu quả những tính chất phát triển
của nhiễm trùng”.
ĐƠN GIẢN VÀ ÍT TỐN KÉM
Trong khi đại đa số trong số 33 triệu người có huyết thanh dương tính
trên thế giới đã bị nhiễm trùng bởi HIV trong lúc giao hợp dị tính (relations
hétérosexuelles) và trong lúc 96% những lây nhiễm mới đều xảy ra trong
những nước nghèo, các nhà nghiên cứu cho rằng việc khám phá những tính
chất ức chế của thành phần của chè xanh là “ đầy hứa hẹn ”. “ Điều đó
có thể mang lại một phương pháp phòng ngừa đơn giản và ít tốn kém, đặc
biệt là trong những giới nghèo khổ.” EGCG của chè xanh đã được công nhận
do những tính chất chống ung thư, kháng oxy hóa, chống vi khuẩn và kháng
virus. (LE SOIR 27/5/2009)
9/ GHÉP GIÁC MẠC NHÂN TẠO ĐẦU TIÊN
Ở PHÁP
Đó là một niềm hy vọng đối với những chứng bệnh mù lòa nguồn gốc giác
mạc, ảnh hưởng hơn 10 triệu người trên thế giới. Ghép giác mạc nhân tạo
(greffe de cornée artificielle), một can thiệp được thực hiện bởi các
nhóm phẫu thuật hiếm hoi trên thế giới, trong đó chỉ có 3 ở châu Âu, vừa
được thực hiện lần đầu tiên ở Pháp, ở bệnh viện Timone, Marseille, nơi
một người đàn ông 42 tuổi, mà một mẫu ghép người (greffon humain) không
thể thực hiện được. Sau khi bị bỏng bởi HCl xảy ra cách nay hai năm, các
huyết quản đã bắt đầu xâm chiếm giác mạc bị bỏng. Vậy mà, sự tạo mạch
mới (néo-vascularisation) này là một yếu tố làm gia tăng đáp ứng miễn
dịch, và như vậy làm gia tăng nguy cơ bị thải bỏ. Trong trường hợp bệnh
nhân này, giác mạc nhân tạo (cornée artificielle) là giải pháp duy nhất.
Các thầy thuốc nhãn khoa đã chọn lựa một giác mạc giả (kératoprothèse)
được mệnh danh là AlphaCor. Đó là một đĩa có đường kính 7 mm, gồm một
phần trung tâm trong suốt và một viền mờ đục, có tính xốp, được cấu tạo
bởi một vật liệu sinh tương hợp (matériau biocompatible), Phema (poly2-hydroxyéthyl
méthacrylate). Được ghép vào giác mạc bị bỏng, giác mạc giả này có thể
được tăng trưởng bởi những tế bào của bệnh nhân. 9 cuộc giải phẫu ghép
khác sẽ được thực hiện ở Marseille từ nay đến 2010. (SCIENCE
ET AVENIR 6/2009)
10/ TIM NGƯỜI ĐƯỢC TÁI SINH
Một nhóm nghiên cứu người Thụy Điển vừa phát hiện khả năng của những tế
bào cơ tim đổi mới, nơi người trưởng thành. Nói chung, sau khi sinh ra
đời, tim người được xem như là một cơ quan trong đó những tế bào cơ không
còn có thể phân chia được nữa . Điều đó là sai, ngày nay nhóm nghiên cứu
được lãnh đạo bởi người Thụy Điển Jonas Frisen, thuộc viện Karolinska,
Stockholm đã chứng tỏ như vậy. Thật vậy, sau khi đã nghiên cứu những trái
tim lành của những người đã chết, nhóm nghiên cứu đã chứng thực rằng các
tế bào cơ tim (cardiomyocytes) vẫn luôn luôn được đổi mới.
Nhóm nghiên cứu đã lợi dụng nhưng hậu quả của những thử nghiệm nguyên
tử, được thực hiện trong không khí từ giữa những năm 1950 đến 1963, (là
năm việc thử nghiệm này bị đình chỉ). Những cuộc thử nguyên tử này đã
làm phát xuất trong không khí CO, trong đó C thuộc carbone-14. Thế mà,
CO2 không khí được cây cối sử dụng để chế tạo chất hữu cơ, chất này sau
đó được tiêu thụ bởi động vật và người. Vì lẽ nồng độ carbone-14 trong
không khí giảm đều từ năm 1963, nên nồng độ carbone-14 hiện diện trong
ADN của các tế bào của một người cho phép xác định ngày sinh tháng đẻ
của các tế bào đó. Và lúc so sánh với ngày sinh tháng đẻ của người, ta
có thể xác định là những tế bào này có phải mới xuất hiện hơn hay không.
“ Sử dụng nguyên tắc định ngày tháng này là một ý tưởng hay, Michel Pucéat,
thuộc nhóm nghiên Inserm các tế bào gốc và cardiogenèse, đã bình luận
như thế. Phương pháp này đáng tin cậy hơn những phương pháp cổ điển, như
sự đánh dấu ADN bằng cách tiêm vào trong tế bào một chất nhuộm màu.”
Nhóm nghiên cứu của Jonas Frisen đã hiệu chính kỹ thuật của ông năm 2005
để nghiên cứu vỏ não vùng chẩm, lúc đó đã cho thấy rằng các neurone đã
không được đổi mới ở vùng này của vỏ não. Các tế bào cơ tim (cardiomyocytes),
chiếm 20% các tế bào của tim, lại dường như đổi mới chậm, với một nhịp
độ giảm theo dòng thời gian.Tỷ lệ của những tế bào được đổi mới là 1%
lúc 20 tuổi, và 0,45% lúc 75 tuổi. Người ta ước tính rằng vào cuối cuộc
đời của chúng ta, gần một nửa các tế bào cơ tim đã được thay thế.
Giai đoạn kế tiếp sẽ là xác định những tế bào là nguồn gốc của sự đổi
mới này, và nhất là để biết xem các tế bào này có hiện diện trong những
bệnh lý, trong đó chúng có thể hữu ích trên bình diện điều trị. (LA
RECHERCHE 6/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/6/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |